NHẬP MÔN MAN.YÔSHUU

Qua thơ Vạn Diệp Tập, viễn du trong xă hội Nhật Bản cổ đại.

万葉集入門

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Bản thảo 2011

 

Chương Một

 

Thông tin khái quát về tác phẩm

1-Nhan đề. 2- Nhà biên tập. 3- Nội dung và h́nh thức nói chung. 4- Phân chia thời đại. Các tác giả tiêu biểu. 5- Về cách dùng chữ để ghi chép. 6- Phân biệt thể thơ trong các quyển. 7- Nội dung thơ các quyển. 8- Cách chua âm văn bản Man.yôshuu. 9) Về các bản sao và in. 10) Mộc giản. 11) Giá trị của Man.yôshuu. 12) Ảnh hưởng của Man.yôshuu đến đời sau. 

 

1) Nhan đề:

Về ư nghĩa của nhan đề Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập), ít nhất có bốn giả thuyết:

-         Thuyết của Shaku Sengaku, Kamo no Mabuchi, Kata no Azumamaro: vạn lời nói bởi v́ lời nói trong tiếng Nhật viết bằng 2 chữ Hán “ngôn diệp” (kotoba).

-         Thuyết của Keichuu, Kamochi Masazumi: diệp là đời (yo) nên tên thi tập phải là sách hay truyền được đến muôn đời sau.

-         Thuyết của Tiến sĩ Okada Masayuki: diệp là lá cây, ư nói số bài nhiều như số lá cây.

-         Thuyết cho rằng vạn diệp là số trang giấy.

Trong những thuyết nói trên, thuyết thứ hai xem “vạn diệp” là (thơ hay, phải được) truyền đến “muôn đời” cũng như “vạn thế” hay “vạn tuế” được nhiều người tin tưởng hơn cả.

Về cách phát âm tên thi tập, ngày nay ta phát âm là Man.yô.shuu. Thời trung cổ, Man.yô được viết thành Man.ne.fu, chắc là do lối đọc liên âm như trong trường hợp chữ kyô (hôm nay), xưa phải viết là ke.fu. Cũng thế, Quan Âm được đọc là Kan.non thay v́ Kan.on, thiện ác được đọc là Zen.naku thay v́ Zen.aku. Khi viết như trên th́ thay v́ đọc Man.yô, người ta c̣n có thể phát âm liên tục hay liên thanh (renjô) tên sách thành ra là Mannyô nữa.

Để khỏi phải rơi vào ngơ cụt của cuộc tranh luận xem Man.yô là “muôn đời”, “vạn chiếc lá” hay “vạn bài thơ”, tưởng cần nhắc đến một khả năng của tiếng Nhật (và cũng có thể t́m thấy trong các ngôn ngữ khác), đó là cách sử dụng kakekotoba 掛詞 nhờ nó, một âm có thể nói lên đưọc nhiều nghĩa tùy theo văn mạch.

2) Nhà biên tập:

Về người soạn hay người biên tập, lại có đến 5 thuyết:

-         Thuyết Thiên hoàng Heizei hạ lệnh soạn.

-         Thuyết nhà quí tộc Tachibana no Moroe soạn.

-         Thuyết thi hào Otomo no Yakamochi soạn.

-         Thuyết Tachibana Moroe và Otomo no Yakamochi cùng soạn.

-         Thuyết tác giả vô danh nhưng những bản Man.yôshuu xuất hiện từ sau thời Ôtomo no Yakamochi là do ông soạn.

Với 5 thuyết đó, các nhà chú giải như cha con Fujiwara no Shunzei và Teika, các ông Sengaku, Keichuu… mỗi người lại đưa ra bằng cớ để bênh vực cho một thuyết, khi th́ cho là Yakamochi, khi th́ cho là Moroe, khi th́ cho là cả hai ông…Thế nhưng cho đến ngày nay, việc một người hay nhiều người, vào lúc nào, một lần hay nhiều lần đă soạn ra Man.yôshuu vẫn chưa minh xác được. Dù sao, có thể suy ra rằng người dính líu nhiều nhất đến việc biên soạn Man.yôshuu chỉ có thể là Otomo no Yakamochi 大伴家持.

3) Nội dung và h́nh thức nói chung:

Man.yôshuu có 20 quyển, tính từ quyển 1 đến 20, trên đầu mỗi quyển đều có ghi mục lục, sau đó mới đến lời thơ, kèm thêm những lời giải thích về chủ đề và hoàn cảnh sáng tác. Số thơ không đồng nhất về thể loại. Theo lời giải thích của Kamochi Masazumi 鹿持雅澄 trong tác phẩm Man.yôshuu Kogi 万葉集古義 (Vạn Diệp Tập Cổ Nghĩa) th́ trong tổng số 4496 bài, có 262 bài chôka (trường ca) chiếm 0,065% số lượng, 4173 bài tanka (đoản ca) nghĩa là 0,92% và 61 bài sedoka (triền đầu ca) hay 0,01%[1].

Về thể loại thơ, có 3 loại:

Tanka (短歌đoản ca) : 5/ 7/ 5/ 7/ 7 tức là (5+7) x 2 + 7

Setoka (旋頭歌 triền đầu ca) : 5/7/7/5/7/7 tức là (5+7+7) x 2

Chôka (長歌trường ca) : 5/7/5/7….5/7/7 tức (5+7)n +7

Đặc điểm của Chôka:

Trên đây là h́nh thức cơ bản của chôka. Ngoài ra c̣n có thêm vào đằng sau một hanka 反歌 (phản ca: 5/7/5/7) để thành một trường ca hoàn chỉnh theo công thức: < (5+7)n+7> + <(5+7) x 2 +7>.

Tuy nhiên trong các quyển 1, 2, 13, người ta thấy có nhiều trường ca kiểu cổ không có h́nh thức nhất định. Ngoài các quyển đó ra, trường ca thấy trong các quyển thuộc vào thời trung kỳ của Man.yôshuu đều định h́nh cả. Những trường ca định h́nh này mới là những trường ca lần đầu tiên thấy có hanka gắn sau đuôi.

Trường ca ra đời vào thời đại truyền khẩu không có tanka đi theo, cuối bài lại được kết thúc bằng ba câu theo mô h́nh 5/7/7. Có lẽ đến thời văn học ghi chép (kisai bungaku), do ảnh hưởng của một người sành Hán thi là Hitomaro nên dă được định h́nh và trở nên chặt chẽ.Nếu tanka là loại thơ làm trong mọi t́nh huống, chôka chỉ được tŕnh bày trong những cuộc họp mặt có tính cách nghi thức, và do đó phát huy được tài năng của những thi nhân cung đ́nh như Hitomaro. Ông có đến 20 chôka, trung b́nh mỗi bài 40 câu. Trong Man.yôshuu, bài chôka dài nhất có 149 câu. Đó là bài thơ ai điếu (banka) làm ra trong thời gian quàn thi thể của Hoàng tử Takechi (Takechi no Ôji, 654-696), cũng do Hitomaro viết. Tính tất cả th́ Man.yôshuu có hơn 260 bài chôka, trong khi Kokinshuu (gọi tắt Cổ Kim Ḥa Ca Tập) – ra đời vào thời Heian, lúc thể thơ này đă suy thoái - chỉ chép mỗi 5 bài.

