Nagai Kafuu (永井荷風)

Ḷng hoài cựu, t́nh kỹ nữ và nỗi đoạn trường

 

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

 

Dẫn nhập:

Năm nay (2015) đánh dấu 250 năm sinh của thi hào dân tộc Nguyễn Du, cũng là nhà văn hóa tầm cỡ thế giới. Đang sinh sống ở Nhật, người viết nhân dịp này muốn giới thiệu về một nhà văn bản xứ đồng t́nh đồng điệu với ông. Sau khi lưỡng lự trước nhiều cái tên, xin được phép dừng lại với Nagai Kafuu, một tác giả cận đại nổi tiếng của xứ Phù Tang nhưng chưa được người nước ta quan tâm nhiều. 

Giữa kỹ nữ với văn nhân, từ xa xưa, ta vẫn thấy một sự tương thân, một hệ lụy, vốn có giữa “ṇi t́nh”. Điểm chung của họ có thể đều là những người có cuộc sống bất hạnh và trôi nổi. Đông cũng như Tây, từ Alexandre Dumas Fils sang Jean Paul Sartre, từ Bạch Lạc Thiên đến Phùng Mộng Long, từ Ihara Saikaku qua Nagai Kafuu, Nguyễn Du cũng như Xuân Diệu, các văn nhân nghệ sĩ vẫn t́m nguồn cảm hứng nơi người kỹ nữ.  

Riêng việc gắn Kafuu với Nguyễn Du, hai con người sống ở hai thời đại trên hai mảnh đất khác nhau, sản phẩm của hai nền văn hoá dị biệt, mới nh́n tưởng chừng như gán ghép nhưng kỳ thực là điều vô cùng hợp lư v́ hai ông có nhiều điểm chung, nhất là khi chúng ta nói đến tấm ḷng hoài cựu, t́nh kỹ nữ và nỗi đoạn trường như những nét nổi bật trong văn chương họ.  

http://blog-imgs-61.fc2.com/s/h/o/showamodern/nagaikafu1938aug.jpg

Nagai Kafuu (1879-1959)

Nagai Sôkichi 永井壮吉- tên thật của nhà văn Nhật Bản - sinh ở Tôkyô năm Meiji thứ 12 (1879). Tuổi trẻ trôi qua êm đềm bên cạnh một người cha công chức cao cấp, có tư tưởng Tây phương mới mẻ nhưng nghiêm khắc và một bà mẹ hiền thục, khép nép. Cha ông là một viên quan làm việc ở Bộ Nội Vụ, có dịp du học ở Mỹ (tại 2 đại học Princeton và Boston) nhưng vẫn nặng tinh thần lễ giáo Đông Phương. Ông sớm tỏ ra chống đối uy quyền của cha mà gần gũi với mẹ, bà Tsune, vốn nhạy cảm và yêu chiều con. Bà là người đă giúp ông làm quen với thế giới tuồng kịch kabuki và văn hoá thẩm mỹ của một thành phố Edo đă suy tàn. Bà ngoại ông cũng cưng chiều ông hết mực. Ông đă có may mắn sống bên cạnh bà ngoại trong nhiều năm. 

Sôkichi (về sau là Kafuu荷風) ḍng dơi nhà vơ, trong gia phả từng có một ông tổ làm tướng thời Shôgun Tokugawa Ieyasu khai quốc: Nagai Denhachirô Naokatsu. Qua mấy đời, gia đ́nh Nagai trở thành phú nông đất Nagoya, truyền đến cha ông là Kiichirô th́ vào làm rể học giả Nho học Washidzu Kidô鷲津毅堂[1]. Kafuu nhờ đó đă thấm nhuần tư tưởng Nho gia của ông ngoại và đáng lư ra về sau sẽ nối nghiệp cha, ông. Thế nhưng định mệnh của người nghệ sĩ đă đưa đẩy đời ông qua một hướng khác.  

Thời trẻ, ông được nuôi dạy trong một biệt thự rộng lớn với kẻ hầu người hạ trong khu Koishikawa Kanatomi giữa thành phố Tôkyô. Trên ghế trường trung học, cậu thiếu niên Sôkichi tỏ ra đam mê văn chương và đă thử viết cuốn tiểu thuyết nhan đề Haru no urami 春の恨 (Nỗi hận mùa xuân). Sôkichi không thích trường học, một nơi kỷ luật cứng rắn, pha trộn tinh thần Khổng giáo cũng như quân cách của đế chế nước Phổ. Ông hay bị bạn đồng học – trong đó có bạn Takeuchi, sau trở thành thống chế trong quân đội – hiếp đáp. Ông chỉ thích thú mỗi khi được gieo những vần thơ chữ Hán, do đó, được cha cho theo học một ông thầy dạy Hán Thi. Ngoài ra, ông hay t́m cách lê la xuống những xóm b́nh dân, nơi dân t́nh nghèo khó v́ bị chính quyền mới bỏ quên. Lúc đó con sông Sumida chảy qua Tôkyô hăy c̣n chưa mang bộ mặt xấu xí bởi những cơ xưởng và kho hàng mọc chung quanh. Chỗ cậu Sôkichi hay lui tới là khu vực Yanagibashi nơi có nhiều geisha. Ông lén cha học thổi sáo shakuhachi[2], đă dám cầm cố đồng hồ và áo dạ để có tiền mua nhạc khí. Khi vừa đến tuổi 17, ông bắt đầu làm quen với xóm lầu xanh Yoshiwara để về sau có thể viết nên những áng văn đầy màu sắc nhục cảm về thế giới này. Những năm tháng tuổi thơ và thời niên thiếu đă lưu dấu lại trong cuốn tiểu thuyết nhan đề Sumidagawa 隅田川 (Ḍng Sumida, 1909). 

Lạ thay, những kỷ niệm thời học tṛ của cậu bé Sôkichi lại nằm bên ngoài cửa lớp. Cậu thích nhất là những mùa hè được nằm lại Tôkyô trông coi nhà cửa với lư do chính đáng là ôn tập bài vở trong khi gia đ́nh đi nghỉ mát. Cậu cũng có thời giờ thư thả dành cho ḿnh khi năm 16 tuổi, v́ bệnh tật, phải vào điều trị nhiều tháng ở Bệnh viện Odawara, một thành phố nhỏ và nên thơ. Chính trong bệnh viện này, ông đă biết được hương vị mối t́nh đầu qua h́nh ảnh một cô khán hộ trẻ tên là O-Hatsuお荷(cô Hà, có nghĩa là hoa sen). Đó là nguồn gốc của bút hiệu Kafuu荷風 (Hà Phong, ngọn gió thổi qua hoa sen) nổi tiếng về sau. 

Tuổi trẻ của ông như thế đă ngầm chứa mầm mống của thái độ chạy trốn để t́m sự lẻ loi, đặc tính chính yếu trong văn nghiệp ông, như lời nhà phê b́nh Etô Jun 江藤淳đă nhận xét.Thái độ ấy đă chín muồi sau khi ông biết thêm hương vị của tự do ở Pháp và Mỹ trong quăng đời du học.Nó khiến ông trở thành một kẻ chống đối, đề kháng trước những người chủ mới của đất nước ông cũng như trước những đổi thay do nền văn minh hiện đại đưa đến, cho dù sự chống đối ấy chỉ ngấm ngầm và thụ động.  

Năm 1897 đánh dấu giai đoạn thành nhân của Sôkichi. Ông tốt nghiệp bậc cao trung, muốn theo học mỹ thuật nhưng bị cha từ chối. Lúc đó, nhân cha ông rời bỏ cuộc đời công chức để trở thành giám đốc chi nhánh ở Thượng Hải của một hăng vận tải đường biển, Sôkichi có dịp qua bên đó thăm cha một vài tháng. Đây là chuyến ra nước ngoài đầu tiên của ông. Nó giúp ông có cớ để khỏi thi vào Ikkô, trường dự bị đại học nổi tiếng mà ai muốn trở thành quan lại đều phải bước vào. Trong tác phẩm Sumidagawa (Ḍng Sumida), ta thấy tổ chức có tính quân sự của ngôi trường này đă làm tản hồn khiếp vía đám sinh viên của nó. Có thể khi đưa Sôkichi qua Thượng Hải, cha ông đă muốn khỏi bị bẽ mặt khi biết rằng lối giáo dục của ngôi trường ấy không phù hợp chút nào với bản chất của con trai ḿnh. 

Rốt cuộc cậu con trai không chí thú với công danh ấy đă vào khóa Hoa ngữ trường Cao đẳng thương nghiệp Tôkyô (nay chia ra thành hai đại học Hitotsubashi và Tôkyô Gaigo), ngành học được xem là dễ đỗ nhất. Sôkichi không nhiệt tâm với sách đèn cho lắm. Trong lúc cha vắng nhà, với một người mẹ quá yêu chiều ḿnh – có thể một phần v́ thương ông thể chất ốm yếu từ khi c̣n nhỏ - Kafuu tha hồ biếng nhác. Ông dành nhiều thời giờ tập tành viết lách và giai đoạn tập sự này đă kéo dài khoảng 10 năm. 

Thời gian tập tành: 1898-1903

イメージ 1          福地桜痴

Hai người thầy: Hirotsu Ryuurô và Fukuchi Ôchi

Khoảng thời gian từ 1898 đến 1903, ông chuyên chú đọc sách, học hỏi. Năm 1898, ông đem một bản thảo đến tŕnh nhà văn Hirotsu Ryuurô 広津柳浪(1861-1928) và xin làm đệ tử. Lúc ấy, Ryuurô đă là một ngôi sao của nhóm Ken.yuusha硯友社, nổi tiếng trên văn đàn. Nhà văn này thường khai thác những chủ đề về diễn biến tâm lư nhân vật theo truyền thống của văn chương thời Edo nhưng đặc biệt chú ư đến hiện thực của cuộc sống và sử dụng văn nói hơn là văn viết, khác với văn phong hoa lệ, tân cổ điển (neo-classism) của Ken.yuusha buổi đầu.Với phong cách mới mẻ mà Tsubouchi Shôyô 坪内逍遥 chủ trương, Hirotsu Ryuurô báo trước sự ra đời của trào lưu tự nhiên chủ nghĩa (naturalism) trong văn học Nhật Bản mà Nagai Kafuu, học tṛ ông, sẽ là một trong những nhà văn tiên phong. 

