NHẬP MÔN MAN.YÔSHUU

Qua thơ Vạn Diệp Tập, viễn du trong xă hội Nhật Bản cổ đại.

万葉集入門

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Bản thảo 2011

 

Chương Hai

 

Thời Tiền Man.yô và những nhà thơ cung đ́nh buổi đầu.

1-Thơ thiên hoàng Yuuraku. 2-Thơ thiên hoàng Jômei. 3- Thơ công chúa Nukata. 4- Thơ hoàng hậu Yamato. 5- Thơ nữ thiên hoàng Jitô. 6- Xướng họa giữa thiên hoàng Tenmu và quí phi Fujiwara.7- Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari. 8- Thơ công chúa Tajima, công chúa Ôku và hoàng tử Arima. 9- Thơ Kakinomoto no Hitomaro. 10- Thơ Takechi no Kurobito.11- Thơ Naka no Imiki Okimaro. 

 

Tiết I: Thơ Thiên hoàng Yuuryaku 雄略天皇

Man.yôshuu có 4496 bài lồng trong 20 quyển nhưng bài thơ được đặt lên đầu quyển 1 là bài ngự chế của Thiên hoàng Yuuryaku (Hùng Lược, đời thứ 21). Ông là vị vua mà cuốn cổ sử Nihon Shoki cho biết đă trị v́ trên đất Nhật 23 năm trời vào hậu bán thế kỷ thứ 5 và đă từng phái sứ giả sang Trung Quốc năm 478, được người nước ấy gọi với danh hiệu là Vũ (Nụy Vương).

Hai quyển 1 và 2 của Man.yôshuu đóng một vai tṛ rất đặc biệt. Trong đó lúc nào cũng bắt đầu bằng danh xưng của vị thiên hoàng đương nhiệm rồi dưới đó mới kê khai những bài thơ làm ra dưới thời người ấy trị v́. Ngự chế của thiên hoàng Yuuryaku (năm sinh và mất không rơ) là bài thơ cổ đứng vào hàng thứ ba về niên đại, chỉ sau các bài thơ tối cổ ( bài 2-85, 2-86, 2-87, 2-88, 2-89, 2-90) của Hoàng hậu Iwa (Iwanohime no Ôkisaki, vợ Thiên hoàng Nintoku) và bài (13-3263) của thái tử Karu (Karu no Hitsugi no Miko, con trai Thiên hoàng Ingyô). Tuy được viết dưới h́nh thức chôka, nhưng thời đó chôka chưa được đi kèm với một bài hanka đoạn hậu. Về số âm trong câu cũng chỉ là h́nh thức 5 và 7 âm. Ngự chế của ông được xem như là một Ôuta (Đại ca) nghĩa là đem ra tŕnh diễn giữa triều đ́nh và có nhạc khí ḥa tấu theo. Bài thơ đó nguyên văn như sau:

1-1

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

篭毛與美篭母乳 布久思毛與 美夫君志持 此岳尓 菜採須兒 家吉閑名 告<>根 虚見津 山跡乃國者 押奈戸手 吾許曽居 師<>名倍手吾己曽座 我<>背齒 告目 家呼毛名雄母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

篭もよみ篭持ち 堀串もよ み堀串持ち この岡に 菜摘ます子 家聞かな 告らさね そらみつ 大和の国は おしなべて 我れこそ居れ しきなべて 我れこそ座せ 我れこそば告らめ 家をも名をも

Phiên âm:

Komoyo miko mochi / fukushimoyo / mibukushi mochi / kono oka ni / natsumasu ko / ieki kana / nanorasanu / soramitsu / Yamato no kuni wa / oshinabete / ware koso ore / shikinabete / ware koso mase / ware koso wa norame / ie wo mo na wo mo.

Diễn ư:

Giỏ (tre, mây) đây, tay cầm cái giỏ tốt. Cuốc (nhỏ bằng tre, cây, để đào gốc) đây, tay cầm cái cuốc tốt. Hỡi cô gái đang lên đồi cao kiếm (hái) rau. Ta muốn hỏi nhà em ở đâu? Nói cho ta biết tên với. Dấu làm ǵ, ta là người cai trị toàn thể đất nước Yamato mà lại. Mọi người đều nghe theo và đưa ta lên làm vua. (Chính ta là người muốn thành chồng em), ta sẽ cho em biết nhà ta ở đâu (nên cứ yên tâm mà nói cho ta hay đi).

Tạm dịch thành thơ:

Tay cầm cái giỏ tốt / Tay cầm cái cuốc con/ Hỡi người con gái trẻ / Lên đồi hái rau non / Nhà em ở đâu thế? Nói cho ta hay cùng / Tên em là ǵ vậy? / Ta biết có được không? / Yamato toàn cơi / Lập ta làm vua chung / Ḷng ta đang ao ước / Cùng em thành vợ chồng / Nhà ta, ta sẽ chỉ / Sao em c̣n ngại ngùng!

Giải thích:

Thời thượng cổ, khi một người con trai hỏi tên và hỏi nhà của người con gái là có ư cầu hôn. Việc đi lại với nhau rất là quan trọng cho nên khi nghe con trai ướm hỏi, con gái không bao giờ đáp lời. Cho dù người đang đứng trước mặt có địa vị cao sang, tùy tùng theo tấp nập đi nữa, việc do dự không xưng tên hay cho biết nhà cửa là điều thường t́nh. Do biết phong tục dân gian như thế nên nhà vua phải tự giới thiệu về ḿnh trước. Như thế nhà vua muốn giải tỏa mối lo âu của cô gái nhưng cũng để thúc bách cô chấp nhận lời cầu hôn của ḿnh.

Theo nhiều tác giả khác (Sakaguchi, Nakanishi , xem thư mục), việc xưng tên (nanori名告) c̣n sâu sắc hơn v́ có ư nghĩa tôn giáo. Người xưa nghĩ rằng linh hồn con người nằm trong cái tên của ḿnh (Người Việt Nam cũng có cổ tích về người bị hớp hồn v́ trả lời ma quỷ khi được gọi tên). Xưng tên là tượng trưng cho sự chấp thuận. C̣n việc đi hái rau (natsumi菜摘み) tưởng là b́nh thường kia, theo tác giả Sakaguchi Yumiko, thật ra là một nghi thức dành cho phụ nữ vừa đến tuổi thành nhân. Chuyện thiên hoàng cầu hôn vào mùa xuân lúc cây cỏ nhú mầm lại có ngụ ư như một nghi thức shaman (đồng cốt) để cầu xin sự phồn thực của đất đai hoa màu và người con gái không phải người thường nhưng là một cô đồng (miko巫女). Thời Vạn Diệp, c̣n có nhiều bài thơ khác nhắc đến việc cầu hôn của Thiên hoàng kèm theo việc thách cưới và xem những dụng cụ dùng vào việc kiếm rau như là sính lễ nữa. Ví dụ Kojiki (Cổ Sự Kư) có chép thơ vịnh một nàng con gái từ chối lời cầu hôn, nấp trong núi, thách cưới những 500 cái cuốc con để đào đất.

Về loại thơ hỏi tên họ, hăy c̣n có bài 9-1726 của Tajihi no Mahito hỏi thăm tên của người con gái đi cắt rong biển [1] trên băi Naniwa (Ôsaka bây giờ) khi nước triều rút xuống:

難波方 塩干尓出<> 玉藻苅 海未通<>等汝名告左祢

難波潟潮干に出でて玉藻刈る海人娘子ども汝が名告らさね
Naniwagata / shio hi ni idete / tamamo karu / ama otome domo/ na ga nanorasane   

Khi nước triều rút cạn / Khỏi băi Naniwa / Hỡi nàng con gái biển / Nhặt rong đẹp bên bờ / Tên chi xin hăy tỏ.

Các nàng cũng đă đáp lại bằng những vần sau đây (bài 9-1727) để đuổi khéo anh ta, với ư khuyên chàng nên bớt những lời cầu hôn nồng nhiệt đi một chút cho dù chưa chắc bọn họ là những người con gái thuộc giai cấp tầm thường.

朝入為流 人跡乎見座 草枕 客去人尓 妾<>者不<>

あさりする人とを見ませ草枕旅行く人に我が名は告らじ
Asari suru / Hito to wo mimase / kusamakura / tabiyuku hito ni / wa ga na wa noraji

Khách lạ qua đường ơi / Đừng để ư chúng tôi / Phận nghèo hèn chài lưới / Tên tuổi ai lại nói / Cho người ḿnh không quen.

Cũng thế, bài 11-3101 và bài 11-3102 cũng là lời đối đáp giữa một người con trai si t́nh và một người con gái thận trọng. Nàng đă trả lời thẳng thừng trước lời cầu hôn của chàng trai, mới gặp lần đầu đă yêu ḿnh ngay và cho biết nàng không thể đem tên tuổi thổ lộ cho một người đàn ông không hề quen biết.

Bài ngự chế của Thiên hoàng Yuuryaku có hai đoạn. Đoạn đầu cho ta thấy bối cảnh của bài thơ là một ngày xuân đẹp, nhân vật chính là nàng con gái đang lên đồi hái rau. Tất cả như vẽ ra một bức tranh đẹp, lôi cuốn ḷng người đọc. Đoạn thứ hai tức là phần c̣n lại đưa ra h́nh ảnh trang trọng của một vị vương giả với dáng dấp đường đường đang bày tỏ và nhấn mạnh đến địa vị tôn quí và ư chí và hoài băo thực hành chính trị của ḿnh. Bắt đầu bằng komoyo (3 âm), tiến lên mikomochi (4 âm), fukushimochi (5 âm) rồi mibukushimochi (6 âm), t́nh cảm của nhà vua như càng ngày càng dâng lên một cách mạnh mẽ như lớp sóng, khi thế của nó thích hợp cho một bài ôuta (đại ca) tŕnh diễn trong cung điện với nhạc khí ḥa tấu theo.

Thiển nghĩ bài thơ này có phong vị mộc mạc chất phác giống thơ Quan Thư trong Kinh Thi và những bài trai gái tỏ t́nh với nhau trong ca dao Việt Nam.

Xin chú ư sora mitsu (nh́n quét ngang trời) là một makura-kotoba (chữ gối đầu), cụm từ chuyên dùng để tu sức, chỉ đất Yamato rộng bao la.

Nói về phong cách hùng tráng của Thiên hoàng Yuuryaku, đoạn 179 trong Kojiki có chép bài thơ này kèm theo một giai thoại về ông. Lúc ông ở ngôi, có lần để mắt đến một người con gái đẹp là bà Hiketabe no Akaiko khi bà đang giặt đồ trên bờ sông Miwa và hứa cưới bà làm vợ, xong về cung. Akaiko vui mừng khôn xiết, sửa soạn chu tất để được nhà vua vời vào cung. Thế nhưng nhà vua sau đó tuyệt vô âm tín, cô gái đẹp trở thành một cụ già ngoài 80, mặt hoa đă héo, làn da đẹp mỹ miều nhăn nheo, mái tóc huyền cũng bạc trắng. Hết chịu nổi cảnh tượng ḿnh sẽ chết đi trong câm nín và quên lăng nên một hôm bà sắm sửa lễ vật vào chầu. Khi nghe tâu, hoàng đế mới sực nhớ, hết sức kinh ngạc và hối hận đối với nàng nhưng không thể nào vời một bà cụ vào cung, cho nên chỉ biết tặng lại bà bài thơ và khi nghe đọc, bà chỉ biết khóc sụt sùi ướt đầm áo xống. Bà cũng phụng đáp một bài thơ và nhận được nhiều ân thưởng từ nhà vua. Đối với chúng ta, qua bài thơ này, th́ chỉ thấy được h́nh ảnh một ông vua trẻ tuổi, hào hoa và hơi vô tâm mà thôi. Và âu chuyện cớ phần phi lư v́ nếu bà Hiketabe lúc đó đă ngoại bát tuần th́ tuổi tác của Thiên hoàng phải đến bao nhiêu?

Truyền thuyết hoàng hậu hay ghen Iwa no Hime 磐姫

Tên của bà chính ra là Iwa no Hime no Ôkisaki, tục gọi là Hoàng Hậu Đá, có thể v́ đá là vật tổ của bộ lạc (Phù Dư, đến từ Triều Tiên?) của bà. Vợ của Thiên hoàng Nintoku (Nhân Đức), một ông vua trong thần thoại Nhật Bản. Trong danh sách 5 vị vua Nhật Bản thời cổ chép ở sử thư Trung quốc (Nụy Ngũ Vương) th́ tên ông là Tán hay là Trân. Ngựi ta thường ca tụng ông như bậc thánh đế v́ c̣ ḷng thương dân.

Kojiki chép bà là người rất hay ghen, không cho thiên hoàng đưa người thiếp nào vào sống trong cung cả. Nếu các phi tần hay thị nữ làm ǵ không vừa ư là dậm chân dậm cẳng. Thiên hoàng vốn yêu một người con gái họ Amabe no Atai ở đất Kibi tên là Kurohime, dung nghi xinh đẹp và đoan chính, bèn cho gọi đến. Hoàng hậu quá đỗi ghen tuông, cô ấy phải bỏ trốn về quê.

Bà có viết 4 bài thơ tưởng nhớ đến chồng. Bài 1-85 đă tŕnh bày bên trên giằng co giữa ḷng nôn nóng muốn đi gặp vua (đang đi tuần du trong núi hay đi thăm mỹ nhân th́ không rơ) mà đó về hay ngồi một chỗ mà chờ của bà được xem là bài thơ xưa nhất trong Man.yôshuu. Sau đây, xin chép thêm 3 bài thơ khác tiếp theo sau trong cùng một chùm thơ:

1-86

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

如此許戀乍不有者 高山之 磐根四巻手 死奈麻死物<>

Dạng huấn độc (đă chua âm):

かくばかり恋ひつつあらずは高山の磐根しまきて死なましものを

Phiên âm:

Kakubakari / koitsutsu arazu / takayama no / iwaneshi makite / shinamashi mono wo /

Diễn ư:

Nếu phải tiếp tục sầu khổ héo hon không thôi v́ t́nh yêu như thế này thà lên trên non cao, gối đầu lên ḥn đá mà chết đi c̣n hay hơn.

Tạm dịch thơ:

Nếu tiếp tục héo sầu / V́ yêu ngài tha thiết / Thiếp thà lên non cao / ( Nơi không ai hay biết ) / Mượn đá kia làm gối / Ngủ trọn giấc ngàn năm

1-87

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

在管裳君乎者将待 打靡 吾黒髪尓 霜乃置萬代日

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ありつつも君をば待たむうち靡く我が黒髪に霜の置くまでに

Phiên âm:

Aritsutsu mo / kimi wo ba matamu (matan) / uchinabiku / wa ga kurokami ni / shimo no oku made ni /

Diễn ư:

Em sẽ cứ như thế mà chờ ngài măi măi. Đợi cho đến khi mái tóc mượt mà đen dày của em trở thành bạc trắng như sương.

Tạm dịch thơ:

Thiếp sẽ chờ đợi hoài / Đến khi ngài trở lại / Dù mái tóc đen tuyền /( Đang xơa xuống bờ vai ) / (Qua những tháng năm dài) / Sẽ đổi màu sương tuyết /

1-88

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

秋田之穂上尓霧相 朝霞 何時邊乃方二 我戀将息

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋の田の穂の上に霧らふ朝霞いつへの方に我が恋やまむ

Phiên âm:

Aki no ta no / ho no e ni kirau / asakasumi / itsu e no kata ni / a ga koi yamamu (yaman) /

Diễn ư:

Cũng như sương mai trĩu nặng trên bông luá trên cánh đồng thu dần dần tan biến đi, t́nh yêu trong ḷng ta biết bao giờ mới tan biến đi đây. E rằng nó chẳng bao giờ tan biến cả...

Tạm dịch thơ:

Sương mai trên đồng thu / Trĩu nặng bao cành lúa / Yêu thương nào chẳng úa / Tan tác cũng như sương / Nhưng ḷng của em đây / T́nh không hề cạn mạch / 

Tiết II: Thơ Thiên hoàng Jomei舒明天皇:

Thiên hoàng Jomei (Thư Minh, 593-641, trị v́ 629-641) đă ngâm bài thơ nổi tiếng sau đây lúc ông leo lên Kaguyama trong xứ Yamato và đưa mắt nh́n xuống giang sơn đất nước trải rộng bao la dưới chân núi.

1-2

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

山常庭 村山有等 取與呂布 天乃香具山 騰立 國見乎為者 國原波 煙立龍 海原波 加萬目立多都 怜A國曽 蜻嶋 八間跡能國者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

大和には 群山あれど とりよろふ 天の香具山 登り立ち 国見をすれば 国原は 煙立ち立つ 海原は 鴎立ち立つ うまし国ぞ 蜻蛉島 大和の国は

Phiên âm:

Yamato ni wa / murayama aredo / tori yorofu / ame no Kaguyama / noboritachi / kunimi wo sureba / kunihara wa / kemuri tachitatsu / unahara wa / kamame tachitatsu / umashi kuni zo / Akitsushima / Yamato no kuni wa/    

Diễn ư:

Trên đất Yamato núi non trùng điệp nhưng trong những ngọn núi đó, có ngọn nào đầy đủ ưu điểm như núi Kagu (Hương Cụ Sơn) chăng? Leo lên núi ấy mà nh́n suốt cả nước th́ thấy khắp b́nh nguyên đâu đâu cũng có khói thổi cơm ở các nhà dân bốc lên, c̣n trên mặt hồ (ao) Naniyasu rộng kia th́ biết bao nhiêu chim hải âu bay lượn. Nước Yamato này thật là một xứ sở tuyệt vời.

Tạm dịch thơ:

Yamato trùng điệp / Bao nhiêu là núi non / Nhưng có ǵ sánh được / Núi tên Hương Cụ Sơn / Ta leo lên đỉnh ấy / Nh́n suốt cả giang san / B́nh nguyên tỏa khói bếp / Mặt nước bóng âu vờn / Yamato no ấm / Hỏi nơi nào đẹp hơn?

Núi Kagu nằm phía Tây Nam huyện Shiki thuộc Nara tương truyền ngày xưa có thần nhân giáng hạ, cho nên được xem như một ngọn núi linh thiêng. Núi lại có h́nh dung cân đối, cây cối xum xuê xanh tốt nên không ḥn núi nào sánh bằng. Khi nà vua lên cao thị sát dân t́nh th́ thấy phong quang đẹp đẽ của đất nước nên cất tiếng ca ngợi. Trong đoạn đầu, tác giả đứng ở vị trí khách quan để tŕnh bày sự vật, đoạn hai đi dần vào lập luận chủ quan. H́nh thức với biển chuyển tâm lư như thế rất quen thuộc trong thi ca Man.yô. Những câu nói về khói bếp (ám chỉ no cơm) hay cánh âu (ám chỉ nhiều cá) có khi chỉ để nói lên niềm ước vọng cho một cảnh đời sung túc chứ chưa chắc đó là thực tế ngoại giới.

Về mặt h́nh thức, cụm từ Akitsushima ư nói “ḥn đảo đất đai màu mỡ, có những vụ mùa ngũ cốc tốt đẹp” cũng đóng vai tṛ của một từ tu sức (makura-kotoba) cho danh từ Yamato.

Tuy nhiên, qua bài thơ trên, ta h́nh dung được Yamato như một đất nước có quốc chính hẳn hoi với một bậc vương giả nhân từ và nơi đó, dân chúng sống cuộc đời cần cù làm ăn và sung túc.Yamato là một vị trí địa lư thường được nhắc đến nhiều trong Man.yôshuu.

Sau đây là một ngự chế khác của Thiên hoàng Jomei (bài 8-1511):

暮去者 小倉乃山尓 鳴鹿者 今夜波不鳴 寐<宿>家良思母

夕されば小倉の山に鳴く鹿は今夜は鳴かず寐ねにけらしも
Yuu sareba / Kokura no yama ni / nakushika wa / koyoi wa nakazu / ine ni kerashimo

Trong núi Kokura / Thường hôm nào cũng vậy / Mỗi khi chiều vào tối / Vọng lại tiếng nai xa / Hôm nay sao không nghe / Phải chăng nai ngủ sớm?

Mỗi ngày đúng vào một giờ nào đó, trong núi có tiếng nai vẳng tới. Tiếng nai đó là tiếng nai đực gọi nai cái, đă trở thành quen thuộc như tiếng của buổi chiều. Hôm nay không nghe nai kêu, Thiên hoàng cảm thấy một nỗi buồn trống vắng và ông chỉ mong sao sẽ chẳng có ǵ bất thường, và biết đâu đó chẳng là một ngoại lệ. Có thể hôm nay nai đă đi ngủ sớm. Nó cũng có thể xem như dấu hiệu cho thấy ông quan tâm đến mọi chuyển biến dù nhỏ nhất của đất nước ông trị v́.

Nai (Nguồn Internet)

Qua bài thơ này, ta thấy được bản tính thuần hậu của nột ông vua như Jomei. Một bài khác với nội dung tương tự mang số hiệu 9-1664 lại được gán cho Thiên hoàng Yuuryaku nói trên (thường được xem như một ông vua vũ dũng nhưng bạo ngược):

暮去者 小椋山尓 臥鹿之 今夜者不鳴 寐家良霜

夕されば小倉の山に伏す鹿の今夜は鳴かず寐ねにけらし
Yuu sareba / Ogura no yama ni / fusu shika no / koyoi wa nakazu / ineni kerashimo

Nội dung hầu như đồng nhất. Khác chăng chỉ là địa danh Kokura trở thành Ogura và con nai kêu (naku shika) trở thành nai nằm phủ phục (fusu shika).

Tiết III: Thơ Quận chúa Nukata 額田王:

Quận chúa[2] Nukata, c̣n đọc là Nukada, con người cao quí, thông minh và tài sắc vẹn toàn, là một nhân vật nữ cao cấp, đóng vai tṛ trung tâm trong làng thơ thời Man.yô. Bà là tác giả bài chôka thứ 16 trong tập thơ mang chủ đề so sánh mùa xuân và mùa thu bên nào hơn bên nào kém cũng như 11 bài thơ đẹp như châu ngọc khác. Cuộc đời t́nh cảm đầy sóng gió của bà xuyên qua những câu thơ ấy đă làm rung động trái tim người đọc nhiều thế kỷ về sau.

Quận chúa là con gái tước vương Kagami (Kính vương) và là em gái một quận chúa khác, Kagami Ôkimi, người cũng đă để lại 4 bài thơ luyến ái trong Man.yôshuu. Bà Nukata lấy tên vùng đất ḿnh cư trú làm tên riêng. Ban đầu, bà được hoàng tử Ôama (Đại Hải Nhân, sau là Thiên hoàng Temmu, Thiên Vũ) yêu dấu, hai bên đă có một con gái tức là quận chúa Tôchi (Tôchi no Himemiko, hoàng phi của Thiên hoàng Kôbun, Hoằng Văn). Hai ông bà rất đỗi yêu nhau. Thế nhưng số phận éo le, Nukata lại bị nạp vào cung Thiên hoàng Tenji (một ông vua anh hùng khác, anh của Temmu, và cũng là ḱnh địch trên chính trường). Bà phải gạt lệ đi vào hậu cung ở Ômi của Tenji lúc ấy quyền lực rất lớn (Temmu chỉ c̣n biết đợi thời để đoạt lại nước cũng như người yêu).

1-20

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

茜草指 武良前野逝 標野行 野守者不見哉 君之袖布流

Dạng huấn độc (đă chua âm)

あかねさす紫野行き標野行き野守は見ずや君が袖振る

Phiên âm:

Akanesasu / murasaki no yuki / shimeno yuki / nomori wa mizuya/ kimi ga sode furu

Diễn ư:

Đi ngang qua cánh đồng thuốc đầy hoa murasaki (một loại hoa nhỏ mùa hạ, cánh trắng và nhỏ nhắn, có rễ tím rất quí dùng làm thuốc nhuộm áo xống các bậc vương hầu và có khả năng giải độc) đẹp lung linh, nơi Thiên hoàng đang tổ chức cuộc săn (tức là hái thuốc), hoàng tử hướng về em phất tay áo như ra dấu vẫy gọi. Người canh vườn (chồng hiện tại của em) có thấy không đó? Xin chớ liều lĩnh làm như thế nữa nhé.

Tạm dịch thơ:

Em qua khu vườn cấm / Rợp “hoa tím” lung linh / Chàng phất tay áo vẫy / Muốn tỏ muôn ư t́nh / Nhỡ người canh họ thấy / (Lộ hết chuyện đôi ḿnh).

Akane sasu là một từ tu sức (makura-kotoba) cho cây thuốc nhuộm murasaki, một loại cây quí. Người ngoài không được bén mảng đến nơi trồng nó, một khu vườn cấm (shimeno).

Năm thứ bảy sau khi thiên hoàng Tenji tức vị (668), ngày mồng 5 tháng 5 đă đưa cả quần thần trong đó có ngự đệ là hoàng tử Ôama đi hái thuốc (kusurigari, dù kari có nghĩa là đi săn) ở cánh đồng Kamôno (thường là vào mồng 5 tháng 5). ở Ômi. Trong đám tùy tùng ấy cũng có quí phi của ông là công chúa Nukata, từng là người yêu và có một mặt con với Ôama. Thế mà Ôama dám vuốt râu hùm, vẫy ta áo ra hiệu cho Nukata, tỏ t́nh quyến luyến. Lúc đó Ôama độ 40 và Nukata khoảng 35 tuổi, coi như đă đến tuổi chín muồi rồi chứ không c̣n trẻ trung ǵ. Công chúa tuy sung sướng biết người xưa vẫn yêu ḿnh nhưng không khỏi lo sợ v́ cử chỉ bạo dạn đó đă xảy ra trước đông đảo quần thần, e rằng Tenji (người chồng hiện tại, nói bóng gió là người có nhiệm vụ giữ khu vườn cấm) ấy biết được th́ khốn. Bài thơ vừa là lời cảm ơn vừa là lời trách móc Ôama. Nhất là khi trong t́nh anh em của hai ông vua anh hùng kia (Tenji và Ôama, sau này trở thành Temmu) đă thấy có đám mây u ám của cuộc tranh chấp quyền lực bao phủ.

Có thể tưởng tượng được cảnh trời cao xanh, gió nam ấm áp một ngày đầu hạ, trong không khí hứng phấn của cuộc săn (hái thuốc), là tâm cảnh phức tạp của ba nhân vật. Bằng 31 âm thanh ngắn ngủi, công chúa Nukata đă thành công khi diễn đạt được tâm t́nh vừa yêu thương, vừa cảm kích, vừa lo sợ, vừa trách móc đó. Âm điệu, màu sắc và giọng thơ đều trôi chảy, đẹp đẽ nhưng chân thành chứ không có vẻ ǵ là xă giao bề ngoài.

Murasaki ( “Hoa Tím” ) (Nguồn Wikipedia)

 

Để đáp lời công chúa Nukata, hoàng tử Ôama cũng đă viết bài đánh số 1-21 liền theo sau:

 

Hoàng tử Ôama大海人(tức Thiên hoàng Temmu天武天皇)

1-21

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)

紫草能 尓保敝類妹乎 尓苦久有者 人嬬故尓 吾戀目八方

Dạng huấn độc (đă chua âm):

紫のにほへる妹を憎くあらば人妻故に我れ恋ひめやも

Phiên âm:

Murasaki no / nioeru imo wo / nikuku araba / hitozuma yue ni / ware koi meyamo

Diễn ư:

Hỡi nàng con gái đẹp diễm lệ như cành hoa murasaki kia ơi! Nếu ta thực sự ghét em v́ bây giờ em đă thuộc của về người khác tức là thành vợ ông anh của ta th́ cớ sao ta cứ măi măi yêu em nồng nhiệt đến độ không thể nào giữ ǵn được như giờ đây.

Tạm dịch thơ:

Lộng lẫy như “hoa tím” / Hỡi người em gái tôi / Nếu ghét v́ em đă / Thành ra vợ của người / Sao (ḷng ta nóng bỏng) / Nhớ nhung hoài không thôi?

Luân lư của thời Man.yô tuy chưa chặt chẽ lắm nhưng đă bắt đầu nghiêm ngặt trong chuyện có t́nh ư đối với vợ người (hitozuma) rồi. Hoàng tử Ôama, người đàn ông đang bị xâu xé bởi t́nh yêu, xung động t́nh dục và sự ràng buộc của lễ nghi, khi gặp đối tượng yêu đương đă có hành động tỏ t́nh khinh suất trước mặt mọi người. Bài thơ đă nói lên được sự thực của ḷng chàng và v́ nói rơ được sự thực nên nó rất chân thành và nam nhi.