Về thời đại các tác phẩm:

Bài thơ cổ nhất:

Cổ nhất trong Man.yôshuu tương truyền là ngự chế của Hoàng hậu Iwanohime 磐姫皇后 (Iwanohime no Ômisaki). Bà là vợ của Thiên hoàng Nintoku, vua đời thứ 16 (tiền bán thế kỷ thứ 5). Bài đó (kư hiệu 2-85)[2] như sau:

君が行き日長くなりぬ山尋ね迎へか行かむ待ちにか待たむ
Kimi ga yuki /ke nagaku narinu/ yamatazune/ mukaeka ikan/ machinika matan   

(Thiên hoàng đi tuần du đă lâu lắm rồi.Thiếp đang lưỡng lự không biết có phải đi lên núi lên non t́m để rước ngài về hay chỉ ngồi đây mỏi ṃn chờ đợi)

Bài thơ mới nhất:

Mới nhất trong Man.yôshuu là tác phẩm của Ôtomo no Yakamochi 大伴家持 (kư hiệu 20-4516) làm trong năm Tempyô Hôji thứ 3 (759) đời Thiên hoàng thứ 47 Junnnin:

新しき年の初めの初春の今日降る雪のいやしけ吉事
Atarashiki/ toshi no hajime no/ hatsuharu no/ kyô furu yuki no/ iyashike yogoto  

(Mong sao cho những điều lành cũng ngập tràn trong năm cũng như lượng tuyết đổ xuống trong ngày đầu năm mới như hôm nay)

Giữa bài thơ xưa nhất và bài thơ mới nhất có một khoảng cách 400 năm. Thơ ra đời nhiều nhất là trong khoảng thời gian 100 năm và 11 đời vua từ Nữ thiên hoàng Saimei đến Thiên hoàng Junnin. Tính theo quyển th́ thơ trong 3 quyển 1, 2, 13 là những bài thơ xưa nhất. Bốn quyển 17, 18, 19, 20 chứa đựng những bài mới nhất. Có thể xem như mười ba quyển c̣n lại chép thơ sáng tác trong khoảng giữa.

4) Phân chia thời đại – Các tác giả tiêu biểu:

Sau đây là cách phân chia thời kỳ tổng hợp theo cách thẩm định của 2 giáo sư Uemura Etsuko và Sakamoto Masaru (xem thư mục tham khảo):

Thời kỳ trước: Gọi là tiền Man.yô, tương đương với thời kỳ của ca dao cổ đại (văn chương truyền khẩu) và lúc hai bộ sử thư Kojiki và Nihon Shoki được ghi chép. Giai đoạn manh nha này tính từ đời thiên hoàng thứ 16 Nintoku cho đến Nữ thiên hoàng thứ 33 Suiko nghĩa là tiền bán thế kỷ thứ 5 cho đến đầu thế kỷ thứ 7. Thời gian này ước tính có 270 năm. Các thi nhân tiêu biểu của thời này là các Thiên hoàng Nintoku, Yuuryaku (nhiều khi là được gán vào thôi chứ chưa chắc họ là tác giả thực sự) và những tác giả vô danh mà thơ của họ được t́m thấy trong 2 bộ sử thư tối cổ nói trên.

Thời kỳ sau: Đây mới chính là thời Man.yô (Vạn Diệp) thực sự. Nó kéo dài 130 năm từ triều Thiên hoàng thứ 34 Jomei cho đến triều Thiên hoàng thứ 47 Junnin. Chia ra làm 4 giai đoạn chính:

Giai đoạn thứ nhất hay giai đoạn thành h́nh (thời Taika Asuka): Từ đời thiên hoàng thứ 34 Jomei (629) đến cuộc biến loạn năm Nhâm Thân hay Jinshin no ran (672) mở màn cho thời trị v́ của Thiên hoàng Tenmu. Cách nhau 44 năm. Thi phong của thời này vẫn c̣n tính tập đoàn của ca dao cổ đại nhưng từ từ bắt đầu có cá tính. Nói chung nó vẫn c̣n thô sơ, chất phác. Các nhà thơ tiêu biểu là hai thiên hoàng thứ 38 Tenji (c̣n đọc là Tenchi), 40 Temmu, công chúa Nukata (c̣n đọc là Nukada), hoàng tử Arima, đại thần Nakatomi no Kamatari vv....

Giai đoạn thứ hai hay giai đoạn hoàn chỉnh (thời đóng đô ở vùng Fujiwara): Kể từ cuộc loạn năm Nhâm Thân trở đi (673) cho đến khi thiên đô về Nara (710). Kể từ đời các thiên hoàng 40 Temmu, 41 Jitô cho đến Thiên hoàng 42 Mommu. Kéo dài 38 năm. Thi phong được thành h́nh với Kakinomoto no Hitomaro là trung tâm điểm. Lưu loát và hùng tráng, đầy khí phách. Các nhà thơ tiêu biểu: Kakinomoto no Hitomaro, nữ Thiên hoàng Jitô, hoàng tử Ôtsu, công chúa Ôku, Takechi no Kurohito, Naga no Okimaro vv...

Giai đoạn thứ ba hay giai đoạn phát triển (thời Nara tiền kỳ): Kể từ khi thiên đô về Nara trở đi (711) cho đến năm Tempyô thứ 5 (733). Thời gian các thiên hoàng từ 43 Genmei đến 45 Shômu trị v́, 23 năm. Nhiều nhà thơ có cá tính xuất hiện, do đó, phong cách làm thơ trở nên có nhiều sắc thái khác nhau. Các nhà thơ đáng để ư đương thời là: Ôtomo no Tabito, Yamanoue no Okura, Yamabe no Akahito, Takahashi no Mushimaro, , Kasa no Kanamura, Nakatomi no Yakamori vv…

Giai đoạn thứ tư hay giai đoạn suy thoái (hay thời Nara trung kỳ): Tính từ năm Tempyô thứ 6 (734) cho đến năm Tempyô Hôji thứ 3 (759), tương đương với phần sau đời trị v́ của Thiên hoàng 45 Shômu đến Thiên hoàng 47 Junnin. Tất cả là 26 năm. Thi ca thời này phản ánh t́nh h́nh chính trị bất an. Nhiều bài thơ có ư tưởng tinh tế và văn từ hoa mỹ. Tác gia tiêu biểu: Ôtomo no Yakamochi, Sakanoue no Iratsume, Tanabe no Sakimaro, Sano no Otogami no Otome, Kasa no Iratsume vv…

Ngoài các nhà thơ hữu danh như trên c̣n có các nhà thơ vô danh. Các thi sĩ xuất thân từ tầng lớp thứ dân đă để lại nhiều tác phẩm giá trị trong phần Azuma-uta (Thơ miền đông), Sakimori no uta (Thơ lính thú)…Văn hóa waka mà trung tâm là vùng kinh đô Kyôto, Nara (vùng Kinki) đă lan rộng ra địa phương xa xôi như phủ Dazai trên đảo Kyuushuu hay vùng Tôgoku (Đông Quốc) miền bắc đảo Honshuu.

Để có một khái niệm về khoảng thời gian “tiền bán thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ thứ 8” của Man.yôshuu, xem nó tương đương với thời kỳ nào trong lịch sử Việt Nam, hăy thử mở một cuốn sử. Ta thấy ngay lúc đó, nước ta c̣n đang ch́m trong bóng tối của thời Bắc thuộc, chỉ có vài tia sáng của những giai đoạn độc lập không mấy dài lâu xuất phát từ các cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Lư Bôn, Triệu Quang Phục (541-602) vv...Vua Ngô Quyền chỉ đánh bại quân Nam Hán vào năm 930, mở đầu thời tự chủ sau khi những trang chót của Man.yôshuu đă khép lại từ gần hai thế kỷ. Ở đại lục, trong khi các thi nhân Vạn Diệp Nhật Bản đăng đàn, hai nhà Tùy (581-619) và Đường (618-907) thay nhau thống trị Trung Quốc. Vào thời kỳ đó, ở phương Nam, quốc gia Phù Nam suy vong và sau đó bị Chân Lạp thôn tính. Đông Nam Á đang chứng kiến sức mạnh đang lên của các tộc Môn, Khmer và Nam Chiếu, sự phồn vinh của thành Thất Lợi Phật Thệ (Surivijaya) và khu vực eo biển Malacca nhưng lịch sử của họ chỉ được ghi lại từ một số văn bia hay du kư của các nhà hàng hải.

