NHẬP MÔN MAN.YÔSHUU

Qua thơ Vạn Diệp Tập, viễn du trong xă hội Nhật Bản cổ đại.

万葉集入門

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Bản thảo 2011

 

Chương Ba

Các tác giả thời thơ Man.yô thành h́nh, xác định được vị trí 

1-Thơ Ôtomo no Tabito. 2- Thơ Yamanoue Okura . 3- Thơ Yamabe no Akahito. 4- Thơ Takahashi Mushimaro. 5- Thơ hoàng tử Shiki. 6- Thơ bà Ôtomo no Sakanoue no Iratsume.

 

Tiết I : Thơ Ôtomo no Tabito大伴旅人:

Ôtomo no Tabito là con trai nối dơi chức Dainagon[1] tên Ôtomo Yasumaro tức quan Dainagon Saho. Sinh trong một gia đ́nh danh gia vọng tộc, ông cũng làm đến chức Dainagon tùng nhị phẩm như cha và mất năm 67 tuổi.

Lúc đó, thế lực của họ Fujiwara lên như diều trong khi cánh nhà Ôtomo bắt đầu suy thoái. Tuy nhiên, dù không c̣n giữ được quá khứ huy hoàng, hoạn lộ của Tabito cũng thong dong và cuộc sống nói chung không đến đổi nào. Tính t́nh ông lại khoan ḥa và khoát đạt nên nhiều người yêu mến. Về vai tṛ của nhà thơ trong thời Man.yô th́ ta có đặt ông vào giai đoạn thứ 3 nghĩa là có những hoạt động thi ca từ khoảng đầu đời Nara (710 trở đi) cho đến niên hiệu Tempyô (729-749).

Giỏi Hán văn, chuyên chú dùi mài Hán thi, hiểu sâu về văn hóa nhà Đường và nhuốm màu tư tưởng Lăo Trang, Tabito, cũng như Yamanoue no Okura, thuộc loại thi nhân tiến bộ nghĩa là có khuynh hướng chấp nhận ảnh hưởng đến từ nước ngoài. Về mặt cá nhân, ông lại giao du thân thiết với Okura. Lúc ông làm nguyên súy ở phủ Dazai (Tổng trấn đảo Kyuushuu) th́ Okura làm quan trấn thủ vùng Chikuzen cũng ở trên đảo, thường xướng họa với nhau và hai ông là hai nhà thơ chủ chốt của làng thơ Tsukushi (tên cổ để chỉ đảo Kyuushuu, bao gồm hai vùng Chikuzen và Chikugo).

Tabito để lại 76 bài trong Man.yôshuu, phần lớn theo thể tanka với lối diễn tả b́nh dị và nhịp điệu nhẹ nhàng. Về mặt tư tưởng Phật giáo t́m thấy nơi ông, đó là ḷng mong muốn hạnh phúc trong một cơi đời sau lâu dài sau khi đă cố công sống lương thiện để tích đức trong cuộc sống hiện tại. Về mặt tư tưởng Lăo Trang th́ ông chủ trương cái kiếp hiện tại quá ngắn ngủi nên hăy cố sống sao cho vui thỏa trong từng sát na. Qua bài thơ ca tụng rượu (6 trong 13 bài gọi là tán tửu ca) sau đây, ta thấy bộc lộ chủ nghĩa hiện thực Lăo Trang nơi ông:

3-338

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

験無物乎不念者 一坏乃 濁酒乎 可飲有良師

Dạng huấn độc (đă chua âm):

験なきものを思はずは一杯の濁れる酒を飲むべくあるらし

Phiên âm:

Shirushi naki / mono wo omowazu wa / hitotsuki no / nigoreru sake wo / nomubeku aru rashi /  

Diễn ư:

Nghĩ đi nghĩ lại mới hiểu rằng cần chi phải khổ tâm nhọc sức v́ chuyện đời chẳng đáng vào đâu. Ngược lại, nâng một chén rượu đục để uống cho tan nỗi buồn phiền có phải là điều đáng làm hơn không.

Tạm dịch thơ:

Suy đi rồi tính lại / Khổ tâm chi chuyện đời / (Lo lắng măi cho lắm / Cũng đến thế mà thôi) / Thà nâng ṿ rượu đục / Một ngụm vạn sầu vơi.