Chữ Nio trong Nioeru không phải là “mùi” như nghĩa tiếng Nhật hiện đại (khứu giác) nhưng trong cổ ngữ, đó là một từ diễn ư “dáng vóc xinh đẹp” (thị giác). Bài thơ này v́  là một henka (返歌phản ca, thơ họa lại), cho nên hoàng tử Ôama đă dùng cùng h́nh ảnh cây hoa murasaki để đối lại với bài thơ trước của công chúa Nukata vốn đă nói đến hoa này.   

Một chi tiết thú vị là hai bài thơ trên đây được các nhà biên soạn Man.yôshuu xếp vào loại zôka (tạp ca) gồm cả các bài thơ làm ra ở chốn công đường chứ không phải trong mục sômonka (tương văn ca) như thơ luyến ái. Trong Man.yôshuu, loại zôka được sắp lên hàng đầu, trước cả sômonka và banka chứ không phải bị xem như loại thơ đa tạp, vụn vặt đặt ở cuối những thi tập đâu. Điều này chứng tỏ hai bài thơ đó đă được trao đổi ở bàn tiệc của triều đ́nh, trước mặt công chúng và cả Thiên hoàng Tenji. Do đó, nó cho ta thấy hai người t́nh nhân này rất dạn dĩ, nếu không nói là đang đùa với lửa.

 

Hoàng tử Naka no Ôe中大兄皇子 (tức Thiên hoàng Tenji天智天皇)

T́nh cờ hay hữu ư, ba bài thơ sau đây của Hoàng tử Naka no Ôe và cũng là người được biết dưới cái tên Thiên hoàng Tenji (tại vị 668-671, 626-671), một ông vua anh hùng trong lịch sử Nhật Bản, có nói đến quan hệ tay ba của ...ba ḥn núi.

1-13

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)

高山波 雲根火雄男志等 耳梨與 相諍競伎 神代従 如此尓有良之 古昔母 然尓有許曽 虚蝉毛 嬬乎 相<>良思吉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

香具山は 畝傍を愛しと 耳成と 相争ひき 神代より かくにあるらし 古も しかにあれこそうつせみも 妻を争ふらしき

Phiên âm:

Kaguyama wa / Unebi wo oshi to / Miminashi to / aiarasoiki / kamuyo yori /  kaku ni aru rashi / inishie mo / shika ni are koso / utsumemi mo / tsuma wo arasou rashiki /

Diễn ư:

Ta nghe nói v́ núi Unebi yêu núi Kagu nên tranh nhau với núi Miminashi.H́nh như từ đời thượng cổ (đời các thần) đă có câu chuyện đó. Bởi v́ xưa đă từng xảy ra, nên người thời nay cũng đi tranh vợ với nhau như thế.

Đây là một chôka kể lại truyền thuyết mối t́nh tay ba của ba ngọn núi gọi là Đại Ḥa tam sơn v́ chúng cùng nằm trên b́nh nguyên Yamato. Sau phải nhờ đến thần Abô no Ôkami từ Izumo (nay thuôc tỉnh Shimane phiá biển Nhật Bản) lên dàn xếp nhưng khi thần đến nơi th́ mọi việc đă an bài. Tương truyền thuyền của thần đi đến cánh đồng Inami kunihara ở Harima th́ bị lật úp phải ở lại, nơi đó c̣n một cái g̣ làm dấu tích.

Có lẽ sau khi đi đánh Shiragi (Tân La) về, ghé qua cánh đồng, hoàng tử Naka no Ôe đă vịnh bài thơ đó. Chuyện này hẳn dính dáng đến mối t́nh chung của hai anh em ông và có một cuộc tranh chấp đă xảy ra.

Tạm dịch thơ:

Giữ Kagu không thả / Hùng hổ Unebi / Tranh t́nh yêu người đẹp / Trước Miminashi / Ta nghe rằng việc ấy / Từng có tự lâu rồi / Vỡ lẽ ra tranh vợ / Đâu chuyện đời nay thôi!

1-14

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)

高山与 耳梨山与 相之時 立見尓来之 伊奈美國波良

Dạng huấn độc (đă chua âm):

香具山と耳成山と闘ひし時立ちて見に来し印南国原

Phiên âm:

Kaguyama to / Mimnashiyama to / aishi toki / tachite mikoshi / Inami kunihara /

Diễn ư:

Ôi, đây có phải là cánh đồng Inami kunihara, nơi thần Abô no Ôkami đă từng đứng chứng kiến cảnh tranh chấp một người đàn bà của hai ḥn núi Kagu và Miminashi ?

Trong bài này, khác với ư trong chôka, Kagu và Miminashi mới là hai ngọn núi đàn ông t́nh địch và có thêm một khách bàng quan đứng ngắm là ông thần Abô. Bài này c̣n gợi cho ta thấy t́nh cảm thiêng liêng của hoàng tử Naka no Ôe đối với non sông đất nước trường cửu đă có từ đời các thần (jindai).  

Tạm dịch thơ:

Có phải nơi đây là / Đồng Kunihara / Thần Abô chứng kiến / Một chuyện t́nh tay ba / Hai ḥn núi ganh tị / V́ một bóng đàn bà ? /  

1-15

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)

渡津海乃豊旗雲尓 伊理比<>之 今夜乃月夜 清明己曽

Dạng huấn độc (đă chua âm):

海神の豊旗雲に入日さし今夜の月夜さやけくありこそ

Phiên âm:

Watatsumi no / toyohatakumo ni / irihisashi / koyoi no tsuku yo / sayakeku ari koso /

Diễn ư:

Trên mặt biển rộng, mây bay như những lá cờ phất phới. Những tia nắng chiếu xuyên qua đám mây trông thật tráng lệ. Chắc hẳn khi trời về chiều và đêm xuống, trăng cũng trong vắt và sáng ḷa.

Bài thơ này rất hào hùng, có khẩu khí của một bậc thiên tử tương lai, người đă đảo chánh quyền thần Soga, cải cách nhà nước và trung hưng vương thất.

Tạm dịch thơ:

Mây như cờ phất phới / Mặt biển rộng bao la / Ánh mặt trời sáng lóa / Chiếu dơi khắp gần xa / Chắc rằng đêm có xuống/ Trăng thanh cũng rạng ngời /

Quận chúa Nukata có vẻ là một người đa t́nh. Đă đành bà yêu Temmu (Ôama) nhưng đối với Tenji (Naka no Ôe), ông chồng oai hùng ấy, bà cũng đă tỏ rơ t́nh cảm yêu mến và khó ḷng nói là lúc ấy bà không chân thực. Hăy xem bài 4-488 sau đây:

4-488

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

君待登 吾戀居者 我屋戸之 簾動之 秋風吹

Dạng huấn độc (đă chua âm):

君待つと我が恋ひ居れば我が宿の簾動かし秋の風吹く

Phiên âm:

Kimi matsu to / wa ga koi ireba / wa ga yado no / sudare ugokashi / aki no kaze fuku 

Diễn ư:

Trong khi ḷng em đang nhớ nhung, chờ đợi xa giá quân vương đến chơi th́ bức mành mành nhà em bỗng phất phơ, phát ra âm thanh nhẹ nhàng. Tưởng ngài đến nên ḷng em chợt hết lo âu, chẳng dè tiếng động ấy chỉ là do trận gió thu tạt ngang bức mành thôi.

Tạm dịch thơ:

Thiếp tựa của mong sao / Hôm nay xa giá đến / Chợt nghe tiếng lao xao / (Ḷng mới nguôi lo lắng) / Dè đâu trận gió thu / Thổi nhẹ qua rèm vắng.

Đây là một bài thơ b́nh dị nhẹ nhàng và cảm động. Buổi chiều hôm đó có tin Thiên hoàng sẽ ngự tới cung ḿnh nên quận chúa (hoàng phi) đă sửa soạn để tiếp rước và lặng lẽ đợi chờ. Khi nghe tiếng rèm cửa lay động lao xao, nàng tưởng nhà vua đă tới và mới hết lo âu, như thở hắt được ra. Tuy không có kỹ xảo tu từ nhưng bà đă bày tỏ được tấm ḷng mong nhớ dịu dàng mà sâu sắc của một người đàn bà khi đang dồn hết tâm trí để lắng nghe một tiếng người qua.

Bài này có thể đă được đem dâng lên Thiên hoàng nhưng sách vở không chép lại bài họa (henka) nào của ông. Có lẽ v́ là một ông vua anh hùng, chuộng hành động hơn là lời nói, ông đă trực tiếp t́m đến bà ngay chăng?

Qua hai bài 1-20 và 4-488 của quận chúa Nukata, ta thấy bà vừa thông minh, tao nhă, vừa khả ái vừa sâu sắc. Bà không bao giờ quên hoàn cảnh phức tạp của ḿnh đang sống và những người chung quanh, nên thuận theo ḍng đời một cách b́nh dị và thanh thoát chứ không hề khóc than cho số phận.

Dưới chế độ nhất phu đa thê, những người đàn bà phải chờ đợi chồng ban đêm đến thăm (Người Nhật cổ gọi là aitsuu = tương thông). Bài thơ của bà, cũng như những bài thơ cùng loại của các mệnh phụ khác (như bài thơ của Sotoori hime viết cho Thiên hoàng Ingyô chẳng hạn) [3]đă nói dược lên tâm t́nh nhớ mong của những người phụ nữ có chung cảnh ngộ khi màn đêm xuống.

Quận chúa Nukata c̣n có một bài thơ khác và từng được một cuộc trưng cầu ư kiến độc giả thời đại chúng ta đánh giá là một trong 10 bài thơ hay (hoặc ít nhất là có ư nghĩa quan trọng hơn cả) trong thơ Vạn Diệp. Bài ấy không phải thơ t́nh nhưng có dụng ư chính trị. Như sau:

1-8

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

熟田津尓船乗世武登 月待者 潮毛可奈比沼 今者許藝乞菜

Dạng huấn độc (đă chua âm):

熟田津に船乗りせむと月待てば潮もかなひぬ今は漕ぎ出でな

Phiên âm:

Nikitatsu (Nigitatsu) ni / funanori semu (sen) to / tsuki mateba / shio mo kanainu / ima wa kogi idena

Diễn ư:

Vừa khi đợi trăng mọc để cho thuyền rời bến Nikita (có sách đọc là Nigita) th́ đúng lúc thủy triều đă dâng lên đầy ắp. Nào nào, hăy cùng nhau chèo chống ra khơi !

Nếu không t́m hiểu bối cảnh ra đời của bài thơ th́ ta đă có thể tưởng là một bài thơ nói về cảnh đẹp đêm trăng hay sinh hoạt dân chài. Thật ra nó là một hịch văn “bỏ túi” để khuyến khích tướng sĩ.

Tháng giêng năm 661, Nữ thiên hoàng Saimei cất quân sang bán đảo Triều Tiên giúp di thần của tiểu quốc Kudara (Bách Tế) chống lại sự xâm lấn của người Shiragi (Tân La), một tiểu quốc khác nằm trên bán đảo vốn có một đồng minh đáng ngại là nhà Đường (618-907). Sau khi tạm dừng chân ở Nikita (hay thuộc thị trấn Matsuyama, tỉnh Ehime), chiến thuyền Yamato lại rời bến để đi về phía Tây. Nukata chắc với địa vị một nữ quan hay thơ, đă đại diện thiên hoàng làm bài thơ kêu gọi đó dù cũng có thuyết chủ trương thơ này là của chính Saimei.

Trong chuyến đi, có cả các nhân vật lănh đạo tương lai như hai hoàng tử Naka no Ôe (về sau là Thiên hoàngTenji) và Ôama (về sau là Thiên hoàng Temmu) cũng như nhiều công chúa. Bài thơ nói lên không khí hứng khởi của đoàn quân đang gặp lắm điều kiện thuận lợi cho cuộc hành tŕnh như trăng sáng, biển lặng, nước ṛng. (Thế nhưng sau khi ghé cảng Hakata ở Kyuushuu và sang đến Triều Tiên, đoàn quân này đă đại bại ở Hakusuki no e (hay Hakusonkô, ở vị trí cửa sông Cẩm Giang bây giờ) trước liên quân Đường – Shiragi vào năm 663). Vương triều Kudara hoàn toàn bị tiêu diệt. Nhờ đó, người Nhật đă tỉnh ngộ, rút quân về và Tenji làm nên cuộc cải cách năm Taika (Taika no kaishin, 645), chấn chỉnh lại nội bộ và đưa đất nước đi lên.

Tạm dịch thơ:

Đang khi chờ trăng mọc / Để rong thuyền khơi xa / Bến Nikita ấy / (Ḱa bao đoàn quân ta) / Thủy triều giờ đă ngập / Nhanh tay mà chèo ra /

Tiếp theo đây là một bài thơ nổi tiếng khác của quận chúa Nukata (bài 1-16), khi có cuộc tranh luận giữa triều thần xem giữa mùa xuân và mùa thu, bên nào đẹp hơn (xuân thu tranh ưu luận) .

1-16

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

冬木成春去来者 不喧有之 鳥毛来鳴奴 不開有之 花毛佐家礼抒 山乎茂 入而毛不取 草深 執手母不見 秋山乃 木葉乎見而者 黄葉乎婆 取而曽思努布 青乎者 置而曽歎久曽許之恨之 秋山吾者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

冬こもり春さり来れば 鳴かずありし 鳥も来鳴きぬ 咲かずありし 花も咲けれど 山を茂み 入りても取らず 草深み 取りても見ず 秋山の 木の葉を見ては 黄葉をば 取りてぞ偲ふ 青きをば 置きてぞ嘆く そこし恨めし 秋山吾は

Phiên âm:

Fuyugomori / harusari kureba / nakazarishi / tori mo kinakinu / sakazarishi / hana mo sakeredo / yama wo shimi / torite mo torazu / kusa fukami / torite mo mizu / akiyama no / kono ha wo mite wa / momiji wo ba / torite zo shinofu / aoki wo ba / okite zo nageku / sonoshi urame shi / akiyama ware wa.

Diễn ư:

Mùa đông vừa dứt và xuân đă đến, những con chim nằm im trong tổ bắt đầu cất tiếng hót. Cây khô lại bắt đầu ra hoa thắm. Thế nhưng cây trong núi quá rậm rạp cho nên thân gái như ta không có thể vào đó kiếm hoa. Cỏ lại mọc dày măi trong sâu đến nổi không sao nh́n ra hoa để hái. Trong khi đó, khi trời vào thu, ta có thể bẻ cành cây lá đỏ mà trực tiếp thưởng thức vẻ đẹp của nó. Riêng nhưng cành hăy c̣n xanh, ta cứ để nó nguyên trên cành và than thở sao nó chưa chịu đổi màu. Núi mùa thu đẹp hơn núi mùa xuân nhưng riêng có điểm nói trên th́ ta lấy làm tiếc. Kết cuộc, nếu so sánh, ta vẫn phải thiên về cảnh núi mùa thu.

Tạm dịch thơ

Đông qua xuân vừa tới/ Chim thức giấc ḥa ca / Cành khô dù điểm thắm / Rừng rậm khó t́m hoa / Cỏ xuân dày khắng khít / Ai mà nh́n cho ra! Cảnh thu th́ ngược lại / Lá hồng trong tay ta / Bẻ xuống ngắm tận mắt / Riêng cành xanh bỏ qua / Vẫn để nguyên trên đó / Sao chẳng chuyển sang đỏ ? / Hai mùa nếu so sánh / Tiếc điều đó chăng là / Nhưng dù xuân có đẹp / Ta chỉ ngóng thu xa. 

Chuyện xảy ra vào một hôm (có lẽ sau khi dời đô về Ômi năm 667) khi Thiên hoàng Tenji nói với đại thần Fujiwara no Kamatari hăy ra đề luận xem hoa trên núi mùa xuân và lá đỏ trên núi mùa thu cái nào đẹp hơn (xuân sơn vạn hoa lệ, thu sơn thiên diệp thái) th́ quận chúa Nukata nhân đó đưa ra bài thơ để đánh giá và đặt giá trị của mùa thu lên trên mùa xuân. Ban đầu, bà đưa ra những điểm mạnh của mùa xuân, sau đó mới gợi ra những khuyết điểm của nó. Tiếp đến bà cũng đưa ra cái hay cái dở của mùa thu để đi tới kết luận cho mùa thu thắng cuộc.

Việc tranh luận về ưu khuyết điểm và sự đối lập của hai mùa (xuân thu tranh ưu luận) [4]đă được nhắc tới trong đoạn 15 (Akiyama no shitai otoko / haru yama no shitai otoko) của tập sử thư Kojiki và chương Usugumo (Phận mỏng như mây) của Truyện Genji. Cũng vậy tập nhật kư Sarashina cũng chép lại việc công chúa Yuushi bàn với Minamoto no Sukemichi về cái hay cái dở của hai mùa và đă chọn mùa xuân thay v́ mùa thu. Ngược lại, Shuuishuu (Thập Di Tập) quyển 9 phần Tạp hạ th́ lại đưa ra một bài thơ bênh vực và tán dương mùa thu.

Về mặt h́nh thức, cụm từ fuyugomori là một từ tu sức (makura-kotoba) để nói việc  mùa xuân đă đến và liên kết nó với sự ra đi của mùa đông (fuyu). Shinofu nghĩa thời Nara có nghĩa là thưởng thức, tưởng nhớ, chưa trở thành shinobu (nhớ lại, chiu đựng, nhẫn nhục) như bây giờ. Về mặt ư nghĩa th́ sự có mặt của bài chôka này rất quan trọng. Lư do là dưới triều Ômi, trong cung, mỗi khi yếu ẩm, người ta chỉ chuộng Hán thi. Hơn nữa bên cạnh Hán thi diễm lệ và khá cầu kỳ th́ bài thơ viết bằng quốc văn mộc mạc như thế này lại có cái ǵ tươi mới và dân tộc.

Nhân nói về việc thiên đô đến Ômi, tuy đó là việc lớn của quốc gia quyết định bởi Thiên hoàng Tenji nhưng nó đă để lại trong ḷng những người tùy tùng của ông nhiều cảm khái khi họ phải rời khỏi vùng Asuka nơi có kinh đô cũ, băng qua xứ Yamashiro để vào đất Ômi. Quận chúa Nukata cũng vậy, bà không hết có dịp nh́n thấy lại ngọn Miwayama (Tam Luân Sơn) xưa nay sớm chiều vẫn như ở bên cạnh ḿnh:

1-18 

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

三輪山乎 然毛隠賀 雲谷裳 情有南畝 可苦佐布倍思哉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 三輪山をしかも隠すか雲だにも心あらなも隠さふべしや

Phiên âm:

Miwayama wo / shikamo kakusu ka / kumo da ni mo / kokoro arana mo / kakusafu (kakusô) beshi ya /

Diễn ư:

Núi Miwa trong đất Yamato nhớ thương ơi, mi trốn ta như thế sao? Ta mong ngươi ít nhất cũng mang chút nỗi ḷng như đám mây dày đang trùm kín ngươi. Núi ơi, ta ngoảnh lại bao nhiêu lần để nh́n thấy mi mà nấp măi trong mây như thế à ?

Đây là bài hanka tiếp sau một chôka, thơ chia tay với núi Miwa. Núi ấy không phải một ngọn núi thường. Nó là nơi cư ngụ của của thần núi Ômiwa vốn mang xác rắn (xà thể), đáng tôn kính và cũng đáng khiếp sợ. Trong Kojiki (Cổ Sự Kư, 712) đă chép truyền thuyết (Miwayama densetsu) về thần rắn trên núi Miwa ban đêm giả dạng đàn ông đẹp trai đến thông dâm cùng con gái nhà lương dân, sáng ra lại lẻn về núi (truyện nàng Ikutama yoribime). Nàng mang thai (sau đẻ con trai ra là tổ tiên họ Miwa). Một hôm cha mẹ cô cài giây vào chéo áo để ṃ theo dấu th́ thấy người đàn ông đó đi về phía núi. Hoá ra là thần rắn Ômiwa. Do đó, bài thơ này có khi không chỉ nói lên t́nh cảm đối với kinh đô cũ nhưng có nhiệm vụ lễ nghi tôn giáo là thay mặt Hoàng tử Naka no Ôe (Tenji) để trấn yểm quỷ thần, trước tiên là thần núi Miwa, sau là chư thần toàn cơi Yamato.

Có tác giả lại suy luận rằng đây chỉ thuần túy là một bài thơ t́nh. Ngọn Miwa là Ôama, ông chồng cũ. Theo đó, tác giả chỉ tỏ nỗi ḷng se sắt và quyến luyến người xưa mà thôi.

Tạm dịch thơ:

Miwa ơi hỡi núi / Cớ ǵ lẫn trốn ta / Hay muốn trùm mây trắng / Tỏ ḷng buồn cách xa / Bao lần nh́n ngoái lại / Vẫn dấu mặt không ra /

 

Quận chúa Kagami (Kagami no Ôkimi 鏡女王)

Người chị của quận chúa Nukata là quận chúa Kagami (Kagami no Ôkimi 鏡女王), tuy địa vị cao quí, cũng là một người suốt đời t́nh cảm hẩm hiu. Ban đầu, bà được Thiên hoàng Tenji (chồng cô em) sủng ái nhưng sau lại được (bị) vua gả làm vợ chính thức cho đại thần Fujiwara no Kamatari, một công thần của ông. Chẳng ngờ số phận đen đủi, đến năm Temmu thứ 12 (Temmu là chồng trước của cô em) th́ bà lại mất. Sử thư Nihon Shoki có chép việc Temmu có thân hành ngự giá đến thăm khi bệnh bà đă nguy kịch. Công chúa Kagami đă để lại 4 bài thơ trong Man.yôshuu. Xin chọn dịch liên tiếp hai bài 4-489 và 2-92:

4-489

Dạng Man.yôgana:

風乎太尓 戀流波乏之 風小谷 将来登時待者 何香将嘆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

風をだに恋ふるは羨し風をだに来むとし待たば何か嘆かむ

Phiên âm:

Kaze wo da ni / kouru wa tomoshi / kaze wo da ni/ komu to shi mataba / nani ka nagekamu

Diễn ư:

Này cô em gái tôi ơi, nghe tiếng gió lao xao động mành cửa mà cô đă rộn ràng như thế, cô thật là người có phước. Chỉ nghe mỗi tiếng gió thôi mà ḷng đă em tôi đă dao động như vậy, chị ghen với cô đấy. Cô ḿnh c̣n được nhà vua (Thiên hoàng Tenji, chồng chung của hai ta) đoái hoài t́m đến, chứ chị đây chỉ biết thở vắn than dài.

Tạm dịch thơ:

Nghe gió em rộn ràng / Chị ước được như em / Nghe gió em c̣n đợi / Bóng quân vương đến thăm / Riêng ḷng chị nức nở / Ghen cả với t́nh em.   

Bài thơ này, quận chúa Kagami làm ra để họa lại bài thơ của cô em gái, công chúa Nukata, đă nhắc đến ở trên (4-488). Tuy không rơ bà viết bài này (4-489) vào thời nào nhưng sử chép bà hết c̣n được Thiên hoàng Tenji yêu thương nên ông mới đem gả bà cho Fujiwara no Kamatari như món quà tặng người bầy tôi đắc lực. Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chồng bà cũng thành người thiên cổ, bà phải sống trong cô pḥng, thành ra lời thơ mới năo nuột như vậy.

Cụm từ Kaze wo da ni lập lại hai lần như muốn nhấn mạnh ḷng thèm thuồng số phận của cô em tốt phúc, tăng thêm ngữ khí cho câu cuối Nani ka nagekamu. Thiên hoàng Tenji, đối tượng của cô em, ngày xưa cũng đă có thời chiều chuộng ḿnh (xin xem tiếp bài 2-92 sau đây, đánh dấu những ngày yêu đương đó). Và bà cũng đă được nhà vua ban cho một bài thơ đầy lời lẽ dịu ngọt nữa (bài 2-91). Nhưng nay chỉ c̣n tiếng kêu uất nghẹn của một người đàn bà đă đánh mất t́nh yêu, lẽ sống của ḿnh. Nhất là t́nh yêu ấy vốn âm thầm, câm nín nhưng bền bĩ:        

2-92

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

秋山之樹下隠 逝水乃 吾許曽益目 御念従者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋山の木の下隠り行く水の我れこそ益さめ御思ひよりは

Phiên âm:

Akiyama no / ko no shitagakuri / yuku mizu no / ware koso masame / omowazu yori wa

Diễn ư:

Ḍng nước nấp dưới những lớp lá rụng của rừng trên núi thu vẫn âm thầm chảy và mỗi ngày càng dạt dào thêm nhưng người bên ngoài nào có biết cho đâu. Ḷng của thiếp thương tưởng đến quân vương thật c̣n thắm thiết hơn cả tấm t́nh vô cùng quí hóa của ngài đối với thiếp nữa kia.

Tạm dịch thơ:

T́nh thiếp như nước chảy / Dưới lá rụng rừng thu / Tuôn ra dào dạt bấy / Mà ai thấy cho đâu / Quân vương dầu đoái tưởng / Nồng nàn hơn thiếp sao!

Đây là bài phụng họa bài ngự chế (2-91). Quận chúa Kagami cho biết t́nh yêu của bà cũng như ḍng nước tuy bị lá núi rụng che khuất nhưng vẫn chảy dạt dào. Lối ví von này thật nhẹ nhàng và thấm thía, ư nói thiếp câm nín, ôm nỗi khổ một ḿnh riêng không cho ai hay. Đó cũng ẩn dấu một lời trách móc nhẹ nhàng (T́nh yêu của ngài không tương xứng với t́nh yêu của thiếp). Qua hai bài thơ của bà, chúng ta h́nh dung ra được một nàng quận chúa mà sự ôn ḥa, nhu ḿ trên bề mặt che lấp một t́nh yêu đam mê và bỏng cháy trong đáy ḷng.

Ngự chế ấy (bài 2-91) của Tenji nguyên văn như sau:

2-91

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

妹之家毛 継而見麻思乎 山跡有 大嶋嶺尓 家母有猿尾 [一云妹之當継而毛見武尓] [一云 家居麻之乎]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

妹が家も継ぎて見ましを大和なる大島の嶺に家もあらましを [一云 妹があたり継ぎても見むに] [一云家居らましを]

Phiên âm:

Imo ga ie mo / tsugite mimashi wo / Yamato naru / Ôshima no ne ni / ie mo aramashi  wo / (imo ga atari / tsugite mo minu ) / (ie wo ramashi wo) /

Diễn ư:

Ta muốn măi măi nh́n được ngôi nhà em ở ! Tiếc quá, nhà em nếu ở trên đỉnh cao của Ôshima (trong vùng) Yamato th́ ta lúc nào mà chẳng được thấy em!

Thiên hoàng dùng chữ “ne” là đỉnh núi cho nên quận chuá Kagami mới đáp lại bằng akiyama (núi thu). Núi thu là một từ để chỉ nỗi buồn, cả sự chết chóc (xem thơ Hitomaro khóc vợ trong những trang sau th́ rơ). Khi ông xướng “yoku miereba ii no ni” (phải chi như thế lúc nào mà chẳng thấy) th́ bà dùng “kakuremizu” (nước khuất dưới lá rừng thu), để phủ nhận luận điệu của ông. Riêng lời thơ của ông có toát ra một cái ǵ gượng gạo và biện bạch.

Tạm dịch thơ:

Ḷng luôn luôn nghĩ tới / Ngôi nhà người em ta / Phải chi cất trên đỉnh / Cao như Ôshima / Th́ đứng đâu cũng thấy / (Đỡ khổ cảnh chia xa) /

Tiết IV: Thơ Hoàng Hậu Yamato 倭大后

Hoàng hậu Yamato (Yamato no Ôkisaki) chữ Hán viết là Nụy Đại Hậu, con gái của Hoàng thái tử Furuhito[5], cháu nội Thiên hoàng Jomei, đă được Thiên hoàng Tenji (hàng chú của bà v́ Tenji là con thứ hai của Jomei) tấn phong hoàng hậu vào năm Tenji thứ 7. Trong Man.yôshuu quyển 2, bà có 1 bài chôka và 3 bài tanka. Sau đây là 2 trong 3 bài tanka đó, đều được xếp vào loại banka (thơ điếu tang). Chữ hoàng hậu ở đây viết bằng hai chữ Hán “đại hậu” chỉ muốn cho biết bà là vợ chính (đích thê = chakusai) để phân biệt với các phi tần khác.