5) Về cách dùng chữ để ghi chép:

Lúc ấy, Nhật Bản chưa sáng chế ra hai loại văn tự biểu âm của họ là hiraganakatakana cho nên tất cả sách vở phải chép bằng chữ Hán. Loại văn tự đó có tên là man.yôgana v́ dùng để ghi lại Man.yôshuu (tuy mục đích buổi đầu vốn dùng để ghi chép cuốn sử biên niên Nihon Shoki 日本書記vốn ra đời trước nó (720). Kana 仮名nghĩa là văn tự vay mượn. Chính loại chữ katakana về sau cũng là một sản phẩm phụ, thoát thai từ man.yôgana mà thôi.

Cách thứ nhất là dùng âm của chữ Hán để biểu âm tiếng Nhật:

- Bằng âm chính của chữ Hán ấy. Từ Nhật ikazuchi (tiếng sấm) ngày nay viết với 1 chữ Hán (lôi ), thời Manyô được chép bằng 4 chữ Hán伊加豆知 (y gia đậu tri) v́ sẽ được đọc là i-ka-zu-chi. Từ Nhật ame (trời) ngày nay viết với 1 chữ Hán (thiên) thời Man.yô được chép bằng 2 chữ Hán阿米 (a mễ) v́ sẽ được đọc là a-me. Từ Nhật kokoro (tấm ḷng) ngày nay viết với 1 chữ Hán (tâm), xưa kia phải sử dụng âm của 3 chữ Hán là 許己呂 (hứa kỷ lữ) v́ sẽ được đọc là ko-ko-ro. Dĩ nhiên những y gia đậu tri, a mễ hay hứa kỷ lữ tự nó vô nghĩa, người Trung Quốc mà không biết ngôn ngữ Nhật nh́n thấy chúng sẽ không thể đoán người Nhật trong cuộc muốn nói cái ǵ.

Cũng có khi sử dụng qua tiếng Nhật với ư nghĩa đă có của chữ Hán như trường hợp các từ Phật giáo布施 fuse (bố thí), 餓鬼 gaki (ngạ quỷ), 檀越 dan.ochi hay dan.otsu (đàn việt) để gọi một người lớn (ông = fuse, dan.ochi) hay đứa nhăi ranh (quỉ đói, thằng bé  = gaki).

-Bằng âm lược của chữ Hán ấy. Hai chữ Hán安印 (an ấn) vừa dùng để nói lên ư yêu thương ái (Ai) hay màu xanh lam v́ lam (cũng đọc với âm ai). Chữ 万年vạn niên đọc là mane (hay mannen) không phải để hiểu như mười ngh́n năm nhưng dùng với nghĩa là bắt chước (真似chân tự = mane). Dĩ nhiên, theo nghĩa chữ Hán, an ấn không thể giúp chúng ta liên tưởng đến t́nh thương hay màu lam được. C̣n mười ngh́n năm th́ có liên quan ǵ đến bắt chước! 

Cách thứ hai là dùng ư của chữ Hán để biểu âm tiếng Nhật.

- Phương pháp gọi là chính huấn: Hai chữ Hán天地 (thiên địa) đọc là ametsuchi ư nói trời đất, đúng như những ǵ hai chữ Hán thiên địa muốn diễn đạt. Thảo chẩm 草枕đọc là kusamakura, ư là gối cỏ th́ không khác ǵ bên Trung Quốc. Chữ 梓弓(tử cung) đọc là azusayumi có nghĩa là cây cung bằng gỗ táo (tử). Quốc đọc là kuni, ư nói là nước (nhà), đều phù hợp với nghĩa trong chữ Hán. Người Trung Quốc sẽ hiểu ư tất cả nhưng chỉ không biết cách phát âm theo tiếng Nhật.

- Phương pháp nghĩa huấn: đọc hai từ Hán hoàn tuyết 丸雪 là arare (mưa đá), đọc hàn là fuyu (mùa đông), đọc noăn là haru (mùa xuân), đọc trọng thạch 重石 là ikari (đá nặng để neo thuyền), đọc vị thông nữ 未通女 là otome (gái chưa chồng, chưa giao du với đàn ông).

- Phương pháp lược huấn: Sơn Thường 山常 (đất có nhiều núi non) được thu gọn lại, đọc là Yamato như tên nước Đại Ḥa 大和 (Nhật) v́ Nhật cũng lắm núi, cũng có thể đọc là chi (chợ) hay to (dấu tích).

- Phương pháp huấn: ura (phố) nghĩa là bến nước nhưng được mượn đỡ để chỉ tấm ḷng (ura c̣n có nghĩa là mặt trong như lư). Ari ( nghỉ) là con kiến nhưng trở thành danh động tự ari (có): 在り(tại) hay有り(hữu). Natsukashi (hạ kiên 夏樫) không phải để nói về một cây sồi (kashi) mùa hạ (natsu) luôn luôn xanh tươi mà để nhắc đến ḷng mong nhớ không nguôi giống như nghĩa của chữ natsukashi ( hoài).

- Phương pháp ước huấn: ariso 荒磯 (hoang ki), bỏ bớt âm thay v́ viết nguyên văn arai iso nghĩa là bờ biển lắm ghềnh đá hay nhiều sóng lớn, wagimo 吾妹 (ngô muội) thay v́ đọc đầy đủ wa ga imo nghĩa là tiếng gọi một người em gái, wagie 吾家 (ngô gia) thay v́ wa ga ie là nhà của ta.

- Phương pháp huấn: Sơn thượng phục hữu sơn 山上復有山 (trên núi c̣n có núi) để nói một cách khôi hài cái ư izu hay đi ra (xuất) mà thôi v́ xuất được cấu tạo bằng hai chữ sơn đặt phía trên và phía dưới. Cũng vậy viết mă thanh 馬声(tiếng ngựa kêu) để diễn duy một âm i khi ngựa hí, phong thanh 蜂声(tiếng ong kêu) duy để diễn tả duy một âm bu lúc ong vo ve vv…

Xin chép lại hai bài thơ của Hoàng hậu Iwanohime và thi hào Otomo no Yakamochi bên trên dưới dạng man.yôgana:

Thơ Hoàng hậu Iwanohime (bài 2-85) có văn tự biểu âm hiragana của Nhật đứng bên cạnh chữ Hán (kanji) biểu ư.

君が行き日長くなりぬ山尋ね迎へか行かむ待ちにか待たむ
Kimi ga yuki /ke nagaku narinu/ yamatazune/ mukaeka ikamu/ machinika matamu   

Thơ gốc dưới dạng Manyô.gana:

君之行 氣長成奴 山多都祢 迎加将行 <待尓>可将待

Cũng vậy, thơ thi hào Ôtomo no Yakamochi (bài 20-4516):

新しき年の初めの初春の今日降る雪のいやしけ吉事
Atarashiki/ toshi no hajime no/ hatsuharu no/ kyô furu yuki no/ iyashike yogoto  

Vốn có gốc dưới dạng Man.yôgana như sau:

年乃始乃 波都波流能 家布敷流由伎能 伊夜之家餘其騰

Quả thật, nếu nh́n vào tự dạng tiếng Hán mà thôi, khó ḷng hiểu được tác giả muốn nói ǵ.

6) Phân biệt thể thơ trong các quyển:

1)      Loại thơ gọi là zôka (雑歌tạp ca) nghĩa là thơ đủ loại bao gồm các chủ đề thơ vịnh trên đường tuần thú, du lịch lăm cảnh, vịnh vật, thuật hoài, nói lên chí hướng, hoài cổ, hay những bài thơ thù tạc làm ra lúc yến ẩm. Có thể t́m thấy tiết mục về chúng trong các quyển 1, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 13, 14 và 16.