Rơ ràng là tư tưởng hưởng lạc. Dù đó chỉ là rượu đục (trọc tửu / bạch tửu) – rượu của con nhà nghèo - chứ chưa được lọc cho trong (thanh tửu). Điều này nhấn mạnh ḷng yêu thích rượu của ông.

3-339

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

酒名乎聖跡負師 古昔 大聖之 言乃宜左

Dạng huấn độc (đă chua âm):

酒の名を聖と負ほせしいにしへの大き聖の言の宣しさ

Phiên âm:

Sake no na wo / hijiri to ohoseshi / inishie no / ohokihijiri no / koto no yoroshisa

Diễn ư;

Ngày xưa người nước Ngụy (Trung Quốc) dùng chữ “thánh nhân” (hijiri trong Nhật ngữ) như tiếng lóng để ám chỉ rượu. Các vị đại thánh nhân ngày xưa c̣n đặt cho rượu cái tên như vậy, há chẳng phải là lời nói tốt lành hay sao!

Tạm dịch thơ:

Ngày xưa rượu đă được / Mang tên là thánh nhân / Bao hiền tài đời trước / C̣n phải chịu nhường phần / Há chẳng cho ta hiểu / Rượu quí giá vô ngần.

Tương truyền Thái Tổ nhà Ngụy ban lệnh cấm rượu trên toàn quốc nhưng trong thiên hạ, người ta vẫn uống lén và dùng tiếng lóng gọi bạch tửu là hiền giả và thanh tửu là thánh nhân. Do đó, Tabito muốn đùa rằng người đặt tên cho thánh nhân hiền giả phải xứng đáng là đại thánh nhân! Qua bài thơ, ông đă chứng tỏ sự hiểu biết về điển cố Trung Quốc của ḿnh.

3-341

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

賢跡物言従者 酒飲而 酔哭為師 益有良之

Dạng huấn đọc (đă chua âm):

賢しみと物言ふよりは酒飲みて酔ひ泣きするしまさりたるらし

Phiên âm:

Sakashimi to / mono ihu yori wa / sake no mite / yohinaki suru shi / masari taru rashi /

Diễn ư:

Tranh nhau xem ai tài ai giỏi làm chi hỡi những kẻ ồn ào lắm chuyện. Ta đánh giá những ai chỉ uống rượu vào, say khướt, nói chuyện tầm phào rồi khóc, c̣n hơn hẳn các anh đấy.

Tạm dịch thơ:

Đừng khoe ḿnh tài giỏi / Hỡi những kẻ ồn ào / Mấy anh chàng nát rượu / Nói toàn chuyện tầm phào / Uống say rồi lại khóc / C̣n đáng nể là bao.

Tuy trong bài thơ Tabito tỏ ra khen ngợi khách làng say nhưng thực ra mà nói, chúng ta cảm thấy ngay qua vần thơ trên cả một nỗi buồn và sự bất măn của tác giả hàm chứa bên trong đối với kiếp nhân sinh bất như ư.

Cũng như các nhà thơ Đường, tác giả thơ Man.yô gồm đủ mọi hạng người, mọi giai cấp trong xă hội. Từ vua đến quan, tăng đến tục, lính và vợ lính, gái làng chơi tới kẻ ăn xin.

Khi Tabito đến Dazaifu ở Kyuushuu nhậm chức th́ trên bàn tiệc có Kojima, một người đàn bà hát rong (ukareme), đứng hầu rượu, giữa hai lần chuốc chén th́ trổ tài đàn hát giúp vui chủ khách. H́nh như cô ta được Tabito đặc biệt yêu dấu. Trong quyển só 6, hăy c̣n 2 bài thơ của cô ta.  

3-343

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

中々尓人跡不有者 酒壷二 成而師鴨 酒二染甞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

なかなかに人とあらずは酒壷になりにてしかも酒に染みなむ

Phiên âm:

Nakanaka ni / hito to arazu wa / sakatsubo ni / narinite shikamo / sake ni shiminamu /

Diễn ư:

Đừng sống kiếp người bị bó buộc, phải về hùa. Thà đem thân làm một bầu rượu vẫn hơn. Nếu như thế th́ lúc nào cũng được chất rượu ủ vào người.