2-147

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天原 振放見者 大王乃 御壽者長久 天足有

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天の原振り放け見れば大君の御寿は長く天足らしたり

Phiên âm:

Ama no hara / furisake mireba / ôkimi no / mi-inochi wa nagaku / amatarashitari

Diễn ư:

Ngước nh́n lên bầu trời cao thấy trời kia cao rộng và dài lâu vĩnh cửu. V́ trời là tượng trưng cho bậc thiên tử nên thiếp chắc chắn tuổi thọ của bệ hạ cũng sẽ lâu dài như trời đất. 

Tạm dịch thơ:

Ngước nh́n lên trời cao / Bao la và cao sâu / Trời tượng trưng thánh chúa / Ḷng không nghi chút nào / Thọ mệnh của bệ hạ / Cùng trời đất dài lâu.

Đây là bài thơ nói về việc hoàng hậu Yamato khấn nguyện cho chồng là Thiên hoàng Tenji đang bị bệnh chóng b́nh phục. Người đời thượng cổ tin vào sức mạnh thần bí của bầu trời, cho rằng không gian có thể chi phối vận mệnh của con người nên sùng bái nó. Chắc lúc này triều thần đang nh́n thiên tượng để đoán việc cát hung của nhà vua và khi hoàng hậu ngước nh́n lên thấy bầu trời rộng bao la không bến bờ, bà mới quyết đoán rằng chồng ḿnh nhất định sẽ qua khỏi. Đây cũng là một lời khuyến khích chồng chiến đấu với bệnh tật. Bài thơ tuy đơn sơ, không có ǵ đặc sắc, nhưng mạnh mẽ, tràn đầy sự kính mến của bà đối với chồng.

2-148

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

青旗乃 木旗能上乎 賀欲布跡羽 目尓者雖視 直尓不相香裳

Dạng huấn độc (đă chua âm):

青旗の木幡の上を通ふとは目には見れども直に逢はぬかも

Phiên âm:

Aohata no / kohata no ue wo / kayou to wa / me ni wa miredomo / tada ni awanu kamo 

Diễn ư:

Những chiếc phướn màu xanh cắm trên lăng của nhà vua bay phất phới th́ quả là mắt của thiếp có nh́n thấy rơ ràng. Thế nhưng long nhan th́ từ đây không bao giờ được chiêm ngưỡng nữa nên ḷng thiếp buồn làm sao !

Tạm dịch thơ:

Phướn xanh bay phất phơ / Ở trên vùng lăng tẩm / Mắt thiếp nh́n rơ ràng / Riêng ḷng buồn vô hạn / V́ từ nay măi măi / Không được thấy long nhan.

Đây là sáng tác của hoàng hậu Yamato sau khi Thiên hoàng Tenji băng hà. Người đời xưa tin rằng khi người ta lâm bệnh nặng hay chết đi th́ linh hồn vất vưởng trên trời cao. V́ thế, hoàng hậu đă ngước lên trời, khấn nguyện cho chồng b́nh phục. Nay chồng đă chết, bà chỉ c̣n biết nh́n những tấm phướn màu xanh trên vùng Yamashina, nơi có lăng tẩm của ông mà nhớ về kỹ niệm những ngày thiên hoàng c̣n sống chứ sẽ không c̣n có dịp gặp nhau nữa.

Tâm trạng trong thơ rất gần gủi với sự thực ngoài đời. Nếu bài thơ trước trang trọng th́ bài này có nhiều cảm khái. Về mặt h́nh thức, có thuyết cho rằng cụm từ aoki no kohata là một từ tu sức chỉ việc tang lễ. Chữ kohata trong câu đầu có thuyết cho là cây cờ, có thuyết cho là một địa danh ở gần khu lăng tẩm.   

Tiết V: Thơ Nữ thiên hoàng Jitô持統天皇

Nữ thiên hoàng Jitô trước khi lên ngôi là con gái Thiên hoàng Tenji và hoàng hậu của Thiên hoàng Temmu.Sau khi Temmu băng, con ruột là Thái tử Kusakabe mất sớm, bà tức vị. Khoảng 7 năm sau, bà nhường ngôi cho cháu nội là Karu no Ôkimi, con trai cả của Kusakabe, tức Thiên hoàng Mommu. Mất lúc 58 tuổi. Bà là một nhà cai trị lỗi lạc, khi chết được thần dân thương tiếc (qua những bài thơ ai điếu trong lễ hỏa táng) nhưng cũng là kẻ có ư chí sắt đá và nhiều khi tàn nhẫn. Ngự chế có 4 bài tanka (trong quyển 1, 2 và 3) và 2 bài chôka (quyển 2) nhưng bài tanka trong quyển 3 không lấy ǵ làm chắc.

1-28

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春過而 夏来良之 白妙能 衣乾有 天之香来山

Dạng huấn độc (đă chua âm):

春過ぎて夏来るらし白栲の衣干したり天の香具山

Phiên âm:

Haru sugite /natsu kitarashi/ shirotae no / koromo hoshitari / ame no Kaguyama

Diễn ư:

Mùa xuân mới qua th́ mùa hạ đă đến. Trên ngọn Kaguyama linh thiêng như xuống tự trời cao, có những tấm áo trắng đẹp được đem ra phơi trên đó.

Tạm dịch thơ:

Xuân đi qua mất rồi / Hạ cũng vừa đến nơi / Bao nhiêu áo trắng đẹp / Đem hong nắng bên đồi / Ngọn Kagu linh hiển / Như hạ cánh từ trời.

Ngọn Kaguyama nằm cách cung điện Fujiwara (dời đô về đấy năm Jitô thứ 8 tức 694) của bà Jitô khoảng trên nửa cây số. Dưới bầu trời xanh lơ, trên lưng núi cây xanh lục mơn mởn, dân chúng đă đem áo trắng vừa giặt xong ra phơi nắng mới . Có thể tưởng tượng đây là lúc thời tiết giao mùa cuối xuân đầu hạ khi hoa anh đào dại (yamazakura) hăy c̣n chưa tàn trên một số cành.

Lúc này thời tiết đă ấm áp, người ta bắt đầu thay áo trắng (koromogae) cho nên cảnh tượng của một vùng chỉ toàn là những màu sắc tươi tắn nhất là khi những cánh áo trắng lấp lóa ánh nắng trong làn gió nhẹ đầu hè như những cánh bướm. Từ cung điện nh́n ra ngọn núi Kaguyama, chứng kiến cuộc sống thanh b́nh của người dân, nữ hoàng đế không khỏi cảm động, tức cảnh sinh t́nh. Bài thơ rất sống động, khung cảnh thiên nhiên như vẽ được ra trước mắt độc giả. Ngoài ra, bài thơ cũng làm người ta thấy phảng phất đâu đây h́nh ảnh diễm lệ và uy nghi của nữ hoàng bên cạnh các thị nữ và đ́nh thần.

Có những bài thơ tập trung vào cảm giác chính là thính giác như bài thơ vịnh mùa thu của Fujiwara no Toshiyuki Ason trong Kokin-shuu[6] th́ bài thơ này, cảm giác chính là thị giác. Và khi bài thơ mang lại màu sắc tươi tắn và phong phú như vậy, nó thể hiện được tâm t́nh sảng khoái, vui tươi của người trong cuộc.

Tâm t́nh của con người cổ đại đối với thiên nhiên thường tùy thuộc vào cuộc sống vật chất của họ. Thích xuân và thu nhưng lại ghét hạ và đông. Đối với những kẻ văn hóa c̣n thấp kém như người thường dân th́ hạ và đông chỉ đem lại những khó khăn và bức bách (nóng nảy, lạnh lẽo, dễ mệt mỏi lúc làm việc, khó kiếm miếng ăn). Do đó họ vui mừng khi thoát được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông hay cái nóng dữ dội của mùa hè. Do đó thơ vịnh xuân (nắng ấm) và thu (gió mát) th́ nhiều, chứ ít thấy thơ viết về hạ và đông .

Tuy nhiên, dưới triều đại Jitô, có thể sinh hoạt vật chất của người dân Nhật dễ chịu hơn trước, họ đă có khả năng nh́n được thiên nhiên như một khách thể nên mới có những bài thơ nói về mùa hạ như thế này. Cũng có khi v́ vị nữ hoàng đế này, sống trong cung điện, không hiểu hết được thực tế khó khăn của cuộc sống bên ngoài và bà chỉ thấy cái mặt tốt của mùa hạ. Tâm t́nh của bà v́ thế nên tao nhă, khác những vần thơ của đại chúng nói chung?

Bài thơ này đă được Fujiwara no Teika xem là một giai tác và tuyển như 1 trong 100 bài vào tập Hyakunin Isshu (Thơ Waka Trăm Nhà) của ông. Có một bản tương tự trong Kokin-shuu nhưng mặt phẩm chất th́ không bằng. C̣n về Kaguyama, ta c̣n thấy bài 10-1812 của Hitomaro vịnh cảnh một chiều vào tiết lập xuân có sương lam che đầu núi.

Sau đây là một bài thơ khác liên quan đến cuộc sống thường nhật trong cung đ́nh của nữ thiên hoàng:

3-236

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

不聴跡雖云 強流志斐能我 強語 比者不聞而 朕戀尓家里

Dạng huấn độc (đă chua âm):

いなと言へど強ふる志斐のが強ひ語りこのころ聞かずて我れ恋ひにけり

Diễn âm:

Ina to iedo / Shiuru shiinoga / Shiiigatari / kono koro kikazu / ware koi ni keri

Diễn ư:

Bao nhiêu lần nói ḿnh chán ngấy nên từ khước không nghe chuyện của mụ rồi, mà mụ Shii này cứ mời mọc ta nghe. Một thời gian vắng tiếng mụ, bỗng nhiên ta thấy thèm nghe trở lại, thật là chuyện lạ lùng.  

Tạm dịch thơ:

Đă bảo đà chán ngấy / Chuyện mụ kể xin thôi / Nhưng Shii cứ thế / Vẫn ép uổng khuyên mời / Bẵng đi thấy thiêu thiếu / Lại muốn gọi mụ rồi!

Đây là bài sômonka tức loại thơ hỏi thăm của Nữ thiên hoàng Jitô gửi tặng bà hầu cận già tên là Shii (Trong tập ông chú thích (xem thư mục tham khảo), Sakurai Michiru lại xếp nó vào loại zôka).

Tại sao một nữ hoàng đế đă viết những bài thơ cao sang và tinh tế như thơ nói về Kaguyama (bài 1-28) mà lại có thể viết những vần nhẹ hẫng và tầm thường như bài 3-236 này. Thật ra cả hai đều tượng trưng cho những t́nh cảnh trong cuộc sống cung đ́nh của vị nữ thiên hoàng. Bà Shii chắc là một bà già trong kataribe (ngữ bộ) tức một bộ phận nhân sự hầu cận, chuyên môn kể chuyện giải khuây cho các bậc tôn quí. Người như vậy phải có trí nhớ tốt và ăn nói thật lưu loát. H́nh như bà cũng rất được ḷng Jitô. Bài thơ của Jitô rất trôi chảy, bộc lộ được tính hài hước và rộng lượng qua sự lập đi lập lại 3 bận âm shi (hàm ư nài nĩ, cưỡng ép) trong câu: Shifuru, Shii, Shiigatari như thể muốn trêu chọc người hầu cận thân thiết của ḿnh v́ tên bà là Shii no Omina (đồng âm dị nghĩa với hai từ Shiifuru và Shiigatari trong lời thơ). Học giả Hashimoto Shinkichi bảo rằng khi gọi là Shii no ga…và giản lược tên người ḿnh gọi th́ chữ no này được cho vào để gợi ra ư thân thiết.

Bà Shii cũng hiểu ư nhà vua, đă phụng họa như sau (bài 3-237):

3-237

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

不聴雖謂 語礼々々常 詔許曽 志斐伊波奏 強<>登言

Dạng huấn độc (đă chua âm):

いなと言へど語れ語れと宣らせこそ志斐いは申せ強ひ語りと詔る

Phiên âm:

Ina to iedo / katare to katare to / norase koso / Shii iwamaose / shiikatari to noru

Diễn ư:

Đă tâu là không kể nữa mà bệ hạ cứ phán là hăy kể nữa đi, kể nữa đi. V́ đó là đ̣i hỏi của bệ hạ nên Shii tôi mới tiếp tục thưa chuyện. Thế mà ngài lại bảo là Shii cưỡng ép. Lời ngài dạy là trái với sự thật, quá sức tưởng tượng của thần.

Tạm dịch thơ:

Đă tâu không kể nữa / Quân vương cứ ép nài / Tuân lời thần tiếp tục / V́ thánh thượng khuyên mời / Nỡ ḷng nào nói ngược / Nào ai dám buộc ngài.

Nữ thiên hoàng Jitô thường gọi bà Shii (Shii no Omina) đến kể chuyện giải khuây nhưng v́ muốn làm tăng thi vị cho cuộc gặp gỡ mới viết bài thơ có tính hài hước như trên để trêu bà. Để giữ thể diện của ḿnh, bà Shii này cũng biết dí dỏm đáp lời. Bà đă khéo léo dùng câu mở đầu Ina to iedo (Đă bảo rằng không) của Jitô để mở đầu cho bài họa của ḿnh. Bài thơ này chứng tỏ được tài năng của người hầu cận già, chắc đă khiến cho nữ thiên hoàng chỉ biết cười trừ.

Tiết VI: Thơ thăm hỏi giữa Thiên hoàng Temmu 天武天皇và hoàng phi Fujiwara藤原夫人.

Trong hậu cung của cung điện Kiyomigahara ở vùng Asuka, ngoài hoàng hậu Jitô (mẹ của thái tử Kusakabe, sau là nữ thiên hoàng), Thiên hoàng Temmu c̣n có nhiều phi tần mỹ nữ như công chúa Ôta (mẹ của hoàng tử Ôtsu), công chúa Nukata... Các bà đều là những người tài mạo tuyệt vời. Theo hệ phổ định việc kế thừa hoàng vị, ông có đến 10 bà vợ chính, sinh cho ông 10 hoàng tử và 7 công chúa. Các hoàng tử ấy sau này sẽ đóng vai chính trong một cuộc huynh đệ tương tàn v́ tranh nhau ngôi báu.

Tuy tên không được kể vào 10 người vợ nói trên nhưng hoàng phi (phu nhân) Fujiwara (Fujiwara no bunin) là người được Temmu vô cùng yêu dấu. Bà tên thật là Ioe no Iratsume, con gái của đại thần Fujiwara no Kamatari. Chị ruột bà, Hikami no Otome, là một trong số 10 người vợ chính của Temmu. Hoàng phi (phu nhân) Fujiwara là một người đàn bà đầu óc thông minh, phong thái thanh lịch, rất hợp tính với Temmu. Bà đă sinh cho ông hoàng tử Niitabe no Miko. Bunin (phu nhân) là một chức danh trong hậu cung, địa vị chỉ dưới tước hậu có một nấc chứ không có nghĩa phu nhân như ngày nay.

Bà Fujiwara sống riêng ở Ôhara, một thôn làng trong vùng Asuka, phong cảnh rất đẹp. Một hôm, trời đổ tuyết lớn, Thiên hoàng dang buồn bực trống vắng giữa bọn cận thần tẻ nhạt trong cung, bèn nhớ đến người đẹp thông minh và tài hoa của ḿnh, muốn gặp bà, nên mới gửi tặng bài thơ sau đây.

2-103:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾里尓大雪落有 大原乃 古尓之郷尓 落巻者後

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が里に大雪降れり大原の古りにし里に降らまくは後

Phiên âm:

Wa ga sato ni / ôyuki fureri / Ôhara no / furinishi sato ni /furamaku wa nochi

Diễn ư:

Nơi trẫm đang ngự (cung điện Kiyomigahara), sáng hôm nay có mưa tuyết lớn, tuyết tụ lại thật nhiều, cảnh sắc trông hết sức đẹp mắt. Nơi nhà ngươi đang ở, chốn làng thôn quê mùa cổ lổ như Ôhara th́ c̣n lâu tuyết mới rơi tới nơi đấy nhé. C̣n đợi ǵ không đến đây ngắm tuyết với ta! 

Tạm dịch thơ:

Nơi cung ta tuyết lớn / Phong cảnh đẹp làm sao! Thôn làng nàng khuất nẻo / C̣n lâu tuyết mới vào / (Hăy bỏ nơi thô lậu / Đến đây ngắm tuyết nào).

Ba âm f trong fureri, furi, furamaku và hai âm ô trong ôyuki, Ôhara lập đi lập lại gây được một hiệu quả âm thanh cho bài thơ. Chê Ôhara, nơi hoàng phi ở là quê mùa, ta thấy Temmu viết bài thơ một cách đột xuất và có ư hài hước. Sau khi nhận được bài thơ này, là người tài hoa và nhanh trí, hoàng phi (phu nhân) Fujiwara đă hóm hĩnh đáp lời nhà vua. Bài thơ phụng họa của bà Fujiwara (bài 2-104) có nội dung như sau:

2-104

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

吾岡之 於可美尓言而 令落 雪之摧之 彼所尓塵家武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が岡のおかみに言ひて降らしめし雪のくだけしそこに散りけむ

Phiên âm:

Wa ga oka no / okami ni iite / furashimeshi / yuki no kudakeshi / soko ni chirikemu

Diễn ư:

Bệ hạ chỉ tự hào là nơi ngài ở, tuyết rơi nhiều (đại tuyết = ôyuki) nên cảnh sắc xinh đẹp nhưng thiếp xin thưa thật với ngài là trên đồi cao cạnh nhà thiếp đây có một vị long thần (okami, xà thần) đảm nhiệm việc phân phát gió mưa. Thiếp đă ra lệnh ông ấy ban bố cho bệ hạ một lượng tuyết cực nhỏ thôi. Ngôi nhà của thiếp mà ngài coi thường đó mới là chỗ tuyết xuất phát. Xin quân vương mau dời gót ngọc đến đây (Thật ra, tính theo đường đất bây giờ th́ Ôhara, nơi phu nhân ở, và cung điện Kiyomigahara của nhà vua chỉ cách nhau có 1km) (theo Sakaguchi Yumiko). Nghĩ cho cùng, hai người chỉ muốn ỡm ờ trêu ghẹo nhau mà thôi.

Tạm dịch thơ:

Đồi bên nhà thiếp ở / Có thần rắc gió mưa / Thiếp đă nhắn thần hăy / Tặng ngài ít tuyết thừa / (Nếu muốn xem tuyết lớn / Xa giá đến ngay cho)

Bài thơ họa của phu nhân thật là nhẹ nhàng nhưng đáo để, áp đảo được địch thủ bằng chính diện, chắc nhà vua khi đọc xong, thế nào cũng phải chịu phục là bị người đẹp trả đ̣n đau. Hai bài sômonka xướng họa này vẽ lên một cách sống động sự phong phú của cuộc sống cung đ́nh thời cổ mà không một thước phim nào có thể ghi lại được cho chúng ta.

Tiết VII: Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari 藤原鎌足

Kamatari là Nội Đại Thần, chức quan đầu triều, bạn chiến đấu với Thiên hoàng Tenji và cũng là cha vợ của Temmu (hai con gái của ông là vương phi Hikami no Otome và phu nhân Fujiwara đă được Temmu sủng ái).

1-95:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾者毛也 安見兒得有 皆人乃 得難尓為云 安見兒衣多利

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我れはもや安見児得たり皆人の得かてにすとふ安見児得たり

Phiên âm:

Ware wa mo ya / Yasumiko etari / Mina hito no / E kateni sutofu / Yasumiko etari

Diễn ư:

Ta nay đă cưới được nàng Yasumiko về làm vợ. Người đời bao nhiêu kẻ mong muốn nhưng nàng có lọt vào tay họ đâu. Chao ôi, ta lấy được cô nàng rồi!

Tạm dịch thơ:

Ngày nay ta đă cưới / Yasumiko về / Người đời bao kẻ ước / Đều thất bại năo nề / Chao ôi sung sướng quá / Rước được cô nàng về.

Qua bài thơ, ta có thể h́nh dung một cảnh rất sống động là Kamatari đang nhảy cỡn, sung sướng hạnh phúc v́ lấy được một người vợ trẻ đẹp. Có lẽ lúc đó ông đă đứng tuổi trong khi Yasumiko (tên đầy đủ là Uneme no Yasumiko) là một cung nữ trẻ hầu cận lo việc cơm nước cho Thiên Hoàng. Trên nguyên tắc, một uneme 采女 phải có dung mạo xinh đẹp và xuất thân từ hàng quí tộc, cỡ con một chức quan trấn thủ địa phương. Kiểu diễn tả như “ai nấy đều ước mơ nhưng nàng đă lọt vào tay ta” hay nhắc đi nhắc lại tên bà Yasumiko...chứng tỏ ông mừng rỡ thực sự như đứa bé con được ai cho miếng bánh. Không thấy đâu là dấu vết của một trang dũng tướng và chính trị gia lăo thành.

 

Thơ t́nh giữa chàng Sami 三方沙弥và nàng Ikuta 生羽女

Sau đây là thơ trao đổi giữa một cặp vợ chồng mới cưới khác, Sami (Mikata no Sami) và Ikuta (Sono no Omi Ikuta no Musume) (bài 2-123 và 1-124) mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa rơ là ai nhưng có lẽ là một cặp vợ chồng rất trẻ thuộc một gia đ́nh quí tộc.

2-123:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

多氣婆奴礼 多香根者長寸 妹之髪 此来不見尓 掻入津良武香

Dạng huấn độc (đă chua âm):

たけばぬれたかねば長き妹が髪このころ見ぬに掻き入れつらむか

Phiên âm:

Takebanure / takanebanagaki / imogakami / kono koro minu ni / kirei tsurakamu

Diễn ư:

Mối lần muốn bới tóc em lên cao th́ cứ tuột tay, không làm sao kết thành búi. Bẵng đi lâu ngày ta bệnh không đến gặp nàng, chẳng biết mái tóc em nay đă đủ dài để lấy lược chải lên và bới được chưa.

Tạm dịch thơ:

Xưa mỗi lần muốn bới / Tóc mượt búi không thành / Lâu ngày anh chẳng đến / (Hỏi tóc có thêm xanh) / Giờ đây đem lược chải / (Thành búi chưa, cô ḿnh?).

Sami bắt đầu đi lại (đến thăm người hôn ước hay vợ vào ban đêm ở nhà bố mẹ nàng) từ lúc mái tóc của Ikuta hăy c̣n để rẽ (con gái thời xưa từ 7, 8 tuổi đă bắt đầu để đường rẻ cho đến 15, 16 tuổi th́ búi, kiểu tóc đó gọi là furiwakegami hay unaibanari, obanari) và chưa thành búi (taba) (với tục lệ tảo hôn, con gái 12, 13 là vừa đến tuổi có thể lấy chồng). Chẳng bao lâu, Sami lâm bệnh và không lui tới với nàng được nữa. Nằm trên giường bệnh, chàng trai da diết nhớ về người vợ (hôn ước) trẻ, không biết mái tóc ngày xưa, lúc mới đến với nhau, mỗi lần muốn bới mà tay cứ vuột, nay tóc đă dài ra đủ để có thể lấy lược chải cao lên thành búi hay chưa. H́nh ảnh mái tóc đă thay thế cho h́nh ảnh nụ cười ánh mắt, những lời ân ái trao đổi với người ḿnh thương nhớ, nghĩa là tất cả kỷ niệm ngày tháng yêu đương đă qua. Nó c̣n tượng trưng cho ḍng thời gian đi qua một cách vô t́nh nữa.

Nàng Ikuta đă làm bài thơ sau đây để họa lại

1-124

Nguyên văn (dạng Manyô.gana):

人皆者今波長跡 多計登雖言 君之見師髪 乱有等母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

人皆は今は長しとたけと言へど君が見し髪乱れたりとも

Phiên âm:

Hito mina wa / ima wa nagashi to / take to iedo / kimi ga mishigami / midare tari tomo

Diễn ư:

Người chung quanh ai cũng bảo trông thấy tóc đă dài ra hẳn. Họ khuyên em nên bới lên cao nhưng mái tóc của em mà chàng từng thấy đó, cho dầu có rối bời th́ em cũng để mặc nó, không thiết ǵ.

Tạm dịch thơ;

Chung quanh ai cũng bảo / Tóc dài phải bới lên / Nhớ xưa chàng ve vuốt / Mái tóc này của em / Nên giờ em chẳng thiết / Tóc rối để y nguyên.

Tấm chân t́nh của Sami đă làm cho Ikuta cảm động. Bài thơ trả lời này có giá trị như một thang thuốc hiệu nghiệm cho người đang ở trên giường bệnh. Ikuta không sử dụng kỹ xảo, tu sức nhưng đă nói lên được t́nh yêu với người chồng xa cách (đang thời hôn ước). Ngày xưa, khi con gái đến tuổi thành nhân, lần đầu tiên bới tóc phải nhờ bàn tay của người chồng hay người hôn ước. Midaregami (tóc rối) là một h́nh ảnh tượng trưng cho nhớ nhung, tương tư và t́nh yêu nhục thể giữa trai gái, là một chủ đề lớn trong văn học Nhật. Nữ sĩ Yosano Akiko (1878-1942) đă dùng nó làm tựa đề cho một tập thơ của bà.

Tiết VIII: Thơ các công chúa Tajima, Ôku, các hoàng tử Ôtsu và Arima

Mối t́nh giữa công chúa Tajima 但馬皇女và hoàng tử Hozumi 穂積皇子

Công chúa là con gái Thiên hoàng Temmu. Mẹ bà là vương phi Fujiwara Hikami no Otome (con gái đại thần Fujiwara no Katamari), một trong 10 người vợ chính của Temmu. Như thế bà là cháu, gọi phu nhân Fujiwara “nghịch ngợm” khi viết về tuyết ở trên là d́. Bà mất năm Wadô nguyên niên (708), có để lại 4 bài thơ, tất cả đều làm theo thể tanka và đều vịnh về t́nh yêu thương quyến luyến đối với Hoàng tử Hozumi (Hozumi no Miko), người anh em cùng cha khác mẹ (mẹ Hozumi là một vương phi khác của Temmu tức công chúa Ôe). Lúc ấy công chúa Tajima đang sống (owasu) trong cung một người anh em cùng cha khác mẹ khác là Hoàng tử Takechi (Takechi no Miko).(Thời ấy, hôn nhân giữa anh em cùng cha khác mẹ, chú cháu không bị ngăn cấm cho lắm).

2-114

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

秋田之 穂向乃所縁 異所縁 君尓因奈名 事痛有登母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋の田の穂向きの寄れる片寄りに君に寄りなな言痛くありとも

Phiên âm:

Aki no ta no / homuki no yoreru / katayori ni / kimi ni yori nana / kochitakari tomo[7]

Diễn ư:

Giống như những bông lúa chín trên cánh đồng mùa thu cứ ngă về một phía, em cũng chỉ ngă một chiều về hướng anh thôi. Cho dầu người chung quanh có lời ong tiếng ve thế nào đi chăng nữa th́ em cũng để ngoài tai.

Tạm dịch thơ:

Như bông lúa đồng thu / Chỉ nghiêng về một phía / Ḷng em anh biết rơ / Chỉ tựa vào anh thôi / Dù cho ai cười cợt / Em cũng mặc tiếng đời.

Bông lúa đến mùa thu th́ chín và nặng trĩu hạt, thấy như chỉ nghiêng đầu về một phía. Nh́n thấy cảnh đồng quê như thế, cô công chúa tuy không phải là con gái nhà nông, cũng cảm thấy nó sao mà giống như in tâm sự của ḿnh. Nhưng cũng có thể công chúa Tajima đă mượn ư từ một câu ca dao đương thời. Lối “tỉ” như thế thật khéo léo và nói lên được sự quyết tâm sống chết v́ t́nh của tác giả.

Sau đây thêm một bài thơ thứ hai nói lên t́nh cảm nồng nàn của công chúa: 

2-116

Nguyên văn (dạng Man yô.gana):

人事乎 繁美許知痛美 己世尓 未渡 朝川渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

人言を繁み言痛みおのが世にいまだ渡らぬ朝川渡る

Phiên âm:

Hitogoto wo / shigemi kochitami / onogayoni / imada wataranu / asakawa wataru

Diễn ư:

V́ tiếng đời đồn đại quá đỗi phiền hà khiến cho em phải làm một việc từ khi sinh ra ḿnh chưa từng làm là lội qua con sông lạnh lẽo vào một buổi sáng tinh sương.