Tuy nhiên chẳng bao lâu Nagai Kafuu đă từ giă Ryuurô khi thấy thầy giữ lại phần lớn thù lao tác quyền của đệ tử[3] trong khi ḿnh đang cần tiền cho nhiều thứ chi tiêu (học vũ cổ điển, sáo shakuhachi và hát điệu kiyomoto). Hơn nữa ông ngày càng la cà trong thế giới ăn chơi của xóm b́nh dân (shitamachi), nơi ông cảm thấy sự ấm áp của t́nh người và một tự do không bến bờ, đối nghịch lại thế giới nghiêm khắc vô vị mà người cha muốn khép ông vào. Sự thực th́ cha ông đă có lần bắt nhốt Kafuu trong nhà khi một người giúp việc báo cáo với ông là cậu con trai hằng đêm vẫn lên sân khấu một rạp hát, phụ việc cho một ông thầy kể chuyện tếu rakugo. Điều này vẫn không ngăn được nhiệt t́nh của Kafuu với văn nghệ. Năm sau (1900), ông nhập môn một nhà văn khác, Fukuchi Ôchi 福地桜痴 (1841-1906)[4], chuyên gia tuồng Kabuki.  

Kafuu viết được một số truyện ngắn trong giai đoạn này nhưng chúng không có ǵ đặc sắc. Nội dung hầu như phỏng theo cung cách cuối đời Edo. Những mẩu đối thoại trong đó thường là không hồn và trữ t́nh đẫm lệ dù âm điệu thánh thót và chất thơ của nó đă báo hiệu sự ra đời của một tiểu thuyết gia biết viết văn xuôi với kỹ xảo của văn vần. Truyện ngắn được xem là khá nhất lúc đó của ông có lẽ là Enkoi煙鬼 (Kẻ nghiện ngập), lấy bối cảnh bên Trung Quốc, nói về bước đường cùng của một người ghiền thuốc phiện. 

 

http://www.austinfilm.org/image/essential-cinema/UtamaroandhisFiveWomen.png

          Huyền thoại Kitagawa Utamaro qua ống kính Mizoguchi Kenji[5] 

Năm 1901, Fukuchi Ôchi, thầy ông, từ giă sân khấu vào làm việc ở nhật báo Yamato Shinbun日出国新聞, Kafuu cũng theo chân và giữ mục tin từ thành đến tỉnh. Đồng thời ông cũng phụ trách một tiểu thuyết trường thiên đăng nhiều kỳ về xóm thanh lâu Yoshiwara 吉原với một giọng văn trữ t́nh và tinh tế, khơi gợi cho độc giả thế giới đầy nhục cảm của họa sĩ mộc bản Kitagawa Utamaro[6]. Ông chọn nhan đề Shin-Umegoyomi 新梅暦 (Cuốn lịch hoa mơ - bộ mới) cho quyển sách vốn lấy cảm hứng từ tác phẩm Umegoyomi梅暦 (Cuốn lịch hoa mơ) của nhà văn Tamenaga Shunsui為永春水và điều này chứng tỏ Kafuu muốn tiếp nối truyền thống ninjôbon人情本 (tiểu thuyết t́nh cảm lăng mạn) của nhà văn lớn thời Edo chuyên miêu tả đời sống các xóm ăn chơi trong khu shitamachi của thành phố. Bị bắt phải thôi việc ở ṭa báo, Kafuu không có cơ hội hoàn tất tác phẩm và nó đă rơi vào quên lăng. Sau khi thất bại trong tham vọng hồi sinh ninjô-bon, có lẽ v́ khó ḥa giải quá khứ với hiện tại của một Nhật Bản đang đà phát triển và muốn thoát ra những kềm kẹp của xă hội cũ, Kafuu tiếp cận Emile Zola và các tác giả trường phái tự nhiên (naturalism) của Pháp qua các bản dịch  Anh ngữ. Chuyện gắn bó với quá khứ xa xưa trở thành một điều không tưởng nhưng phải nói, đối với Kafuu, dấu ấn của văn hoá một thời vừa mới qua đi rơ ràng là sâu đậm hơn bất cứ ở nơi một nhà văn nào khác. 

Trong thời gian gần 3 thế kỷ của xă hội Edo dưới chính quyền Tokugawa, văn chương diễm t́nh được xem như để mua vui mà thôi. Chỉ có những tác phẩm đi đúng đường lối Khổng giáo mới được Mạc phủ đề cao. Giá trị thấp hơn đó một chút là loại văn chương kanzen chôaku hay “khuyến thiện trừng ác”.Thi ca th́ thơ cổ điển waka tương đối được coi trọng chứ haikai không ai đánh giá cao, ngoại lệ chắc chỉ có Bashô, người đă nâng tầm thể thơ bông đùa này lên một h́nh thức nghệ thuật. Văn học mô tả cuộc sống của giới b́nh dân như thương nhân, thợ thủ công ... chạy theo hưởng thụ và khoái lạc chưa hề được chính quyền coi trọng mà c̣n có thể trở nên đối tượng của sự đàn áp. Chính quyền lo sợ ảnh hưởng tính cách coi thường luân lư của nó sẽ làm xáo trộn trật tự một xă hội đă an bài. Trong bầu không khí nặng nề tù hăm như vậy, người b́nh dân vẫn t́m một lối thoát bằng cách “xuống xóm”, ở Edo là Yoshiwara, một trong những khu thanh lâu biệt lập có tường vây như một thành quách (nên c̣n gọi là kuruwa hay quách). Nơi đây, sau những bức tường, ngược đời thay, người b́nh dân đă t́m thấy tự do, cho dù đó chỉ là một cơi phù thế (ukiyo) như trong quan niệm của nhà Phật, nơi mà ngày một ngày hai, đồng tiền có thể thay đổi tất cả.  

Trốn vào những xóm lầu xanh đă đành nhưng t́m về thiên nhiên cũng là một cách thoát sự ngột ngạt của thành phố. Thiên nhiên ở đây là Mukôjima 向島 (Đảo bên kia bờ) được ngăn cách với Edo bằng ḍng sông Sumida. Không chỉ Kafuu về sau mà những văn nhân thi sĩ lớp trước kể cả Narushima Ryuuhoku 成島柳北đều đă ca tụng khung cảnh thiên nhiên này. Nơi đây là một thế giới mà trước những đổi thay vẫn c̣n đọng lại biết bao h́nh bóng cũ. Thái độ trốn thoát ra khỏi xă hội hiện tại để ḥa nhập vào thiên nhiên và t́m về quá khứ có lẽ đă phát sinh từ tâm lư “buông xuôi” (諦めakirame) và nỗi “hổ thẹn” (haji) của người cầm bút. Buông xuôi bởi v́ họ không có sức chống trả lại xu thế như vũ băo của thời đại. Hổ thẹn nên muốn bám víu vào quá khứ v́ quá khứ bao giờ cũng đẹp hay ít nhất, nó không c̣n có thể làm ḿnh thất vọng thêm một lần thứ hai. 

     https://kotobank.jp/image/dictionary/daijisen/media/106293.jpg  http://blogs.c.yimg.jp/res/blog-f1-c4/kitasan1970/folder/1047013/46/45459046/img_1?1366332471

 Narushima Ryuuhoku và tập tùy bút Liễu Kiều tân chí nói về xóm ăn chơi Yanagibashi 

Khi Nhật Bản mở cửa, dù có sự dè dặt buổi đầu nhưng chính quyền đă không ngăn nổi những chuyển hướng mới. Đối với giới văn nhân và trí thức, đó là sự khẳng định vai tṛ cá nhân trong xă hội cũng như trách nhiệm của nhà văn đối với tác phẩm của ḿnh. V́ thế nên mới có những sáng tác của Fukuzawa Yukichi 福沢諭吉nói về tự do cá nhân hay Tsubouchi Shôyô坪内逍遥 về sứ mạng của tiểu thuyết. Shôsetsu Shinzui小説神髄(Cốt lơi của tiểu thuyết, 1885) của Shôyô là tác phẩm đầu tiên đă nhấn mạnh vai tṛ đặc biệt của tiểu thuyết, đặt nó độc lập với quan niệm luân lư Khổng Mạnh và bất cứ một thế lực hay trật tự đến từ bên ngoài. Đ̣i hỏi này là cơ sở cho một h́nh thức tiểu thuyết mới, đặt lại vị trí của nhà văn trong xă hội họ sống. Với nội dung như thế, cuốn sách đă ảnh hưởng đến Nagai Kafuu và những nhà văn tự nhiên chủ nghĩa Nhật Bản. Họ đă đề nghị và bảo đảm trước độc giả là sẽ làm đủ cách để có thể bảo toàn tư cách của nhà văn và nghề viết văn. 

 

 ZOLA 1902B.jpg  http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/93/Guy_de_Maupassant_fotograferad_av_F%C3%A9lix_Nadar_1888.jpg

Ảnh hưởng quan trọng đến từ Zola và Maupassant 

Trước đó, bên trời Tây, nhà văn Pháp Emile Zola đă đề cập thẳng đến những vấn đề của thời đại ông sống như “Vụ án Dreyfus” (bênh vực Đại úy gốc Do Thái Dreyfus bị buộc tội oan là phản quốc) và miêu tả nó với một ng̣i bút đầy tính hiện thực. Zola đă ảnh hưởng nhiều đến các nhà văn Nhật Bản đương thời, cho dù ở Nhật, chủ nghĩa tự nhiên chỉ được tiếp nhận như công cụ để giải phóng cá nhân và biện minh cho lập trường của nhà văn hơn là một cách đánh giá xă hội một cách toàn thể. Là người hâm mộ Zola nhưng những tác phẩm buổi đầu của Kafuu trong giai đoạn 1902-1903 như Yashin野心 (Tham vọng), Jigoku no hana 地獄の花 (Hoa địa ngục), Shinnin chiji 新任知事 (Ông thị trưởng mới nhậm chức), Yume no onna 夢の女 (Người đàn bà trong mộng) đều chưa có màu sắc chủ nghĩa tự nhiên với tầm cỡ các tác phẩm của các nhà văn Pháp. Kafuu sau này đă đánh giá chúng như “một sự pha trộn lạ đời của tiểu thuyết ninjôbon với Maupassant”. Tuy vậy, chúng đă cho độc giả thấy cách cấu tứ mới mẻ mà tác giả đem lại và làm cho họ chú ư đến tên tuổi của ông. 

Những tác phẩm của giai đoạn tập tành viết lách vừa kể dù sao cũng đă giúp ông thoát những sáo ṃn, khiến ng̣i bút của ông ngày thêm điêu luyện, cái nh́n của ông trước hiện thực thêm tươi mới. Chúng c̣n là cơ hội giúp ông đào sâu khuynh hướng quan sát những chỗ sâu khuất của bản tính con người (nhất là tâm lư nữ giới).