2)      Loại thơ gọi là sômonka (相聞歌tương văn ca), c̣n gọi là sômon ôrai ( 相聞往来tương văn văng lai) trao đổi tin tức qua lại giữa bạn bè, thân thuộc. Đặc biệt có nhiều thơ nói về t́nh cảm luyến ái giữa nam nữ.Những tiết mục này rất dồi dào trong các quyển 2, 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14.

3)      Loại thơ gọi là banka (挽歌văn ca) có tính cách ai điếu người chết v́ văn có nghĩa là kéo xe tang. Thấy nhiều trong các tập 2, 3, 7, 9, 13, 14.

4)      Ngoài 3 bộ phận chính nói trên, c̣n có 3 loại phụ, bắt đầu với loại hiyuka ( 比喩歌 tỉ dụ ca) vốn dùng để gửi gắm t́nh luyến nhớ đến một người qua trung gian các vật cụ thể . Xem các quyển 3, 7, 13, 14.

5)      Loại thơ shiki ( 四季tứ quư) vịn cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông bởi v́ người Nhật rất nhạy cảm đối với thiên nhiên và thời tiết. Xem các quyển 8 và 10.

6)      Loại thơ kết hợp shiki với sômon thành ra shiki sômon (四季相聞tứ quư tương văn) nghĩa là thăm hỏi nhau vào những lúc giao mùa. Cũng thấy trong các quyển 8 và 10.

Ba thể zôka, sômonkabanka gọi chung là ba bộ hay “tam bộ lập” (三部立てsanbudate). Cách chia theo chôka, tanka và sedôka gọi là sự phân biệt theo ca thể (歌体 katai), c̣n theo h́nh thức diễn tả th́ gọi là phân biệt theo “dạng thức biểu hiện” (表現様式 hyogen yôshiki) , chẳng hạn kư thác tâm sự vào sự vật (寄物陳思kibutsu chinshi), hay tỏ thẳng tâm tư (正術心緒 seijutsu shinjo) hay tỉ dụ (比喩 hiyu). 

Đi xa hơn với thể banka

Banka, như đă nói, tập trung những bài thơ nói về cái chết và có tính ai điếu. Thời cổ Hy La cũng đă có thể elegy tương xứng với nó rồi.Tuy nhiên ngoài chuyện ai điếu (aitô no shi 哀悼の詩) người chết, nó c̣n là thơ tự làm ra lúc lâm chung (jisei no ku 辞世の句), những bài thơ làm vào dịp tống táng, quàn thi thể (hinkyuu殯宮 hay mogari no miya), lúc lâm bệnh... Trong Man.yoshuu, banka chưa được sắp xếp thành budate (bộ phận riêng biệt) hẳn hoi. Nó nằm rời rạc trong 6 quyển. H́nh như người ta phân loại theo cách thức của Văn TuyểnMonzen 文選bên Trung Quốc và nó đă bắt nguồn từ các bài hát mà phu khiêng linh cữu hay đẩy xe tang vẫn hát. Thời Hitomaro, loại này thịnh hành nhất và việc sáng tác chúng được xem như một phần của lễ nghi cung đ́nh.

Sang đến thời Kokinshuu 古今集 (905? 914?) và các thi tập soạn theo sắc chiếu đến sau th́ banka được xếp vào loại “ai thương ca” (哀傷歌) khi tính cách nghi thức đă nhạt bớt.

7) Nội dung thơ các quyển:

Quyển 1 và 2: Hai quyển này tương đối hoàn chỉnh hơn cả. Quyển đầu có zôka, quyển sau có sômonka và banka, gộp cả hai lại đă có thể thành một tập thơ hẳn hoi. Điều này có thể xem như bằng chứng bảo vệ luận cứ cho rằng Man. yôshuu là một tập thơ soạn theo sắc chiếu (ít nhất cho đến phần này). Hơn nữa, quyển 1 gồm thơ từ đời Thiên hoàng Yuuryaku cho đến năm 712 tức năm Wadô thứ 5 đời Thiên hoàng Genmei được xếp theo đúng thứ tự niên đại của một khoảng thời gian ngót 240 năm. Nội dung của nó gồm nhiều thơ thuộc thời đại các thiên hoàng Tenji, Temmu, Jitô, Mommu, nghĩa là những bài thơ cổ xưa nhất. Trong đó, tác phẩm của Kakinomoto no Hitomaro nhiều hơn cả. C̣n quyển 2 th́ bao gồm thơ khoảng thời gian chừng 350 năm từ đời Thiên hoàng Nintoku cho đến năm Reiki nguyên niên (715) đời Thiên hoàng Genshô. Trong quyển này cũng thấy một số lượng lớn thơ Hitomaro.

Bài thơ đầu tiên là thơ Thiên Hoàng Yưryaku hay thơ giả thác cho ông chỉ có giá trị như bài thơ mào đầu có giá trị danh dự nên không cần gần gũi về mặt niên đại và qui phạm so với những bài thơ khác. Quyển 1 có 84 bài (16 chôka và 68 tanka). Quyển 2 có 56 bài sômon, 94 banka, tổng cộng 150 (19 chôka, 131 tanka).

Quyển 3: Chép thơ từ đời Nữ thiên hoàng Jitô cho đến năm 744 (năm 16 niên hiệu Tempyô), trong đó có thơ của những thi nhân tên tuổi như Kakinomoto no Hitomaro, Yamanoue no Okura, Yamabe no Akahito, Ôtomo no Tabito, Ôtomo no Yakamochi. Về thể loại th́ có zôka (158 bài), hiyuka (25) và banka (69), tổng cộng 252 bài ( 23 chôka. 229 tanka).

Quyển 4: Chủ yếu chép sômonka từ đời Thiên hoàng Nintoku cho đến thời Thiên hoàng Shômu thiên đô về Kuni (740-744), một thung lũng nhỏ phía nam Kyôto. Thơ của thời Nara là chính, trong đó nhiều nhất là tác phẩm của gịng họ Ôtomo. Gồm 309 sômonka (7 chôka, 301 tanka, 1 sedôka).

Quyển 5: Ghi lại thơ làm từ năm Jinki thứ 5 (728) cho đến năm Tempyô thứ 5 (733). Quá phân nửa là thơ Ôtomo no Tabito và Yamanoue no Okura. Tất cả 114 bài đều là zôka (10 chôka, 104 tanka). Trong đây có thêm 2 bài tho chữ Hán và một số văn chữ Hán trích từ Văn Tuyển, Du Tiên Quật của người Tàu.

Quyển 6: Ghi lại loại zôka thời Nara kể từ năm Yôrô thứ 7 (723) cho đến năm Tempyô 16 (744). Ngờ rằng đây là phần do Ôtomo no Yakamochi biên tập. Có 160 zôka (27 chôka, 132 tanka, 1 sedôka)

Quyển 7: Hầu hết chép thơ của những tác giả không rơ tên tuổi. Chỉ có 7 bài là sáng tác của đại thần họ Fujiwara. Có thể xem đây là những tác phẩm từ đời các Thiên hoàng Jitô, Mommu cho đến hồi đầu đời Nara. Về thể loại, nó được chia ra làm ba: zôka (228), hiyuka (108) và banka (14). Tổng cộng 350 ( trong đó 324 tanka, sedôka 26).  

Quyển 8: Tác phẩm trong quyển này được chia theo bốn mùa, mỗi mùa lại chia thành bộ phận zôka hay sômon và chép theo thứ tự niên đại.Tính từ thời Thiên hoàng Jomei cho đến năm Tempyô thứ 15 (743). V́ trong đó có nhiều thơ họ hàng nhà Ôtomo nên bị nghi là do Yakamochi biên tập. Zôka mùa xuân 30 bài, sômonka mùa xuân 17, zôka mùa hạ 33, sômonka mùa hạ 13, zôka mùa thu 95, sômonka mùa thu 30, zôka mùa đông 19 và sômonka mùa đông 9 bài.