Tạm dịch thơ:

Tiếng đời quá phiền nhiễu / Ôi khó sống làm sao / Em đành làm một việc / (Thân gái) chưa khi nào / Lội qua sông buổi sáng / (Đến chỗ hẹn cùng nhau).

Việc công chứa đanghay sống (owasu) trong cung, có thuyết cho là đó là cách nói cung kính của người thời cổ thông báo việc bà là hoàng phi của Hoàng tử Takechi 高市皇子 chứ không có ǵ khác. Trong bài thơ thứ hai này, quyết tâm của công chúa đă bắt đầu giảm sút sau khi đă bị những lời đàm tiếu tấn công tới tấp và bắt bà hầu như phải qui hàng. Do đó, sợ mang tiếng nên khi đến chỗ hẹn (aibiki) với người yêu là hoàng tử Hozumi 穂積皇子 thay v́ đợi hoàng tử đến thăm như thông lệ thời ấy, công chúa phải đến tất tả lội qua sông lạnh lẽo để giữ sự bí mật, điều mà con người khuê các tôn trọng lễ nghi ấy chưa hề làm trong đời. Có thể nói bài thơ này của công chúa là một trong những bài thơ đầu tiên nói về cuộc sống t́nh cảm của trai gái quí tộc, mở đường cho ḍng thơ luyến ái của họ. Nó sẽ được các thi nhân cung đ́nh khai triển suốt thời trung cổ.

Mối t́nh ngang trái của hoàng tử vá công chúa không kéo dài được bao lâu. Khi công chúa Tajima mất và được an táng trên một ngọn đồi tên là Ikai no Oka trong xứ Yonabari, một ngày mùa đông, hoàng tử đứng từ xa vọng về phía đó ( ta cũng hiểu tại sao ông không dám đến gần) và ngâm mấy vần banka bi thương như sau để khóc nàng:

2-203

Nguyên văn (dạng Man yô.gana):

零雪者安播尓勿落 吉隠之 猪養乃岡之 塞為巻尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

降る雪はあはにな降りそ吉隠の猪養の岡の塞なさまくに

Phiên âm:

Furu yuki wa / awa ni na furiso / Yonabari no / Ikai no oka no / samuku aramaku ni /

Diễn ư:

Tuyết ơi, đừng rơi nhiều đến thế. Rơi chi cho lắm để người đang nằm cô đơn dưới ḷng đất trên ngọn đồi Ikai xứ Yonabari phải chịu lạnh lùng.

Yobinari , nơi có ngôi mộ của công chúa, ở Nara, phiá đông Hatsuse. Thế mới thấy t́nh yêu của hoàng tử Hozumi đối với công chúa đến lúc bà mất vẫn không hề thay đổi tuy ông là người đa t́nh, cuộc đời vướng víu nhiều bóng hồng và cũng có vẻ tự măn về phong cách Don Juan của ḿnh. Về già, ông c̣n cưới thêm bà vợ trẻ lúc đó mới mười mấy tuổi là con người tài hoa Ôtomo no Sakanoue no Iratsume, nữ thi nhân số một của thời Vạn Diệp.

Tạm dịch thơ:

Tuyết ơi, ngừng lại nhé ! / Rơi chi tội nghiệp người / Xa xôi, dưới ḷng đất / Ngủ một ḿnh trên đồi / Yonabari ấy / Lạnh buốt tấm thân côi /

Hồi nàng c̣n sống, khi yêu nhau trong nghịch cảnh, họ từng trao đổi những vần thơ.

Thơ hoàng tử (8-1513) :

今朝の朝明雁が音聞きつ春日山もみちにけらし我が心痛し

Kesa no asake / kari ga ne kikitsu / Kasugayama / momichi ni kerashi / a ga kokoro itashi /

( Sáng nay nghe chim nhạn cất tiếng kêu vang, rừng cây trên núi Kasuga lá đă chuyển sang màu đỏ. Mùa thu đến rồi đấy nhỉ. Ḷng anh thêm đau đớn). Nên nhớ tên núi Kasuga c̣n viết là “xuân nhật”.

Sáng nay tin nhàn đến / Kasuga núi cao / Cây vàng chen sắc đỏ / Thu đă đến rồi sao / Ḷng anh thêm tê tái / Nhớ em, t́nh dạt dào /.

Thơ công chúa (8-1515):

言繁き里に住まずは今朝鳴きし雁にたぐひて行かましものを [一云国にあらずは]

Kotoshigesa / sato ni sumazu wa / kesa nashiki / kari ni taguite / yukamashi mono wo (kuni ni arazu wa)

(Người ta cứ nói ra nói vào / Ở quê hương ḿnh c̣n như thế th́ làm sao sống nổi. Sáng nay nghe chim nhạn kêu, em muốn theo chim bay đi đâu mất cho xong).

Quê hương mà khó sống / Hết lời ra tiếng vào / Sáng nay nghe tin nhạn / Vọng lại tự trời cao / Muốn theo chim đi khuất / Xa xôi một cơi nào /

T́nh máu mủ giữa công chúa Ôku大伯皇女và hoàng tử Ôtsu大津皇子

Xin chuyển đoạn qua một đề tài khác, vẫn là thơ của một nàng công chúa: công chúa Oku (Oku no Himemiko). Tuy nhiên, đối tượng 2 bài thơ sau đây (2-105 và 2-106) của bà không phải là người yêu mà là cậu em ruột, Hoàng tử Ôtsu (663-686), một ông hoàng tài giỏi, khôi ngô tuấn tú, văn vơ kiêm toàn nhưng số phận bi đát.

2-105

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾勢乎 倭邊遺登 佐夜深而 鷄鳴露尓 吾立所霑之

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が背子を大和へ遣るとさ夜更けて暁露に我れ立ち濡れし

Phiên âm:

Wa ga seko wo / Yamato e yaru to / akatoki tsuyu ni / waretachi nureshi

Diễn ư:

Ta đi ra bên ngoài lúc trời đă khuya để tiễn đưa em trai ta về vùng Yamato trước ngày em quyết tâm cử sự. Sương móc trong ánh b́nh minh (akatoki) đă thấm ướt áo của ta. 

Tạm dịch thơ:

Trời khuya chị bước ra / Tiễn em về phương xa / Yamato chốn ấy / (Biết mai sau sao là) / Vừa khi ngày rựng sáng/ Sương đêm đầy áo ta.

Bài thơ vần điệu bi ai phản ánh tâm trạng năo nề của tác giả. Dĩ nhiên phải là như vậy thôi bởi v́ sự t́nh chính trị và hoàng tộc khúc mắc đă buộc Hoàng tử Ôtsu phải khởi binh mưu phản. Cuộc gặp gỡ giữa công chúa trinh nữ đền thần Ise và em trai của bà đă đến lúc chia tay. Ông ta được đưa về vùng Yamato. Tác giả không nói lên t́nh cảm cá nhân của ḿnh trong cuộc chia tay đau đớn (sẽ là vĩnh biệt ngh́n thu) nhưng chỉ diễn tả ngoại giới (sương xuống lúc hừng đông) để nói thay cho nỗi buồn vô hạn của ḿnh. Từ khi hoàng đệ c̣n ở đó cho đến lúc ông đi lâu rồi, bà vẫn c̣n đứng ngóng theo, không biết sương đêm hay nước mắt đă thấm đầy áo ḿnh.

Công chúa Ôku và Hoàng Tử Ôtsu đều là con sinh ra giữa Thiên Hoàng Temmu và một trong những vương phi của ông, Công chúa Ôta (Ôta no Himemiko, con gái của Thiên hoàng Tenji và là em gái một cha một mẹ với hoàng hậu của Temmu, người sau sẽ là Nữ thiên hoàng Jitô. Chính bà chị Jitô này là người muốn lấy thủ cấp con trai em gái). Công chúa Ôku năm mới 13 tuổi th́ đă được thần chọn qua quẻ bói để làm trinh nữ đền thần (gọi là Saiguu hay “trai cung”, người đi tu thế cho vua). Sử cũ chép 12 năm sau bà được phép về lại kinh đô rồi mất ở tuổi 41.

C̣n Hoàng tử Ôtsu, em trai bà, được mô tả là một ông hoàng nhiều đức tính, được thần dân ngưỡng mộ, nhưng những đức tính và tài năng đó lại là đầu mối cho sự bất hạnh của ông. Cũng theo sử chép lại - và người ta ngờ rằng đó là cái kế thâm độc của Jitô – một tăng sĩ đến từ Shiragi (Tân La, nay thuộc nam Triều Tiên) tên là Gyôshin (Hành Tâm) đă thấy những quí tướng của ông nên xúi giục ông nổi loạn. Ốtsu đă bị bà d́ ruột cho xử tử năm mới 24 tuổi, vừa đúng lúc, cha ông là Temmu (trị v́ 673-686) mới nằm xuống có 25 hôm. Và như một sự ngẫu nhiên, chính bà d́ ấy đă lên nối ngôi thiên hoàng (xưng chế năm 686, xưng vị năm 690. Con ruột Jitô, thái tử Kusakabe, 662-689, sinh ra thân thể đă bạc nhược, sau bị bệnh và mất sớm.

2-106

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

二人行杼 去過難寸 秋山乎 如何君之 獨越武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ふたり行けど行き過ぎかたき秋山をいかにか君がひとり越ゆらむ

Phiên âm:

Futari yukedo / Yukisugikataki / akiyama wo / ikanika kimi ga / hitori koyuramu (ran) /

Diễn ư:

Để vượt qua ngọn núi mùa thu buồn bă này dù chị em ḿnh có dắt díu nhau đi cũng đă khó khăn rồi. Cậu em yêu dấu của chị ơi, giờ đây chị đang h́nh dung em làm cách nào (ika ni ka) để có thể vượt qua núi ấy một ḿnh đây! (ở Nhật, quốc gia nhiều núi, trong ngôn ngữ, h́nh ảnh núi c̣n được dùng để chỉ sự khó khăn).

Tạm dịch thơ:

Núi mùa thu buồn bă / Dù hai đứa cùng đi / Hăy c̣n lắm gian khổ / Huống một ḿnh nói chi / Hỡi em yêu của chị / Vượt núi cách nào đây ?

Lúc chia tay, trời đă vào thu và gió gào trong cây, con đường đi từ vùng Ise, nơi công chúa đi tu, cho đến vùng Yamato, rất hiểm trở và việc cử sự của hoàng tử nhất định sẽ gặp vô vàn khó khăn, một mất một c̣n. H́nh ảnh người em đang dẫm trên lá vàng dấn bước như hiện ra trước mắt công chúa làm ḷng bà đau đớn. Không cách ǵ giúp em, bà chỉ bày tỏ tấm chân t́nh muốn làm bạn đồng hành.

Khi Hoàng tử Ôtsu bị hành h́nh, người ta đem chôn ông trên núi Futakami (Nhị Thượng Sơn, gồm hai ngọn thư và hùng, nằm giữa Ôsaka và Nara, nơi đây hăy c̣n đền thờ ông). Công chúa Ôku không được nh́n mặt em lần cuối (v́ ông là tội nhân), chỉ biết đứng từ xa nh́n về phía núi khóc người em trai bạc phước mà t́nh cảm bà đối ông gần như là t́nh yêu trai gái. Xin đọc liên tiếp 4 bài banka rất cảm động: 1-163, 164, 165 và 166.

1-163

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

神風<> 伊勢能國尓<> 有益乎奈何可来計武 君毛不有尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

神風の伊勢の国にもあらましを何しか来けむ君もあらなくに

Phiên âm:

Kamukaze no / Ise no kuni ni mo / aramashi wo / nani shika kikemu (kiken) / kimi mo aranaku ni /

Diễn ư:

Nếu biết sự thể như thế này, chẳng thà chị ở lại vùng Ise cho xong. Không hiểu sao chị lại về kinh đô làm ǵ.Em đâu c̣n là người trên dương thế nữa.

Kamukaze (bây giờ đọc kamikaze, gió thần) là từ tu sức cho Ise (thần cung Ise).

Tạm dịch thơ:

Nếu biết rơ sự thể / Thà ở lại Ise / Về kinh đô chi nữa / Để chuốc lấy ê chề / Người chị bao trông ngóng / C̣n đâu giữa cơi đời! /

1-164

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

欲見吾為君毛 不有尓 奈何可来計武 馬疲尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

見まく欲り我がする君もあらなくに何しか来けむ馬疲るるに

Phiên âm:

Mimakuhori / wa ga suru kimi mo / aranaku ni / nani shika kikemu (kiken) / uma tsukaruru ni /

Diễn ư:

Người em yêu mà chị ngày đêm mong gặp lại nay có c̣n đâu.Tại sao chỉ trở lại đây làm ǵ, mệt cả người lẫn ngựa.

Tạm dịch thơ:

Ngày đêm những mong nhớ / Em chị giờ nơi nao? / Mất bao nhiêu đường đất / Ngựa mỏn, người lao đao / Em đâu c̣n đó nữa / Muốn gặp, biết làm sao?

1-165

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

宇都曽見乃人尓有吾哉 従明日者 二上山乎 弟世登吾将見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

うつそみの人にある我れや明日よりは二上山を弟背と我が見む

Phiên âm:

Utsu somi no / hito ni aruwareya / asu yori wa / Futakamiyama wo / irose to wag a mimu /

Diễn ư:

Trên cơi trần này kể từ ngày mai trở đi, chị chỉ c̣n biết từ xa lặng ngắm ḥn núi Futakamiyama, nơi em nằm xuống, để mà tưởng nhớ.

Tạm dịch thơ:

Mai đây đến cuối đời / Chị sẽ ngắm chân trời / Futa ḥn núi ấy / Nơi em chị ngậm cười / Nhớ thương, ḷng xót măi / Làm sao thấy lại người /

1-166

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

礒之於尓生流馬酔木<> 手折目杼 令視倍吉君之 在常不言尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

磯の上に生ふる馬酔木を手折らめど見すべき君が在りと言はなくに

Phiên âm:

Iso no ue ni / ofuru ashibi wo / taoramedo / misubeki kimi ga / ari to iwa naku ni /

Diễn ư:

Chị định đưa tay hái cành hoa ashibi (hoa mă túy mộc hay hoa tiên nữ =  andromeda) mọc bên ghềnh đá, thế nhưng nghĩ dầu có hái th́ biết đưa ai xem đây v́ không ai nói với chị là em c̣n sống trên đời. 

Tạm dịch thơ:

Bên ghềnh, hoa tiên nữ / Định hái trao cho em / Nhưng tay chợt dừng lại / Biết ai người thân quen / Ngày xưa ḿnh hay tặng / Nay hết ở kề bên /

Hai bài đầu làm ra lúc Hoàng tử Ôtsu vừa chết được khoảng hơn một tháng. Lúc bà tu ở đền thần, dẫu hay tin em chết nhưng c̣n nuôi ảo vọng là nếu trở về kinh đô biết đâu c̣n gặp. Rốt cuộc, khi đến nơi, bà phải giáp mặt với hiện thực khắc nghiệt. C̣n chăng là sự đau đớn làm cho bản thân mệt mỏi, tê liệt.

Hai bài dưới làm ra khoảng vài tháng sau, lúc công chúa Ôku đă phải chấp nhận thực tế phủ phàng. Hai ngọn Futakami ở trong rặng Katsuragi gần Nara và mộ của Ôtsu nằm trên đỉnh hùng sơn, một trong hai ngọn thư và hùng. Từ đây cuộc sống mỗi ngày của bà Ôku gắn liền với quá khứ bi đát đến nổi mỗi ngày bà đều nh́n về hướng núi, và khi ngắt cành hoa ashibi trắng toát bên ghềnh đá th́ như quen tay đưa cho một người nào đó mà tưởng là cậu em trai.

Nói chung, bốn bài thơ ai điếu đều thành thực, không trau chuốt nên dễ gây xúc động.

Mối t́nh giữa Hoàng tử Ôtsu大津皇子 và tiểu thư Ishikawa石川郎女

Con người tài tuấn như Ôtsu th́ các cô gái đẹp có yêu cũng là chuyện dễ hiểu. Thế nhưng khốn nỗi, tiểu thư Ishikawa (Ishikawa no Iratsume) mà ông cũng yêu lại được người anh khác mẹ và cũng là địch thủ trong việc tranh đoạt ngai vàng, Thái tử Kusakabe, con bà d́ ruột Jitô, đem ḷng thương nhớ. Việc này cũng có thể là một phần nguyên nhân số phận bi đát mà ông gặp phải.

1-107

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

足日木乃 山之四付二 妹待跡吾立所/ <> 山之四附二

Dạng huấn độc (đă chua âm):

あしひきの山のしづくに妹待つと我れ立ち濡れぬ山のしづくに

Phiên âm:

Ashihiki no / yama no shizuku ni / imo matsu to / ware tachinurenu / yama no shizuku ni /

Diễn ư:

Nơi anh đứng đợi em, những giọt mưa sương đọng trên cây núi (như linh hồn của ḥn núi) rơi xuống từng giọt, ôi chao, chúng cứ tiếp tục rả rích nhỏ xuống người ta, những giọt nước trên núi!

Ashihiku (níu chân) là từ tu sức cho yama (núi).

Tạm dịch thơ:

Nơi anh đứng chờ em / Mưa sương rơi giọt giọt / Trên núi măi chờ em / Lách tách mưa sương ướt / Chỉ dầm mưa núi lạnh / (Nào thấy bóng em đâu!) /

1-108

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾乎待跡君之<>計武 足日木能 山之四附二 成益物乎

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我を待つと君が濡れけむあしひきの山のしづくにならましものを

Phiên âm:

Aomatsu to / kimi ga nurekemu (ken) / ashihiki no / yama no shizuku ni / naramashi mono wo /

Diễn ư:

Em đă hẹn đến gặp anh trong núi nhưng bị cản trở không làm sao đi được thành ra thất hứa. Anh ở trên đó, mưa sương rơi ướt, lạnh lẽo, em thương anh quá. Phải chi em hoá thành những giọt nước như thế để ve vuốt thân h́nh của anh.

Tạm dịch thơ:

Anh đợi em trên núi / Mưa ướt hết người anh / ( Em hẹn, không đến được / Ngồi yên dạ chẳng đành) / Những ước thành giọt nước / Rơi nhẹ xuống thân chàng /

Lúc Hoàng tử Ôtsu lén gặp tiểu thư trong núi th́ có tay thầy bói hay nhà chiêm tinh, (âm dương sư = onmyôji) bốc quẻ biết được. Người ta ngờ rẳng, thầy bói tên là Tsumori no Muraji Tôru trong câu chuyện này chỉ là một “công an mật” để theo ḍ xét hai kẻ yêu nhau. Đến khi tiểu thư Ishikawa từ chối lời cầu hôn của thái tử Kusakabe th́ có thể cô đă gắn bản án tử h́nh lên ngực người yêu cô rồi! Trong Man.yôshuu có chứng cớ về ḷng tơ tưởng đến cô của thái tử. Thái tử đă tặng cho nàng một bài thơ (bài 2- 220) để nói lên tấm t́nh nồng nàn nhưng vô vọng ấy. Trong đó, ông đă gọi tiểu thư bằng cái tên cúng cơm của cô là Ônako (大名児) chứng tỏ họ cũng biết nhau nhiều (xem thêm phân tích trong chương 7 về nguồn gốc hành động của Nữ thiên hoàng Jitô trong vụ án Ôtsu).

Hoàng tử Arima 有間皇子

Riêng về Hoàng tử Arima (Arima no Miko, Hữu Gian[8] Hoàng Tử, 640-658), một ông hoàng thứ hai, số mệnh cũng chẳng khác Ôtsu. Ông sống trước Ôtsu (Hoàng tử Đại Tân, 663-686) một hai thế hệ nhưng vận mệnh bi đát không kém, đều do thảm kịch tranh chấp ngai vàng. Con Thiên hoàng Kôtoku (Hiếu Đức, tại vị 645-654, sống 596-654), mẹ ông là bà Otarashi Hime, con gái của quan Tả đại thần Abe no Kurahashimaro. Sau 3 năm chữa bệnh (bị bắt lánh xa triều đ́nh th́ đúng hơn) ở suối nước nóng Muro ở địa phương, ông về kinh đô nhưng lại được bà bác là Nữ thiên hoàng Saimei (594-661) khuyên nên đi chữa bệnh tiếp. Rồi một hôm, khi nữ thiên hoàng và hoàng thái tử đi Ki no yu (Muro), vắng mặt ở kinh đô, đại thần Soga no Akae xúi giục ông mưu phản. Ông lại bị chính Akae bắt giữ (lại một đ̣n phản gián của cánh theo nữ thiên hoàng Saimei (và Hoàng tử Naka no Ôe, con bà và chính là Thiên hoàng Tenji trong tương lai, nhằm gài bẩy một mối đe dọa tiềm ẩn cho quyền lực của họ). Họ cho giải ông xuống Muro thẩm vấn. Ông trả lời bằng câu nói “Ta không hiểu ǵ cả. Chuyện này chỉ có ông trời và Akae biết thôi”. Hai hôm sau, ông bị xử giảo trên con dốc Fujizaka lúc mới có 19 tuổi.

Hai bài 2-141 và 2-142 mà tác giả chính là Hoàng tử Arima, nói lên t́nh cảm tự thương thân của ông v́ cảm thấy ḿnh bị hàm oan.

2-141

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

磐白乃 濱松之枝乎 引結 真幸有者 亦還見武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

磐白の浜松が枝を引き結びま幸くあらばまた帰り見む

Phiên âm:

Iwashiro no / Hamamatsu ga e wo / hikimusubi / masakiku araba / matakaeri mimu

Diễn ư:

Ngày nay ta mang tấm thân tù phạm bị giải đi, trên đường, để cầu cho ḿnh được xử vô tội, ta (có nhà chú thích cho là một người bạn) đă cột hai nhánh tùng mọc bên băi biển ở Iwashiro lại với nhau. Nếu may ta vô sự trở về th́ sẽ được nh́n thấy cành tùng được cột lại này một lần nữa.

Tạm dịch thơ:

Qua Iwashiro / Cột nhánh tùng băi biển / Ḷng những khấn sao cho / Thân ḿnh được toàn vẹn / Nếu trời cao soi thấu / C̣n thấy lại tùng xưa.

Thời xưa, người Nhật có phong tục cột hai nhánh tùng hay hai nhánh cỏ như nối kết linh hồn với sinh mệnh, để cầu thần cho ḿnh vô sự. Lúc này hoàng tử Arima đang bị quan quân giải đi. Iwashiro là địa danh vùng Wakayama, nằm trên con đường. Bộ hành thường cột như thế để cầu phúc v́ đoạn đường núi Iwashiro đến Kumano trong vùng Yoshino này rất hiểm trở. T́nh cảnh Hoàng tử Arima lúc ấy rất đáng thương v́ tuy trong tư thế là người được kế vị ngai vàng mà đă bị bà bác Saimei (mẹ của Tenji) hai lần tước đoạt quyền đó mà c̣n hạ lệnh xử thắt cổ ở cái tuổi 19, c̣n trẻ hơn cả Hoàng tử Ôtsu (chết lúc 24), một người chung cảnh ngộ sau đó. Nhiều người tỏ ra đồng t́nh với ông. Ta thấy trong Man.yôshuu có rất nhiều thơ diễn tả ḷng trắc ẩn của họ, ví dụ như thơ của Naga no Imiki no Okimaro và của Yamabe no Okura.

2-142

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

家有者 笥尓盛飯乎 草枕 旅尓之有者 椎之葉尓盛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

家にあれば笥に盛る飯を草枕旅にしあれば椎の葉に盛る

Phiên âm:

Ie ni areba / ke ni moruii wo / kusamakura /tabi ni shiareba / shii no ha ni moru

Diễn ư:

Lúc ở nhà th́ cơm được dọn ra trong vật đựng thức ăn (hộp, chén, bát). Nay trên đường lữ hành, gối đầu trên cỏ mà ngủ (màn trời chiếu đất), cơm th́ phải bày trên lá giẻ gai mà ăn.

Có thuyết cho rằng đây là bữa cơm đơn sơ ông bày ra để cúng thần (theo Sakaguchi).

Tạm dịch thơ:

Trong cung lúc dọn cơm/ Bày trên bát trên mâm / (Nay là người tù tội) / Gối cỏ thân ta nằm / (Đến bữa đâu ra bữa) / Lá giẻ bày cơm ăn.

Trong cung điện, hoàng tử được ăn cơm trắng trong những vật đựng thúc ăn mâm bát bằng vàng bạc hay sơn son nhưng nay đă là người tù tội, công sai giải đi, th́ chỉ được nếm cơm hẩm hay hạt kê bày ra trên lá rừng. Hôm qua thế nào mà hôm nay đă thế ấy. Qua sự đối chiếu hai hoàn cảnh, độc giả cảm thấy được cái ngậm ngùi của hoàng tử trước cảnh đổi đời. Đặc biệt chú ư những âm “shi” (shiareba, shii no ha) có hiệu quả âm thanh chết chóc, áp bức, nhấn mạnh nỗi buồn của tác giả.

Bài này đă được xếp vào loại thơ tang (banka) cũng cùng thể loại với bài thơ 3-416 sau đây do Hoàng tử Ôtsu làm ra trước khi từ giă cơi đời:

3-416

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

百傳 磐余池尓 鳴鴨乎 今日耳見哉 雲隠去牟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

百伝ふ磐余の池に鳴く鴨を今日のみ見てや雲隠りなむ

Phiên âm:

Momozutafu / Iware no ike ni / naku kamo wo / kefu nomi mite ya / kumogakuri namu

Diễn ư:

Tiếng vịt trời kêu trên ao Iware hôm nay có lẽ là tiếng vịt cuối cùng mà ta được nghe ấy nhỉ! Mai đây ta đâu c̣n nữa bởi v́ mây che khuất thân ta rồi.

Tạm dịch thơ:

Trên ao Iware / Ngày tháng dài bất tận / Nhưng tiếng vịt ta nghe / Chắc chỉ là lần cuối / Thân này mai sẽ khuất / Đằng sau lớp mây che.

Từ Momozutafu là một từ tu sức dùng cho Iware, ư nói thời gian lâu dài gần đầy một trăm năm (momo). Ngày 3 tháng 10 (28 tháng 10 dương lịch), hoàng tử đă bị xử h́nh và đây là bài thơ được truyền tụng như lời vĩnh biệt viết bằng waka của ông (Có một bài thơ chữ Hán nữa, đă được đăng trong thi tập Kaifuusô tức Hoài Phong Tảo (懐風藻,    751) nhưng h́nh như là một bài thơ của thi nhân Trung Quốc sao chép lại một cách vụng về). Trước giờ lâm h́nh, ông rơi nước mắt bên bờ ao (như thấy viết trong lời chú dẫn có từ xưa) nghĩ đến số mệnh ngắn ngủi “c̣n một hôm nay thôi” (kefu nomi) nhưng vẫn c̣n có thể diễn tả sự ra đi vĩnh viễn của ḿnh bằng một h́nh ảnh hoa lệ, có giá trị cách điệu cao là “mây che ta rồi” (kumogakuru). Điều đó chứng tỏ rơ ràng văn tài của ông hoàng trẻ.

 

Tiết IX: Thơ Kakimoto no Hitomaro柿本人麻呂:

Chúng ta tạm giă từ các ông hoàng bà chúa với những vần thơ đầy nhiệt t́nh và oan khuất của họ để t́m đến với một trong những nhà thơ quan trọng nhất của thời Man.yô: Hitomaro (tên đầy đủ là Kakinomoto no Hitomaro).

Con số tác giả có tên trong Man.yôshuu lên đến con số 500 người, nhưng Hitomaro là ông vua không ngai của tất cả. Ví von về ông, giáo sư Uemura Etsuko xem ông như ngọn Phú Sĩ đơn độc vượt lên cao vút giữa quần sơn. Nếu nói về số bài để lại th́ bà suy định ông có 87 bài (trong số đó, 36 bài tanka và 16 bài chôka được biết đích xác do ông viết, kỳ dư là phỏng đoán). Ông có thơ nhiều hơn các thi nhân lớn khác như các ông Akahito (50 bài), Okura (76 bài), (76 bài), Kurohito (18 bài), Kanamura (30 bài), bà Otomo no Sakanoue no Iratsume (84 bài). Tuy thua xa Yakamochi (479 bài) nhưng điều đó cũng có phần dễ hiểu v́ Yakamochi dưới mắt mọi người là nhà biên soạn chính của tuyển tập.  