Tạm dịch thơ:

Đừng vâng vâng dạ dạ / Sống mà chịu buộc ràng / Thân thà như hồ rượu / (C̣n sung sướng vô vàn) / Lúc nào ḿnh cũng được / Hơi men ngấm tận xương.

Cách nói mạnh mẽ này không phải là một sáng kiến của Tabito. Câu ấy đă thấy trong Điệu Ngọc Tập, phần Thị Tửu Biên (Ghi chép về việc thích uống rượu) và chuyện cũng từng chép trong Ngô Thư, hai quyển sách của Trung Quốc. Chúng đều nói về một nhân vật tên Trịnh Tuyền, tự Văn Uyên, người quận Trần ở Trung Quốc, xưa nay vẫn thích rượu, chỉ ao ước khi chết được chôn trong bên cạnh một ḷ rượu để rồi vài trăm năm sau khi thân xác hoàn toàn tiêu tan thành cát bụi, cát bụi đó sẽ được dùng để chế ra vại đựng rượu. Mê rượu và lo xa như họ Trịnh kể ra cũng hiếm.   

Ôtomo no Tabito (Nguồn Wikipedia)

3-344

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

痛醜賢良乎為跡 酒不飲 人乎熟見<> 猿二鴨似

Dạng huấn độc (đă chua âm):

あな醜賢しらをすと酒飲まぬ人をよく見ば猿にかも似む

Phiên âm:

Ana miniku / sakashira wo su to / sake nomanu / hito wo yoku mireba / saru ni kamo nimu /

Diễn ư:

Ôi chao, thật khó coi! Khi ngẫm nghĩ về sự phách lối của những kẻ khoe tài cậy giỏi mà không biết uống rượu, ta xem họ c̣n giống khỉ hơn người.

Tạm dịch thơ:

Ôi chao, thật khó coi / Nh́n những kẻ khoe tài / (Giỏi giang ǵ cũng mặc) / Rượu chẳng biết khuyên mời / (Dù mặt kia không đỏ) / Vẫn giống khỉ hơn người.

Thường thường những kẻ say sưa, uống rượu mặt đỏ ké mới được ví von với lũ khỉ. Thế nhưng ở đây Tabito cho rằng, không phải họ, chính ra những kẻ vênh váo khoe khoang mới thực sự giống đám khỉ khó coi. Người viết tiểu thuyết đời Edo là Tatebe Ayatari, trong Nishiyama Monogatari (Truyện núi Tây, 1768), viết ra để chống đối nhà văn Ueda Akinari, lại đi ngược đường với Tabito mà chê trách kẻ say sưa là bọn khỉ. Tuy Tatebe muốn đem gậy ông đập lưng ông nhưng đây là chuyện xảy ra nhiều thế kỷ về sau và dĩ nhiên, không thể lọt đến tai Tabito.

3-348

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

今代尓之樂有者 来生者 蟲尓鳥尓毛 吾羽成奈武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

この世にし楽しくあらば来む世には虫に鳥にも我れはなりなむ

Phiên âm:

Kono yo ni shi / tanoshiku araba / komu yo ni wa / mushii ni tori ni mo / ware wa nari namu /

Diễn ư:

Nếu trong cuộc đời này được sống vui sống thỏa th́ trong kiếp sau, cho dù có phải thành côn trùng, chim chóc ǵ chẳng nữa ta cũng không nề hà.

Tạm dịch thơ:

Nếu như cuộc đời này / Sống (với men) vui thỏa / Th́ trong những kiếp sau / Dẫu hóa thành vật lạ / Chim chóc hay côn trùng / Thân này đâu có sá.

Trong đầu ông, đă thấy có ư tưởng phủ định Phật giáo khi nói rằng chỉ muốn sống cho thỏa (với men rượu) kiếp này thôi. Thời ông sống là đời Thiên hoàng Shômu (Thánh Vũ) , một người chỉ xin làm đầy tớ cho tam bảo Phật Pháp Tăng mà ông dám phát biểu tư tưởng hưởng lạc trong cuộc đời hiện tại như thế, mới thấy hồi đó tự do ngôn luận cũng khá rộng răi!