Quyển 9: Chia thành 3 nhóm zôka, sômonka và banka. Đặc biệt có nhiều thơ về lữ hành và truyền thuyết cho nên có người cho là nó có thể đă được biên tập bởi một thi nhân yêu du lịch và thần thoại như Takahashi no Mushimaro. Chép những bài thơ tính từ thời Thiên hoàng Yuuryaku cho đến năm Tempyô thứ 5. Có 102 zôka , 29 sômon và 17 banka, tổng cộng 148 bài (gồm 22 chôka, 125 tanka, 1 sedôka).

Quyển 10: Trong quyển này, thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng tác hơi nghèo nàn. Được chia thành 8 bộ phận theo tiêu chuẩn kép 4 mùa và 2 thể loại zôka hay sômonka.Giống như quyển 8, đó là những tác phẩm làm vào thời Nara. Zôka mùa xuân  78 bài, sômonka mùa xuân 47, zôka mùa hạ 42, sômonka mùa hạ 17, zôka mùa thu 242, sômonka mùa thu 73, zôka mùa đông 21, sômonka mùa đông 18 bài. Tất cả 539 bài (chôka 3 , tanka 532 , sedôka 4 bài).

Quyển 11: Đầu quyển có ghi đây là phần thượng của thể loại sômon ôrai (trao đổi tâm t́nh, tin tức) xưa nay. Gồm 17 sedôka, 47 seijutsu shinsho hay giải thẳng nỗi ḷng, 94 kibutsu chinshi hay gửi gắm nỗi ḷng qua sự vật, 9 bài thơ vấn đáp, 104 seijutsu shinsho, 193 kibutsu chinshi , vấn đáp 20, tỉ dụ 13, tổng cộng 497 (gồm 480 tanka, sedôka 17).

Quyển 12: Phần hạ của thể loại sômon ôrai xưa nay. Tên tuổi tác giả thường không được biết tới nhưng so với quyển 11 th́ h́nh như họ là những người mới hơn. Trong quyển, có chia thành những nhóm nhỏ như thơ bày tỏ chí hướng, nỗi ḷng (10 và 100 bài), thơ gửi gắm tâm t́nh vào trong đồ vật (14 và 139) cũng như thơ đối đáp 26, lữ hành 53, ly biệt 31, vấn đáp 10. Tổng cộng 383 bài toàn là tanka,    

Quyển 13: Toàn thể chia làm 5 phần: 17 zôka, 57 sômonka, 18 mondô (vấn đáp), 1 hiyu (tỉ dụ) và 24 banka. Đặc biệt, quyển này có nhiều thơ dài (chôka) với phong vị cổ xưa, chất phác. Tổng cộng 127 bài (gồm 66 chôka, 60 tanka và 1 sedôka).

Quyển 14: Gồm những bài ca miền đông (Azuma-uta). Miền đông nước Nhật lúc bấy giờ hăy là một nơi chưa được khai phá nên thơ có phong vị hoang dă. Những bài ca của vùng này được tŕnh bày theo từng địa phương. Zôka có 5 bài, sômonka 81 bài, hiyuka 9 bài, zôka 17 bài, sômonka 115 bài, sakamori no uta 5 bài, hiyuka 5 bài, banka 1bài. Tổng cộng 238 bài (tất cả là tanka). Trong phần Zôka th́ tất cả đều là Azuma-uta.

Quyển 15: Có 2 phần. Phân nửa đầu chép những bài thơ làm ra lúc tiễn đưa sứ bộ sang Shiragi (Tân La, nay thuộc Triều Tiên) vào năm Tempyô thứ 8 và những bài thơ làm trong cuộc hành tŕnh. Phân nửa sau là thơ tặng đáp giữa ông Nakatomi no Yakamori và tiểu thư Sano no Otogami no Otome. Thời điểm là khoảng năm Tempyô thứ 8 (736) đến 12 (740). Tổng cộng 208 bài (gồm 5 chôka, 200 tanka, 3 sedôka).

Quyển 16: Gồm các zôka liên quan đến duyên do, truyền thuyết, thơ hoạt kê và ca dao của buổi đầu thời Nara cho đến những năm Jinki (724-729). Có tất cả 104 bài (chôka, 92 tanka, 1 Bussokusekika (Phật túc thạch ca) tức thơ đề trên đá có dấu chân Phật và 2 bài thơ khác không xếp loại).

Quyển 17: Giống như một tập nhật kư về thơ của Ôtomo no Yakamochi. Bởi v́ nó hầu như ghi lại thơ viết theo thứ tự niên đại của những người Yakamochi quen biết trong khoảng năm Tempyô từ 730 đến 748. Ngoài ra c̣n có những bài thơ xưa bị 16 quyển trước bỏ sót. Tổng cộng 142 bài gồm 14 chôka, 127 tanka và 1 sedôka.

Quyển 18: Chép theo thứ tự niên đại thơ khoảng 748-750 nghĩa là từ năm Tempyô 20 đến năm Tempyô Shôhô thứ 2. Thơ Yakamochi vịnh về vùng Etchuu (tỉnh Toyama ngày nay) hồi ông trấn nhậm ở đó chiếm đa số. Có 107 bài gồm 10 chôka và 97 tanka.

Quyển 19: Chép thơ theo thứ tự niên đại trong 3 năm từ 750-753 thời Tempyô Shôhô. Ngoài Yakamochi c̣n có sự góp mặt của các nhà thơ khác. Có 154 bài gồm 23 chôka và 131 tanka.

Quyển 20: Quyển cuối cùng chép theo thứ tự niên đại từ 753 đến 759 tức giai đoạn niên hiệu Tempyô Shôhô và Tempyô Hôji. Vẫn chép nhiều thơ của Yakamochi nhưng có thêm thơ của những nhà thơ khác mà ông nghe được và chép lại. Đặc sắc hơn cả là có đăng 19 bài thơ của lính thú (sakimori no uta ), giúp ta một tư liệu quư để nghiên cứu về tiếng Nhật thời ấy. Tồng cộng 224 bài gồm 6 chôka và 218 tanka.

8) Cách chua âm văn bản Man.yôshuu:

Man.yôshuu v́ được viết bằng man.yôgana 万葉仮名 nghĩa là từ ngữ một trăm phần trăm chữ Hán, không đọc được ngay ra tiếng Nhật. Lư do là v́ Nhật ngữ đa âm trong khi tiếng Hán lại đơn âm. Trong lời tựa của tuyển tập mới của Man.yôshuu vào thời Heian (Shinsen Man.yôshuu), đă thấy người ta bàn đến sự khó khăn đó. Bởi thế, việc ghi chú thêm thanh âm bằng văn tự biểu âm (hiragana, katakana) bên cạnh chữ Hán là chuyện bắt buộc. Phương pháp ghi chú gọi là kunten (訓点 huấn điểm). Khi Man.yôshuu mới ra đời được khoảng hai thế kỷ, vào năm 951 (Tenryaku 5), Thiên hoàng thứ 62 Murakami đă hạ lệnh cho 5 người bầy tôi trong Viện Thi Ca (Nashitsubo = Lê Hồ = Sân trồng cây lê) là các ông Ônakatomi no Yoshinobu, Kiyohara no Motonosuke, Minamoto no Shitagô, Ki no Tokibumi, Sakanoue no Mochiki ghi thanh âm vào thơ. Việc ghi chú thanh âm của các vị này bây giờ gọi là koten (古点 cổ điểm). hay kokunten (古訓点 cổ huấn điểm). C̣n như ketten (欠点khuyết điểm) là chỉ việc chua âm không theo một quy tắc nhất định nào kể từ thời có koten về sau (tức Heian, Kamakura sơ kỳ) Có thể xem Ôe no Masafusa, Fujiwara no Michinaga, Fujiwara no Michitoshi, Fujiwara no Teika, Fujiwara no Kiyosuke là những nhà chua âm kiểu ketten (khuyết điểm). C̣n như lối chua mới qui củ hơn gọi là shinten (新点 tân điểm) là do Shaku Sengaku (Thích Tiên Giác, 1203-1272) , một thi tăng sống vào giữa thời Kamakura, là người đă bỏ cả đời để hiệu đính và chú thích Man.yôshuu. Đặc biệt ông đă chua âm cho 152 bài cho đến lúc đó vẫn chưa được chua âm. Việc làm của Sengaku đă đánh dấu một giai đoạn phát triển của việc nghiên cứu Man.yôshuu. Sau ông, nhiều học giả đă tiếp tục con đường đó, xem việc nghiên cứu nó như một bộ phận của nghiên cứu về quốc học.