Kakinomoto no Hitomaro (662-710) dưới nét bút Utagawa Kuniyoshi)
(Nguồn Wikipedia)

Tiểu sử của Hitomaro có những điểm mù mờ nhưng nói chung, người ta xem ông là một viên quan từng phụng sự hai thiên hoàng Jitô (tại vị 690-697) và Mommu (tại vị 697-707), có những hoạt động đáng kể với tư cách thi nhân cung đ́nh. Đứng về mặt lịch sử thi ca mà nói th́ ông là nhà thơ thuộc vào thời kỳ Man.yô thứ hai.

Sở dĩ ông được xưng tụng là đại thi hào (uta no hijiri = ca thánh), nhà thơ tiêu biểu của thời Man.yô, bởi v́ ông đă có những đóng góp rất to lớn cho làng thơ. Nào là đă cố định và hoàn thành được thể thơ dài gọi là chôka, phát triển và tập thành những kỹ xảo tu sức trong biểu hiện và âm nhạc hóa được thơ nên từ đó mới sinh ra cái gọi là Man.yôchô (Vạn Diệp điệu) hay âm điệu đặc biệt của Man.yô. V́ ông có ư thức quốc gia nên đă thành công trong việc nâng được ư thức ấy lên cao bằng thi ca, với sự tán đồng của đông đảo quần chúng độc giả.

Trong Man.yôshuu, theo bà Sakaguchi th́ Hitomaro có 20 chôka, 60 tanka, c̣n trong thi tập cá nhân Hitomaro Kashuu, thấy đăng lại đến 360 bài (nhưng trong đó không phải tất cả là do ông làm). Ông thạo tất cả mọi h́nh thức thơ dương thời từ tanka, chôka đến sedôka nhưng trong chôka của ông, chủ đề thường liên quan đến người và việc (nhân sự) như những bài thơ nói về cái chết của hoàng tử Hinamishi (Hinamishi no Miko no mikoto, bài 1-167) hay của hoàng tử Takechi (Takechi no Miko no mikoto, bài 2-199) hoặc thơ ai điếu công chúa Asuka (Asuka no Hime no miko, bài 2-196) cũng như những bài sáng tác khi đi qua phong cảnh hoang tàn của cố đô Ômi (bài 1-29) và ngôi nhà ở vùng Akino, nơi Hoàng tử Karu (Karu no Miko, sau này trở thành thiên hoàng Mommu, 683-707) từng trú ngụ (bài 1-45). Lại nữa, có bài ông làm ra lúc từ giă bà vợ thứ ở Iwami để hồi kinh (bài 2-131) cũng như bài thơ thương khóc người thiếp ở Karu no ichi lúc bà ta qua đời (bài 2-207).    

Tuy thường đưa t́nh cảm luyến ái vào những bài chôka như thế nhưng rơ ràng là ông hay sử dụng h́nh thức thơ cực dài (daichôka – đại trường ca) để bày tỏ trạng thái tinh thần và nói lên nhân sinh quan của ḿnh. Ư thức về quốc gia rất mạnh nơi ông, ông sùng bái Thiên hoàng, người cai trị, như một vị thần. Mỗi khi có một nhân vật trong hoàng tộc chết đi, ông đều thành thực bày tỏ ḷng ai điếu. Điều ấy phản ánh dân tộc tính của người Nhật là sự gắn bó của họ với cuộc sống trong cơi đời hiện tại. Họ yêu cuộc sống, họ mong đợi sự phồn vinh. Do đó, trước cái chết, cảnh biệt ly hay suy vi hoang tàn, họ dễ dàng cất tiếng khóc than. Họ lại xem Thiên hoàng, người có hoài băo lănh đạo quốc gia, như là trung tâm của quốc gia và h́nh ảnh kinh đô, tượng trưng cho sự xán lạn của quốc gia đó, cho nên khi thấy chỉ mới có một thời gian ngắn mà ngai vàng đă đổi chủ, cung cấm đă hoang phế điêu tàn, họ đă xúc động và thương khóc.

Thế nhưng dù ngâm lên những bài đưa tang thân tộc của thiên hoàng cũng như than khóc cảnh hoang phế của kinh đô, một con người ư thức được cái đẹp xuất phát từ xúc cảm như Kakinomoto no Hitomaro th́ không cần phải chỉ cứ diễn tả t́nh cảm bằng cách miêu tả trực tiếp cảnh vật hiện ra trước mắt như khi đứng trước cảnh chết chóc hay sự hoang phế của kinh đô. Ông c̣n gián tiếp miêu tả nó bằng cách khơi gợi những kỹ niệm sống lại từ quá khứ. Ông ca ngợi nhân cách siêu phàm, công lao hăn mă hoặc sự nghiệp vĩ đại của tiền nhân lúc sinh thời của họ để qua đó, nói lên niềm tự hào về đế đô, một thời đă vinh quang như thế nào. Khi đưa ra cái đẹp huyền ảo đă đánh mất nhưng vẫn như c̣n phảng phất đâu đây, Hitomaro mới diễn tả được trọn vẹn nỗi buồn và niềm tiếc thương của ông đối với chốn đế đô huy hoàng mà giờ đây chỉ c̣n là cảnh hoang vu đổ nát, dâng cao sự cảm động trong ḷng người đọc tới cực điểm.

Có thể nói Hitomaro là một mẫu người chuộng lư tưởng thẩm mỹ (aesthetic idealist), bài thơ nào của ông cũng có mục đích đi t́m cái đẹp.Trong những bài thơ sầu thảm ai oán như bài viết ra khi ông từ giă bà vợ thứ ở Iwami để hồi kinh hay trong bài thơ than khóc cái chết đột ngột của người thiếp ở Karu no ichi, bài nào cũng bắt đầu bằng những thanh điệu nhẹ nhàng chậm răi để rồi dần dần dâng lên dào dạt, sau đó trở nên ồ ạt, bức bách và cuối cùng kích động mạnh mẽ để đưa đến bùng nổ. Tuy nhiên, bố cục của thơ ông trong những bài như vậy rất thăng bằng, nếu nội dung của nó là 3 phần th́ thường là tự sự chiếm 2, phần c̣n lại dành cho việc mô tả t́nh cảm nội tâm.  

Ông cũng chú ư nhiều đến thiên nhiên, nhất là thông qua h́nh thức ngắn của tanka.Dù sao, Hitomaro chủ yếu vẫn là một nhà thơ giàu t́nh cảm cho nên ông đặt trọng tâm vào việc diễn tả nội tâm. Hai nhà thơ đi sau, (Yamabe no) Akahito và (Takechi no) Kurohito là những người quan sát thiên nhiên với con mắt lạnh lùng và điềm nhiên, trực cảm cái đẹp và tả cảnh bằng một lối diễn tả khách quan.

Không như họ, Hitomaro ḥa trộn thiên nhiên bên ngoài với t́nh cảm và suy tư bên trong của chính ḿnh để viết lên những vẫn thơ vừa tả t́nh vừa tả cảnh. Ông c̣n là nhà thơ biết sử dụng nghệ thuật tu từ một cách tài t́nh. Thành công về mặt ấy của ông vượt qua tất cả thi nhân đương thời. Ông biết khai thác mọi khía cạnh của kỹ xảo tu từ như các thể so sánh và trang sức makura kotoba (枕詞chẩm từ hay chữ gối đầu), jo kotoba (序詞tự từ hay chữ mào đầu), các h́nh thức tsuiku (対句đối cú), taiguu (対偶đối ngẫu), tôchi (倒逆đăo nghịch), gijinhô (人格化nhân vách hóa), on.in (音韻âm vận)…Nói cách khác, ông không tŕnh bày t́nh cảm con người trong trạng thái thô sơ nguyên thủy của nó mà biết biễu diễn bằng âm luật để tạo ra nhịp điệu và nhạc điệu riêng, đem đến cho thơ của ḿnh một nét đẹp cách điệu trang trọng và hùng tráng.

Tóm lại, nếu có đánh giá Hitomaro như thi nhân số một đời Vạn Diệp và như một trong những ngôi sao sáng nhất của làng thơ Nhật Bản th́ chắc cũng không ngoa.

Đối với nhà thơ hàng đầu này,chỉ riêng trong quyển sách mỏng của ḿnh, bà Uemura Etsuko đă dành một t́nh cảm trân trọng bằng cách t́m hiểu 8 bài thơ vừa chôka vừa tanka của ông. Bắt đầu là bài thơ ông cảm tác lúc đi qua cung điện hoang phế của cố đô Ômi nên bờ hồ Biwa.

Thơ hoài cổ của Hitomaro

1-29

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

玉手次畝火之山乃 橿原乃 日知之御世従 [或云 自宮] 阿礼座師 神之<> 樛木乃弥継嗣尓 天下 所知食之乎 或云 食来] 天尓満 倭乎置而 青丹吉 平山乎超 [或云虚見 倭乎置 青丹吉 平山越而] 何方 御念食可 [或云 所念計米可] 天離夷者雖有 石走 淡海國乃 樂浪乃 大津宮尓 天下 所知食兼 天皇之 神之御言能 大宮者 此間等雖聞 大殿者 此間等雖云 春草之 茂生有 霞立 春日之霧流 [或云霞立 春日香霧流 夏草香 繁成奴留] 百礒城之 大宮處 見者悲<> [或云 見者左夫思毛]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

玉たすき畝傍の山の 橿原の ひじりの御代ゆ [或云 宮ゆ] 生れましし 神のことごと 栂の木のいや継ぎ継ぎに 天の下 知らしめししを [或云 めしける] そらにみつ 大和を置きて あをによし奈良山を越え [或云 そらみつ 大和を置き あをによし 奈良山越えて] いかさまに思ほしめせか [或云 思ほしけめか] 天離る 鄙にはあれど 石走る近江の国の 楽浪の 大津の宮に 天の下 知らしめしけむ 天皇の 神の命の 大宮は ここと聞けども 大殿は ここと言へども 春草の 茂く生ひたる 霞立つ 春日の霧れる [或云霞立つ 春日か霧れる 夏草か 茂くなりぬる] ももしきの 大宮ところ 見れば悲しも [或云見れば寂しも]

Phiên âm:

Tamatasuki / Unebi no yama no / Kashihara no / hijiri no miyo yu / aremashishi / kami no kotogoto / tsuganoki no / iyatsugitsugi ni / ame no shita / shirashimeshishi wo / sora ni mitsu / Yamato wo okite / ao ni yoshi / Narayama wo koe / ikasama ni / omohoshishimeka / amazaru ka / hina ni wa aredo / iwabashiru / Ômi no kuni no / sasanami no / Ôtsu no miya ni / ame no shita / shirashime shikemu / sumeroki no / kami nomi koto no / ômiya wa / koko to kikedomo / ôtono wa / koko to iedomo / harukusa no / shigeku oitaru / kasumi tatsu / haruhi no kireru / momoshiki no / ômiyadokoro / mireba kanashi mo /       

Diễn ư:

Kể từ đời Thiên hoàng Jimmu tức vị ở cung Kashihara dưới chân núi Inebi đến nay, các vị thiên hoàng sinh ra đều nối tiếp nhau trị nước ở vùng Yamato. Đến đời vị thiên hoàng thứ 38 là ngài Tenji mới bỏ vùng Yamato, vượt qua ngọn núi Nara, và không biết nghĩ thế nào mà ngài đă chọn một vùng quê mùa và xa xôi là bến Ôtsu sóng gợn trong xứ Ômi để dời cung điện đến. Ta nghe người sở tại bảo hoàng cung nơi Thiên hoàng Tenji tôn quí ngự để cai trị thiên hạ là chốn này đây thế nhưng sao chẳng thấy cung điện đâu cả mà chỉ có cỏ mùa xuân mọc rậm rạp và sương xuân giăng mắc. Khi nh́n ánh nắng mùa xuân chiếu rọi mơ hồ trên dấu tích cung xưa ḷng ta không khỏi dâng lên một niềm cảm thương vô hạn.

Tạm dịch thơ:

Bên núi Unebi / Bao đời vua trị v́ / Yamato đất rộng / Triều đại ta uy nghi / Thánh thượng nẩy ư lạ / Vượt qua núi Nara / Chọn thôn làng hẻo lánh / Dời cả triều đ́nh qua / Ômi kinh đô mới / ( Cất lên ở ven hồ) / Bến Ôtsu lầu các / Sóng bủa nhẹ vào bờ / Người bảo đây cung xưa / Nhưng ta nào thấy bóng / Chỉ c̣n cỏ mọc dày / Với sương lam che mỏng / Trong nắng nhạt chiều xuân / H́nh bóng xưa phảng phất / Nh́n di tích c̣n đây / Ḷng ta buồn, quặn thắt. 

Nguyên lai, cung điện Ômi là do vị thiên hoàng đời thứ 38, Tenji, ra lệnh kiến tạo. Năm 667, Tenji đă cho dời đô về đây. Sau khi ông băng hà, con trai là Thiên hoàng trẻ Kôbun (Hoằng Văn) lên nối ngôi nhưng chỉ qua năm sau (Nhâm Thân 672) đă xảy ra cuộc biến loạn tranh chấp ngai vàng với người chú, sau này là Thiên hoàng Temmu. Cung điện Ômi v́ chiến tranh loạn lạc và v́ Temmu, kẻ thắng cuộc, lại dời đô về Asuka, nên chốn ấy trở thành hoang phế. Hơn mười năm sau cuộc chiến chấm dứt, Hitomaro nhân ghé ngang qua vùng đó, đứng trước di tích cung xưa, ông hồi tưởng lại đời thịnh trị của Tenji, đă cảm khái làm những vần thơ trên.

Cần chú ư những cách diễn đạt như tamatasuki (c̣n đọc tamadatsuki), tsuka no ki, sora ni mitsu, ao ni yoshi, sora zakaru, iwabashiru, momohiki no đều là những gối thơ (makura-kotoba) dùng để tu sức cho các danh từ đi bên cạnh nó. Ví dụ cụm từ sora ni mitsu (trời rộng nh́n không hết) là để tô điểm cho từ Yamato, với dụng ư ca tụng đất nước Đại Ḥa (Yamato) bao la rộng răi. Cụm từ momoshiki no (trăi hàng trăm lớp) th́ dùng để nói đến sự vững chắc của các lớp cây, lớp đá chồng chất lên nhau dựng thành quách cung điện ở Ômi.

Sự nghiệp của người anh hùng Tenji chỉ v́ cái loạn chú cháu tranh ngôi năm Nhâm Thân (Jinshin no Ran, 672) mà tiêu tan tất cả. Khung cảnh hoang phế của cố đô Ômi cho ta thấy cái triết lư “kẻ sống phải có lúc chết” “vinh quang cho lắm rồi cũng suy tàn”. Ômi càng tráng lệ đẹp đẽ bao nhiêu trong quá khứ th́ cảnh hoang phế hôm nay lại làm chạnh ḷng khách nhàn du bấy nhiêu. Nhất là trong đời Hitomaro, ông chắc chắn đă chứng kiến bao nhiêu tấn bi kịch chính trị xuất phát từ cuộc thay bậc đổi ngôi sau cuộc loạn Nhâm Thân.

Một thi nhân đa cảm như Hitomaro khi nh́n lớp cỏ dày phủ trên những phiến đá có thể đă lát nên nền cũ cung xưa và nh́n ánh sáng nhợt nhạt ngày xuân len qua màn sương chiếu xuống cánh đồng rộng, làm sao chẳng tưởng tượng khung cảnh trang nghiêm hoa lệ của triều đ́nh Ômi với những bậc đại thần và người hầu cận phong nhă phất tay áo rộng tấp nập ra vào. Thế rồi chỉ trong giây phút sau chúng sẽ tan biến theo tiếng chân người ngựa rầm rập đưa tất cả vào thế tu la địa ngục của chém giết. Làm sao Hitomaro không đưa ống tay áo lên gạt giọt lệ khóc thương thời thế.

Khi đọc đến bài thơ này, chúng ta không thể nào không liên tưởng được bài haikai mà nhà thơ cận đại Bashô đă viết trong Oku no hosomichi (Đường ṃn miền Oku) khi đi qua băi chiến trường xưa ở Hiraizumi và thương khóc cho cơ nghiệp oai hùng của 3 đời ḍng họ Fujiwara, hào tộc miền Đông Bắc, bị Shôgun khai sáng Mạc phủ Kamakura là Minamoto no Yoritomo tiêu diệt vào năm 1189:

夏草や兵どもが夢の跡

Natsu kusa ya / tsuwamono domo ga / yume no ato

( Vùi trong cỏ mùa hạ / Dấu vết những giấc mộng / Của đoàn xuân thời xưa).

Đại thi hào Trung Quốc, Lư Bạch (701-762), một người có lẽ sống sau Kakinomoto một hai thế hệ, cũng có hai bài thơ rất nổi tiếng nhan đề Việt Trung Hoài Cổ và Tô Đài Lăm Cổ, thương tiếc kinh đô hoang phế của Việt Vương Câu Tiễn và đài Cô Tô của Ngô Vương Phù Sai. Tuy không thuộc vào phạm vi của bài viết này, cũng xin đưa ra 2 câu cuối của mỗi bài theo thứ tự nói trên (bản dịch của Bùi Khánh Đản)[9] để quư độc giả thưởng thức và đối chiếu với thơ Nhật:

Cung nữ như hoa măn xuân điện,
Chỉ kim duy hữu giá cô phi.

(Cung nữ như hoa đầy điện ngọc,
Ngày nay chỉ thấy bóng chim đa).

Chỉ kim duy hữu Tây Giang Nguyệt,
Tằng kiến Ngô vương cung lư nhân.

(C̣n lại Tây Giang vừng nguyệt tỏ,
Từng soi người đẹp ở Tô Đài)

Sau bài trường ca của Kakinomoto nói trên (1-29) là bài hanka ( 反歌phản ca, số 1-30) nối tiếp –như trong thơ văn ngày xưa được làm ra với dụng ư chiêu hồn người chết:

1-30

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

樂浪之思賀乃辛碕 雖幸有 大宮人之 船麻知兼津

Dạng huấn độc (đă chua âm):

楽浪の志賀の辛崎幸くあれど大宮人の舟待ちかねつ

Phiên âm:

Sasanami no / Shiga no Karasaki / sakiku aredo / ômiya hito no / funemachi kanetsu

Diễn ư:

Mũi đất Karasaki ở Shiga (phía tây hồ Biwa, một gối thơ) của vùng Sasanami (Lạc Lăng楽浪, địa danh cổ), nơi có những con sóng nhẹ vỗ bờ (cũng là ư của chữ sasanami khi viết tế ba細波 hay tiểu ba 小波), tuy vẫn không có ǵ thay đổi so với ngày xưa thế nhưng dù mi (mũi đất) có ngóng măi th́ cũng bằng thừa bởi v́ sẽ không bao giờ thấy lại con thuyền của các quan nhân triều Ômi đi du ngoạn về cập bến mi nữa.

Tạm dịch thơ:

Bến Karasaki / Ở trong vùng Shiga / Sóng muôn đời tấp băi / Nào khác những ngày qua / Nhưng bến ơi, dù ngóng / Cũng hoài công đợi chờ / Thuyền vua quan nước cũ / Đă khuất với xa xưa.

Xin lạc đề một chút nhưng khi đọc đến đây, không khỏi liên tưởng đến hai câu thơ Việt Nam, không nhớ của ai, viết gần đây:

Thuyền ơi, có nhớ bến chăng?
Bến th́ một dạ, khăng khăng đợi thuyền.

Trong bài thơ này, Kakinomoto no Hitomaro đă dùng thủ pháp nhân cách hóa (gijinhô) khi ông ví doi đất Karahashi như một kẻ đợi chờ, Sự chờ đợi ấy (matsu) c̣n được gợi ư qua h́nh ảnh doi đất rợp bóng tùng (matsu) xanh, ngụ ư tấm ḷng không thay đổi. Những âm s ( sasanami, Shiga, Karasaki, sakiku aredo) lập đi lập lại, đă được sử dụng một cách khéo léo, gây được ấn tượng buồn man mác trong tâm thức người Nhật.Vùng Karasaki là một doi đất nơi có vàm sông lớn nối với hồ Biwa, ngày xưa vẫn là nơi các nhân vật triều đ́nh Ômi thả thuyền nhàn du. Cảnh vật vẫn như xưa những người xưa đâu c̣n nữa, và điều đó làm cho thi nhân chạnh ḷng hoài cựu.

Cần chú ư một điểm nữa là Sasanami 楽波vốn là âm thu ngắn của địa danh Kaguranami (Thần Nhạc Lăng神楽波) mà trong từ thần nhạc (kagura 神楽) có bao gồm âm sasa có nghĩa là nhịp điệu của loại nhạc cúng thần (hayashi 囃子). Trong địa danh Karasaki 唐崎 lại có âm saki nghĩa là may mắn, vô sự. Cả hai có dính líu đến kỹ thuật dùng kakekotoba 掛詞, chữ đồng âm dị nghĩa, làm câu thơ thêm súc tích v́ một âm chuyên chở nhiều ư nghĩa tùy theo khi đặt trong văn mạch nào. V́ thế, không ai có thể cho rằng ḿnh hiểu sâu xa thi ca một nước nếu không nắm được những qui luật ngôn ngữ của nước ấy.

Đứng trên nền cố cung Ôtsu mà hồi tưởng đến những đổi thay được mất của các triều đại, Hitomaro cảm thấy được sự mong manh và bọt bèo của kiếp người. Cùng lúc ông nhận thức được cái lâu dài, trường cửu của đại tự nhiên, vốn không hề thay đổi qua bao nhiêu biến chuyển.

Như Đỗ Phủ trong bài Xuân Vọng có lần viết: “Quốc phá sơn hà tại. Thành xuân thảo mộc thâm”, (Nước tan, sông núi c̣n đây, Thành xuân tươi tốt cỏ cây một màu)[10], con người thời Man.yô cũng mang một t́nh cảm tương tự. Mũi đất Karasaki và vàm sông rộng vẫn in bóng rẻo cao Hira và ngọn hùng sơn Hieizan. Sóng bến Ốtsu vẫn vỗ nhẹ vào bờ và tùng xanh Karasaki hăy c̣n ŕ rào trong gió nhưng vua quan triều cũ đều đă sang thế giới bên kia, đâu c̣n cập bến để kể lại những chuyện ngày xưa!

 

Thơ ai điếu cung đ́nh của Hitomaro

Là một thi nhân cung đ́nh lỗi lạc, Kakinomoto no Hitomaro thường hay được chỉ định để viết banka cho những nhân vật quan trọng của triều đ́nh, ví dụ bài thơ ai điếu hoàng tử Hinamishi 日並 (Hinamishi no Miko no mikoto, bài 1-167), người không ai khác hơn là tên kính xưng “ngang với mặt trời” của Hoàng thái tử Kusakabe ( 草壁皇太子662-689), con trai trưởng Thiên hoàng Temmu (Hoàng tử Ôtsu sinh năm 663, kém Kusakabe 1 tuổi và mẹ ông không có chức phận cao quí bằng Hoàng hậu Jitô, mẹ Kusakabe). Bài chôka 1-167 ấy và hai hanka 1-168, 1-169 có nội dung như sau đây:

1-167

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天地之 <初時> 久堅之天河原尓 八百萬 千萬神之 神集 々座而 神分 々之時尓 天照 日女之命 [一云 指上 日女之命] 天乎婆所知食登 葦原乃 水穂之國乎 天地之 依相之極 所知行 神之命等 天雲之 八重掻別而 [一云 天雲之 八重雲別而] 神下座奉之 高照 日之皇子波 飛鳥之 浄之宮尓 神随 太布座而 天皇之 敷座國等 天原 石門乎開 神上 々座奴 [一云神登 座尓之可婆] 吾王 皇子之命乃 天下 所知食世者 春花之 貴在等 望月乃 満波之計武跡 天下 [一云食國] 四方之人乃 大船之 思憑而 天水 仰而待尓 何方尓 御念食可 由縁母無 真弓乃岡尓 宮柱太布座 御在香乎 高知座而 明言尓 御言不御問 日月之 數多成塗 其故 皇子之宮人 行方不知毛 [一云 刺竹之 皇子宮人 歸邊不知尓為]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天地の 初めの時 ひさかたの 天の河原に 八百万 千万神の 神集ひ 集ひいまして 神分り 分りし時に 天照らす日女の命 [一云 さしのぼる 日女の命] 天をば 知らしめすと 葦原の 瑞穂の国を 天地の 寄り合ひの極み 知らしめす神の命と 天雲の 八重かき別きて [一云 天雲の八重雲別きて] 神下し いませまつりし高照らす 日の御子は 飛ぶ鳥の 清御原の宮に 神ながら 太敷きまして すめろきの 敷きます国と 天の原 岩戸を開き 神上り 上りいましぬ [一云 神登り いましにしかば] 我が大君 皇子の命の 天の下 知らしめしせば 春花の 貴くあらむと 望月の満しけむと 天の下 食す国 四方の人の 大船の 思ひ頼みて 天つ水 仰ぎて待つに いかさまに 思ほしめせか つれもなき 真弓の岡に 宮柱 太敷きいまし みあらかを高知りまして 朝言に 御言問はさぬ 日月の 数多くなりぬれ そこ故に 皇子の宮人 ゆくへ知らずも [一云 さす竹の 皇子の宮人ゆくへ知らにす]

Phiên âm:

Tsuchiame no / hajime no toki / hisakata no / Ama no kawara ni / yaoyorozu / chiyorozu kami no / kamutsudoi / tsudoi imashite / kamu wakari / hakarishi toki ni / Amaterasu / hirume no miko to (sashi noboru / hirumenomiko to) / ame wo ba / shirashi mesu to / ashihara no / Mizuho no kuni wo / ametsuchi no / yoriai no kiwami / shirashimesu / kami no mikoto to / amakumo no / yaekaki wakite /(amakumo no / yaekumo wakite) / kamukudashi / imasetsurishi / takaterasu / hi no miko wa / Asuka no (tofutori no) / Kiyomi no miya ni / kamu nagara / futoshikimashite / sumeroki no / shikimasu kuni to / Ama no hara / iwato wo hiraki / kamu agari / agari ima shinu (kamunobori / imashini shikaba) / wa ga ôkimi / miko no mikoto no / ame no shita / shirashimesu yo wa (shirashime shiseba) / haruhana no / tafutoku aramu to / mochizuki no / tatawashikemu to / ame no shita (wo suku ni) / yomo no hito no / ôbune no / omoi tanomite / ama tsu mizu / aogite matsu ni / ikasama ni / omo oshimeseka / tsure mo naki / mayumi no oka ni / miyabashira / futoshiki imashi / miaraka wo / takashirimashite / asakoto ni / mikoto towasanu / hitsuki no / maneku narinure / soko yue ni / miko no miyahito / yuku e shirazu mo (sasutake no / miko no miyato / yukue shirani su) /   

Diễn ư:

Từ khi trời đất bắt đầu th́ trên cánh đồng trời tức Ama no Kawara (Cao Thiên Nguyên) đă có tám bách vạn (chỉ có nghĩa là vô số) chư thần tụ họp lại để bàn luận việc cai trị. Nữ thần Amaterasu tức Thiên Chiếu trị v́ cơi trời, c̣n việc cai trị cánh đồng lau (Ashihara) của đất nước Mizuho (Nhật Bản) này th́ ngài vén mấy tầng mây lên măi đến tận cuối đất chia trời đất làm hai và cho và con cháu của mặt trời (trước tiên ám chỉ Ninigi no Mikoto tức Thiên Tôn, cháu Thiên Chiếu đă giáng lâm đầu tiên, sau lại ám chỉ Thiên hoàng Temmu) đến ngự ở cung Kiyomigahara trong vùng Asuka làm vị thần trông coi đất nước Nhật Bản. Ngài Ninigi và ngài Temmu đều hoàn thành làm công việc một cách xuất sắc và sau đó, mở cửa động đá Iwato đi lên cơi trời cao, lănh thổ của hoàng tổ, và ẩn ḿnh nơi đó.

Nay nếu được Hoàng tử Hinamishi (lạ́ thêm một hoàng tử mặt trời! LND), bậc đại vương của chúng ta, cai trị th́ cuộc đời sẽ được phồn vinh như hoa xuân, sẽ sung măn như trăng rằm. Thiên hạ bốn phương sẽ được sự trông cậy như ở trên một chiếc thuyền lớn vững chăi và ngẫng đầu lên chờ đón những giọt mưa lành nhân ái. Thế nhưng không biết ngài nghĩ thế nào mà đem xây một cung điện huy hoàng để quàn linh cữu trên ngọn đồi Mayumi no Oka vốn là một nơi chốn nào có duyên do, dính líu ǵ đối với ngài đâu. Rồi những buối sáng ngài không thức dậy để ban lời chỉ dạy nữa đă chồng chất thêm lên. Không ai chỉ đạo, từ đây đám đ́nh thần theo hầu hoàng thái tử hết c̣n biết xử trí ra sao.