Tuy nhiên, những cuốn tiểu thuyết đó vẫn chưa dẫn đến con đường đích thực mà Kafuu đă chọn. Ông chưa có đủ khả năng tưởng tượng để tạo ra những t́nh huống hay tô điểm cho các nhân vật trong truyện đầy đủ chi tiết về cuộc đời của họ mà không cần gắn họ với con người t́nh cảm của ḿnh. Satô Haruo佐藤春夫 cho rằng Kafuu chỉ biết nói về ḿnh và cho dù có sức quan sát nhạy bén và tinh tế, ông chỉ dùng được nó để khai thác những ǵ gây xúc động cho ông. Điều đó khiến ông không thể trở thành một nhà văn kiểu Honoré de Balzac hay Emile Zola, những người biết lấy khoảng cách để nh́n sự vật một cách điềm nhiên và toàn diện hơn. Cái phù hợp với Kafuu có lẽ là loại truyện ngắn hay tùy bút (v́ đề tài giới hạn và diễn tả dàn trải), trong khi đó, những cố gắng viết tiểu thuyết dài của ông đều gặp phải thất bại hoặc bỏ dở. Có thể cũng v́ lư do đó mà Kafuu tuy kính trọng Emile Zola nhưng cảm thấy gần gũi với Guy de Maupassant (một cây bút đoản thiên cừ khôi) hơn. 

Trong những tác phẩm của thời kỳ đầu, người ta đă nhận ra rằng chính giọng văn đầy màu sắc cảm thương và u buồn cũng như sự pha lẫn một chút yếu tố phi hiện thực vào trong những t́nh tiết chính xác và tỉ mỉ, cả hai đă tạo ra được bầu không khí đầy chất thơ và báo hiệu tài năng của một Kafuu những năm sắp đến. Nhưng để nó khai hoa kết trái, phải đợi đến ngày ông trở về từ những chuyến du hành ngoại quốc. Từ 1903 đến 1908, Kafuu đă một ḿnh lên tàu vượt biển.  

 

Những chuyến đi: 1903-1908 

Đi ra nước ngoài học hỏi, quan sát, là một thứ thời thượng của những năm Meiji. Khi c̣n trẻ, người cha của Kafuu cũng đă từng đi Mỹ. Do đó, ông muốn con ḿnh biết thế nào là cái học thực dụng cũng như được hưởng một bầu không khí mới lạ có thể giúp nó đột phá thay v́ để nó tiếp tục một cuộc sống kém sáng sủa nếu không nói là buông tuồng, sa đọa ở trong nước. Lúc đó, Kafuu đă có chút kiến thức tiếng Pháp và mong mỏi đặt chân đến Paris, kinh đô của nghệ thuật, nhưng cha ông lại gửi ông sang Mỹ. Tại đây, sau khi theo học ở Michigan, nhờ quen biết, Kafuu đă giữ một chân tùy phái ở Toà Lănh Sự Nhật tại New York rồi vào làm việc trong chi nhánh ngân hàng Shôgin (Yokohama Shôkin Ginkô), trước khi dành dụm được chút vốn. Cộng với món tiền người cha (lúc đó đă trở lại Nhật làm giám đốc chi nhánh của hăng ḿnh ở Yokohama) chi viện, Kafuu đă có thể đặt chân lên đất Pháp như mơ ước. Chàng tuổi trẻ Kafuu lúc đó đă phải quên đi mối t́nh với thiếu nữ trong giới xă giao là Edyth và quăng thời gian ở Mỹ để lên đường đến một miền đất mới. 

 

http://www.jinbutsukan.net/person/photo/p_nagai-kafu.jpg

Kafuu “trai lơ” thời du học Âu Mỹ                     

Bốn năm ở Mỹ c̣n để lại dấu vết trong Amerika Monogatariアメリカ物語 (Chuyện bên Mỹ, 1908) và nhiều trang của Seiyuu Nikkishô西遊日記抄(Trích nhật kư một chuyến sang phương Tây) trong đó, Kafuu kể lại những khó khăn khi tiếp xúc với lối sống chủ nghĩa cá nhân trên quê người và phải chuẩn bị nghiêm túc cho cuộc sống tương lai ở Pháp (dù về sau ông chỉ sống ở Pháp đúng có một năm). Trong thời gian làm sinh viên bàng thính ở khoa tiếng Pháp Trường Cao đẳng đại học Kalamazoo (Michigan, Mỹ, 1905), Kafuu ngấu nghiến tác phẩm các nhà văn nhà thơ Pháp. Dù chỉ giới hạn ở những tác giả cận đại nhưng con số có thể gọi là đáng kể. Dĩ nhiên phải có Maupassant, những c̣n thêm Gautier, Loti, Henri de Régnier, Baudelaire, Verlaine và Samain..., đó là chưa kể các nhà văn phái tượng trưng (symbolism) và hậu tượng trưng (post symbolism) mà ảnh hưởng đến Kafuu rất to lớn bởi v́ nó đă đem đến cho ông những yếu tố mới để phát triển tài năng. Không những một thoáng hương vị đồi phế (décadence) “cuối thế kỷ” (fin de siècle), ảnh hưởng khác từ một số tác giả trong nhóm họ đă giúp Kafuu chỉnh đốn lại một mạch văn chỉ biết sầu thương và trữ t́nh của ḿnh để nó toát ra được một hương vị đặc biệt hơn.  

Ngoài những trang sách, một khi đặt chân lên đất Pháp, với cuộc sống thực tế, trải nghiệm bằng 8 tháng làm việc ở Lyon trong chi nhánh Ngân hàng Shôgin và 2 tháng sinh hoạt tự do ở Paris trên những vĩa hè khu Opéra với những buổi ḥa nhạc và quán cà phê, những lần tản bộ dọc bờ sông Rhône và sông Seine, đă giúp ông chứng kiến rằng truyền thống và hiện đại cũng có thể được ghép vào nhau một cách tự nhiên và hài ḥa. Nhà phê b́nh Nakamura Mitsuo中村光夫 cho rằng Kafuu là nhà văn Nhật Bản duy nhất (cho đến thời đó) đă trở thành nhà văn không những nhờ đọc các tác phẩm ngoại quốc mà c̣n bằng trải nghiệm bản thân cuộc sống ở nước ngoài. Chính Kafuu cũng công nhận: “Những ngày tháng ở Paris là chuỗi thời gian tuyệt vời và quan trọng nhất đối với cuộc đời viết văn của tôi”.  

Như thế, cái tôi độc lập và sức mạnh của truyền thống là hai điều quan trọng và Kafuu đă khám phá hay đúng hơn đă khẳng định được sau 5 năm sống ở Mỹ và Pháp. Chúng trở thành hai thành tố trong nhân cách của Kafuu và ông giữ được cho đến cuối đời. Thế nhưng có một yếu tố thứ ba không kém phần quan trọng mà ông t́m lại được khi về đến quê hương. Đó là sức mạnh của phong thổ, của thời tiết bốn mùa và nghệ thuật cổ truyền. Cả ba đă tạo thành một mỹ học đặc thù chỉ thấy ở Kafuu.

 Ḍng Sumida 

Ngày Kafuu, trở về, chính trị Nhật Bản đang biến đổi theo một đường hướng hoàn toàn ngược lại với những ước mơ của ông. Ông tạm thời phải giữ khoảng cách với “giấc mơ Pháp” và có thái độ phê phán đối với nó. Một số trang của Furansu Monogatari フランス物語 (Chuyện bên Pháp, 1908- 1909), Sumidagawa 隅田川 (Ḍng Sumida 12/1909), Reishô 冷笑 (Cười nhạt, đăng tải liên tục trên nhật báo Asahi, 1909-1910) đă chứng tỏ điều đó. Tuy nhiên, trước Kafuu, cả Mori Ôgai 森鴎外lẫn Natsume Sôseki夏目漱石, những nhà văn đàn anh của thế hệ Meiji, đều đă có thái độ dè dặt như thế cả. Ôgai đối với nước Đức, Sôseki đối với nước Anh, đều ngập tràn hy vọng trong buổi đầu tiếp xúc nhưng sau khi kết thúc chuyến lữ hành ở phương Tây, họ đă sống trong khổ đau, tâm hồn bị dằn vặt. Nhưng sự dằn vặt nội tâm ở đây phải chăng là dấu ấn đặc biệt của những con người nhạy cảm, sáng suốt và rộng lượng khi bản thân phải đứng trước một lựa chọn khó khăn?

 

http://img.laughy.jp/9714/default_b2b3f818c6ffacf2bb6c84f2875509d4.jpg.

Tô ḿ quán cóc 

Trong tác phẩm Ḍng Sumida, Kafuu đă tả lại tâm t́nh của một cậu con trai ở vào tuổi dậy th́ là Chôkichi (có cái ǵ giông giống Sôkichi, tên cha sinh mẹ đẻ của nhà văn). Cậu Chôkichi là cháu của một ông thầy thơ haikai đă thành danh bút hiệu Ragetsu. Cậu năm đó 18 tuổi, sống bên mẹ là bà Ototo, một geisha giải nghệ đổi sang nghề dạy nghề diễn kịch búp bê Jôruri ở khu vực nghèo nàn gần cầu Imado (ngày nay nhộn nhịp và nổi tiếng nhờ tháp phát sóng vô tuyến truyền h́nh Big Tree cao trên 600 mét). Cậu yêu Oito (16 tuổi), một cô bạn gái từ hồi tấm bé và cậu đang khổ tâm khi đối mặt với tương lai bởi v́ không chú tâm được vào việc sách đèn và không thấy hứng thú với kỳ thi vào đại học. Lúc đó Oito cũng sắp sửa giă từ cuộc đời con gái để theo nghiệp cầm ca của một geisha. Dù Chôkichi yêu Oito tha thiết nhưng cô đối với anh chỉ có một t́nh cảm “cao hơn t́nh bạn nhưng chưa đạt đến t́nh yêu”. Trên chiếc cầu Imado điểm hẹn, một buổi chiều, Chôkichi đợi Oito đến tối mịt nhưng người con gái đă chọn con đường riêng của ḿnh mất rồi. Ông cậu Ragetsu sau khi nghe em gái là Otoyo v́ con đến vấn kế, chỉ ngậm ngùi thấy nơi đứa cháu Chôkichi những tháng năm phóng đăng thời trẻ của ḿnh. 