Ví dụ về phép kunten 訓点 (huấn điểm):

Vẫn lấy một bài thơ đă nói đến bên trên:

新しき年の初めの初春の今日降る雪のいやしけ吉事
|Atarashiki/ toshi no hajime no/ hatsuharu no/ kyô furu yuki no/ iyashike yogoto  

Vốn có gốc dưới dạng Man.yôgana như sau:

年乃始乃 波都波流能 家布敷流由伎能 伊夜之家餘其騰

Ta biết rằng cách dọc bằng âm Hán (âm độc = 音読み onyomi) của (tân) là “shin” nhưng phải đọc theo âm Nhật (huấn độc = 訓読み kun.yomi) của nó là “atarashiki”. Nếu đọc “shin” sẽ kẹt vấn đề đồng âm dị nghĩa. Trong chữ Hán âm “shin” được viết bằng vài mươi tự dạng khác nhau ví dụ như , , , , , , , , , , , , nên dễ gây hiểu lầm, nhưng nếu đọc “atarashiki” th́ người ta biết ngay chữ “shin” ấy có nghĩa là mới mẽ. Chữ (niên) với âm Hán “nen” và chữ (thủy) với âm Hán “shi” cũng dễ gây hiểu lầm nhưng đến khi chua âm Nhật là “toshi” (năm) và “hajime” (lúc bắt đầu) th́ mọi chuyện đă rơ ràng hẳn. Trong khi đó, (năi) mà chúng ta thấy nhan nhản ở giữa câu thơ chỉ tượng âm mà thôi. Khi được viết tháu ra, nó thành ( “no” theo kiểu chữ biểu âm hiragana, có nghĩa là “của”, một tính từ chỉ sở hữu, phụ thuộc trong tiếng Nhật).

9) Về các bản sao và in:

Giáo sư Uemura Etsuko đă dẫn ra 17 văn bản cổ của Man.yôshuu được biết tới. Để khỏi hàn lâm thái quá, người viết chỉ kể một cách sơ lược nhưng cũng dám nói là đă đưa tạm đủ thông tin về chúng. Năm bản đầu ra đời vào thời Heian, 6 bản tiếp sau là của thời Kamakura và 6 bản sau cùng thuộc thời Edo. Mười một bản đầu tiên là bản chép tay (tả bản), kể từ thời Edo trở đi mới có bản khắc gỗ (mộc bản).

1)      Bản Katsura được chép ra vào đầu thế kỷ thứ 11, in trên 8 loại giấy màu, coi như là bản tối cổ. Sở dĩ gọi là bản Katsura 桂本万葉集v́ xưa kia nó là vật sở hữu của gia đ́nh thân vương Katsura.

2)      Bản Ranshi tức bản in trên giấy màu xanh lam, do người nhà của gia đ́nh Sesonji (quí tộc họ Fujiwara) chép lại vào cuối đời Heian.

3)      Bản Kanazawa cũng chép vào cuối đời Heian nhưng trên giấy bản nhập từ Trung Quốc. Gọi là bản Kanazawa v́ tàng trữ bởi gia đ́nh lănh chúa Maeda phiên trấn Kanazawa.

4)      Bản Tenji của gia đ́nh Fukui (Kyôto). Gọi như thế v́ được chép ra vào năm Tenji nguyên niên (1124) dưới triều Thiên hoàng Sutoku (Sùng Đức).

5)      Bản Genryaku v́ được hiệu đính vào năm Genryaku nguyên niên (1184), thời Thiên hoàng Go-Toba (Hậu Điểu Vũ). Được gia đ́nh thân vương Takamatsu no Miya và Furukawa chia nhau ǵn giữ.

6)      Bản Amagazaki chỉ có 16 quyển, được Đại học Kyôto bảo quản. Trước đó thấy nó ở thành phố Amagasaki.

7)      Bản Karyaku.Thấy đề chép vào năm Karyaku 3 (1328).

8)      Bản do Mibu no Takasuke chép vào đầu đời Kamakura.

9)      Bản Kanda hay bản Kishuu. Một phần chép vào thời Kamakura, từ quyển 11 trở đi chép vào thời Muromachi. Kishuu là tên lănh địa của một chi thuộc họ Tokugawa.

10)  Bản Nishi-Honganji, tên chùa. Chép vào thời Kamakura.

11)  Bản Kasuga, do họ Nakatomi ở Kasuga (gần Nara) cho chép vào khoảng năm 1243.

12)  Bản khắc gỗ không chua âm năm Keichô (giữa 1596-1615).

13)  Bản khắc gỗ có chua âm.

14)  Bản khắc năm Kan.ei 20 (1643).

15)  Bản khắc năm Hôei 6 (1709).

16)  Bản khắc cổ bản Man.yôshuu, năm Kyôwa 3 (1803).

17)  Bản in ra vào thời cận đại mà hai học giả Sasaki Hirotsuna và Nobutsuna đă đăng trong Nihon Kagaku Zensho, cuốn toàn thư về thi ca Nhật Bản.

10)  Mộc giản:

Nguồn gốc cổ xưa của Man.yôshuu đă được chứng minh một cách khoa học qua những phát hiện khảo cổ học cận đại. Theo trang Wikipedia trích dẫn thông tin từ hai nhật báo Asahi và Mainichi vào cuối năm 2008, chúng ta biết có 3 mảnh thẻ gỗ hay là mokkan (mộc giản木簡) có chép thơ Man.yôshuu đă được khai quật từ những di chỉ ở vùng Kyôto-Nara, cái nôi của văn hóa Nhật Bản.

1)      Từ khu di tích Kizugawa, Kyôto, đă t́m thấy một mảnh thẻ với kích thước 24,3 cm chiều dài x 2,4 cm chiều rộng x 1,2 cm chiều dày, trên đó có chép 11 chữ đầu của bài thơ 10-2205 (bài 2205 trong quyển 10). Xét nghiệm với máy ảnh có tia hồng ngoại th́ biết mảnh thẻ đó có thể là thẻ dùng để tập viết. Thẻ ước tính có từ khoảng năm 750 đến 780.

2)      Từ khu di tích Miyamachi ở Kôka thuộc tỉnh Shiga, một mảnh thẻ rộng 2cm dày 1mm, t́m được năm 1997 và có lẽ có từ giữa thế kỷ thứ 8. Thấy trên đó có bài thơ 16-3807 (bài 3807 trong quyển 16).

3)      Từ khu di tích Ishigami ở Asuka, thành phố Nara, một mảnh thẻ dài 9,1 cm, rộng 5,5 cm và dày 6 mm, có lẽ có từ thế kỷ thứ 7 và đây là mảnh thẻ tối cổ của Man. yôshuu đă được t́m thấy. No có 14 con chữ của bài số 7-1391 (bài 1991 trong quyển 7) và chép bằng Manyôgana.