Niên hiệu Jitô năm thứ 3 (689), Hoàng thái tử Kusakabe bị bệnh chết lúc mới có 28 tuổi. Sau khi cha là Temmu băng, ông với mẹ đă loại ngay địch thủ Ôtsu rồi cùng nhau trông coi quốc chính. Ông sinh được một trai là Hoàng tử Karu no Miko (683-707, sau sẽ là Thiên hoàng Mommu, trị v́ 697-707) và hai công chúa.

Ngày xưa, người ta có tục lệ quàn thi thể người chết ở một nơi gọi là hinkyuu (tẫn cung) hay araki no miya, c̣n đọc là mogari no miya, với hy vọng chờ người chết...sống dậy! Nhưng cũng có thuyết giải thích mogarimo (an táng) agari (xong rồi). Trên thực tế, nó chỉ để kéo dài thời gian khóc lóc thương tiếc. Trong chữ Hán, tẫn (thấn) có nghĩa liệm mà chưa chôn. Hitomaro có lẽ đă thay mặt triều đ́nh làm bài thơ này. Trong đó ông đă kể lễ dài ḍng lịch sử từ thời đại chư thần, ngầm ví tính chính thống của Kusakabe với Ninigi lẫnTemmu, chứng tỏ triều đ́nh Jitô lúc đó đang chịu một tổn thất rất lớn lao v́ họ vô cùng trông đợi vào Kusakabe như nhà lănh đạo quan trọng của họ.

Tạm dịch thơ:

Từ khi trời đất mở / Bên trên Cánh Đồng Trời / Chư thần họp nhau lại / Đă chia nhiệm vụ rồi / Thiên Chiếu ngự trên đỉnh / Ninigi cơi người / Thần vén mây chia nước / Đến Temmu xuống đời / Đóng đô Asuka / Kiyomihara / Để cai trị đảo quốc / Hoàn thành được mệnh trời / Sau theo đường động đá / Các ngài về trời xa / Hoàng thái tử của ta / Tiếp nối nghiệp ông cha / Nếu đại vương trị nước / Thiên hạ hẳn thái ḥa / Đời sẽ tươi hoa xuân / Tṛn tựa mảnh trăng rằm / Ḷng người có chỗ tựa / Như thuyền lớn vững vàng / Ngẫng đầu bao kẻ hứng / Những giọt mưa nhân lành /.

Chẳng ngờ Hoàng thái tử / Ngài Hinamishi / Bỗng nhiên cho xây cất / Trên đồi Mayumi / Một nơi để an nghỉ / Không ai hiểu cớ ǵ! Thế rồi bằn bặt măi / Đă bao nhiêu tháng ngày / Nằm xuống không lời dạy / Để lại lũ tôi ngay / Đ́nh thần đều ngơ ngác / ( Ngài về phương nào đây!).

1-168

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

久堅乃天見如久 仰見之 皇子乃御門之 荒巻惜毛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ひさかたの天見るごとく仰ぎ見し皇子の御門の荒れまく惜しも

Phiên âm:

Hisakata no / ame miru gotoku / aogimishi / miko no mikado no / aremaku oshimo /

Diễn ư:

Hoàng thái tử Kusakabe, người mà chúng ta ngưỡng mộ như khi ngữa mặt nh́n lên trời cao đă ra đi một cách đột ngột và thê thảm, đáng tiếc bao nhiêu, từ đây biết làm sao?

Tạm dịch thơ:

Ôi Hinamishi / Thần dân bao ngưỡng mộ / Nh́n lên ngài thấy như / Trời cao xanh rộng mở / Này đă cách xa rồi / Làm sao nguôi tiếc nhớ /

1-169

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

茜刺日者雖照者 烏玉之 夜渡月之 隠良久惜毛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

あかねさす日は照らせれどぬばたまの夜渡る月の隠らく惜しも

Phiên âm:

Akane sasu / hi wa teraseredo / nubatama no / yo wataru tsuki no / kakuraku oshimo /

Diễn ư:

Trên trời cao, mặt trời (Nữ thiên hoàng Jitô) hăy c̣n đó nhưng ánh trăng kia (Hoàng tử Kusakabe) đang băng qua bầu trời th́ đă ẩn đâu mất rồi. Hoàng tử mất đi thật đáng tiếc dường nào.

Tạm dịch thơ:

Dẫu thánh thượng c̣n đó / Như mặt trời trên đầu / Hoàng tử, vầng trăng sáng / Không biết lạc về đâu / Ḷng người bao nuối tiếc / Giờ biết nói làm sao! /

Để tiếp nối ḍng liên tưởng, xin tŕnh bày sau đây bài thơ Kakinomoto no Hitomaro đă làm khi đi qua nới trú ngụ ngày xưa của Hoàng tử Karu (Karu no Miko), con trai Hoàng thái tử Kusakabe, sau sẽ là Thiên hoàng Mommu.

1-48

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

東野炎 立所見而 反見為者 月西渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

東の野にかぎろひの立つ見えてかへり見すれば月かたぶきぬ

Phiên âm:

Himugashi no / no ni kagirohi no / tatsumiete / kaherimi sureba / tsuki kata bukinu.

Diễn ư:

Ở chân trời phía đông sắc đỏ đă nhuộm, lúc này b́nh minh như hiện ra. Ngoảnh lại bầu trời ở phía tây th́, ô ḱa, vầng trăng đang lặn về sau ngọn núi.

Tạm dịch thơ:

Nơi chân trời hướng đông / Ngày đă nhuộm sắc hồng / Phương tây nh́n ngoái lại / Ô ḱa sao lạ lùng / Trăng vàng đang xế bóng / Lặn về núi xa xăm /.   

Bài thơ này Kakinomoto no Hitomaro làm ra khi ông đi chơi vùng Akino安騎野, chốn xưa kia Hoàng tử Karu 珂瑠, c̣n viết là [11]trú ngụ. Đây là một trong những bài hanka viết tiếp sau bài chôka mang số 1-45. Himugashi no no (Cánh đồng hướng đông) dùng để chỉ chính cánh đồng nơi Kakinomoto từng có dịp tháp tùng Thái tử Kusakabe, cha của Karu đi săn bắn và qua đêm ở hành cung ngoài đồng. Sau này, ông lại có dịp đi theo người con tức Hoàng tử Karu nghỉ chân tại cánh đồng này. Do đó ông chạnh ḷng hoài cựu, xem những cuộc thay đổi trong cuộc đời giống như sự đổi chỗ của mặt trời và mặt trăng (ám chỉ những bậc tôn quí như thái tử và hoàng tử) cùng trong một đêm.

Tuy nhiên, qua bài thơ, ông cũng muốn đánh giá Karu như người đáng có thể tiếp nối sự nghiệp của người cha yểu mệnh Kusakabe. Việc mặt trời mọc lên (Karu) sau khi mặt trăng lặn (Kusakabe) là sự tuần hoàn hợp đạo lư tự nhiên. Hoàng tử Karu – sau này được bà nội (Jitô) đưa lên làm vua - tức Thiên hoàng Mommu (Văn Vũ, trị v́ 697-707, sống 683-707). Lúc đó Karu mới lên 10. Do đó bài thơ này vừa mang tính cách ai điếu vừa là một bài thơ chúc hạ.

Nữ thi sĩ Yosano Akiko[12] cũng đă chịu ảnh hưởng của câu thơ này khi nà viết “Na no hana ya / tsuki wa higashi ni / hi wa nishi ni” (Hoa cải dầu và vầng trăng ở phương đông, trong khi mặt trời ở hướng tây) nhưng phải nói rằng câu thơ của bà thiếu tính cách trữ t́nh và chiều sâu lịch sử của Kakinomoto.

Không nên quên rằng Kakinomoto no Hitomaro là một nhà thơ cung đ́nh. Ông đứng về cánh chính thống (Jitô) và bênh vực Karu trong cuộc tranh chấp ngai vàng với các hoàng tử khác.

 

Thơ t́nh của Hitomaro

4-496

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

三熊野之 浦乃濱木綿 百重成 心者雖念 直不相鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

み熊野の浦の浜木綿百重なす心は思へど直に逢はぬかも

Phiên âm:

Mi Kumano no / ura no hamayufu / momoe nasu / kokoro wa omoedo / tada ni awanu kamo /

Diễn ư:

Cỏ hamayufu mọc xanh tốt bên bờ biển vùng Kumano linh thiêng, như thể chồng lớp này lên lớp khác. Cho dù ḷng ta nghĩ về nàng cũng dày như thế nhưng cơ hội gặp gỡ thật là khó khăn.

Mi Kumano chỉ vùng phía nam Ise, và mi là một mỹ từ dể tu sức. Cỏ hamayufu đến mùa hạ, trổ bông nhỏ nhắn màu trắng như hoa higanbana, lá xanh như lá cây vạn niên thanh (omoto) phản chiếu ánh sáng mặt trời,cho nên c̣n có tên là hamaotomo hay vạn niên thanh biển. Tác giả muốn nói ḷng tưỏng nhớ của ḿnh đối với người yêu cũng nhiều như lớp cỏ dày.

Đây là bài đầu tiên trong chùm thơ 4 bài mà Hitomaro đă viết.

Tạm dịch thơ:

Như vạn niên thanh biển / Lá mọc dày biết bao / Ḷng ta thương nhớ bạn / Dày thua cỏ đâu nào / Kumano trên băi / Gặp gỡ biết khi nao? 

Tiếp đến là 3 bài sômonka, nhớ về vợ ḿnh:

4-501

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

未通女等之 袖振山乃 水垣之 久時従 憶寸吾者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

娘子らが袖布留山の瑞垣の久しき時ゆ思ひき我れは

Phiên âm:

Otomera ga / sode Furu yama no / mizukaki no / hisashiki toki yu / omoiki ware wa /

Diễn ư:

Ṿng rào của đền thần Isonogami trên Núi Vẫy Tay (Furuyama), nơi có những nàng con gái (trinh nữ đền thàn) vẫy tay áo rộng (furu sode). Nỗi nhớ thương anh trong ḷng em cũng như ṿng rào ngôi đền kia, trăi bao năm tháng nào có bao giờ thay đổi.

Vẫy tay áo rộng là một cử chỉ có tính cách tôn giáo, như gọi hồn người. Lời thơ thanh khiết hợp với h́nh ảnh trang trọng của ngôi đền, bày tỏ một tâm t́nh tĩnh lặng nhưng có chiều sâu.

Chữ Furu tên túi và furu (vẫy tay áo) vốn đồng âm dị nghĩa. Kỷ thuật tu từ này gọi là kakekotoba. Trong chữ mizukaki (ṿng rào đền thần linh thiêng) đă hàm ư hisashiki (trường cửu) rồi.

Tạm dịch thơ:

Bên ṿng rào đền xưa / Nằm ở trên đỉnh núi / Có những nàng vẫy áo / Muôn thuở gọi hồn người / Nhớ anh tự bao đời / Như rào xưa đền cũ /

 4-502

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

夏野去 小<>鹿之角乃 束間毛 妹之心乎 忘而念哉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

夏野行く牡鹿の角の束の間も妹が心を忘れて思へや

Phiên âm:

Natsu no yuku / koshika no tsuno no / imo ga kokoro wo / wasurete omoe ya /

Diễn ư:

Có thấy chăng lộc nhung vừa nhú trên đầu con nai ngoài cánh đồng mùa hạ, trong thời gian thay lộc, nó ngắn là dường nào. Vợ của ta cũng không bao giờ quên ta dù trong một khoảnh khắc ngắn bằng cái lộc nhung kia đâu.

Nh́n thấy vẻ thanh thoát của con nai đang nhởn nhơ ngoài đồng, tác giả nhớ đến cái dễ thương của vợ ḿnh.

Tạm dịch thơ:

Lộc nhung ngắn mới nhú / Trên đầu nai ngoài đồng / Ḷng của vợ ta cũng / Không ngơi phút nhớ nhung / Dầu một khoảnh khắc ngắn / Nai thay lộc ngoài đồng /

4-503

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

珠衣乃 狭藍左謂沈 家妹尓 物不語来而 思金津裳

Dạng huấn độc (đă chua âm):

玉衣のさゐさゐしづみ家の妹に物言はず来にて思ひかねつも

Phiên âm:

Tamakinu no / saisai shizumi / ie no imo ni / mono iwazu kinite / omoi kanetsu mo /

Diễn ư:

Ta sắp sửa cất bước lữ hành, bận bịu nhiều thứ. Vợ ta không vui, vùng vằng buồn thảm (chữ saisai không ai đoán rơ ư nghĩa!) Vẻ đáng yêu của nàng làm ta không đành ḷng, chẳng nói được với nàng một lời ǵ cho ra hồn mà chỉ xăm xăm bước ra.

Tamakinu saisai (tiếng sột soạt của áo xống ?) là chữ để tu sức cho từ tsuma (vợ).

Tạm dịch thơ:

Anh bận chuyện lên đường, Em vùng vằng buồn thảm / Quá thương không đành ḷng / Nói câu ǵ cho trọn ? / Một ḿnh ra đường lớn / Để vợ lại quê hương /

Chim Kasasagi (Nguồn Internet) 

Thơ biệt ly và thương khóc vợ của Hitomaro

Sau đây là 3 bài thơ biệt ly mà Kakinomoto viết ra để từ giă vợ thứ ở Iwami để trở lại kinh đô, 2 bài là hanka (2-132 và 2-133) đi sau trường ca nhan đề Iwami no umi (2-131 Biển Iwami):

Thời Kakinomoto no Hitomaro, việc đi lại rất là khó khăn. Khi ông được bổ làm quan ở vùng Iwami (nay thuộc tỉnh Shimane phía biển Nhật Bản), phải để vợ con lại kinh đô và đi một ḿnh. Để dịu bớt cô đơn, ông đă lấy thêm một người vợ khác ở nơi phó nhậm. Ở đây có lẽ là bà tên là Yosami no Otome mà lịch sử biết đến. Do đó, khi được triệu về kinh th́ ông bắt buộc để bà ở lại địa phương Iwami và thông thường, ấy là một cuộc chia ly vĩnh viễn. Ta hiểu tại sao con người đa sầu đa cảm ông không khỏi day dứt, đau đớn, ngoáy đầu nh́n lại với nỗi tiếc thương khi vượt qua ngọn núi phân chia hai miền. T́nh cảm đó được tŕnh bày trong bài chôka đi trước (bài 2-131).

2-131

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

石見乃海角乃浦廻乎 浦無等 人社見良目 滷無等 [一云 礒無登] 人社見良目 能咲八師 浦者無友縦畫屋師 滷者 [一云 礒者] 無鞆 鯨魚取 海邊乎指而 和多豆乃荒礒乃上尓 香青生 玉藻息津藻 朝羽振 風社依米 夕羽振流 浪社来縁 浪之共 彼縁此依 玉藻成 依宿之妹乎 [一云波之伎余思 妹之手本乎] 露霜乃 置而之来者 此道乃 八十隈毎 萬段 顧為騰 弥遠尓 里者放奴 益高尓 山毛越来奴夏草之 念思奈要而 志<>布良武 妹之門将見 靡此山

Dạng huấn độc (đă chua âm):

石見の海 角の浦廻を 浦なしと 人こそ見らめ 潟なしと [一云 礒なしと] 人こそ見らめ よしゑやし 浦はなくとも よしゑやし 潟は [一云 礒は] なくとも 鯨魚取り 海辺を指して 柔田津の 荒礒の上に か青なる 玉藻沖つ藻 朝羽振る 風こそ寄せめ 夕羽振る 波こそ来寄れ 波のむた か寄りかく寄り玉藻なす 寄り寝し妹を [一云 はしきよし 妹が手本を] 露霜の 置きてし来ればこの道の 八十隈ごとに 万たび かへり見すれど いや遠に 里は離りぬ いや高に 山も越え来ぬ 夏草の 思ひ萎へて 偲ふらむ 妹が門見む 靡けこの山

Phiên âm:

Iwami no umi / Tsuno no urami wo / ura nashi to / hito koso mirame / kata nashi to (iso nashi ni) / hito koso mirame / yoshi eyashi / ura wa naku to mo / yoshi eyashi kata wa (iso wa) naku to mo / isana tori / umibe wo sashite / Nikitazu no / ariso no ue ni / ka aoku ofuru / tama mo okitsu mo / asaha furu / kaze koso yorame / yuuha furu / nami koso kiyore / nami no muta / kayori kaku yori / tamamo nasu / yorineshi imo wo (hashi kiyoshi / imo ga tamoto wo ) / tsuyushimo no / okite shikureba / kono michi no / yasokuma goto ni / yorozu tabi / kaeri misuredo / iya t ô ni / sato wa sakarinu / iya taka ni / yama mo koekinu / natsukusa no / omoishinaete / shinofuramu (furan) / imo ga kado mimu (min) / nabike kono yama /

Diễn ư:

Vịnh biển của vùng Iwami, nhiều người cho rằng ở đó không có cái bến nào coi được, không có cái băi nào đẹp. Thiên hạ có nghĩ như thế cũng mặc. Cho dù không có bến có băi đẹp đi nữa, đối với ta, nó là nơi không thể thiếu. Nh́n về hướng biển ấy, ta thấy ngay chỗ ghềnh đá lởm chởm của bến Nikita, ban mai th́ gió biển giống như lũ chim đập cánh thổi lùa những mảng rong trôi dạt xanh xanh ngoài khơi, c̣n buổi chiều th́ giống như lũ chim đập cánh, gió lại xua nước ngoài khơi thành sóng tấp vào bờ. Ôi chao, theo làn sóng dập d́u lúc tiến lúc thoái, những cánh rong cũng lay động theo làn nước. Chúng xinh đẹp và quấn quít với nhau giống như người vợ đáng yêu biết bao nhiêu vẫn nằm ngủ sát bên cạnh ta, người mà ta bỏ mặc ở ngôi làng Tsuno no sato như để lại một lớp sương mai. Trên con đường lên kinh đô này,mỗi khúc quanh ta đều ngoái lại, bao nhiêu lần như thế chỉ để nh́n nàng nhưng rồi h́nh bóng ngôi làng của nàng đă khuất dần . Lần hồi ta đă tiến về rặng núi cao, rồi vượt qua và bỏ ngọn núi lại đàng sau. Có lẽ bây giờ vợ ta như cỏ mùa hè đang héo úa dưới ánh nắng mặt trời v́ đắm ch́m trong nỗi nhớ thương ta. Núi ơi, hăy nằm phục xuống, đừng chắn lối, để cho ta nh́n được từ xa cánh cửa nhà nàng.  

Vùng Iwami nằm ở tỉnh Shimane, nơi ngày nay, gió ngoài biển Nhật Bản vẫn thổi vào những kè đá lởm chởm, hoang vu. Cụm từ yoshieyasu là “nói sao ta cũng mặc” được lập lại nhiều lần nói lên sự bất cần của tác giả dù bị người đời chê bai. Tsuyushimo có nghĩa sương móc, dùng theo tu từ pháp makura kotoba để nhấn mạnh h́nh ảnh tương phản cho natsukusa (cỏ mùa hạ) và shioreru (héo úa) nói đến trong những câu sau. Tất cả đoạn dài tả cánh rong đẹp, tha thướt, uyển chuyển, sinh động như thế chỉ để qui về việc so sánh với dáng vẻ yêu kiều của người vợ ông!

Tạm dịch thơ:

Vùng biển Iwami / Người bảo làm ǵ đẹp / Chẳng có bến băi nào / Trông vừa ḷng cho được / Thôi, người có nói chi / Làm chi ta cũng mặc / Riêng chốn ấy với ta / Là nơi quan trọng nhất / Này hăy nh́n ra biển / Trên bến Nikita / Những ghềnh đá hoang sơ / (Phong cảnh thật nên thơ) / Sáng sóng đánh ngoài khơi / Như chim trời vỗ cánh / Theo làn gió ban mai / Từng mảng rong trôi dạt / Mượn cơn gió buổi chiều / Sóng lại vào bờ cát / Cùng ngọn triều lên xuống / Rong xanh cũng lượn lờ / Trông sao mà xinh xắn / Giống người vợ ta yêu / Bên nhau sáng lại chiều / Người mà ta bỏ lại / Như một hạt sương mai / Trong thôn làng nàng ở / Tsuno no sato / Rồi ta lên kinh đô / Đường đi bao quanh co / Mỗi khúc mỗi ngoái lại / Nh́n dáng người em thơ / Nhưng thôn làng dần khuất / Núi vươn cao đứng chờ / Khi ta vượt qua núi / Dấu người yêu phai mờ / Có lẽ bây giờ nhỉ / Sương mai đă héo khô / Em như cỏ mùa hạ / Tiêu điều dưới nắng trưa / V́ đắm trong thương nhớ / Người chồng măi cách xa / Núi ơi, hăy đi khuất / Chắn làm chi tầm mắt / Để ta nh́n lần nữa / Cánh cửa mái nhà xưa /    

Hai bài hanka tiếp theo –làm ra vào một khoảng thời gian sau - có dụng ư trấn tĩnh trào ḷng quá dâng cao không ḱm hăm được lúc đó:

2-132

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

石見乃也 高角山之 木際従 我振袖乎 妹見都良武香

Dạng huấn độc (đă chua âm):

石見のや高角山の木の間より我が振る袖を妹見つらむか

Phiên âm:

Iwami no ya / Takatsunoyama no / ki no ma yori / wa ga furu sode wo / imomi tsuramu (tsuran) ka /

Diễn ư:

Chẳng biết người vợ của ta ở Iwami có thấy được h́nh ảnh ta đang đứng trên núi Takatsuno, vẫy tay áo để gọi nàng hay không?

Takatsunoyama (Cao Giác Sơn) là ngọn núi có tiếng trong vùng, vượt qua đó th́ hết c̣n thấy xóm làng Tsuno no sato (Giác Lư), nơi vợ ông sống. Việc ông vượt núi là một điểm quan trọng trong bài thơ v́ thời cổ, đứng trên núi, phất tay áo có ư nghĩa như một hành động có tính cách phù thủy để gọi hồn.

Tạm dịch thơ:

Người ở Iwami / Này em, trên đường đi / Ta leo lên ḥn núi / (Ḷng chưa vơi sầu bi) / Đưa tay áo vẫy gọi / (Chắc em nào biết chi!)

2-133

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

小竹之葉者三山毛清尓 乱友 吾者妹思 別来礼婆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

笹の葉はみ山もさやにさやげども我れは妹思ふ別れ来ぬれば

Phiên âm:

Sasa no ha wa / miyama mo saya ni / sayagedomo / ware wa imo omou / wakarekinureba /

Diễn ư:

Trên con đường ṃn trong núi sâu, khi đang vượt núi, tuy nghe tiếng lá trúc con xào xạc, th́ thào trong gió, ḷng anh vẫn không dao động v́ chỉ có h́nh ảnh người vợ trẻ đang chiếm trọn tâm hồn anh thôi. Anh chưa sống với em cho thỏa ḷng mà đă phải chia tay.

Tạm dịch thơ:

Vượt núi, đường ṃn sâu / Trong gió, trúc lao xao / Nhưng ḷng anh chỉ nhớ / Bóng dáng em hôm nào / Bên nhau sống chưa thỏa / Chia tay ḷng nao nao / .

Về cách huấn độc câu thứ 3 th́ có hai thuyết. Thuyết chua thành âm midaredomo và thuyết chua thành âm sayagedomo. Nếu đọc là midaredomo th́ thiên về thị giác, c̣n đọc sayagedomo th́ thiên về thính giác. Midaredomo ư nói cảnh lá trúc lay động trên con đường núi (cảnh đẹp) làm ḷng ḿnh dao động c̣n sayagemodo ư nói tiếng lá trúc xào xạc (âm thanh quyến rũ) lôi cuốn ḿnh. Tuy nhiên tâm hồn ḿnh bây giờ chỉ đầy ắp h́nh ảnh người vợ trẻ v́ hai đứa mới sống bên nhau chưa được bao lâu mà đă phải chia ĺa. Đối với người Nhật, họ xem những âm thanh bắt đầu với âm sa hay ya rồi mi như sasa, saya, sayage, miya, midare lập đi lập lại, luyến láy với nhau gây nên một hiệu quả âm thanh và nhịp điệu đặc biệt cho bài thơ.

Tiếp sau đây là 3 bài thơ thuộc loại banka (văn ca), thương khóc người thiếp yêu ở Karu no ichi mới qua đời. Chùm thơ gồm một chôka (2-207) và hai tanka (2-208 và 2-209), được tŕnh bày liên tiếp với nhau:

2-207

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天飛也軽路者 吾妹兒之 里尓思有者 懃 欲見騰 不已行者 入目乎多見 真根久徃者 人應知見 狭根葛 後毛将相等 大船之 思憑而 玉蜻 磐垣淵之 隠耳 戀管在尓 度日乃晩去之如 照月乃 雲隠如 奥津藻之 名延之妹者 黄葉乃 過伊去等 玉梓之 使之言者 梓弓 聲尓聞而 [一云聲耳聞而] 将言為便 世武為便不知尓 聲耳乎 聞而有不得者 吾戀 千重之一隔毛 遣悶流 情毛有八等 吾妹子之不止出見之 軽市尓 吾立聞者 玉手次 畝火乃山尓 喧鳥之 音母不所聞 玉桙 道行人毛 獨谷 似之不去者 為便乎無見 妹之名喚而 袖曽振鶴 [一云名耳聞而有不得者]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天飛ぶや軽の道は 我妹子が 里にしあれば ねもころに 見まく欲しけど やまず行かば 人目を多み 数多く行かば 人知りぬべみ さね葛 後も逢はむと 大船の 思ひ頼みて 玉かぎる岩垣淵の 隠りのみ 恋ひつつあるに 渡る日の 暮れぬるがごと 照る月の 雲隠るごと 沖つ藻の 靡きし妹は 黄葉の 過ぎて去にきと 玉梓の 使の言へば 梓弓 音に聞きて [一云音のみ聞きて] 言はむすべ 為むすべ知らに 音のみを 聞きてありえねば 我が恋ふる 千重の一重も 慰もる心もありやと 我妹子が やまず出で見し 軽の市に 我が立ち聞けば 玉たすき 畝傍の山に 鳴く鳥の 声も聞こえず 玉桙の 道行く人も ひとりだに 似てし行かねばすべをなみ 妹が名呼びて 袖ぞ振りつる [一云 名のみを聞きてありえねば]

Phiên âm:

Ama tobu ya / Karu no michi wa / wagimo ko ga / sato ni shiareba / ne mo koro ni / mimaku hoshikedo / yamazu yukaba / hitome wo ohomi / maneku yukaba / hito shirinu bemi / sanekazura / nochi to awamu to / ohobune no / omohi tanomite / tamakagiru / Iwagakifuchi no / komori nomi / kohi tsutsu aru ni / wataru hi no / kurenuru ga goto / teru tsuki no / yuki gakuru goto / okitsu mo no / nabikishi imo wa / momijiba no / sugite iniki to / tamazusa no / tsukahi no ieba / azusayumi / otonikikite / iwamu sube / semu sube shirani / oto nomi wo / kikiteari eneba / wa ga kofuru / chie no hitohe mo / nagusamuru / kokoro mo ariya to / wagimoko ga / yamazu idemishi / Karu no ichi ni / wa ga tachi kikeba / tamadasuki / Unebi no yama ni / naku tori no / kowe mo kikoezu / tamahoko no / michiyuku hito mo / hitori da ni / niteshi yukaneba / sube wo nami / imo ga na yobite / sode so furitsuru.   