Suốt 13 bài “tán tửu ca”, đâu cũng nhuốm màu sắc Lăo Trang hay tư tưởng thần tiên. Việc sống sao cho hạnh phúc trong cuộc đời ngắn ngủi này chi phối tư tưởng của ông. Có lẽ ông suy nghĩ nhiều về cảnh ngộ cá nhân, cảnh ngộ gia đ́nh Ôtomo đứng trước sự lộng hành chuyên chế của cánh quyền thần Fujiwara. Ngoài 60 tuổi (thời xưa, sáu mươi tuổi phải coi như bảy tám mươi rồi) mà c̣n phải đi phó nhậm chức ở súy phủ Dazai trên đảo Kyuushuu (Tsukushi) xa xôi. Trên đường đi gặp thêm cảnh vợ chết, làm ǵ Tabito không khỏi xúc động trước cảnh vô thường tịch liêu của kiếp người. Do đó ta hiểu tại sao ông đi t́m sự khuây khỏa trong men rượu.

Như thế, có thể xem Ôtomo no Tabito (665-731) là một nhân vật trung gian dù không xuất thân ở đại lục nhưng dă biết nối tiếp được truyền thống thơ rượu của Lưu Linh (trong Tửu Đức Tụng) và nhóm Trúc Lâm thất hiền đời Ngụy Tấn (thế kỷ thứ 3), lại đi trước những Lư Bạch (701-762), Đỗ Phủ (712-770), những nhà thơ cũng biết lấy men rượu để t́m nguồn cảm hứng. Rượu đă đành là chất độc nhưng đồng thời cũng là thứ thuốc trị bệnh tâm thần vậy!

Như đă tŕnh bày, đặc điểm của thơ thời Man.yô là cũng như thơ Đường, các tác giả xuất thân từ mọi tầng lớp trong xă hội. Họ có thể là vua quan, vợ lính thú, tăng ni, gái hát dạo hay ăn mày…Trong thời Tabito trấn nhậm ở phủ Dazai, có một cô hầu rượu vốn là gái hát dạo (ukareme, chữ Hán viết là du nữ hay phù nữ với nghĩa trôi dạt) trên Kojima, vốn được ông yêu dấu. Trong quyển thứ 6 có hai bài tanka cô làm ra. Dạo đó là tháng 11 năm Tenpyô thứ 2 (730), quan nguyên súy phủ Dazai là Ôtomo no Tabito được thăng Dainagon và sang tháng 12, phải về kinh nhậm chức. Lúc đó ông đă ở nhiệm sở hơn 4 năm. Ông coi vùng Tsukushi này như quê hương thứ hai rồi. Đây cũng là nơi vợ ông yên giấc ngh́n thu.

Chung quanh ông lúc đó có các bạn đồng liêu như Yamanoue no Okura chẳng hạn. Ông đă từng cùng với họ làm tiệc thưởng hoa, thăm đền miếu, dạo chơi sông hồ và làm thơ xướng họa. Vùng đất xa xôi này sở dĩ có được cuộc sống văn hóa phong phú là nhờ ở Tabito cả.   

Khi sắp sửa rời thành Mizuki (Thủy Thành, thành do Thiên hoàng Tenji đắp để đề pḥng quân giặc đến từ đại lục) lên ngựa hồi kinh, ông quay đầu nh́n lại đoàn người đưa tiễn, trong đám quan viên và thuộc hạ đó, có cô gái hát dạo Kojima. Bên bờ thành, giữa những cơn gió rét một ngày cuối năm, cô đă ngâm những vần sau đây:

6-965

Nguyên văn (dạng Manyô.gana)

凡有者左毛右毛将為乎 恐跡 振痛袖乎 忍而有香聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

おほならばかもかもせむを畏みと振りたき袖を忍びてあるかも

Phiên âm:

Ohonaraba / kamokamo semu wo / kashikomi to / furitaki sode wo / shinobite aru kamo /

Diễn ư:

Nếu như tướng công chỉ là kẻ thứ dân th́ thiếp có thể lên tiếng chào hỏi đàng hoàng và tiễn chân ngài lên đường một cách b́nh thường. Thiếp muốn như vậy mà nào có làm được đâu. Tướng công là bậc tôn quí nên thiếp phải ngại ngùng, đến đỗi không dám phất tay áo để chào từ giă ngài. Biết thân phận ḿnh, thiếp đành nhẫn nhục.