11)  Giá trị của Man.yôshuu:

Không ít độc giả cho rằng Man.yôshuu ra đời đă trên 12 thế kỷ, sản phẩm tinh thần của những người Nhật đời xa xưa cho nên ấu trĩ và vụng về th́ có đáng ǵ mà đọc. Cũng dễ thông cảm với họ. Thế nhưng những con người hiện đại như chúng ta, khi biết đến thi tập, đă phải ngạc nhiên v́ đă khám phá được trong đó những t́nh cảm thô sơ, chất phác, thuần khiết, lại rất chân thực, bạo dạn và nhiều khi vô cùng nhạy cảm, tinh tế, tuy có lúc sầu thương nhưng không phải v́ thế mà kém lạc quan.

Thi nhân thời Man.yô này đủ mọi thành phần trong xă hội, trên từ những bậc cao quư như thiên hoàng, hoàng hậu, dưới đến kẻ nông phu cày sâu cuốc bẫm. Từ cô thôn nữ vùng Đông Bắc bó lúa trên tay, da dẻ nứt nẻ v́ giá lạnh cho đến người con gái hát rong, anh lính thú trên hoang đảo hay kẻ khất thực đầu đường xó chợ. Man.yôshuu là kết quả một sự tuyển chọn một cách công b́nh thơ của mọi tầng lớp, mọi hạng người. Đó là tập thơ dân chủ và phản ánh được tâm t́nh của người Nhật khắp nước.

Thơ thời Man.yô không có tính xă giao mua vui, cũng không có ác ư dè bĩu ai. Đúng hơn, nó bày tỏ t́nh cảm chân thực trào lên từ đáy ḷng của người thời đại ấy mà không dựa vào tu sức hay kỹ xảo, ít nhất là trong giai đoạn đầu.

Đề tài của thơ Man.yôshuu rất rộng răi, đến mức làm cho ta phải kinh ngạc. Ngâm vịnh ca tụng vẻ đẹp thiên nhiên, bày tỏ nhiệt t́nh yêu đương trai gái, bộc lộ ḷng trung trinh chung thủy, ca tụng t́nh vợ chồng đẹp đẽ, bày tỏ nỗi đoạn trường trước cảnh tang tóc hay tuyệt vọng…nhưng có khi cũng khôi hài, nghĩa là muôn màu muôn vẻ. Tuy nhiên điểm chung của chúng vẫn là sự chân thật và hồn hậu.

Theo bà Uemura Etsuko, 4496 bài thơ (có lẽ bà không tính các bài thơ chữ Hán) này, bài nào cũng đáng được ngâm nga. Chẳng thế mà nhà thơ waka Shimaki Akahito (1876-1926) đă nói rằng nếu có góp ư với ai về việc sáng tác khi ông sẽ khuyên họ nên học hỏi thơ Man.yôshuu v́ từ khi khởi đầu đến lúc kết thúc, tất cả thơ đều nằm trong một chữ “tâm”. Thi nhân Man.yôshuu đă đào sâu cảm hứng của ḿnh từ một mạch thơ rất dồi dào đó là chính cuộc sống. Có người Nhật bày tỏ cảm tưởng rằng khi Nhật Bản bại trận năm 1945, cho dù họ có thể mất những quốc bảo về kiến trúc như cổ thành Matsuyama trên đảo Shikoku đi nữa nhưng quốc bảo mà bao nhiêu quả bom nguyên tử cũng không thể không biến thành tro bụi và không cướp khỏi tay họ là Man.yôshuu và đó là một điều họ cảm thấy vô cùng hạnh phúc vậy.

Ngoài giá trị văn học, Man.yôshuu c̣n có giá trị học thuật của nó. Qua những bài thơ trong thi tập, ta có thể xây dựng lại h́nh ảnh thời xưa cũ bằng một loạt thông tin đến từ nhiều lănh vực như lịch sử, phong tục tập quán, lễ lạc hội hè, tâm t́nh và suy nghĩ cũng như h́nh ảnh cuộc sinh hoạt và chi tiết về văn hóa địa phương của người thời thượng cổ. Mặt khác, người nghiên cứu ngôn ngữ sẽ rất hài ḷng về giá trị tư liệu về âm vận, ngữ pháp, ngữ vựng, phương ngôn tục ngữ trong tiếng Nhật cổ thông qua Man.yôshuu. Đó là chưa kể những thông tin bổ ích cho việc t́m hiểu về văn học sử, nào là sự tồn vong của chôka, sự xuất hiện của tanka, sự h́nh thành ư thức về văn học quốc hồn quốc túy nơi người Nhật, cũng như những đặc trưng của văn học cổ đại.

12)  Ảnh hưởng của Man.yôshuu đến đời sau:

Hai cuốn Shinsen Manyôshuu (Tân tuyển Vạn Diệp Tập) và Shoku Manyôshuu (Tục Vạn Diệp Tập) của Sugawara no Michizane (Quản Nguyên Đạo Chân) cũng như thi tập nổi tiếng Kokin Wakashuu (Cổ Kim Ḥa Ca Tập) tuy có chịu ảnh hưởng của Man.yôshuu nhưng ảnh hưởng đó chỉ giới hạn ở những yếu tố bên ngoài như tên sách, cách biên tập, số quyển…chứ những yếu tố bên trong như sự thô sơ, thẳng thắn, thuần khiết trong lối diễn tả, sự bao la rộng lớn về đề tài, sự chân thực không cợt nhă trong thái độ sáng tác, nghĩa là những cái đă làm nên thi phong độc đáo của Man.yôshuu, th́ những thi tập này không thể nào sánh kịp.

Ngược lại, có thể nói các thi tập ấy c̣n như thể hướng về một chiều hướng đối nghịch với Man.yôshuu khi đi t́m cái thanh nhă trong đề tài, cái đẹp tế nhị trong cách diễn tả cũng như coi trọng sự dụng công có tính trí tuệ và những trao đổi kiểu xă giao thù tạc.

Ca phong Kokin của Kokin Wakashuu biểu hiện những ǵ thi nhân cung đ́nh của thời Heian (794-1192) yêu thích. Khi những thi nhân như Sone no Yoshitada (Tăng Nĩ, Hiếu Trung), Minamoto no Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại), tăng Kenshô (Hiển Chiêu)…chỉ v́ mô phỏng chữ dùng, bắt chước ca phong Man.yô thôi chứ chưa có được cái tinh thần của Man.yô mà đă bị làng thơ thuở ấy nói chung coi như là kẻ ngoại đạo, cho dù họ được gia đ́nh Rokujô (Lục Điều)[3] – một thi phái quyền uy thời ấy – đánh giá tốt và qua thái độ đó, tỏ ra trân trọng giá trị của Man.yôshuu.

Ảnh hưởng của Man.yôshuu đến đời sau có thể t́m thấy trong thơ của bốn thế hệ văn nhân Nhật Bản:

Thế hệ thứ nhất: Kamakura

Người tỏ ra có một tấm ḷng hiểu và yêu mến Man.yôshuu một cách thực sự, xem việc học tập ca phong Man.yôshuu như một mục tiêu là Minamoto no Sanetomo (Nguyên, Thực Triều, 1192-1219), vị Shôgun đời thứ ba của Mạc phủ Kamakura. Ông không chỉ mô phỏng nhưng đă nghiên cứu cảm quan và thái độ sáng tác của người thời Man.yô cho nên thơ của chính ông có cái b́nh dị đạm bạc, có tu sức th́ cũng chỉ vừa phải. Ông khác với những người như Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu Chân Uyên, thi nhân và học giả thời Edo, 1697-1769) về sau, v́ Sanetomo đă bắt đầu làm thơ từ hồi rất trẻ nên không chỉ biết có lư luận mà c̣n đồng hóa được ḿnh với người của thời Man.yô. Thơ của ông đă được thu thập lại trong Kinkai Wakashuu (Kim Ḥe Ḥa Ca Tập). Kin, cách đọc cổ để chỉ đất Kamakura, hành doanh của mạc phủ, c̣n kai có nghĩa là cây ḥe, ư nói ngôi vị tể tướng của Shôgun Sanemoto.