Diễn ư:

V́ trên con đường Karu có thôn xóm mà người vợ hiền của ta đang sinh sống nên lúc nào ta cũng nôn nóng đi về nơi đó, mong sao gặp nàng. Thế nhưng, đi lại thường xuyên th́ thiên hạ nḥm ngó và biết được mối quan hệ của chúng ta, sinh ra chuyện nói ra nói vào. Do đó, trong khi chờ đợi cơ hội sống lâu dài bên nhau, ta chỉ ấp ủ t́nh thương yêu trong ḷng không cho ai hay. Nào ngờ em như ánh mặt trời đă đi từ hướng đông qua hướng tây rồi cuối ngày lại ch́m khuất sau rặng núi. Hay là em cũng giống như ánh trăng trên bầu trời đă ẩn ḿnh sau lớp mây che. Người nhà vừa đưa tin cho biết người vợ đầu gối tay ấp của ta vừa mới vĩnh viễn ra đi. Nghe tin dữ, ngỡ ḿnh ở trong cơn ác mộng, ta bàng hoàng không biết phải làm ǵ và nói ǵ đây. Để cho vơi đi một phần trong muôn vàn nỗi nhớ thương, ta mới đến t́m đến Karu no ichi, khu chợ nơi xưa kia vợ ta vẫn thường hẹn gặp ta. Lắng tai chỉ nghe tiếng chim kêu trên núi Inebi chứ nào có được giọng nói của người vợ yêu dấu. Trên đường đi, nào thấy một ai có dung mạo tương tự như nàng. Không biết làm sao để thỏa ḷng yêu, ta chỉ biết cất tiếng gào tên và vẫy tay áo đễ gọi người.

Tạm dịch thơ:

Làng vợ yêu anh ở / Trên đường đi Karu / Ḷng anh vẫn thương nhớ / Muốn gặp em không thôi / Nếu qua qua lại lại / Anh sợ tiếng người đời / T́nh riêng đành phong kín / Đợi ngày sống chung đôi / Ngờ đâu tin dữ tới / Nghe xong luống rụng rời / Em như mặt trời sáng / Lặn ở hướng tây rồi / Em như vầng nguyệt tỏ / Khuất sau đám mây trời / Từ khi em đă mất / Ta hết đứng lại ngồi / Để vợi ḷng thương nhớ / (Mới băng núi vượt đồi) / T́m về Karu cũ / Nơi xưa ḿnh hẹn ḥ / Chỉ nghe chim rừng hót / Đâu tiếng nói câu cười / Trên đường toàn khách lạ / Nào khuôn mặt em tôi! / Phất tay ta vẫy măi / Gào tên đến nghẹn lời.  

Trong bài thơ, Kakinomoto đă sử dụng thật nhiều “chữ gối đầu” (makura kotoba) rất khó dịch nên chúng tôi đành bỏ qua và đó là một thiệt tḥi lớn cho việc thưởng thức. Ví dụ cụm từ ama tobu ya (bay bổng lên trời) để chỉ địa danh Karu (c̣n có nghĩa là nhẹ) hay momijiba (lá đổi màu thành đỏ vào mùa thu) để tô điểm cho từ sugite ita (việc đă trôi qua, sự biến đổi). Karu no ichi vốn là địa danh, chỉ một thành phố khá lớn của nước Yamato thời xưa. 

Bài thơ dài này có thể chia làm 3 phần:

Phần 1 từ câu Ama tobu ya nói sự t́nh gặp gỡ khó khăn và ḷng ước mơ xây dựng tổ ấm với nhau lúc người yêu c̣n sống. Phần 2 từ câu Wataru hi bày tỏ sự kinh ngạc, bàng hoàng khi nghe tin nàng mất cũng như t́nh cảm bi ai thống thiết của ḿnh. Phần 3 từ câu Wagimo ko cho đến cuối nói đến cảnh trở về Karu no ichi, chốn hẹn ḥ xưa để t́m lại khuôn mặt và giọng nói của nàng nhưng vô vọng, đành gào khóc tên nàng và phất tay vẫy gọi. T́nh cảm dần dần lên cao điểm và như bùng nổ ra trong câu cuối. Theo nhà nghiên cứu Uemura Etsuko, hoàn cảnh của Kakinomoto lúc đó cũng giống như của nhân vật Sumi Ryuunosuke khi khóc người vợ trẻ là cô Rui trong tiểu thuyết Tajô takon ( Đa t́nh đa hận ) của nhà văn thời Meiji là Ozaki Kôyô (1867-1903)

2-208

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

秋山之黄葉乎茂 迷流 妹乎将求 山道不知母 [一云 路不知而]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋山の黄葉を茂み惑ひぬる妹を求めむ山道知らずも [一云道知らずして]

Phiên âm:

Akiyama no / momiji wo shigemi / madohinuru / imo wo motomemu / yamaji shirazu mo.

Diễn ư:

Lá đỏ mọc dày khoe sắc trong núi thu. (Ở đây lá đỏ lại viết với hai chữ Hán hoàng diệp nhưng cùng đọc với âm kôyô như trường hợp hồng diệp). Ta muốn đi kiếm người vợ đi hái lá thu có lẽ lạc lối chưa về nhưng tiếc làm sao, ta cũng không biết đường đi trong núi nên không t́m ra nàng.

Tạm dịch thơ:

Em đi vào trong núi / Rừng thu lá đỏ chen / Lạc hướng, không về nữa / Ngơ ngác, anh đi t́m / Mịt mùng nào thấy lối. (Làm sao gặp, hỡi em?)

Người vợ của Kakinomoto sau khi chết có lẽ đă được chôn trong núi nhằm lúc mùa thu đă tô sắc đỏ lên khắp núi đồi. Ông ví bà như một kẻ đi hái lá thu trong núi rồi lạc hướng, t́m không ra lối về, để mỹ hóa cái chết của bà.

2-209

Nguyên tác (dạng Man.yôgana):

黄葉之 落去奈倍尓 玉梓之 使乎見者 相日所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

黄葉の散りゆくなへに玉梓の使を見れば逢ひし日思ほゆ

Phiên âm:

Momiji ba no / chiriyuku nae ni / tamazu sa no / tsukai wo mireba / ahishi hi omohoyu

Diễn ư:

Khi lá đỏ rơi và ngập đầy trong núi là lúc vợ ta qua đời cho nên khi đọc cái tin dữ do người đưa thơ mang lại, ta nhớ đến kỹ niệm bên nhau với nàng lúc sinh thời mà ḷng buồn thương vô hạn.   

Tạm dịch thơ:

Người bỏ ta ra đi / Vừa khi thu đổ lá / Buồn trông sắc vàng rụng / Rồi nh́n người đưa tin / Nhớ lúc ḿnh kề bên / Thương một trời kỷ niệm.

Cụm từ tamazusa có nghĩa là cây gậy đẹp, được sử dụng như một từ tu sức cho tsukai (người đưa tin) v́ tama có nghĩa là đẹp và ngày xưa các sứ giả đều cầm gậy bằng gỗ tử (tsusa).

Nỗi buồn của người ở lại sau khi mất vợ cũng thấy trong các bài 2-210, 2-211 v à 2-212. Lời chú thích đời xưa viết là ông “thương xót, khóc đến chảy máu mắt”! Có người đặt giả thuyết xem “người vợ” ấy là Yosami no Otome ở Iwami (tỉnh Shimane), chết lúc ông đi vắng nhà và ông không rơ bà chôn cất hay rắc tro hỏa táng ở đâu, dưới sông hay trên núi ...nhưng cách giải thích đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục.

2-210

Nguyên tác (dạng Man.yôgana):

打蝉等念之時尓 [一云 宇都曽臣等 念之] 取持而 吾二人見之 T出之堤尓立有 槻木之 己知碁<>乃枝之 春葉之 茂之如久 念有之 妹者雖有 <憑有>之兒等尓者雖有 世間乎 背之不得者 蜻火之 燎流荒野尓 白妙之 天領巾隠 鳥自物 朝立伊麻之弖 入日成 隠去之鹿齒 吾妹子之 形見尓置有 若兒<> 乞泣毎取與 物之無者 <烏徳>自物 腋挟持 吾妹子与 二人吾宿之 枕付 嬬屋之内尓 晝羽裳 浦不樂晩之 夜者裳 氣衝明之嘆友 世武為便不知尓 戀友 相因乎無見 大鳥<> 羽易乃山尓 吾戀流 妹者伊座等人云者 石根左久見<> 名積来之 吉雲曽無寸 打蝉等念之妹之 珠蜻 髣髴谷裳 不見思者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

うつせみと 思ひし時に [一云 うつそみと 思ひし] 取り持ちて我がふたり見し 走出の 堤に立てる 槻の木の こちごちの枝の 春の葉の 茂きがごとく 思へりし 妹にはあれど 頼めりし 子らにはあれど 世間を 背きしえねば かぎるひの燃ゆる荒野に 白栲の 天領巾隠り 鳥じもの 朝立ちいまして 入日なす 隠りにしかば 我妹子が 形見に置ける みどり子の 乞ひ泣くごとに 取り与ふ 物しなければ男じもの 脇ばさみ持ち 我妹子と ふたり我が寝し 枕付く 妻屋のうちに 昼はも うらさび暮らし 夜はも 息づき明かし 嘆けども 為むすべ知らに 恋ふれども 逢ふよしをなみ大鳥の 羽がひの山に 我が恋ふる 妹はいますと 人の言へば 岩根さくみて なづみ来し よけくもぞなき うつせみと 思ひし妹が 玉かぎる ほのかにだにも 見えなく思へば

Phiên âm:

Utsusemi to / omoishi toki ni / torimochite / wa ga futari mishi / hashiride no / tsutsumi ni tateru / tsuki no ki no / kochigochi no e no / haru no ha no / shigeki ga gotoku / omoerishi / imo ni wa aredo / tanomerishi / kora ni wa aredo / yo no naka wo / somuki shieneba / kagiruino / moyuru arano ni / shirotae no / amairegakuri / toriji mono / asadachi imashite / irihi nasu / kakuri ni shikaba / wagimo ko ga / katami ni okeru / midori ko no / koi naku goto ni / tori atau / mono shinakereba / otokojimono / wakibasami mochi / wagimoko to / futari wa ga neshi / makurazuku / tsumaya no uchi ni / hiru wa mo / urasabi kurashi / yoru wa mo / ikizuki akashi / nagekedomo / semu sube shira ni / kouredomo / au yoshi wo nami / ôtori no / Hagai no yama ni / a ga kouru / imo wa imasu to / hito no ieba / iwane saku mite / nazumi koshi / yokeku mo zo naki / utsusemi to / omoishi imo ga / tama kagiru / hono ka ni da ni mo / mienaku omoeba /  

Diễn ư:

Khi vợ ta c̣n ở trên dương thế, chúng ta nhiều lần nắm tay đứng trên đê nh́n lên cây tsuki (hay keyaki = zelkova = một loài cây lớn mọc ở xứ lạnh, được trồng trước nhà để chắn gió), xanh um tỏa cành lá giữa mùa xuân. Tưởng được như cây xanh tốt, người vợ mà ta tin yêu sẽ sống lâu dài bên ta. Nào ngờ, cuộc đời quá đổi vô thường, không ai đi ngược ḍng định mệnh. Nàng bây giờ như đă khoác manh vải trắng ẩn trong cánh đồng khô dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Tuy nàng không phải là chim nhưng sáng ra đi tối lại về và nấp đâu mất rồi. Vật kỹ niệm nàng để lại chỉ là đứa con thơ. Mỗi lần nó muốn ǵ khóc đ̣i ta, ta chẳng biết lấy ǵ để dỗ dành nó cả. Thân đàn ông mà bên nách lại đèo thêm đứa con. Ta sống trong gian pḥng xưa kia vợ chồng ta vẫn chung chăn gối, ngày th́ cô đơn buồn khổ, đêm đến không nén được tiếng thở dài chờ sao mau cho trời sáng. Biết rằng than khóc cho lắm cũng chẳng thay đổi điều chi nhưng ḷng thương nhớ ấy không thể phôi pha.Ta nghe có người nói vợ ta đang ở trên ḥn núi Hagai no yama (Vũ Dịch Sơn, ngọn núi h́nh cánh chim lớn giăng ra) nên ta mới vượt núi trèo non để t́m đến nơi nhưng đâu được việc ǵ. Tưởng rằng vợ ta hăy c̣n là ở cơi người nhưng tất cả chỉ là ảo tưởng. Cơi sống và cơi chết thật hoàn toàn ngăn cách.

Trước tiên, tác giả đă hồi tưởng lại cảnh lúc vợ ḿnh sinh tiền, sau nói về cái chết của bà, nỗi tiếc thương và về đứa con của hai người mà bà để lại. Sau đó, v́ quá thương nhớ mới nghe người khuyên lên núi cao t́m dấu nàng nhưng đành trở về trong vô vọng.

Tạm dịch thơ:

Hồi em c̣n trên đời / Nắm tay cùng dạo chơi / Trên bờ con đê rợp / Bóng tsuki xinh tươi / Tưởng như cây xanh lá / Ḿnh sẽ măi chung đôi / Định mệnh sao nghiệt ngă / Hai đứa đà hai nơi / Nhưng ai cải được số / Khi sống ở trên đời / Em choàng khăn vải trắng / Ẩn trong cánh đồng khô / Dưới ánh mặt trời trưa / Nóng như thiêu như đốt / Em ơi, nào như chim / Mà sáng sớm bay đi / Chiều lại vào núi thẳm / Kỷ niệm có c̣n chăng / Là đứa con thơ dại / Dù nó khóc nó đ̣i / Biết làm sao an ủi / Đàn ông một nách mang / Có cách ǵ dạy dỗ / Ta về căn pḥng xưa / Từng bên nhau hai đứa / Đêm khó nén thở dài / Ngày cô đơn buồn khổ / Chăn gối để lạnh lùng / Chỉ cầu cho chóng sáng / Biết rằng than khóc măi / Chẳng đổi được mệnh trời / Nhưng thương nhớ khôn nguôi / Qua bao nhiều ngày tháng / Người bảo lên non cao / Sẽ t́m ra bóng dáng / Của người vợ ta yêu / Nhưng chỉ là ảo tưởng / Dù vượt thác băng ghềnh / Vẫn hoài công vô ích.   

2-211

Nguyên tác (dạng Man.yôgana):

去年見而之秋乃月夜者 雖照 相見之妹者 弥年放

Dạng huấn độc (đă chua âm):

去年見てし秋の月夜は照らせれど相見し妹はいや年離る

Phiên âm:

Kozo miteshi / aki no tsukiyo wa / terasedomo / aimishi imo wa / iya toshisakaru /

Diễn ư:

Trăng thu năm nay trên trời đêm vẫn sáng như năm nào nhưng ngựi em cùng ngắm với ta chung một vầng trăng ấy giờ đă chết đi mất rồi.

Tạm dịch thơ:

Trăng đêm nay ta ngắm / Giữa khung trời thu cao / Vẫn là trăng năm cũ / Đẹp có khác chi nào / Mỗi người xưa cùng ngắm / Giờ biền biệt nơi đâu ! /

2-212

Nguyên tác (dạng Man.yôgana):

衾道乎引手乃山尓 妹乎置而 山徑徃者 生跡毛無

Dạng huấn độc (đă chua âm):

衾道を引手の山に妹を置きて山道を行けば生けりともなし

Phiên âm:

Fusumaji wo / Hikide no yama ni / imo wo okite / yamaji wo yukeba / ikeri tomo nashi /

Diễn ư:

Để người vợ một ḿnh lại trên núi Hikide (Dẫn Thủ Sơn hay Núi Dắt Tay). Đường núi phải đi một ḿnh thật không thiết tha chút nào cả (Không muốn đi đoạn đường đời một ḿnh mà không có nàng bên cạnh).

Tạm dịch thơ:

Bỏ em lại không dắt / Trên núi Hikide / Đi một ḿnh lầm lủi / Anh nào có thiết chi / (Đường đời nay lẻ bạn / Hạnh phúc hỏi mong ǵ!) /

Chim cút (Nguồn Internet)

 

Thơ Hitomaro tháp tùng ngự du

Hitomaro tuy là chức quan nhỏ nhưng được tin cẩn, có hân hạnh đi theo hầu các cuộc ngự du của Thiên hoàng và để lại nhiều áng thơ hay dù là thơ thù tạc. Sau đây là 3 bài thơ làm hồi theo ngự giá (Jitô) dạo thuyền ở Ami no Ura:

1-40

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

鳴呼見乃浦尓船乗為良武 D嬬等之 珠裳乃須十二 四寳三都良武香

Dạng huấn độc (đă chua âm):

嗚呼見の浦に舟乗りすらむをとめらが玉裳の裾に潮満つらむか

Phiên âm:

Ami no ura ni / funanori suramu (ran) / otomera ga / tamamo no suso ni / shiomitsuramu (ran) ka /

Diễn ư:

Những nàng con gái trẻ đẹp (cung nữ, nữ quan), có lẽ đang cùng ngài dạo thuyền trên băi biển Ami no Ura. Không biết nước triều dâng lên có làm ướt những tấm váy (màu đỏ) đẹp rực rỡ các nàng mặc hay không?

Đây là bài đầu trong 3 liên tác mà Hitomaro làm ra khi tháp tùng Nữ thiên hoàng Jitô tuần du ở Ise và ở qua đêm tại cung Asuka Kiyomihara. Chữ ramu (ran) thấy ở cuối 3 bài có nghĩa “phải chăng bây giờ đang diễn ra cảnh đó?”. H́nh ảnh sóng đánh ướt váy áo các nàng cung nữ có tính cách trữ t́nh và táo bạo.

Tạm dịch thơ:

Hỡi những cô kiều diễm / Theo ngài ngự dạo thuyền / Ami qua bến ấy / Biển dậy nước mênh mông / Ướm hỏi, khi sóng cợt / Có tạt ướt váy hồng ?/

1-41

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

釼著手節乃埼二 今<>毛可母 大宮人之 玉藻苅良<>

Dạng huấn độc (đă chua âm):

釧着く答志の崎に今日もかも大宮人の玉藻刈るらむ

Phiên âm:

Kushiro tsuku / Tafushi no saki ni / kyô mo kamo / ômiyahito no / tamamo karu ramu (ran) /

Diễn ư:

Hôm nay, ở doi đất mang tên là Tôshinosaki dó, chắc các vị công khanh trong cung vẫn c̣n đi cắt rong đẹp bên bờ (ám chỉ việc dạo chơi trên băi biển)?

Từ Kushiro ở đầu bài thơ c̣n được hiểu như đeo ṿng cổ tay (kushiro) làm ta liên tưởng tới những cổ tay (Tôshi là địa danh đă đành nhưng c̣n có thể đọc cách khác là tefushi hay ống tay. Người đọc thơ có thể mường tượng những cổ tay đeo ṿng trang sức nữa.

Tạm dịch thơ:

Tôshi doi đất ấy / Ngày nay biết c̣n không ? / Nhớ bao tay áo thụng / Hàng hàng lớp công khanh / Dạo chơi bên băi biển / H́nh bóng cũ đầy ḷng /

1-42

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

潮左為二五十等兒乃嶋邊 榜船荷 妹乗良六鹿 荒嶋廻乎

Dạng huấn độc (đă chua âm):

潮騒に伊良虞の島辺漕ぐ舟に妹乗るらむか荒き島廻を

Phiên âm:

Shiosai ni / Irago no shima e / kogu fune ni / imo noruramu (ran) ka / araki shimani wo /,

Diễn ư:

Bây giờ khi ngọn thủy triều lên lao xao, chiếc thuyền ngự chèo chung quanh vùng đảo Irago có chở người yêu dấu của ta (trong đám nữ quan, cung nhân) đi trong vùng biển có nhiều sóng gió ấy. Ta lo không biết thế nào!

Tạm dịch thơ:

Thuyền ngự ṿng quanh đảo / Thủy triều lên lao xao / Người em yêu thuở ấy / Nay chèo chống thế nào? / Irago biển động / Bao nhiêu đợt sóng cao /

Dây leo Kanamugura (Nguồn Internet)

Thơ lữ hành của Hitomaro

Thơ lữ hành của Hitomaro trong mục “ki lữ” có 8 bài. Tất cả đều vịnh cảnh ở biển nội địa Nhật Bản (Seto naikai) chỗ giữa đảo Shikoku và đảo Honshuu, con đường ông đi qua. Những địa danh như Awaji, Akashi, Noshima ga saki ... đều gắn bó với vùng biển đó.

3-251

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

粟路之野嶋之前乃 濱風尓 妹之結 紐吹返

Dạng huấn độc (đă chua âm):

淡路の野島が崎の浜風に妹が結びし紐吹き返す

Phiên âm:

Awaji no / Noshima ga saki no / hamakaze ni / imo ga musubishi / himo fukikaesu /

Diễn ư:

Gió biển thổi ở doi đất đâm biển ra biển Noshima trên đảo Awaji đă lật cái thắt lưng áo mà người yêu (vợ) của ta đă thắt hộ trước ngày lên đường.

Đời xưa, người Nhật tin rằng thắt lưng hay bâu áo (himo) ai thắt (musubu) cho ḿnh mà bị lơi ra là người đó đang nhớ về ḿnh. Để chứng minh cho lối suy nghĩ này, ta có thể dẫn thơ Kasa no Kanamura (bài 9-1789) và thơ một tác giả vô danh (bài 12-3145):

我妹子が結ひてし紐を解かめやも絶えば絶ゆとも直に逢ふまでに

Wagimoko ga / yuiteshi himo wo / tokemaya mo / taeba tayutomo / tada ni aumade ni /

Giải thắt lưng mà người vợ yêu ta thắt hộ, quyết không giờ tháo ra. Cho dù nó đứt th́ tự nó đứt chứ ta không cởi đâu, cho đến khi ta gặp lại vợ ta (ư thơ Kasa no Kanamura).

我妹子し我を偲ふらし草枕旅のまろ寝に下紐解けぬ

Wagimo ko shi / a wo shino furashi / kusamakura / tabi no marone ni / shitabi mo tokenu

H́nh như vợ ta đang nhớ ta. Trong lúc màn trời chiếu đất như thế này (trên đường du lịch, đang mặc áo cớ sao thắt lưng phía dưới áo lại lỏng lơi ra. (ư thơ tác giả vô danh)

Qua bài thơ này, Hitomaro đang đứng ở phía bắc đảo Awaji, mượn ngọn gió triều để thác ngụ niềm thương nhớ về người vợ đang ở vùng Yamato.

Tạm dịch thơ:

Awaji vùng đảo / Mỏm đất Noshima / Gió biển giật tung áo / Xưa em cài cho ta / (Phải chăng ḷng em nhớ) / Người dầu dăi phương xa /

2-255

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天離夷之長道従 戀来者 自明門 倭嶋所見 [一本云 家門當見由]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天離る鄙の長道ゆ恋ひ来れば明石の門より大和島見ゆ [一本云 家のあたり見ゆ]

Phiên âm:

Amazakaru / hina no nagachi yu / koi kureba / Akashi no to yori / Yamatoshima miru (ie no atari miyu) /

Diễn ư:

Từ chốn quê mùa xa xôi, ta đang đi trên con đường dằng dặc dài, những mong sao cho chóng đặt chân lên đất Yamato, th́ ô ḱa, đằng xa kia, sau eo biển Akashi đă thấy bóng cố hương Yamato hiện ra. 

Yamato đây là phần đất kinh đô và cũng là nơi ước vọng của tác giả. Đời xưa, theo qui ước, cái ǵ ở kinh đô (miyako) cũng tốt đẹp và đáng yêu hơn cả. Khi lữ khách đến eo biển Akashi trên biển nội địa Nhật Bản th́ xem như đă đến kinh đô, chốn quê nhà và cũng là nơi ai nấy đều ngóng về. Từ Akashi trở về đông là Kinai (trong vùng kinh đô), từ Akashi về tây là Kigai (ngoài vùng kinh đô). Dĩ nhiên đất Akashi cát trắng tùng xanh, phong cảnh hữu t́nh là một makura kotoba (chữ gối đầu) v́ dính dáng với mối t́nh của chàng Genji và người đẹp ở đấy. Trong một bài khác cùng một chùm thơ (2-254), Hitomaro đă chơi chữ, dùng akashi 灯火(ánh đèn) để dẫn đến akashi 明かし(tươi sáng) và Akashi 明石(địa danh) . C̣n như từ đời Heian th́ ta thấytrong Kokinshuu (Cổ Kim Tập) chẳng hạn, tên eo biển Akashi thường được ghép đôi với các h́nh ảnh như asagiri (sương mù ban mai), shimagakura (đảo ẩn ḿnh), honobono to yoru ga akeru (trời lờ mờ rạng sáng).

Sở dĩ trong bài thơ có chữ Yamato shima (đảo Yamato) v́ lữ khách xem những rặng núi như Ikoma và Kasuragi trên đất ấy dài ra giống như một chuỗi đảo. Chắc lúc này Hitomaro đang từ Dazaifu dưới Kyuushuu trở về. Hành tŕnh tính phải đến một tháng trời và rất gian nguy nên ta hiểu nỗi vui mửng của ông khi thấy Akashi ló dạng.

Tạm dịch thơ:

Đường đi dài dằng dặc / Ngóng cố hương từng giờ / Vượt hết bao thôn vắng / Mà chửa tới kinh đô? /Akashi chợt hiện! / Ḱa đất Yamato /

Tuy nhiên, Hitomaro cũng có những bài nhắc đến Ômi, kinh đô của Thiên hoàng Tenji bên hồ Biwa, ở một vị trí địa dư đối nghịch.

3-264

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

物乃部能八十氏河乃 阿白木尓 不知代經浪乃 去邊白不母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

もののふの八十宇治川の網代木にいさよふ波のゆくへ知らずも

Phiên âm:

Mononofu no / Yasoujigawa no / ajiroki ni / imayou nami no / yukue shirazu mo /

Diễn ư:

Những con sóng dập d́u trên hàng cọc dùng làm nơm đơm cá (ajiroki) trên ḍng sông Uji, tưởng như bị ứ lại nhưng mới đó đă đi đâu mất dạng và không biết đang đến chốn nào.

Tác giả Hitomaro đă làm bài thơ này khi ông đi từ Ômi về triều và phải ngang qua con sông Uji. Mononofu (ư nói văn vơ bá quan phục vụ triều đ́nh) là makura kotoba của Uji, nhân v́ họ đông đảo, phải dùng số nhiều nên mới kèm thêm từ yaso (80, ư nói rất đông).

Ngắm được ajiroki (cọc gỗ) là vào thời điểm từ cuối thu sang đông khi người ta đóng nó trên sông và giăng ra rồi chắn ḍng nước bằng những tấm phên bằng tre hay củi con với mục đích bắt cá nhỏ. Đó là một h́nh ảnh rất trữ t́nh của vùng Uji, nơi có nhiều biệt thự nhà quan.

Tạm dịch thơ:

Bao nhiêu là hàng cọc / Giăng ra đơm cá đông / Uji tưởng giữ nước / Ai ngờ buông theo ḍng / Nay dạt về đâu nhỉ ? / Có dừng một thoáng không ? /

Tiếp đến, xin giới thiệu thêm một bài tanka khác của ông, cũng bày tỏ ḷng hoài cựu đối với kinh đô Ômi (bài 3-266) trong một lần đi ngang qua đấy:

Sông Uji (Nguồn Internet)

3-266

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

淡海乃海夕浪千鳥 汝鳴者 情毛思<>尓 古所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

近江の海夕波千鳥汝が鳴けば心もしのにいにしへ思ほゆ

Phiên âm:

Afumi no umi / Yufunami chidori / naganakeba / kokoro mo shi no ni / inishie omoyu

Diễn ư:

Trên vùng Ômi bên bờ hồ Biwa (ngày xưa người ta gọi hồ lớn là biển hay umi) không biết màn đêm buông xuống tự lúc nào. Hỡi những con chim óc cau (chidori), một loài chim di, đang lượn trên mặt hồ gợn sóng kia ơi! Xin các ngươi đừng cất lên tiếng hót buồn thảm, không thôi ḷng ta sẽ phải chạnh nhớ thời vàng son ngày xưa của kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Màn chiều chợt buông mau / Trên cánh đồng Ômi / Nhắn cùng lũ chim di / Hót gieo buồn mà chi / Làm chạnh nhớ triều xưa / (Phế hưng qua mấy lớp).

Sau bài chôka với lời lẽ hùng hồn và bi tráng nói về kinh đô Ômi nay đă trở thành hoang địa, bài tanka này bày tỏ ḷng cảm khái và hoài cựu của tác giả. Ông không ngỏ cùng ai mà chỉ nói chuyện với lũ chim trời là giống óc cau đang bay lượn trên sóng hồ Biwa. Lũ chim óc cau (chidori), những con chim trời vô tâm, có tiếng hót thảm thiết, làm cho tác giả, trong một buổi chiều đứng bên hồ, cảm thấy hết sức cô đơn. (Đàn chim óc cau này cũng là bạn đường của chàng Genji trên bước đường lưu đày ra vùng biển Suma v́ một mối t́nh bất chính với cô vợ hứa hôn của Thiên hoàng).