Tạm dịch thơ:

Phải chi là thường dân / Trong giây phút tiễn chân / Thiếp c̣n vẫy tay chào / Để tỏ ḷng quyến luyến / Nhưng thân ngài cao sang / Thiếp đành cam câm nín.

Khi qua Dainagon lên đường, tất cả các vị quan lớn quan nhỏ ở phủ Dazai đều kéo nhau đi đưa. Người con gái hát kia không dám có một hành động ǵ qua lộ liễu để xúc phạm đến oai danh của quan đại thần dù nàng biết chuyến đi này sẽ là cuộc chia tay vĩnh viễn bởi v́ ngày xưa đường đất khó khăn, tin tức không thông và quan đại thần tuổi đă cao. Tuy là thân con gái hát rong nhưng nếu được một vị đại thần cũng là văn nhân tao nhă đến từ kinh đô tuyển dụng, nhất định nàng phải là người có văn hóa chứ không thể là cô đào rượu tầm thường. Thái độ câm nín, biết ḱm hăm t́nh cảm ấy làm ta có thể hiểu được nhân cách của nàng.

Tuy nhiên, nàng có giữ măi được sự nhẫn nhục ấy măi được không? Thay câu trả lời, Kojima đă để lại bài tanka thứ hai như sau:

6-966:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

倭道者 雲隠有 雖然 余振袖乎 無礼登母布奈

Dạng huấn độc (đă chua âm):

大和道は雲隠りたりしかれども我が振る袖をなめしと思ふな

Phiên âm:

Yamatoji wa / kumo ga kuritari / shikaredomo / wa ga furu sode wo / nameshi to mofu na /

Diễn ư:

Con đường về xứ Yamato xa xôi mà tướng công đang đi, khuất sau màu mây trắng. H́nh bóng ngài và đoàn tùy tùng mỗi lúc một nhỏ dần. Thiếp đang đưa tay áo vẫy ngài đây nhưng xin đừng quay lại mắng thiếp là người vô lễ (nameshi to mofu na). Bởi v́ thiếp không c̣n dằn ḷng được nữa rồi.

Tạm dịch thơ:

Yamato xa xôi / Đường ngài đi mây tỏa / (Bóng người ngựa khuất rồi) / Thiếp vẫy tay từ giă / Chớ trách thiếp làm ǵ / Cầm ḷng sao được nữa!

Đứng nấp trong đám đông, người con hát đă hết sức dằn ḷng không dám bày tỏ t́nh cảm quyến luyến với đại thần Tabito. Nhưng khi ông đi thật xa rồi, nàng không cầm ḷng được nữa, mới đưa tay lên vẫy. Nàng chỉ mong ông đừng quay đầu lại để trách ḿnh đă có một hành động vô lễ. Tấm ḷng đơn sơ thành thực của cô gái thân phận thấp hèn thật đáng quí giá ngh́n lần so với những kẻ đầu môi chót lưỡi. Ta có thể h́nh dung như trong một bức tranh bóng dáng cô một ḿnh, gạt lệ nh́n theo đoàn người ngựa nhỏ dần.

Giai thoại văn chương không ngừng ở đó. Man.yôshuu, quyển 6, c̣n chép lại hai bài thơ họa của Tabito:

6-967:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

日本道乃吉備乃兒嶋乎 過而行者 筑紫乃子嶋 所念香聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

大和道の吉備の児島を過ぎて行かば筑紫の児島思ほえむかも

Phiên âm:

Yamatoji no / Kibi no Kojima wo / sugite yukaba / Tsukushi no Kojima / omoho emu kamo /

Diễn ư:

Trên con đường hồi kinh về phía Yamato, lúc ta đi ngang qua Kojima (Nhi Đảo) trong xứ Kibi (tỉnh Okayama bây giờ), chắc là ta sẽ nhớ đến người con gái tên Kojima (Tiểu Đảo) đất Tsukushi (Kyuushuu).