Sân khấu của câu chuyện nằm trong giai đoạn sau của thời Meiji và vùng Asakusa, xóm b́nh dân của Edo mà nay là Tôkyô. Tuy không phải là một áng văn du kư (kikô bungaku) nhưng Kafuu đă khéo léo “bắt” các nhân vật của ḿnh lang thang rất nhiều nơi trong khu vực bên bờ sông Sumida,  giúp ông thực hiện một cuộc tản bộ đậm chất trữ t́nh vào trong không gian và thời gian. 

Năm 1910, thời gian sau khi Sumidagawa (Ḍng Sumida) ra đời, người đàn anh là Natsume Sôseki đă có một buổi nói chuyện về văn hóa Nhật Bản đương thời. Nhà văn đă đặt một tương quan đối nghịch giữa văn hoá phương Tây và văn hoá mới của nước ḿnh. Theo ông, một bên là hệ quả của một sự phát triển nội tại rất tự nhiên, trong khi một bên chỉ chắp vá ngượng nghịu. Ông muốn nói Nhật Bản đă tiếp nhận văn hoá phương Tây lúc hăy c̣n thiếu sự chuẩn bị. Do đó, Sôseki đă kết luận một cách rất bi quan là nếu cuộc Duy Tân hàm chứa một mâu thuẫn lớn như vậy th́ kết quả sẽ rất đáng lo ngại cho dù điều này khó ḷng tránh khỏi. 

Nhà phê b́nh Yoshida Seiichi吉田精一 đă t́m ra một điểm khác biệt giữa thái độ của Sôseki và Kafuu khi phê phán sự chuyển hướng của Nhật Bản. Trong khi Sôseki tỏ ra thương cảm trầm lắng th́ Kafuu lạnh lùng mai mỉa, không chịu chấp nhận gánh chịu hậu quả nặng nề của mâu thuẫn sinh ra từ cuộc tiếp xúc vô trật tự giữa hai nền văn hoá. So sánh với những ǵ thấy được ở Âu Mỹ, Kafuu đă chỉ trích không nương tay xă hội ông đang sống. Cũng như nhà thơ Ishikawa Takuboku 石川啄木có lần phát biểu một cách tương tự, đă xem nó chẳng khác một anh chàng con nhà giàu ở thôn quê lên tỉnh ăn chơi phung phí trở về làng rồi dù chẳng làm được ǵ nên công cũng khinh chê quê hương ḿnh đủ thứ.

 

http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRUM-j3G57dzprmJt7UsliR71trnuLvccow_T94XLnbIBKH48BP

Tác phẩm của Henri de Régnier (1864-1936) đă ảnh hưởng đến Ḍng Sumida[7] 

Một điểm khác nhau nữa giữa Sôseki và Kafuu là tư tưởng Sôseki mang tính bi kịch và siêu h́nh xem đời như một bể khổ, đầy tội lỗi, trong khi Kafuu - vốn thiên trọng chủ nghĩa cá nhân hơn là triết lư Phật giáo - chỉ tỏ ra thương cảm với các nạn nhân của những đổi thay (người dân Edo và chính ḿnh), đổ hết trách nhiệm vào những kẻ “dă man” chỉ chạy theo vật chất mà chiêu bài là 4 chữ fukoku kyôhei 富国強兵 (phú quốc cường binh). Kafuu đă có thái độ “nổi loạn” khi ông khiển trách những kẻ chuộng hư vinh, chỉ tự măn, đă tàn phá hết những nét đáng yêu và những phong tục đẹp đẽ của thành phố Tôkyô, nhất là điều đó đă thấy tăng gia tốc lực từ ngày ông trở lại quê hương. Phản ứng của ông không những dựa trên quan điểm thẩm mỹ nghệ thuật nhưng c̣n là đạo đức xă hội. Ông chống lại một lề lối xă hội đậm màu sắc khắt khe và quan liêu của Khổng giáo, một thời đă tạm rút lui trước trào lưu Tây phương nhưng nay lại trở về và áp đặt hơn bao giờ hết từ khi những thành công quân sự (thắng lợi trong trận Nhật Thanh và Nhật Nga) hâm nóng tự hào dân tộc khiến người Nhật nghĩ ḿnh là giống ṇi ưu việt, được tuyển chọn (tư tưởng thần quốc, thần dân). Dưới ng̣i bút Kafuu, ông tố cáo những kẻ “dă man” ấy, họ vốn đến từ những địa phương xa xôi (ám chỉ chính quyền phiên phiệt Satchô), nay nắm được vận mệnh của đất nước, tuy nhân danh dân chủ nhưng đă làm cho Edo đẹp đẽ và hào hoa mà ông mến yêu trở thành tan hoang. Chính bản thân ông cũng là nạn nhân của họ. Một chế độ kiểm duyệt ngu ngốc không chỉ cấm phát hành tùy bút Furansu Monogatari フランス物語 (Chuyện bên Pháp) và tiểu thuyết Kanraku歓楽(Hoan lạc), vốn có một hương vị đồi phế, nhưng c̣n đang tâm cắt xén cả những trang vô tội vạ của Sumidagawa (Ḍng Sumida) chỉ nội trong một năm 1909.   

http://www.plathey.net/livres/japon/photos/nagai-1950.jpg     http://cache5.amanaimages.com/cen3tzG4fTr7Gtw1PoeRer/23007000719.jpg

Trong hậu trường các rạp nhạc kịch 

Có lẽ những điều Kafuu phê phán về xă hội như thế đă xác định hướng đi cho những tác phẩm về sau của ông. Có thể ông nghĩ rằng nếu dưới chính quyền mới, vai tṛ của nhà văn không có ǵ thay đổi so với giai đoạn trước thời Duy Tân th́ nhà văn hăy nên bằng ḷng giữ vai tṛ của một kẻ viết để giúp vui (hí tác), một gesakusha 戯作者như trước. Cùng với việc sử dụng chất liệu kiếm được từ cuộc sống của thế giới ăn chơi làm đề tài, nhà văn có thể “tự cô lập” như một ốc đảo giữa sa mạc xă hội, để giữ cho ḿnh một chút thiện tâm. 

Lối giải thích về động cơ của sự lựa chọn trong đời văn Kafuu không chỉ có thế. Nhà phê b́nh Eto Jun 江藤淳chẳng hạn, nghi ngờ rằng đây chỉ là một cách để Kafuu tự biện hộ cho cuộc sống đồi trụy. Nakamura Mitsuo中村光夫 ngược lại, định nghĩa ông như một ông thầy luân lư trong khi Kuwahara Takeo桑原武夫, bay bướm hơn, xem khuynh hướng văn chương Kafuu là “sự chiến bại của một nhà Nho”. Có lẽ mỗi người đều có lư trong một phần nào. Thế nhưng chúng ta nên gạt qua những lời buộc tội, qui kết ông như kẻ “lỗi thời”, “lạc hậu”, chỉ biết ngỡ ngàng nh́n một Nhật Bản cổ xưa đă biến mất hay đang trên đường tàn tạ. Phải chăng Kafuu chỉ muốn t́m về cội rễ khi nh́n thấy ḿnh và đồng bào đang trở thành mất gốc và muốn giữ lại một mảnh vụn của tâm hồn ḿnh đang sắp sửa ra đi vĩnh viễn? Chính ở điểm này, có lẽ ông gặp gỡ Sôseki, cho dù nơi Kafuu, ḷng tiếc nuối những cái đẹp và đáng yêu của Edo đó chỉ thể hiện qua thế giới hoan lạc mà ông không thể thoát ra khỏi v́ chỉ có nơi này mới cho phép ông kết hợp được đam mê với suy tư. Đừng trách ông muốn làm như một gesakusha ngày xưa viết truyện để thiên hạ mua vui bởi lẽ văn nhân Edo có những điều kiện sinh hoạt và mục đích khác với Kafuu. Văn nhân Edo phải uốn ḿnh theo hoàn cảnh sống của họ trong khi Kafuu tự chọn cho ḿnh một hướng đi. Dẫu có người muốn phản biện rằng Kafuu bản tính đă thích cuộc sống ăn chơi, lui tới những xóm lầu xanh, vây quanh bởi những người con gái coi nhẹ trinh tiết. Thế nhưng việc đi theo một con đường nào đó rồi gắn bó bền bỉ với nó đến suốt cuộc đời như ông, ngay cả trong những năm giữa thế chiến thứ hai lúc Nhật Bản c̣n đang mải mê chạy theo giấc mơ đế quốc, hẳn phải có một giá trị nhất định.   

 

http://pds.exblog.jp/pds/1/201202/27/70/a0243270_20171178.jpg

Hạnh phúc bên những bóng hồng          

Thực ra, có một thời gian, Kafuu đă trở thành giáo sư trưởng khoa văn chương Pháp của Đại học Keiô (1911), nghĩa là đóng được vai tṛ một ông thầy khả kính. Ông cũng kết hôn đàng hoàng dù là kết hôn để làm vui ḷng cha ḿnh bởi v́ ông đă ly dị vợ ít lâu sau cái chết của người cha. Ông tái hôn năm 1914 với Yaeji, một geisha mà ông đi lại từ lâu, rồi sau hai ba mối t́nh lăng nhăng, lại ly dị lần nữa năm sau.

 

Đọ sức 

Năm 1916, Kafuu bắt đầu cho đăng trên mặt báo Udekurabe 腕くらべ (Đọ sức, 1916-1917). In thành sách vào năm 1918, tác phẩm tŕnh bày cuộc sống bên trong những geisha okiya芸者置屋, ám chỉ nơi làm việc của các nàng geisha, thế giới mà ông rất quen thuộc. Geisha là nghề chiêu đăi trong các buổi họp mặt ở Nhật, vốn bắt đầu giữa thế kỷ thứ 7 và 13 và phát triển mạnh dưới thời Edo. Khác với các cô gái lầu xanh, geisha không tiếp khách ở nhà riêng mà ở okiya, hơn nữa họ được pháp luật đặt trên tầm giới thuần túy bán phấn buôn hương v́ phẩm chất nghệ thuật thanh lịch của họ. 