Cùng với màn đêm sụp tối, h́nh ảnh thời vàng son của chốn cố đô lại hiện về. Để ư là hai câu đầu của bài thơ là hai danh từ phức hợp (Afumi (Ômi) no umi nói về hồ Ômi bao la như biển và Yufuyami (Yuuyami) chidori chỉ chim óc cau khi trời sập tối. Viết Afu đọc là Ô, Yufu đọc là Yuu). Cách sử dụng câu không có động từ như vậy có hiệu quả cô đọng ư tưởng để sau đó buông ra và dàn trải trong câu cuối, một câu 8 âm nghĩa là thừa một âm (Inishie no omoyu = nhớ lại thời xưa).

Cái chết của Hitomaro

Về cái chết của Hitomaro, có nhiều thuyết về thời gian và địa điểm.Có người bảo ông chết đột ngột v́ bạo bệnh trên đường đi khi qua vùng Iwami (nay là tỉnh Shimane).Nếu tin theo những ǵ ghi bên tựa đề th́ bà vợ ở Iwami là Yosami no Otome nghe tin dữ mới đi t́m nhưng không biết xác hay tro cốt ông ở đâu, tưởng rằng nó đă bị ném xuống đáy sông làm bạn với ṣ ốc. Do đó, bà mới làm hai bài thơ khóc thương ông. Tuy nhiên, nếu thế th́ không ăn khớp với giả thuyết bà đă chết trước, rồi ông mới làm thơ ai điếu như từng thấy trong bài thơ khóc vợ bên trên bài (2-210). Điểm nghịch lư này hơi khó giải thích v́ đă chết rồi làm sao có thể đi kiếm xác chồng. Hoặc giả nhân vật phụ nữ nói bên trên đó là một người khác!.

Tuy vậy, trước tiên, xin đưa ra bài thơ được xem như thơ Hitomaro tự ai điếu chính ḿnh (tự thương ca):

2-223

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

鴨山之磐根之巻有 吾乎鴨 不知等妹之 待乍将有

Dạng huấn độc (đă chua âm):

鴨山の岩根しまける我れをかも知らにと妹が待ちつつあるらむ

Phiên âm:

Kamoyama no / iwane shimakeru / ware wo kamo / shirani to imo ga / machitsutsu aru ramu (ran) /

Diễn ư:

Ta lấy ghềnh đá trên núi Kamoyama này gối đầu, sắp sửa chết đến nơi.Nếu sự thể xảy ra như thế th́ vợ ta trong lúc này vẫn không hay biết ǵ và cứ măi đợi chờ.

Tạm dịch thơ :

Nếu gối đầu ghềnh đá / Núi Kamoyama / Nằm đây và đợi chết / Chắc người vợ của ta / Giờ cũng không hay biết /Chờ măi kẻ đi xa /

Nhân đây phải thông báo là trước khi bài thơ “tự thương” này ra đời, Hitomaro đă viết  thơ ai điếu một cái xác ông gặp t́nh cờ giữa đường và tội nghiệp cho người ấy chết một ḿnh, lấy đá làm giường, vợ con không hay biết (bài chôka 2-220 với 2 hanka 2-221 và 2-222). Như được đề cập đến trong một bài hanka khác, trước khi chết, anh cháng này chỉ muốn cùng đi với vợ hái rau rừng yomena 嫁菜 (starwort, từ điển dịch là cây phiền lũ, không hiểu h́nh dáng ra sao) đem về ăn (yome c̣n có nghĩa là “người vợ”) .

Bài chôka nói trên nhan đề “Thấy người chết trong núi đá khi qua đảo Samine no shima ở Sanuki (đảo Shikoku)”. ( Nó có cái ǵ làm ta liên tưởng đến Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của cụ Nguyễn Du vốn cũng khóc thương những kẻ chết bên đường!). Vậy th́ Hitomaro đă khóc cho ḿnh hay cho một người vô danh chết bờ chết bụi? Thật t́nh chưa có câu trả lời thật thỏa đáng!

Tiếp đến là 2 bài thơ, được xem như thơ bà Yosami no Otome:

2-224

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

<>今日々々々 吾待君者 石水之 貝尓 [一云谷尓] 交而 有登不言八方

Dạng huấn độc (đă chua âm):

今日今日と我が待つ君は石川の峽に [一云 谷に] 交りてありといはずやも

Phiên âm:

Kefu kefu (Kyô kyô) to / wa ga matsu kimi wa / ishikawa no / kai ni majiri ni / ari to iwazu ya mo / 

Diễn ư:

Người ấy cứ nói hôm nay về, hôm nay về, thế mà có thấy bóng ai đâu. Làm ta măi đợi chờ khô héo. Hay giờ đây người đă nằm với lũ ṣ ốc ở đáy sông Ishikawa kia rồi!

Tạm dịch thơ::

Hẹn em nội ngày nay / Sao người chẳng về ngay / Để em chờ khô héo / Bấm đốt tay từng ngày / Hay anh vùi sóng nước / Nằm cạnh lũ ṣ, trai.

2-225

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

直相者相不勝 石川尓 雲立渡礼 見乍将偲

Dạng huấn độc (đă chua âm):

直の逢ひは逢ひかつましじ石川に雲立ち渡れ見つつ偲はむ

Phiên âm:

Tada no ai wa (Tada ni awaba) / ai katsu mashiji / ishikawa ni / kumotachi watare / mitsutsu shinohamu (han) /

Diễn ư:

Em đâu c̣n mong chi được gặp người ấy trực tiếp nữa! Bên bờ sông Ishikawa, em sẽ bảo với mây hăy giăng mắc thật dày cho, để em nh́n làn mây mà nhớ tới người ấy.

Tạm dịch thơ:

C̣n mong chi gặp lại / Người xưa nay c̣n đâu / Đứng bên con sông sâu / Mong mây mờ che phủ / Để ngước mắt nh́n trời / Thương về h́nh bóng cũ. 

Tiết X: Thơ Takechi no Kurohito高市黒人: 

Nhà thơ Takechi no Kurohito (từ đây sẽ gọi tắt là Kurohito) là người đồng thời đại với Kakinomoto no Hitomaro và cũng như ông, một viên quan phẩm trật thấp kém nhưng tài thơ cao. Ông du hành nhiều nên trong thơ ông đầy h́nh ảnh về thiên nhiên và cách miêu tả thiên nhiên của ông khá độc đáo. Đề tài và lối diễn đạt của ông phần nhiều tiêu sơ, đạm bạc, buồn thương, phản ánh nhân cách tác giả. Ông chỉ viết tanka và c̣n để lại 18 bài.

Trước tiên, xin tuyển dịch 4 bài thơ của ông (bài 3-270, 3-271, 3-372 và 3-274) thuộc loại tạp ca có tính ki lữ (du hành) và vọng hương (nhớ quê):

3-270:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

客為而物戀敷尓 山下 赤乃曽<><> 奥榜所見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

旅にしてもの恋しきに山下の赤のそほ船沖を漕ぐ見ゆ

Phiên âm:

Tabi ni shite / monokohoshiki ni / yamashita no / ake no sohobune / oki ni kogu miyu     

Trên đường lữ hành, làm sao không nhớ quê hương (kinh đô) nhưng không ǵ cảm động bằng khi nh́n thấy dưới chân núi con thuyền (nhà quan – okami no fune) sơn đỏ đang lướt sóng ra khơi để trở về kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Trên bước đường lữ thứ / Nào nguôi dạ nhớ quê / Nhưng làm ta cảm động / Là phía núi xa kia / Thuyền quan sơn đỏ thắm / Đang vượt sóng quay về. 

Yamashita (dưới chân núi) có thể là một chữ gối đầu, tu sức cho aka (đỏ) nhưng vừa có nghĩa là chân núi. C̣n sohobune là thuyền sơn đỏ của nhà quan, thuyền công vụ. H́nh ảnh tương phản của con thuyền sơn đỏ và mặt nước xanh và cây cối xanh um là cái đẹp mà Kurohito ca ngợi, nhưng trước đó, ông muốn bày tỏ nỗi cô đơn và ḷng buồn man mác của người lữ khách v́ phải xa quê (kinh đô).

3-271:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

櫻田部鶴鳴渡 年魚市方 塩干二家良之 鶴鳴渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

桜田へ鶴鳴き渡る年魚市潟潮干にけらし鶴鳴き渡る

Phiên âm:

Sakurada e / tazu naki wataru / Ayuchigata / Shiho hi ni kerashi / tazu naki wataru/

Diễn ư:

Những con chim hạc vừa kêu vừa bay về hướng cánh đồng thôn Sakura. Phía ấy là băi cạn của vùng Aichi (Ayuchi), chắc nước triều đă rút cho phép lũ chim hạc cùng nhau đi kiếm mồi nên chúng mới cất tiếng kêu to như vậy.

Tạm dịch thơ:

Hạc vừa kêu vừa bay / Sakura xa hút / Phải chăng bờ Aichi / Nước triều vừa mới rút / (Băi giờ đây đă lộ) / Hạc vừa kêu vừa bay.

Thôn Sakura thuộc vùng Oware (Aichi, Nagoya bây giờ). Ở đó có băi biển tên là Aichi (viết theo lối cổ là Ayuchi). Bài thơ này về mặt không gian lẫn thời gian đều gieo cho ta một ấn tượng rộng răi, to lớn. Tác giả đă đi ngang qua băi biển này khi nước triều chưa rút để về hướng đông. Sau đó, ông thấy ngược chiều với ḿnh là một bầy chim hạc hướng về phía tây, cánh đồng thôn Sakura, vừa bay vừa kêu. Ông tưởng tượng rằng lúc này nước triều đă rút xuống, nhiều mồi (tôm, cá, vi sinh vật…) lộ ra nên chim mới kéo đến đông như vậy. Lúc ấy, chắc ông đang ngước mắt lên trời nh́n những cánh chim đang sải rộng. Câu thứ 2 và câu thứ 5 cho ta cảm tưởng không chỉ một đàn chim thôi đâu mà có rất nhiều đàn chim như vậy. Cùng lúc, khoảng thời gian triều lên, triều xuống cũng kéo rất bài, chứng tỏ tác giả đă đứng khá lâu giữa thiên nhiên.

Thiên nhiên rộng răi, chim hạc cao quí, bài thơ có phẩm cách cao sang. Những âm ta (9 chỗ) và ka (5 chỗ) gợi cho độc giả Nhật Bản một t́nh cảm sảng khoái.

Về cảnh hạc bay trên băi biển, ta cũng nhớ đến một giai tác khác của nhà thơ Akahito (Yamabe no Akahito). Hăy đợi đến phần nói về Akihito trong những trang sau.

3-272:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

四極山 打越見者 笠縫之 嶋榜隠 棚無小舟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

四極山うち越え見れば笠縫の島漕ぎ隠る棚なし小舟

Phiên âm:

Shihatsuyama / uchikoe mireba / Kasanuhi no / shima kogikakuru / tana nashi obune

Diễn âm:

Rốt cuộc vượt qua được núi Shihatsu, từ trên cao ta thử nh́n chung quanh th́ vừa lúc ấy ở nơi xa kia, thấp thoáng một chiếc thuyền trơ trọi không be (thuyền độc mộc) đang chèo tiến về bóng núi trên ḥn đảo Kasanui.

Tạm dịch thơ:

Vượt núi Shihatsu / Đưa mắt nh́n ngoài khơi / Kasanui đảo ấy / Bóng một chiếc thuyền côi / Cố chống chèo về bến / Thấp thoáng phía xa xôi.

Địa danh núi Shihatsu vẫn chưa biết nằm ở đâu. Nội dung của bài thơ này chỉ có một nhận xét hoàn toàn khách quan trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn và yên lặng chứ không gửi gắm tâm tư ǵ vào đó cả. Tác giả đă cho ta thấy sự chính xác như đang chụp một bức ảnh trong việc mô tả ngoại giới của ông.

3-274

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾船者枚乃湖尓 榜将泊 奥部莫避 左夜深去来

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が舟は比良の港に漕ぎ泊てむ沖へな離りさ夜更けにけり

Diễn âm:

Wa ga fune wa / Hira no minato ni / kogihatemu (ten) / oki e nasakari / sa yo fuke ni keri /

Diễn âm:

Thuyền của ḿnh đêm nay hăy đỗ lại bến Hira này thôi. Đừng ra khơi để làm ǵ, đêm đă khuya khoắt thật rồi.

Bến Hira nằm ở phía tây hồ Biwa. Tác giả nhủ ḷng là hăy đỗ lại bến v́ trời đă quá khuya rồi, nếu không sẽ phải ṃ mẫm trong đêm. Nó thể hiện tâm trạng bất an của ông trong chuyến lữ hành, cũng như trong bài 3-275, trên đường lộ, ông lo không kiếm ra được ngôi nhà trọ để qua đêm.

Tạm dịch thơ:

Chèo ơi, ngừng khuấy nước / Hira dường đến nơi / Tối nay xin gác mái / Ngủ lại bến này thôi / Khơi xa đường chẳng thấy / Đêm đă quá khuya rồi /

Dưới đây là một bài thơ Takachi no Kurohito làm ra khi tháp tùng Nữ thiên hoàng Jitô hành hạnh (ngự du) ở vủng Mikawa (nay thuộc miền đông tỉnh Aichi tức vùng Nagoya) vào tháng 10 năm 702. 

1-58

Nguyên văn (dạng Man.yôgan

何所尓可船泊為良武 安礼乃埼 榜多味行之 棚無小舟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

いづくにか船泊てすらむ安礼の崎漕ぎ廻み行きし棚無し小舟

Phiên âm:

Izuku nika / funahateramu / Areno saki / kogitami yukishi / tananashi wbune /

Diễn ư:

Không biết bây giờ đây chiếc thuyền con trơ trụi không có cả be làm bằng ván từng chèo quanh doi biển Are no saki đang ngủ đỗ bến nào nhỉ?

Tananashi kobune (thuyền con không be, có người dịch là marukibune 丸木船hay kuribune 刳舟 tức là thuyền tạc vào một bộng cây, thuyền độc mộc). Chiếc thuyền cực kỳ đơn sơ, không ra được xa, cứ chèo loanh quanh mấy ḥn đảo.

Takechi no Kurohito viết bài này khi ông tháp tùng chuyến ngự du của Nữ thiên hoàng Jitô trong vùng (nay là phía đông tỉnh Aichi). Bài này nói về tâm sự ông khi thao thức trong đêm để tự hỏi ḷng con thuyền đơn sơ mà ḿnh thấy lúc ban ngày giờ đây đă về đỗ bến nào.

Bài thơ gợi lên trong ta cái bấp bênh của cuộc đời lữ khách, h́nh ảnh của chính cuộc đời thu gọn. B́nh sinh, Kurohito hay vịnh những sự vật đă ra ngoài tầm mắt, tầm tay, biểu lộ được một bầu không khí bất an, bàng bạc..., khiến cho thơ ông có phong vị khác với người đương thời.

Tạm dịch thơ:

Trên mũi đất Are / Bỗng nhớ chiếc thuyền quê / Trơ trụi không thành ván / Chèo quanh chùm đảo kia / Đỗ bến nao thuyền nhỉ ? Thắc mắc suốt đêm khuya!

Hai bài 1-58 vừa rồi và 3-272 bên trên làm liên tưởng đến mấy câu thơ Việt đọc lâu rồi, của Nguyễn Bính th́ phải, nhưng có thể cả hai đă có chung một mối hoài cảm bàng bạc mơ hồ:

Sáng mai xuôi ngược về đâu nhỉ,

Nào biết về đâu kẻ ngược xuôi

Takechi no Kurohito cũng có tâm hồn hoài cựu. Ông có 4 bài thơ nhớ về kinh đô Ômi ( 1-31, 1-32, 1-33, 3- 305) cũng như Hitomaro. Xin đơn cử bài 1-32 :

1-32

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

古 人尓和礼有哉 樂浪乃 故京乎 見者悲寸

Dạng huấn độc (đă chua âm):

古の人に我れあれや楽浪の古き都を見れば悲しき

Phiên âm:

Inishie no / hito ni ware ya sasanami no / furuki miyako wo / mireba kanashiki / 

Diễn ư:

Không biết ta có phải là người đă sống vào thời đại kinh đô Ômi không nhỉ ! Không thể nào! Thế nhưng cớ sao khi đến đây nh́n thấy dấu tích kinh đô cũ ở Sasanami, ta lại thấy buồn đến vậy.

Tạm dịch thơ:

Ḿnh xưa nào có phải / Làm quan triều Ômi / Mà lạ chưa, khi đến / Vùng Sasanami / Nh́n kinh đô hoang phế / Ḷng bỗng nặng sầu bi?

Tiết XI: Thơ Naga no Imiki Okimaro長忌寸奥麿:

Về tác giả Naga no Imiki Okimaro, không ai biết ǵ về thân thế nhưng có lẽ ông cũng thuộc hàng quan lại, ra đời sau Kakinomoto no Hitomaro một ít lâu. Xin tŕnh bày 4 bài tanka của ông (1-57, 3-265, 16-382, 16-383):

1-57:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

引馬野尓仁保布榛原 入乱 衣尓保波勢 多鼻能知師尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

引間野ににほふ榛原入り乱れ衣にほはせ旅のしるしに

Phiên âm:

Hikumano ni / nihofu harihara / irimidare / koromo nihowase / tabi no shirushi ni

Diễn ư:

Hỡi các vị trong đoàn tùy tùng ngự giá. Chúng ta đang ở trên cánh đồng Hikuma, nơi có nhiều cây hari (có bản viết là hagi) nở hoa đẹp đẽ (cây hari là cây trăn, một loại cây thuộc họ dâu (kuwa), c̣n hagi là cây thưu, một trong bảy loại cỏ mùa thu có hương thơm). Mọi người đều hăy vào đấy cho áo xống nhuộm màu (và ướm hương thơm) để kỹ niệm chuyến tuần du này.(Bài thơ dịch theo ư hagi)

Tạm dịch thơ:

(Hỡi các vị tùy giả) / Qua đồng Hikuma / Nơi cây nở hoa đẹp / (Hương thơm tỏa gần xa) / Vào đây cho áo xống / Nhuộm màu, tẩm hương hoa / Kỹ niệm theo xa giá / Chuyến tuần du (miền xa).

Lời chú thích cho biết năm 702, Hoàng hậu Jitô sau khi lên ngôi và nhường ngôi và trở thành thái thượng thiên hoàng, đă tổ chức một cuộc ngự du với triều thần ở vùng Mikawa. Thuyết của tăng Keichuu cho rằng cánh đồng Hikuma nằm ở Mikawa (thuộc  Nagoya bây giờ) trong khi nhà nghiên cứu Mabuchi cho là nó ở Tôtômi. Cuộc tranh căi này đối với độc giả ngoại quốc chúng ta th́ không có ư nghĩa ǵ đặc biệt. Đáng lưu ư chăng là việc có thuyết cho rằng chuyến ngự du và phong cảnh dược đưa ra chỉ là sản phẩm tưởng tượng chứ không hề được thực hiện.

Thời Man.yô người đi đường thường nhuộm áo (suriirokoromo) để kỹ niệm chuyến đi như ngày nay người ta đóng dấu vào bưu thiếp hay hộ chiếu và đây có lẽ là lời của một ông quan tháp tùng muốn bày tỏ ḷng yêu và cảm xúc đối với thiên nhiên của ḿnh.

3-265:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

苦毛零来雨可 神之埼 狭野乃渡尓 家裳不有國

Dạng huấn độc (đă chua âm):

苦しくも降り来る雨か三輪の崎狭野の渡りに家もあらなくに

Phiên âm:

Kurushiku mo / Furikuru ame ka / Miwanosaki / sano no watari ni / ihe mo aranaku ni/

Diễn ư:

Sao mưa tầm tă như vậy, khổ ơi là khổ. Chỗ bến đậu thuyền ở Sano vùng mũi đất Miwagasaki này không có lấy một nóc nhà để chỗ trú mưa.

Tạm dịch thơ:

Khổ ôi chao là khổ! / Trời cứ mưa tầm tă / Ở doi đất Miwa / Trên bến Sano đó / Không cả một nóc nhà / Để tạm nấp qua mưa.

Nhà thơ vịnh cảnh khốn khổ của người bộ hành gặp cơn mưa lớn không t́m ra một mái nhà để trú mưa. Lời thơ đơn sơ mộc mạc, nh́n ngoại cảnh thấy sao nói vậy, không có một chút tu sức. Thế nhưng khung cảnh quạnh vắng ấy lại gieo được mối cảm động cho con người. Hiện tượng này giải thích được bằng phạm trù mỹ học mà người Nhật thường gọi là mono no aware (Mà thật thế! Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu).

Sano và Miwagasaki là những địa danh một vùng ven biển trong xứ Kii, một bán đảo (nay là tỉnh Wakayama). Trong Shin-Kokin ( gọi tắt Tân Cổ Kim Ḥa Ca Tập), nhà thơ Fujiwara no Teika cũng có bài thơ mượn thơ Naga no Imiki như một bài thơ gốc (thủ pháp honkadori本歌取りhay thơ mô phỏng cổ nhân), ghi lại cái hoang vắng, tịch mịch của bến Sano, nơi mà không có cả một bóng người dừng cương ngựa để rũ tuyết đang bám trên áo xống:

駒とめて袖うち払うかげもなし佐野の渡りの雪の夕暮れ

Koma tomete / Sode uchiharau / Kage mo nashi / Sano no watari no / Yuki no yuugure /

Qua đây ngựa chồn bước / Rũ áo đâu là người / Sano trên bến nuớc / Chiều tuyết xuống lâu rồi.

Ngày nay, làm như thế có thể bị kết tội đạo văn đạo thơ, vi phạm tác quyền. Thế nhưng đời xưa cho rằng bắt chước như thế là tốt v́ khi bắt chước ai là ḿnh đă tỏ ra kính trọng tiền bối rồi và hậu thế khi đọc bài sau, có thể thưởng thức cả dư vị bài thơ gốc.

16-3824:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

刺名倍尓湯和可世子等 櫟津乃 桧橋従来許武 狐尓安牟佐武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

さし鍋に湯沸かせ子ども櫟津の桧橋より来む狐に浴むさむ

Phiên âm:

Sashi nabe ni / yu wakase kodomo / ichihitsu no / ebashi yori komu / kitsune ni amusamu /

Diễn ư:

Hỡi các cô cậu bé con. Hăy đun nước lên bằng cái nồi có cán. C̣n chồn kêu “kon kon” trên cây cầu gỗ bách (hinoki) ở Ichihitsu đang đến nơi. Dội nước sôi lên nó đi.

Tạm dịch thơ:

Hỡi cô cậu bé con / Đem nồi nước mà đun / Ḱa trên cầu gỗ bách / Chồn đang kêu lon con / Sắp ḅ đến đây đó / Dội cho nó hết hồn!

Đây là một bài thơ làm ra để mua vui trong lúc yến tiệc. Trong những dịp đó, người ta hay ra đề tài về tiếng gơ vào chén, bát, bầu rượu gây âm thanh (như “kon, kon” ở đây) và kết hợp nó với sông, với cầu vv…là những ǵ chẳng liên quan đến nó và nhà thơ phải biết ứng biến để làm ra thơ ngay lập tức. Tṛ chơi này cũng tương tự như thơ tếu hoặc chuyện tếu (rakugo) bây giờ. Người Nhật có h́nh thức “rakugo sandai-banashi” có nghĩa là đưa ra 3 đề tài (sandai) để kể thành chuyện (hanashi) đi đến một kết luận đột ngột (rakugo) để mua vui. Ví dụ họ thách người làm thơ làm sao kết hợp được 3 thứ không ăn nhập vào nhau như kôri (băng, nước đá), futon (nệm giường, nệm ngồi) và kumo (mây) chẳng hạn.

 

Kitsune (Chồn) (Nguồn Wikipedia)

 

16-3831:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

池神 力土舞可母 白鷺乃 桙啄持而 飛渡良武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

池神の力士舞かも白鷺の桙啄ひ持ちて飛び渡るらむ

Phiên âm:

Ikegami no / rikishimahi kamo / shirasagi no / hoko kuhimochi de / tobiwataru ramu

Diễn ư:

Coi ḱa, có phải những con c̣ trắng kia đang bắt chước điệu múa của thần lực sĩ trên mặt ao (hồ) hay không đấy. Sao chúng lại biết ngậm nhánh cây và bay lượn tài t́nh như thế nhỉ?

Tạm dịch thơ:

Giống kim cương lực sĩ / Thần trấn giữ mặt hồ / Áo trắng, tay múa kích / (Oai dũng thật vô bờ) / Cũng ngậm nhành bay lượn / Khen cho mấy chú c̣.

Thần lực sĩ đây là Niô (Nhân vương) hay kim cương lực sĩ trong thần thoại Phật giáo.

Họ biết cầm vũ khí như cây mâu (hoko) để múa. Những con c̣ trắng (shirasaki) này cũng biết giang cánh bay như áo trắng bay, chẳng khác nào điệu múa của các vị thần. Không khỏi thấy lối so sánh này có đôi chút hài hước. Về sự tích thần ao hồ (ikegami) th́ không rơ cho lắm, chỉ biết trong xứ Yamato có một địa danh tên là Ikegami.


 

[1] “Cắt rong đẹp” ( ngọc tảo, tamamo) là từ tu sức cho otome (người con gái trẻ) ư nói những người đẹp đi dạo chơi, nhưng có lẽ bắt nguồn từ việc đề cao sự lao động của các nàng. Tamano c̣n viết “ngọc thường” là tấm váy đẹp nữa.

[2] Chúng tôi tạm dịch quận chúa từ chữ “vương” đi sau tên một phụ nữ v́ là con một tước vương, khác với công chúa dịch từ “hoàng nữ” là con gái của thiên hoàng.

[3] Wa ga se no ga / Kubeki yoi nari / Sasa ga ni no / Kumono okonai / Koyoi shirushi mo.

[4] Xin xem thêm đoạn 19-Bốn mùa thay đổi, trong Tsurezuregusa (Buồn buồn phóng bút), tập tùy bút thời trung cổ của pháp sư Kenkô (Nguyễn Nam Trân dịch).

[5] Về Hoàng thái tử Furuhito, cha của Hoàng hậu Yamato, số phận ông rất bi đát. V́ mẹ ông thuộc họ Sôga, ông không được nối ngôi Jomei sau khi chàng rễ và cũng là em trai là Tenji diệt cả ḍng Sôga này. Về sau, dù đă xuất gia, ông lại bị kết tội mưu phản v́ chống lại cuộc cải cách Taika của Tenji và bị hành quyết cùng đồng bọn năm 645, thê tử đều chết theo và ông thành ra tuyệt tự. Đây là một cuộc tương tàn giữa thân tộc v́ tranh chấp quyền hành, một điều thường thấy trong lịch sử Nhật Bản.

[6] Aki konu to / me ni wa sayakani / mienedomo / kaze no oto ni zo odekarenuru (Khi mùa thu lại về / Làn gió thu t́m đến / Tuy mắt không nh́n thấy / H́nh dung như thế nào /Những tiếng gió không thôi / Đủ làm ta kinh ngạc).

[7] Bản Uemura Etsuko khác nhiều: aki no ta no / homuki no yori no / kotoyorini / kimi ni yori nana / kochitakari to mo.

[8] Giáo sư Uemura phiên âm Arima thành Hữu Mă有馬.

[9] Đường Thi Trích Dịch (1958) của Đỗ Bằng Đoàn Bùi Khánh Đản, nhà xuất bản Văn Học tái bản năm 2006, trang 481.

[10] Bùi Khánh Đản dịch, sách đă dẫn, trang 819.

[11] Tên Hoàng tử Karu có nhiều trong sử Nhật, ít nhất lúc họ c̣n nhỏ, chưa tập tước, nên dễ gây ngộ nhận cho người đọc sử. Một người mang tên Hoàng tử Karu (Karu no Ôji) sau là Thiên hoàng Kôtoku ( ? -654), con Thiên hoàng Bidatsu, một người Karu no Ôji thành Thiên hoàng Mommu (683-707), con Thái tử Kusakabe. Ngoài ra, trong tập cổ sử Kojiki c̣n có một thái tử Karu (Karu no Taishi) mang mối t́nh cấm đoán với người em gái cùng mẹ là Karu no Ôiratsume sau phải lưu vong và rốt cuộc tự tử.

[12] Nhà thơ Buson cũng có một câu thơ haiku với ư tương tự, tả cánh đồng hoa cải dầu vàng bao la.

 

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : 11/1/2011 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com