Tạm dịch thơ:

Yamato đường đi / Ngang qua xứ Kibi / Kojima nếu thấy / Ḷng ta sẽ nhớ về / Người đẹp mang tên ấy / C̣n ở Tsukushi.

Đây là một bài thơ thật trôi chảy của một nhà đại quí tộc quen với văn chương nhưng không v́ thế mà thiếu một chút t́nh cảm chân thực.Không như một chàng trai thề non hẹn biển, cương quyết không bao giờ quên người yêu, lăo thi nhân rất thành thực khi bảo rằng ḿnh sẽ nhớ lại người xưa khi đi ngang qua vùng biển gọi là Kojima ở Okayama, địa danh chỗ tiếp giáp giữa hai đảo lớn Honshuu và Shikoku. Tuy không phải là những lời bỏng cháy nhưng nếu Kojima đọc được, nàng sẽ cảm nhận được cái ấm áp và vững chăi trong t́nh cảm của Tabito.

6-968:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

大夫跡念在吾哉 水莖之 水城之上尓 泣将拭

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ますらをと思へる我れや水茎の水城の上に涙拭はむ

Phiên âm:

Masurao to / omoheru ware ya / mizukuki no / mizuki no uhe ni / namida no gohamu /

Diễn ư:

Tuy nghĩ ḿnh là thân trượng phu (masurao) tài kiêm văn vơ đấy nhưng sau khi sống ở Tsukushi nhiều năm, quen hơi bén tiếng, lúc ra đi để về cố hương, ḷng ḿnh không sao khỏi xót xa. Đứng trên bờ thành Mizuki, bất giác để cho ḍng lệ trào tuôn.

Tạm dịch thơ:

Sao ḿnh thân nam nhi / T́nh lại như nhi nữ ! / V́ thương Tsukushi / Chốn bao năm cư ngụ / Lên thành Mizuki / Lệ ḷng đem thấm áo.

Cũng trí dũng hơn người chứ nào phải nhi nữ thường t́nh mà lại để cho lệ đổ. Có hai Tabito : một của lư trí, một của t́nh cảm. Mới nh́n, tưởng như mâu thuẫn, nhưng đó chỉ là con người thực sự của tác giả. Nếu bài thơ đến tay Kojima th́ không biết nàng sẽ nhận ra tín hiệu ǵ?

 

Thơ t́nh và thơ thương khóc vợ của Tabito

3-438

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

愛人之纒而師 敷細之 吾手枕乎 纒人将有哉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

愛しき人のまきてし敷栲の我が手枕をまく人あらめや

Phiên âm:

Utsukushiki / hito no makiteshi / shikita e no / wa ga tamakura wo / makui to arame ya /

Diễn ư:

Cánh tay người vợ yêu của ta là cái gối đầu (êm ái) của ta. Có người nào khác lấy cánh tay cho ta làm gối để gối đầu đâu nhỉ? Phải, làm sao mà có được!

Utsukushi (đẹp) ở đây có nghĩa là itoshi (đáng yêu) như khi cha mẹ nói với con cái, vợ chồng nói với nhau. C̣n shikitae no (không dịch được, tạm hiểu là tấm vải trải giường) là makura kotoba (chữ gối đầu) dùng trang sức cho các từ makura (gối), tamoto (cánh tay áo từ vai tới khuỷu tay), sode (ống tay áo từ khuỷu tới cổ tay), toko (giường, phản).

Vợ Tabito là bà Ôtomo no Iratsume vừa theo ông đến nơi phó nhậm ở phủ Dazai, chẳng bao lâu th́ đầu mùa hạ năm ấy đă bỏ ḿnh nơi Kyuushuu đất khách. Lúc đó Tabito 64 tuổi và sắp xong 49 ngày của bà. Hai năm sau, khi hồi kinh để nhậm chức Dainagon, ông đă viết tiếp các bài 3-439 lần nữa nhắc đến cái gối cánh tay (temakura) và những bài thơ sau mang kư hiệu 3-440, 3-451, 3-455 than thở cảnh ở kinh đô nhà trống cô đơn, trên đường lữ hành nhà hoang gối cỏ (kusamakura), phải ngủ một ḿnh (hitorine) vv...