Thế hệ thứ hai:Edo tiền kỳ

Sau khi Manyô.shuu đă được hai học giả “Vạn Diệp học” thời Kamakura là Shaku Sengaku (Thích Tiên Giác) , Yua (Du A) và học giả quốc học thời Edo là Keichuu (Khế Trùng) ra công nghiên cứu, th́ môn đệ của Kada no Azumamaro (Hà Điền, Xuân Măn, 1669-1736) là Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên) đă đề cao một đặc tính và cũng là lư tưởng của thi ca mà ông khám phá nơi Man.yôshuu, cái hồn trượng phu hay phong cách hùng tráng của trang nam tử thấy được trong thơ mà ông đặt tên là masuraoburi (益荒男振 hay丈夫振). Mabuchi đă khuyến khích học tṛ của ḿnh như Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường, 1730-1801), Tayasu Munetake (Điền An, Tông Vũ, 1715-1771), Katori Nahiko (Tiếp Thủ, Ngư Ngạn, 1723-1782), Katô Chikage (Gia Đằng, Thiên Âm, 1735-1808), Murata Harumi (Thôn Điền, Xuân Hải, 1746-1811) đi theo lề lối sáng tác của Man.yôshuu. Bản thân Mabuchi cũng viết nên những vần thơ theo thể điệu ấy mang tên Man.yôchô (Vạn Diệp điệu). Tuy nhiên dẫu tâm phục Man.yôshuu và muốn theo gót những nhà thơ thời cổ nhưng tác phẩm của Mabuchi, hay th́ có hay, lắm khi vẫn c̣n thấy hơi hướng của phong cách Shin Kokin (của Tân Cổ Kim Ḥa Ca Tập, 1205) rơi rớt lại. Phải đợi đến lượt các học tṛ như Tayasu Munetake hay Katori Nahiko th́ giai điệu Man.yô mới bắt đầu thể hiện được thực sự.

Thế hệ thứ ba: Edo hậu kỳ:

Tiêu biểu cho thế hệ này có 3 nhà thơ: tăng Ryôkan (Lương Khoan, 1758-1831), Tachibana Akemi (Quất, Thự Lăm, 1812-1868) và Hiraga Motoyoshi (B́nh Hạ, Nguyên Nghĩa, 1800-1865).

Vào cuối thời Edo (cuối thế kỷ 18 và đầu 19), trong khi nhà thơ Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1843) đề cao ca phong Kokin (của Cổ Kim Ḥa Ca Tập, 905?, 914?), th́ lại có tăng Ryôkan, người vùng Echigo, miệt mài sáng tác những vần thơ tự do theo phong cách và giai điệu của của Man.yôshuu. Tachibana (tên thật là Ide) ở Fukui cũng đi t́m cái cốt lơi của thơ Man.yô, cuối cùng đă đạt đến được những vần thơ tự do tự tại, không bị ràng buộc cả bởi Man.yôshuu. Đất Bizen th́ có Motoyoshi đă biết học hỏi Man.yôshi để làm ra những câu thơ tràn đầy sức sống.

Thế hệ thứ tư: Meiji

Bước vào thời Meiji, ca phong của phái Dôjô (Đường thượng phái)[4] vốn chịu ảnh hưởng của Kagawa Kageki, đă một thời độc chiếm thi đàn. Đến giai đoạn giữa, người ta lại chứng kiến bước tiến của những hoạt động thi ca thuộc trường phái lăng mạn của hai vợ chồng Yosano, Tekkan (tên thật là Hiroshi, Dữ Tạ Dă, Khoan, 1873-1935) và Akiko (Dữ Tạ Dă Tinh Tử, 1878-1942), hai nhà thơ xuất thân từ thi xă Asaka (Thiển Hương Xă) của Ochiai Naobumi (Lạc Hợp, Trực Văn, 1861-1903). Thế nhưng lúc đó lại xuất hiện một nhà thơ cách tân là Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Quy, 1867-1902). Ông phê phán tất cả bọn họ và kêu gọi mọi người trở lại tinh thần thời Man.yô, đặc biệt chú trọng vào các quyển 16 (thơ hoạt kê, ca dao), quyển 14 (thơ miền đông hoang vu) và quyển 20 (thơ lính thú) là những vần thơ dân dă. Sau đó Shiki lại thành lập hội thơ tanka ở vùng Negishi[5] ở Tôkyô (1899), chủ trương làm thơ shasei (tả sinh = miêu tả cảnh sắc và sự vật một cách sống động và khách quan như nó thể hiện ra giữa thiên nhiên). Môn đệ nổi tiếng của ông là các nhà thơ Itô Sachio (Y Đằng, Tá Thiên Phu, 1864-1913) và Nagatsuka Takashi (Trường Chủng, Tiết, 1879-1915). Cùng đi chung con đường ấy và nối tiếp được truyền thống là những người như Shimaki Akahito, Nakamura Kenkichi, Saitô Mokichi, Tsuchiya Bunmei, Gomi Yasuyoshi. Họ đă phát hành tạp chí Araragi, lập nên trường phái thơ cùng tên và có ảnh hưởng rất lớn đối với thi đàn Nhật Bản từ thời Taishô (1912-1926) bước qua Shôwa (1926-1989).

Không chỉ trong lănh vực thơ mà thôi, tinh thần Man.yô ấy c̣n ảnh hưởng đến tân nhạc, tiểu thuyết, kịch. Man.yô được phổ cập rộng răi trong giới nghiên cứu, nhiều đại học đặt ra đề tài thảo luận và giảng dạy, c̣n như sách vở báo chí phê b́nh và chú thích về nó có thể nói là đếm không xiết.  


[1] Có cách tính khác khiến cho thi tập lên tới 4500 bài. Theo Wikipedia, Man.yôshuu có 265 chôka, 4207 tanka, 1 tanrenga (đoản liên ca), 1 bukusokuseki ca (thơ đề nơi in dấu chân Phật ở chùa Yakushiji ở Nara), 4 kanshi (thơ chữ Hán), 22 đoạn văn xuôi cũng bằng chữ Hán. Thế nhưng vẫn chưa tới 4516 như những tư liệu khác nhắc đến một cách tổng quát. Lư do có thể v́ thi tập có nhiều dị bản.

[2] Kư hiệu 2-85 có nghĩa là bài số 85 đối với 4516 bài của toàn tập và nằm trong quyển 2, c̣n kư hiệu 20-4516 nghĩa là bài thơ số 4516 (bài cuối cùng) nằm trong quyển 20 (quyển cuối cùng)

[3] Chỉ gia đ́nh Rokujô (tên một khu vực trong thành phố Kyôto nơi họ cư trú), một trường thơ cuối đời Heian bước qua Kamakura, bắt nguồn từ Fujiwara no Akisue (Đằng Nguyên Hiển Quư), rất có quyền uy trên thi đàn v́ đă được giao phó việc chủ tŕ tuyển lựa thơ cho nhiều thi tập soạn theo sắc chiếu.

[4] Thi phái phát xuất từ ḍng Nijô, chủ trương truyền thụ waka bằng bí quyết cá nhân, có khuynh hướng cao sang, đối lập với chi nhánh của nó là Jigeha (địa hạ phái) dân dă hơn.

[5] Vào cuối thế kỷ 19, Negishi hăy c̣n là một vùng đất thanh u, cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ giữa Tô kyô.

 

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : 11/1/2011 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com