Truyện kể cuộc đời của Komayo một geisha giải nghệ để lấy chồng nhưng sau khi chồng chết đă trở lại với nghề cũ. Ở okiya, t́nh cờ nàng gặp lại Yoshioka, người yêu xưa, một thời sống chung nhưng đă phải xa nàng để lên đường du học. Nàng đề nghị Yoshioka làm danna (người bảo trợ) cho ḿnh. Cuộc trùng phùng và t́nh cảm vừa bùng lên lại giữa hai người không ngăn được Komayo có cuộc t́nh thoáng qua với Segawa, một người đàn ông tướng mạo hấp dẫn. T́nh cờ biết được chuyện đó và để trả thù, Yoshioka t́m đến với Kikuchiyo, một geisha có nhiều triển vọng, đang làm việc cùng okiya với Komayo và là địch thủ của nàng. Thấy thế, Komayo trả đũa bằng cách liên hệ sâu đậm hơn với Segawa. Yoshioka cũng phản ứng theo chiều ngược lại, gắn bó thêm với Kikuchiyo. Trong một buổi diễn kabuki, Rikiji, một cô t́nh nhân cũ của Yoshioka lại “phá đám” Komayo bằng cách giới thiệu Segawa cho Kimiyu, một geisha khác. Cô gái này có của nên làm vừa ḷng mẹ của Segawa hơn là Komayo. Rốt cuộc, Komayo trở thành cô đơn khi người đàn ông nàng yêu và người đàn ông cung phụng cho nàng đều đă bỏ đi. Lẻ loi, nàng dồn hết sức vào nghề nghiệp và chiến đấu, ǵn giữ okiya thừa hưởng từ bà chủ cũ nay đă qua đời. 

Trong Udekurabe, Kafuu muốn mô tả cuộc sống và phân tích tâm lư các cô geisha. Họ là những con người, theo ông, v́ lư do nghề nghiệp nên khó có thể tin cậy. Muốn thành công trong nghề, họ phải kiểm soát con tim. Trên thực tế, theo luật pháp, những geisha muốn trở về cuộc sống b́nh thường để làm vợ làm mẹ, đều bắt buộc phải bỏ nghề. Udekurabe cũng là một tác phẩm có màu sắc tự truyện, h́nh bóng Kafuu như bảng lảng trong đó.

 

Pháo bông 

1916 cũng là năm Kafuu từ chức ở đại học và từ đó, tách hẳn xă hội, thay đổi địa chỉ thường xuyên, rong chơi đó đây và tiếp tục cuộc sống hưởng lạc như những điều ông ghi lại trong Hanabi 花火 (Pháo bông, 1919). Lư do chính của chuỗi hành động này là phản ứng chống lại nhà nước Nhật Bản đang đi trên con đường quân phiệt hoá. Kafuu cảm thấy ḿnh lạc lơng trong một xă hội như vậy nên kháng cự một cách tiêu cực bằng cách làm kẻ đứng bên lề. 

Bắt đầu tác phẩm có tính chất tùy bút này, Kafuu hồi tưởng lại những cuộc ăn mừng mà Nhật Bản đă cử hành trong quá khứ với pháo bông, lồng đèn, cờ xí, diễu hành, tung hô vạn tuế và cảnh người đi xem hội dày đạp lên nhau... nhân những sự kiện như kỷ niệm ngày ban hành Hiến Pháp (1890), chiến thắng Nhật Thanh (1895), dời đô từ Kyôto về Tôkyô (1898), chiến thắng Nhật Nga ( 1905), lễ đăng quang của Thiên hoàng Taishô (1915), kỷ niệm hoà hội Versailles (1919)...Thế nhưng ông cũng nhắc lại một sự kiện kém vui mà ông đă chứng kiến vào năm 1911 khi bắt đầu đi dạy ở Keiô. Ngày hôm đó, một đoàn xe bít bùng đă giải nhà văn Kôtoku Shuusui và các bạn đồng tù ra Ṭa án Hibiya để xử tội đại nghịch với tội danh muốn ám sát Thiên hoàng Meiji (1910). Kết quả là Kôtoku đă bị xử tử. Đối với Kafuu, đây là hành động kém quang vinh của một nhà nước đang dẫm nát quyền tự do ngôn luận. Chính nhà nước đó, năm 1918, cũng kiểm duyệt khi báo chí đăng tin về những cuộc bạo động trong dân chúng v́ gạo tăng giá. Không có cái can đảm để nói “Tôi buộc tội!” (J’accuse!) như Zola hay bỏ nước ra đi, ông vô cùng hổ thẹn và cảm thấy không c̣n con đường nào khác hơn là “hạ thấp nghệ thuật của ḿnh xuống hàng tác giả thời Edo dùng văn để mua vui thiên hạ”.Và cũng như ông đă viết tiếp trong Hanabi: “Kể từ đó, tôi bắt đầu đeo một túi thuốc lá ngang thắt lưng, sưu tập tranh mộc bản và chơi đàn shamisen”. 

 

Đứng ngơ ngác giữa những ngă ba lịch sử 

Tháng 7 năm Taishô thứ 11 (1922), nhà văn mà Kafuu yêu kính hơn cả là Mori Ôgai qua đời. Buổi văn niên, v́ chán ngán với t́nh thế và cũng đánh mất niềm tin nơi chế độ, nhất là từ sau vụ án “nghịch đảng” nói trên. Ôgai xoay ra viết loại tiểu thuyết lịch sử có tính khảo chứng. Kafuu thu nhận ảnh hưởng của bậc tiền bối đáng kính này và cũng đi theo con đường viết truyện kư về những nhà Nho lớp cũ như ông ngoại Washidzu Kidô 鷲津毅堂của ḿnh và Ônuma Chinzan大沼枕山[8], sau đó là về Ôta Nanpo大田南畝[9] và Narushima Ryuuhoku成島柳北[10]. Thế rồi, cuối thời Taishô bước sang Shôwa (1926), buổi tối khi thành phố lên đèn, hầu như người ta thấy Kafuu cà kê ở những quán nước tiệm rượu phố Ginza. Thời ấy, ông hầu như không c̣n lui tới với văn đàn nữa.  

Các quán rượu kiểu phương Tây mà người ta gọi là kafe (khác với h́nh ảnh quán cà phê ngày nay) lúc đó đang hồi toàn thịnh và nó trở thành bối cảnh cho nhiều tác phẩm của ông như Ajisai 紫陽花 (Hoa tử dương) và Enoki Monogatari 榎物語(Truyện cây gỗ dâu), đặc biệt Tsuyu no atosaki 梅雨のあとさき(Trước sau mùa mưa dầm, 1931), tác phẩm nói về cuộc sống các cô chiêu đăi viên kafe ấy, đă gây được tiếng vang, đánh dấu sự trở về với văn đàn của Kafuu. Nhưng qua năm sau (1932), cùng với biến cố quân sự ở Thượng Hải, việc nhóm khủng bố Ketsumeidan (Huyết minh đoàn) ám sát kỹ nghệ gia Dan Takuma và biến cố ngày 15 tháng 5, một nhóm sĩ quan hải quân xông vào tư dinh hạ sát Thủ tướng Inukai Tsuyoshi, Kafuu hầu như mất hết hứng sáng tác. Phải đợi hai năm sau, ông mới cho đăng đoản thiên Hikage no hana日かげの花 (Hoa trong bóng râm) trước khi một lần nữa dạt ra đứng bên ngoài cuộc chơi.

 

Truyện lạ Bờ Đông 

Tác phẩm tiêu biểu của Kafuu trước chiến tranh có tên là Bokutô Kitan 墨東綺談 (Truyện lạ Bờ Đông, đăng năm 1937). Bờ Đông ở đây là bờ phía đông con sông Sumida (c̣n gọi là 墨水Mặc thủy) – nay trở thành một khu vực nội thành Tôkyô) – nhưng lúc đó chỉ là những xóm nghèo ven đô, nơi sinh hoạt của tầng lớp lao động nghèo khó. Truyện kể về một nhà văn đang túng đề tài đi lang thang trong xóm đă t́nh cờ khám phá ra nơi O-Yuki, một nàng con gái buôn hương, vẻ đẹp và nét ngây thơ mà ông không c̣n t́m thấy nơi con người ở thủ đô xô bồ hỗn tạp và tàn nhẫn đến phi nhân của buổi giao thời.  

Bokutô Kitan không phải là một cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa. Giống như một tác phẩm ra đời trước đó là Takekurabe たけくらべ (Đọ vai, 1895-96) của nhà văn nữ Higuchi Ichiyô樋口一葉[11], nó là một tiểu-thuyết-tùy-bút hay tiểu-thuyết-không-cốt-truyện, với ư định mô tả phong cảnh và kể lể tâm tư nhiều hơn là tŕnh bày sự kiện hay thắt gút, mở gút. Cũng như Takakurabe, Bokutô Kitan lấy thế giới xóm lầu xanh Tamanoi, một nơi tương tự chốn hành lạc nổi tiếng Yoshiwara, làm bối cảnh, để nói lên không khí trữ t́nh bàng bạc giữa thiên nhiên bốn mùa và cái t́nh cảm tế nhị, se sắt của những con người sống trong khu vực buôn hương bán phấn ấy. Trong chiều hướng đó, Bokutô Kitan không những mang hương vị Takekurabe mà c̣n có những điểm tương tự với Imado Shinjuu今戸心中 (Chết chung v́ t́nh ở Imado, 1896) của Hirotsu Ryuurô広津柳浪 và Chuumonchô 注文帳 (Tập địa chỉ khách hàng, 1897) của Izumi Kyôka泉鏡花 nữa. Kafuu ở đây đă chứng tỏ ông không phải là một nhà văn suy tư hay luận lư. Ông chỉ là một nhà văn nói lên cảm xúc và tâm t́nh của ḿnh và của người trong một xă hội đang đà tan biến mà không bao giờ có thể t́m thấy lại. 

 

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcS8z0uMLmoHtdwZDWTAHSpQvrKBF8m5YiTckgLR4VdJByEa35SuGg     http://blogs.c.yimg.jp/res/blog-70-78/fujimaru80/folder/426270/33/12240333/img_11?1413085408 

Yamamoto Fujiko (1960) và Sumida Yuki (1992) trước sau đă thủ vai O-yuki trên màn ảnh lớn 

Năm 1937 cũng là năm mà nước Nhật phiệt và nước Đức của Hitler, nước Ư của Mussolini bắt đầu hợp tác để sau này đă đẻ ra liên minh phe Trục. Chính quyền đương thời đang khép dần gọng ḱm kiểm duyệt, họ đ̣i các nhà văn phải tỏ ra “có trách nhiệm trước thời cuộc”. Hú vía cho Kafuu là Bokutô Kitan được đưa lên mặt báo Asahi trang buổi chiều liên tục từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1937 với minh họa của Kimura Shôhachi, vừa đúng trước khi thời thế hoàn toàn đổi thay.  