Tạm dịch thơ:

Cánh tay đẹp nơn nà / Ch́a cho ta làm gối / Hỡi vợ yêu của ta / Cái gối tay êm ả / Ai là người có thể / Không, không, ngoài em ra /

Như một sự t́nh cờ lư thú, ca dao Việt Nam đă có những câu sau đây chứng tỏ cái gần gũi trong sự mộc mạc của tâm hồn nhân loại:

Cổ tay em trắng lại tṛn,

Để cho ai gối đă ṃn một bên.

Gối chăn, gối chiếu không êm,

Gối lụa không mềm bằng gối tay em

3-446

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾妹子之見師鞆浦之 天木香樹者 常世有跡 見之人曽奈吉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我妹子が見し鞆の浦のむろの木は常世にあれど見し人ぞなき

Phiên âm:

Wagimo ni ga / mishi Tomo no ura no / muro no ki wa / tokoyo ni aredo /mishi hito zo naki /

Diễn ư:

Cây đổ tùng (nezu, muro no ki) mà vợ ta và ta xưa kia thấy ở bến Tomo no ura nay vẫn c̣n nguyên đó nhưng, vợ ta, người nh́n cây tùng đó th́ đâu c̣n ở trên đời nữa.

Tabito làm bài thơ này trên con đường hồi kinh, một ḿnh cô đơn. Ông đă viết 3 bài khi ngang qua bến Tomo no ura, 2 bài khi qua mũi biển Minume no saki và 3 bài khi về đến nhà ở kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Cành đổ tùng cùng ngắm / Tomo no ura / Bến ấy cây c̣n đứng / Nào khác cảnh ngày xưa / Người bên ta một vắng / (Thương tiếc mấy cho vừa!)

3-449

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

与妹来之敏馬能埼乎 還左尓 獨<>見者 涕具末之毛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

妹と来し敏馬の崎を帰るさにひとりし見れば涙ぐましも

Phiên âm:

Imoto koshi / Minume no saki wo / kaeru sa ni / hitori shimireba / namita gumashi mo /

Diễn ư:

Lúc đi, vợ ta và ta từng cùng nhau qua mũi đất Minume no saki này nhưng trên đường về chỉ c̣n mỗi một ḿnh ta. Nh́n cảnh vật làm sao không sụt sùi đổ lệ?

Tạm dịch thơ:

Lần đi, hai đứa ghé / Mũi đất Minume / Một thân ngày trở lại / Làm ǵ chẳng tái tê / Cảnh cũ người nay vắng / Suối lệ bỗng tràn trề!

3-453

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾妹子之殖之梅樹 毎見 情咽都追 涕之流

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我妹子が植ゑし梅の木見るごとに心咽せつつ涙し流る

Phiên âm:

Wagimoko ga / ueshi ume no ki / mirugoto ni / kokoro musetsutsu / namitashinagaru /

Diễn ư:

Mỗi lần ta nh́n cây mơ vợ ta trồng trong vườn, ta cảm thấy cảm khái đầy ḷng và nước mắt đoanh tṛng, kh ông sao cầm lại.

Thiên nhiên vẫn c̣n đó nhưng cây đỗ tùng ở Tono no ura, hoa mơ trong vườn nhà hay mũi đất Minume no saki... đều thờ ơ lănh đạm với sự khuất vắng của người ḿnh yêu thương.

Tạm dịch thơ:

Năm nay khi qua vườn / Nh́n cây mơ em trồng / Ḷng bỗng dưng nghèn nghẹn / Nước mắt cũng đoanh tṛng / (Hỡi người vợ yêu dấu / Mùa mơ lại vắng em ) /

 

Tiết II: Thơ Yamanoue no Okura山上憶良:

Yamanoue no Okura là thi nhân thuộc giai đoạn thứ 3 thời kỳ chính của Man.yô ( phân biệt với thời tiền Man.yô mà bộ phận chủ yếu là ca dao và thơ cung đ́nh cổ đại). Giai đoạn này tương ứng với buổi đầu triều đại Nara, lúc mà lớp nhà thơ có cá tính như Yamabe no Akahito, Ôtomo no Tabito, Takahashi no Mushimaro..lần lượt xuất hiện và hoạt động mạnh mẽ trong lănh vực của ḿnh.