Sau đó, cùng với chiến sự leo thang, đoàn thể Bungaku Hôkokukai文学報国会 (Văn học báo quốc hội) mà Kikuchi Kan菊池寛 (1888-1948) lănh đạo đă ra đời vào năm 1942. Nó vốn được thành lập dưới sự chỉ đạo của chính phủ như cơ quan chính trị để thực hiện tôn chỉ của nhà nước. Hầu hết các người cầm bút Nhật Bản trong giai đoạn này đều gia nhập hội, chỉ trừ một số trường hợp đơn lẻ, trong đó có Kafuu. Dĩ nhiên khi chọn thái độ “không buồn trả lời” những bức thư của Bungaku Hôkokukai kêu gọi gia nhập, Kafuu tự ḿnh đánh mất cần câu cơm v́ không ai chịu xuất bản tác phẩm của ông nữa mà an ninh bản thân c̣n bị đe dọa.   

Trong một xă hội tập đoàn như Nhật Bản, hành động từ chối bắt tay chính quyền quân phiệt của Kafuu đồng nghĩa với tự sát. Tuy nhiên, dù không cho ông in nhưng chính quyền ấy không thể cấm ông sáng tác. Điều này giải thích sự xuất hiện rầm rộ trong giai đoạn 1945-46 của các tác phẩm mà ông đă thầm lặng viết giữa chiến tranh. Chính ra văn đàn Nhật Bản thời 1945-46 không hề vắng vẻ. Hăy c̣n có sự trở về của những cây viết cũ như Tanizaki Jun.ichirô, Shiga Naoya ... và sự góp mặt của các tài năng mới như Dazai Osamu ... nhưng hầu như những nhà văn có liên hệ với quân phiệt đều bị bắt buộc phải gác bút hay không dám viết nữa v́ cảm thấy xấu hổ. Ngược lại, Kaifuu là người đă lẳng lặng tự ư nằm giả chết từ năm 1938. Thời hậu chiến nay đă bắt đầu, cho ông t́m thấy cơ hội hồi sinh.  

 

Huân chương 

Thực vậy, nội năm 1946, Kafuu lần lượt cho ra đời một loạt tác phẩm: Ukishizumi 浮沈(Ch́m nổi) nói về cuộc đời đầy thăng trầm của một chiêu đăi viên, Odoriko 踊子(Con hát) mô tả mối t́nh tay ba giữa một nhạc công và hai cô vũ nữ, Towazu Monogatari 問わず物語 (Chuyện không ai hỏi), tâm sự một họa sĩ lỡ làng và cuộc t́nh của ông với con gái người t́nh nhân cũ đă chết. 

Kunshô 勲章 (Huân chương) cũng ra đời vào thời điểm đó, nói về cái chết của một cựu chiến binh trận Nhật Nga, người đă có thái độ khinh bạc là đem tấm huân chương của ḿnh để trang trí nhà tṛ các rạp vũ khỏa thân và nhạc kịch rẻ tiền (gọi là Opera-kan) trong xóm b́nh dân Asakusa. Trận đối đầu giữa Nga và Nhật mà ông ta tham dự như một anh hùng đă đem về chiến thắng rúng động thế giới cho phía Nhật nhưng ở quốc nội, nó đă gây nên một bầu không khí đầy căm phẫn trong dân chúng, có dịp bùng nổ ở Công viên Hibiya giữa Tôkyô. So với thiệt hại về người và của mà dân chúng bị chính quyền bắt buộc chịu đựng, Nhật Bản không thu về “lợi lộc” nào đáng kể v́ bị Âu Mỹ bênh Nga o ép.  

 

Nhật kư đoạn trường  

Một loại h́nh văn học mà Kafuu sở trường là nhật kư. Cũng có thể nói đây là loại h́nh mà các nhà văn Nhật Bản yêu chuộng và thiện nghệ. Nó đă bắt nguồn tự thời Heian. Chính bản thân Kafuu cũng nh́n nhận ví trí quan trọng của nó trong cuộc đời ḿnh.  

Ông đă giữ những cuốn nhật kư từ ngày 16 tháng 9 năm 1917 (Taishô 6) cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1959 (Shôwa 34), tất cả kéo dài trên 42 năm từ lúc ông 37 tuổi đến khi qua đời suưt soát tuổi 80. Nhật kư được đặt tên là Danchôtei Nichijô 断腸亭日乗 (Nhật kư ở Đoạn Trường Đ́nh). Cái đ́nh Đoạn Trường là tên một túp nhà nhỏ ông cho cất trong vườn ḿnh ở Ushigome Ôkubo trong thành phố Tôkyô. Ông tự xưng Đoạn Trường chủ nhân (ám chỉ một cách dí dỏm chứng bệnh kinh niên đường ruột của ḿnh) và cho trồng chung quanh đ́nh hoa hải đường mùa thu vốn có cái tên chữ Hán bóng bẩy là ... đoạn trường hoa.  

Trong thời chiến, v́ sợ gặp cái họa văn tự, ông không đưa mấy cuốn nhật kư - phần nhiều viết trong những cuốn vở học tṛ - cho ai xem, dù là bạn thân. Tuy lúc sinh tiền, sau 1945, một phân nửa nhật kư đă được công bố nhưng phải đợi đến năm 1964, nhà xuất bản Iwanami mới cho in tất cả thành 7 cuốn trong toàn tập về ông. Ngoài giá trị văn chương, đây là một tư liệu về phong tục học rất quí giá. Trong đó, ông kể lể từ chuyện lớn đến chuyện vặt vănh trong ngày: tin tức khí tượng, thức ăn thức uống, tên khách đến chơi, nội dung những cuộc đi dạo, phong cảnh, vật giá, phê phán chế độ chính trị, tŕnh bày cảm nghĩ sau khi đọc sách, chê trách sự phá sản của những tập quán tốt đẹp... Trong đó, ngoài bộ phận chữ viết quan trọng hơn cả, c̣n kèm thêm tranh ảnh và địa đồ...

 

            

http://dassai2.p2.weblife.me/p4/_src/sc13809/page0143main016.jpg  浅草で買い物かごをもった永井荷風=永井壮一郎氏提供

Ông giáo thích lang thang 

Kể từ 1957, trong thời gian 2 năm trời, Kafuu buổi văn niên đă khép ḿnh trong sự cô đơn. Ông thường dạo chơi xóm Asakusa, nơi c̣n giữ lại h́nh ảnh cuộc sống người thường dân Edo.Ngôi nhà cuối cùng của ông tọa lạc tại Edogawa, một nơi hơi xa thành phố. Con sông Edogawa gợi nhớ không khí của ḍng Sumida mà ông từng biết thời thơ ấu. Một người đàn bà đến nhà giúp việc buổi sáng vào năm Shôwa 34 (1959) đă nhận ra thi thể nhà văn, vẫn ăn mặc đường hoàng, nằm sóng sượt trên sàn pḥng ngủ. Năm đó, ông 80 tuổi. Ông được người em út mà ông mới làm lành trở lại sau 30 năm không nh́n mặt, đem về an táng trong khu mộ địa của ḍng họ bên cạnh mẹ cha.Như thế gia đ́nh đă chụp bắt được ông, đứa con hoang đàng mà họ đă để vuột mất khi c̣n sống, một người chỉ ước mơ khi chết đi sẽ được nằm chung cùng nghĩa địa trong chùa Tĩnh Nhàn Tự (Jôkanji) khu Arakawa với các cô gái lầu xanh Yoshiwara mà ông yêu dấu thuở sinh thời.

 

クリックすると元のサイズで表示します

Nhận huân chương văn hoá ở hoàng cung năm 1952 (hàng đứng, bên phải) 

Cho đến ngày cuối của cuộc đời, văn nghiệp Kafuu đă theo 3 hướng chính: nhật kư, tùy bút, truyện ngắn và truyện dài. Đó là chưa kể sự hợp tác của ông với sân khấu kabuki và kịch nghệ. Tất cà đều bộc lộ cố gắng của Kafuu để ǵn giữ một chút nào nét đẹp của Edo suốt trong khoảng thời gian Nhật Bản hiện đại dần dần xóa bỏ những xóm làng chơi, duy một số geisha và sân khấu nhạc kịch trước 1945 c̣n giữ lại chút hào hoa của một thuở nào. 

Là nhà văn cuối cùng của thế hệ Meiji và được sống khá lâu, ông đă có cái may mắn chứng kiến những đổi dời to lớn của đất nước ông để kể lại nó trong các tác phẩm của ḿnh. Cuộc đổi dời to lớn đó vẫn chưa đến hồi khép lại. Do đó, chúng ta hiểu v́ sao những con người có ḷng và nhạy cảm của đất nước này, khi đọc những lời phê phán của Kafuu đối xă hội mà họ đang sống, vẫn t́m thấy nơi nhà văn sợi giây kết hợp họ lại với nhau, một điều chúng ta c̣n thấy được bên ngoài những câu văn đầy chất thơ và đẹp tuyệt của ông.

 

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/86/Corpse_of_Kafu_Nagai.jpg

Chết trong cô đơn 

Tóm lại, Nagai Kafuu là người Mohican cuối cùng trong cái nghĩa ông thuộc loài khổng tượng đă biến mất vào trong ḍng lịch sử. Loài động vật ấy với cái đầu thật nhỏ và trái tim thật lớn, thân h́nh dềnh dàng nhưng chỉ biết nhai cỏ, chỉ cần một chuyển biến lớn như một khối vẫn thạch vĩ đại đâm vào địa cầu là ra đi không để lại dấu vết.  

Riêng cuộc sống của chính Kafuu cũng chỉ là một nỗi hoài niệm vô biên.

 

Niên biểu Nagai Kafuu

: http://jto.s3.amazonaws.com/wp-content/uploads/2013/06/fa20100115a1a.jpg

               Trong khu buôn bán cạnh chùa Sensôji xóm Asakusa 

1879: Sinh ra ở khu Koishikawa Kanatomi (nay thuộc khu Bunkyô) Tôkyô, trưởng nam của ông Nagai Kiichirô và bà Washidzu Tsune.

1889: 10 tuổi. Học tiểu học.

1890: 11 tuổi. Cha rời chức thư kư Đại học Đế quốc để làm bí thư cho Tổng trưởng Giáo Dục Yoshikawa Akimasa. Cả nhà dọn về khu trung tâm hành chánh Kôjimachi Nagata. 

1891: 12 tuổi. Cha đổi qua làm Vụ trưởng Kế Toán Bộ Giáo Dục, gia đ́nh trở về nhà cũ ở Koishikawa. Theo học trung học.

1893:14 tuổi.Cha bán nhà Koishikawa và mướn nhà ở Kôjimachi.

1894:15 tuổi. Bắt đầu học thư đạo và hội họa với các gia sư. Mắc bệnh sưng hạch phải vào bệnh viện điều trị.

1895: 16 tuổi. Nằm dưỡng bệnh ở nhà nghỉ của gia đ́nh ở Zushi, bắt đầu đọc loại sách văn học (Thủy Hử, Tây Du, Tam Quốc và các tiểu thuyết dă sử Nhật).

1896: 17 tuổi. Học thổi sáo shakuhachi và Hán thi.

1897: 18 tuổi. Cha từ chức ở Bộ Giáo Dục để vào làm ở Công ty vận tải đường biển và được bổ làm Giám đốc chi nhánh Thượng Hải. Được sang Trung Quốc thăm bố. Nhập học khoa ngoại ngữ Trường Cao đẳng thương mại ở khu Kanda.

1898: 19 tuổi. Trở thành học tṛ nhà văn Hirotsu Ryuurô

1899: 20 tuổi. Theo học rakugo, đoạt giải thưởng viết văn do một nhật báo tổ chức. V́ không đi học chuyên cần, bị nhà trường gạch tên.

1900: 21 tuổi. Bố về nước và được thăng chức Giám đốc chi nhánh Yokohama. Trở thành môn sinh kabuki của nhà nghiên cứu kiêm soạn giả Fukuchi Ôchi. Học thêm sân khấu kyôgen.

http://pds.exblog.jp/pds/1/201206/25/37/c0239137_16444880.jpg

Trước một rạp vũ khỏa thân ở Asakusa 

1901: 22 tuổi. Rời nhà hát kabuki để vào làm ở Nhật báo Yamato.Bắt đầu đăng tiểu thuyết nhiều kỳ Shin-Umegoyomi (Cuốn lịch hoa mơ-bộ mới) nhưng không lâu đă bị cho thôi việc.

1902: 23 tuổi. Bắt đầu hâm mộ Zola. Cho ra mắt Yashin (Tham vọng), Jigoku no hana (Hoa địa ngục), Shinnin chiji (Ông thị trưởng mới nhậm chức).

1903: 24 tuổi. Lần đầu tiên gặp Mori Ôgai. Xuất bản Yume no onna (Người đàn bà trong mơ). Tháng 9, cha gửi qua Mỹ học trung học ở Tacoma (tiểu bang Washington).

1904: 25 tuổi. Muốn chuyên về văn chương Pháp nên xin làm sinh viên bàng thính khoa Pháp văn ở Trường cao đẳng đại học Kalamazoo (tiểu bang Michigan) Ra mắt Sumidagawa (Ḍng Sumida) trên tạp chí Bungakukai ở quê nhà.

1905: 26 tuổi. Nghe tin chiến tranh Nhật Nga bùng nổ. Đến New York Anh họ là Nagai Shôzô kiếm cho một chỗ làm việc ở Ṭa Công Sứ Nhật. Đi lại với nàng Edyth, một cô gái trong giới xă giao. Tháng 10, thôi việc nhưng bố lo liệu được vào thực tập ở Shôgin (Yokohama Shôkin Ginkô) chi nhánh New York.

1906: 27 tuổi. Không thích việc ở ngân hàng cho lắm, xoay qua thưởng thức âm nhạc. Thu thập tài liệu để viết kư sự về nước Mỹ. Ch́m đắm trong cuộc sống phóng đăng với nàng Edyth.

1907: 28 tuổi. Lấy tàu thủy sang Pháp, làm việc ở chi nhánh Lyon (Pháp) của Shôgin. Vẫn mang tiếng không nghiêm túc trong công việc.

1908: 29 tuổi. Tự ư bỏ việc, v́ ngưỡng mộ cuộc sống ở Paris nên rời Lyon để đến đấy. Quen biết dịch giả thơ ngoại quốc Ueda Bin, lúc đó đă thôi việc và đang rong chơi trong khu nghệ sĩ Montmartre. Hai tháng sau, đột nhiên về nước và xuất bản Amerika Monogatari (Chuyện bên Mỹ).

http://www.japantimes.co.jp/images/photos2009/fl20090426x1a.jpg

Một ḿnh bên song 

1909: 30 tuổi. Furansu Monogatari (Chuyện bên Pháp) ra đời nhưng bị cấm. Đầu mùa hạ, đi lại thân mật với Matsu, một ca kỹ ở Shinbashi. Quen biết Natsume Sôseki. Từ tháng 12, đăng liên tục nhiều kỳ tác phẩm Reishô (Cười nhạt) trên báo Asahi, cũng như cho ra mắt Sumidagawa (Ḍng Sumida) và nhiều tác phẩm mới : Kitsune (Con Chồn), Matsuri no yogatari (Truyện đêm lễ hội), Shukuhai (Ly rượu mừng), Botan no kyaku (Người khách mẫu đơn), Kanraku (Hoan lạc), Kichôsha no nikki (Nhật kư người trở lại quê hương), Fukagawa no Uta (Khúc hát Fukagawa), Kangokusho no Ura (Sau lưng nhà ngục), Hôtô (Phóng đăng) biểu lộ phong cách lăng mạn và duy mỹ giữa thời đại mà văn chương tả thực mới là khuynh hướng chủ đạo.

1910: 31 tuổi. Nhờ hai nhân vật uy tín là Mori Ôgai và Ueda Bin đánh giá cao và tiến cử, tuy không đủ bằng cấp đ̣i hỏi vẫn trở thành giáo sư thực thụ, chủ nhiệm khoa văn chương Pháp ở Đại học Keiô. Thành lập tạp chí văn học khuynh hướng duy mỹ Mita Bungaku để đối chọi với màu sắc chủ nghĩa tự nhiên của Waseda Bungaku, do khoa văn Đại học Waseda đề xướng.Từ đó, trong suốt 6 năm làm việc ở Keiô, các trứ tác của ông chủ yếu được đăng trong tạp chí của nhà trường. Lại quen biết với các ca kỹ xóm Shinbashi như Tomimatsu, Yaeji.               

1911: 32 tuổi. Được chính khách Saionji Kinmochi, bạn thân của cha, mời ông đến họp mặt với Useikai (Vũ Thanh Hội), một tập hợp văn nhân nghệ sĩ. Ông có để lại một bút kư về những cuộc gặp gỡ này bên cạnh các ngôi sao trong giới cầm bút đương thời như Izumi Kyôka, Mori Ôgai, Hirotsu Ryuurô, Shimazaki Tôson. Ômachi Keigetsu và Tanizaki Jun.ichirô... Cần chú ư là Saionji (1849-1940), một công khanh không thuộc nhóm chính trị gia phiên phiệt, trí thức ưu tú và cũng từng du học ở Pháp như ông.

1912: 33 tuổi. Kết hôn với bà Saitô Yone, con gái một nhà buôn gỗ. Cuối năm đó, cho ra đời Shinbashi Dawa (Tân Kiều dạ thoại). Cha bị tai biến mạch máu năo nhưng ông đang ăn nằm dài dài  ở nhà Yaeji nên không hay biết.

1913: 34 tuổi. Tháng giêng bố mất ở tuổi 62. Tháng hai, ly hôn với Yone. Xuất bản Sangoshuu (San hô tập), một tuyển tập thơ dịch các thi nhân Pháp ngữ như Baudelaire, Verlaine, Samain, Nữ công tước de Noailles vv....

1914: 35 tuổi.Tháng 3, cưới ca kỹ Yaeji (tên thật: Kaneko Yae). Nhân việc đó, bất ḥa với em trai là Isaburô. Bắt đầu đăng nhiều kỳ Hiyori geta (Guốc gỗ ngày đẹp trời).    

 

http://www.tokyoartbeat.com/tablog/entries.en/wp-content/uploads/2010/01/parallel-universes-1.jpg

Nagai Kafuu và quang cảnh một xóm trong Tôkyo hậu chiến 

1915: 36 tuổi. Tháng giêng Natsu no sugata (Dáng dấp mùa hạ) ra đời. Sách bị cấm.

1916: 37 tuổi. Yaeji đột ngột bỏ nhà, quay lại với nghề cũ. Từ chức giáo sư đại học Keiô. Lập ra tờ báo Bunmei (Văn minh). Tháng 8, đăng liên tục Udekurabe (Đọ sức) nói về một cuộc tranh giành  t́nh yêu và đụng chạm nghề nghiệp trong thế giới các nàng geisha nhưng cũng để lại chút bóng h́nh cuộc đời ḿnh trong đó.

1917: 38 tuổi. Rút ra khỏi ban biên Tập tạp chí Mita Bungaku. Bắt đầu viết nhật kư. Sau sẽ là tư liệu cho Danchôtei Nichijô (Nhật kư Đoạn Trường Đ́nh). .

1918: 39 tuổi. Chủ trương tờ Kagetsu (Hoa nguyệt). Đăng tiểu thuyết dài Okamezasa (Cây nêu lá trúc). Tháng 11, bán nhà cửa cha mẹ để lại, dọn về khu Tsukiji. Tháng 12, nhà xuất bản Shunfuudô (Xuân Phong Đường) tiếp tục in toàn tập của Kafuu.

1919: 40 tuổi. Mua nhà kiểu tây phương ở Azabu. Tháng 12, đăng Hanabi (Pháo bông) trên tạp chí Kaizô.

1920: 41 tuổi. Cho ra mắt Edo geijutsuron (Nghệ thuật luận về Edo). Dọn đến nhà mới.

1921:42 tuổi. Tŕnh làng tác phẩm Ame shôshô (Mưa lê thê).

1922: 43 tuổi. Tŕnh làng Yukidoke (Tuyết tan).

1923: 44 tuổi. Đọc các tập tiểu thuyết lịch sử của Mori Ôgai. V́ thích thú với chúng nên bắt đầu nghiên cứu về truyện kư các văn nhân làng nho.

1926: 47 tuổi. Xuất bản Shitaya sôwa (Mấy câu chuyện về xóm Shitaya).

1927: 48 tuổi: Viết nhiều bút kư tưởng nhớ tùy bút gia đàn anh Narushima Ryuuhoku, người nổi tiếng với truyện kư về xóm Yanagibashi. Xảy ra vụ tranh chấp giữa người thiếp yêu của ông là Sekine Uta với một cô hầu bàn quán cà phê.

1928: 49 tuổi. Sumidagawa được dựng thành kịch trên sân khấu rạp Hongô.

1929: 50 tuổi. Đăng Kataomoi (Yêu đơn phương) trên tạp chí Chuô Koron. 

1931: 52 tuổi: Ra mắt các tác phẩm Ajisai (Hoa tử dương), Enoki Monogatari (Truyện cây gỗ dâu), Tsuyu no atosaki (Trước sau mùa mưa dầm). Chia tay nàng Uta.

 

http://auctions.c.yimg.jp/images.auctions.yahoo.co.jp/image/ra470/users/0/3/1/3/psychopsycho1960-img431x600-1395487319wfjbn66445.jpg

Chị em xóm lầu xanh

 

1934: 55 tuổi. Tŕnh làng Hikage no uta (Hoa trong bóng râm).

1937: 58 tuổi. Tiểu thuyết đăng dài hạn Bokutô Kidan (Mặc đông kỷ đàm = Truyện lạ bờ Đông) có tiếng vang với độc giả, được các nhà phê b́nh xem như tác phẩm tiêu biểu của ông. Tháng 9, mẹ mất nhưng ông không đi dự dám tang.

1938: 59 tuổi. Soạn nhạc kịch nhan đề Katsushika Jôwa (Truyện t́nh ở Katsushika), được tŕnh diễn trên sân khấu opera khu Asakusa.

1944: 64 tuổi. Nhận con trai của em họ làm con nuôi.

1945: 66 tuổi. Nhà đang ở bị dội bom cháy tiêu. Phải sơ tán về miền quê. Nghe tin đ́nh chiến khi ở Okayama.

1946: 67 tuổi. Cho ra đời một lượt nhiều tác phẩm thai nghén trong thời chiến như Odoriko (Con hát), Kunshô (Huân chương), Ukishizumi (Ch́m nổi), Tamenaga Shunsui (Bàn về tiểu thuyết gia Tamenaga Shunsui), Risai nichiroku (Nhật kư một trận hỏa tai), Towazumonogatari (Chuyện không ai hỏi), Raihôsha (Kẻ đến thăm), Kusamomiji (Cỏ thu nhuộm hồng).

1947: 68 tuổi. Làm lành với người em út Isaburô đă hơn 30 năm không gặp.

1948: 69 tuổi. Lại lui tới thường xuyên pḥng tṛ các rạp hát vùng Asakusa và thân mật với các nữ diễn viên, nữ vũ công.

1949: Đăng dài hạn tập nhật kư Danchôtei Nichijô (Nhật kư Đoạn Trường Đ́nh) trên tạp chí Chuô Kôron). Các tác phẩm khác được đăng tải trong giai đoạn này là Nigirimeshi (Cơm nắm), Teisha no yo no dekigoto (Chuyện xảy ra một đêm tàu dừng), Zassôen (Vườn cỏ dại), Aki no onna (Người đàn bà mùa thu), Hitozuma (Gái có chồng), Katai gidan (Bàn về lơa thể).

1950: 71 tuổi. Cho ra mắt Katsushika Miyage (Món quà của vùng Katsushika).

1952: 73 tuổi. Đăng Yume (Mộng) và Ikyô no koi (Mối t́nh trên đất người). Được chính phủ trao tặng Huân chương văn hóa v́ 3 lư do là viết được tác phẩm giàu chất thơ, nghị luận phê phán văn ḿnh sắc bén và thấu triệt trong sự quan chiếu văn chương với hiện thực, xứng đáng có địa vị một ḿnh một cơi trên văn đàn.

1953: 74 tuổi. Tạp chí Chuô Korôn đăng Kafuu sengo nichireki (Những năm tháng hậu chiến của Kafuu). 

1954: 75 tuổi. Trở thành hội viên Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật. Viết thêm Katai (Khỏa thân), Azumabashi (Cầu Azuma), Akasuka kôkyôkyoku (Bản giao hưởng Asakusa).

1956: 76 tuổi. Katsushika koyomi (Cuốn lịch Katsushika) đăng trên nhật báo Mainichi. Otokogokoro (Ḷng dạ đàn ông) được đăng trên tạp chí Chuô Koron.

1957: 78 tuổi. Về sống một ḿnh ở ngôi nhà mới ở Yawata thuộc thị trấn Ichikawa. Chuô Kôron đăng Natsu no yo (Đêm mùa hạ) và Fuyubi kage (Cái bóng ngày mùa đông).

1958: 79 tuổi. Banshaku (Bữa rượu chiều) đăng trên Chuô Koron. Nhà xuất bản Chikuma Shobô tuyển chọn tác phẩm Kafuu và đưa vào toàn tập văn học hiện đại Nhật Bản (quyển 16).

1959: 80 tuổi. Tháng 1, c̣n cho đăng Mukôjima (Đảo bên kia bờ) nói về khu Mukôjima, ḥn đảo nằm bên kia bờ sông Sumida. Thế nhưng, tháng 3, khi đang đi dạo ở Asakusa th́ bệnh cũ (loét bao tử) bộc phát. Tháng 4, thổ huyết và qua đời. Được chôn cất trong khu mộ địa của gia đ́nh ở khu Bunkyô, Tôkyô.

 (Tôkyô ngày 30 tháng 5 năm 2015)

 

Tư Liệu Tham Khảo: 

1)      Chikuma Shobô, 1961, Chikuma Gendai bungaku taikei, quyển 16, tuyển tập Nagai Kafuu, Chikuma Shobô, Tokyo xuất bản, ấn bản đầu tiên 12/15/1961. Hanabi (trang 150-154), Kunshô (358-364), Ame shôshô (156-172).

2)      Nagai Kafuu, 1951, Bokutô Kitan, bản bỏ túi, ấn bản in lần thứ 84, 2014, Nxb Shinchô, Tokyo.

3)      Edward G. Seidensticker dịch Bokutô Kitan, 2000, A Strange Tale from East of the River and Other Stories, Tuttle Publishing, Tokyo, trích từ Kafuu the Scribbler, The Life and Writings of Nagai Kafuu (1879-1959) của cùng dịch giả, Stanford University Press, USA, 1965. Cùng tập c̣n có Quiet Rain (Ame shôshô, tr. 81-105)

4)      Pierre Faure dịch Sumidagawa, 1975, La Sumida, Tuyển dịch trong chương tŕnh T́m hiểu về Đông Phương (Connaissance de l’Orient), bảo trợ bởi Unesco,Nxb Gallimard, Paris.

5)      Pierre Faure dịch Ame shôshô và các truyện khác, 1994, Interminablement la pluie, Collection Picquier Poche, Nxb Philippe Piquier, Paris.

.........................

 

[1] Thi nhân Hán thi thời Edo, Washidzu Kidô (1825-1882) là một nho sĩ xứ Obari (khu vực Nagoya), thời Duy Tân từng ra làm quan. Tác phẩm có Shintô yoei 親燈余影 (Thân đăng dư ảnh) hay Đối bóng đèn khuya.

[2] Sáo thổi theo chiều dọc, làm bằng một ống tre lớn.

[3] V́ chưa nổi tiếng, nhiều tác phẩm buổi đầu của Kafuu phải dùng bút hiệu của thầy và thầy lănh nhuận bút. Đây là một điều thịnh hành trên văn đàn thời ấy.

[4] Bút hiệu của nhà báo, nhà văn, học giả Hán-Lan-Anh học, soạn giả tuồng và chính trị gia Fukuchi  Gen.ichirô, con trai y sĩ ngựi Nagasaki là Fukuchi Kôan. Gen.ichirô trở thành một yếu nhân trong chính phủ Meiji, có lần tham gia sứ bộ Iwakura công du Âu Mỹ. Một nhân vật công chúng kiệt xuất đă nhiều phen chấn động dư luận v́ cách phát biểu lập trường chính trị của ḿnh.

[5] H́nh ảnh trên mạng trích từ Năm người đàn bà chung quanh Utamaro (Utamaro wo meguru gonin no onna, 1946 ) phim của đạo diễn Mizoguchi Kenji.

[6] Kitagawa Utamaro 喜多川歌麿 (? – 1806), họa sư ukiyo-e thời Edo trung và hậu kỳ, nổi tiếng về tranh mỹ nhân và tranh phong tục.

[7] Trong lời tựa cho Ḍng Sumida viết năm 1913, Kafuu cho biết ông đă chịu ảnh hưởng của nhà thơ trường phái tượng trưng người Pháp, Henri de Régnier (1864-1936), qua tác phẩm Les vacances d’un jeune homme sage (Chuyến nghỉ hè của một anh con nhà lành, 1903) khi cấu tứ cho Ḍng Sumida.

[8] Thi nhân Hán thi cuối Mạc Phủ đầu Duy Tân, sinh ở Shitaya (Edo), nay là Tôkyô, từng mở thi đàn Shitaya ginsha (Hạ Cốc ngâm xă). Kafuu viết về Ônuma Chinzan (1818-1891) trong Shitaya Sôwa (Hạ Cốc tùng thoại).

[9] Nhà thơ cuồng ca (thơ ngông) Ôta Nanpo (1794-1823). Văn nhân tiêu biểu thời Edo đă để lại nhiều thi ca, nhật kư, tùy bút và du kư. Sau trở thành quan chức Mạc phủ.

[10] Nhà báo và cũng là tùy bút gia. Narushima Ryuuhoku (1837-1884) sinh ra ở Asakusa. Từng dạy kèm Shôgun Tokugawa Iesada. Có học vấn và tài thao lược nhưng bất măn với chính phủ Duy Tân nên về sống ẩn dật ở Mukôjima, lấy hiệu là Mặc thượng ngư sư (Lăo chài trên sông Sumida). Tập tùy bút bằng Hán văn Liễu kiều tân chí (Ryuukyô shinshi, 1874) của ông là một tác phẩm có tầm vóc lớn trong thể loại này, nói về khu Yanagibashi, một xóm ăn chơi của Edo xưa.

[11] Higuchi Ichiyô (1872-1896) được xem như một trong những nhà văn nữ lỗi lạc nhất suốt lịch sử văn học Nhật Bản nhưng tài hoa mệnh yểu. Bà là nữ tiểu thuyết gia chuyên nghiệp đầu tiên mà chủ đề quen thuộc là cuộc đời những người phụ nữ bất hạnh trong xóm lầu xanh. Văn của bà đầy chất thơ, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.Cũng được biết đến với tập nhật kư của ḿnh.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com