Riêng về thân thế Okura, gần đây có nhiều chứng cứ cho biết ông xuất thân là người Triều Tiên hay ít nhất đă sinh trưởng và sống thời thơ ấu trên bán đảo. Tuy hai nữ giáo sư Uemura và Sakaguchi không đả động đến điều đó nhưng các ông Levy Hideo và Nakanishi Susumu đều xác quyết như thế. Levy Hideo c̣n gọi ông là nhà văn (thơ) ngoại quốc đầu tiên của Nhật Bản.Ta sẽ trở lại vấn đề này trong chương 7 phần nói về vai tṛ của sử học trong Vạn Diệp Học.

Thường thường, mỗi thiên hoàng khi lên ngôi thường có lệ dời đô. Thế nhưng đến triều đại Nara th́ do nhiều lư do, các vị vua không thực hiện được điều đó. Nara v́ vậy trở thành một kinh đố cố định trong khoảng thời gian dài.Điều này cho phép một nền văn hóa mang tên nó thành h́nh và xác định được chỗ đứng.

Từ đầu đời Nara cho đến niên hiệu Tenpyô, cùng với sự biên soạn các bộ sử như Kojiki và Nihon Shoki, người ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những ǵ gọi là truyền thống. Mặt khác, nhờ giai cấp lănh đạo dốc ḷng tin vào đạo Phật (đốc kính tam bảo) cho nên tôn giáo này trở nên hưng thịnh và tư tưởng nhà Phật lần hồi đă thẩm thấu trong các tầng lớp dân chúng. Hơn nữa, thông tin gặt hái được từ các chuyến đi sứ sang nhà Đường (遣唐使 khiển Đường sứ) đem về đă giúp cho tư tưởng Nho giáo đại lục xưa bị giới hạn nay đă lan rộng ra trong dân gian. Đó là chưa kể tư tưởng thần tiên, một bộ phận của tư tưởng Lăo Trang, cũng hấp dẫn một số người thuộc lớp thường dân. Như thế, trong giai đoạn này, tư tưởng bản địa và tư tưởng ngoại lai đă song hành để cho sinh hoạt tinh thần của dân tộc Nhật được phong phú và đa dạng thêm lên.

Về cuộc đời của Yamanoue no Okura th́ có nhiều chi tiết được biết đến hơn là các ông Hitomaro, Mushimaro hay Kurohito. Okura sinh khoảng năm thứ 6 đời nữ Thiên hoàng Saimei (660) năm 42 tuổi đă được bổ vào chức kư lục trong sứ bộ sang nhà Đường. Sau khi về nước, ông được bổ làm một chức quan ṭng ngũ phẩm và chẳng bao lâu, đi trấn thủ ở địa phương. Sau đó, ông được phong làm thầy học (thị giảng) cho Đông Cung (tức Thiên hoàng Shômu về sau). Ông lại xuống địa phương Kyushuu giữ chức trấn thủ (quan đầu tỉnh) đất Chikuzen (nhân đó biết và chơi thân với Ôtomo no Tabito). Ông mất năm nào không rơ nhưng tác phẩm cuối cùng của ông đă được làm ra vào năm Tenpyô thứ 5 (733) và không c̣n nghe nói về ông nữa. Có lẽ ông mất chẳng bao lâu sau đó và có thể hưởng thọ khoảng 74 tuổi.

V́ có tháp tùng sứ bộ sang nhà Đường nên Okura thông hiểu Nho giáo, nói chung tư tưởng của ông nhuốm màu sắc ngoại lai nhưng căn bản của nó vẫn là tinh thần truyền thống dân tộc mà ông nắm khá vững. Ông là một nhân vật trong sạch và hiền đức, hiếu kính với cha mẹ, đậm đà t́nh vợ chồng và t́nh phụ tử. Từ t́nh gia tộc này sẽ mở rộng ra thành t́nh tương thân đối với người lân cận và xă hội, nhân quần.

Cảm hứng thơ Okura đến từ cuộc sống của gia đ́nh ḿnh sau đến từ xă hội chung quanh nhưng không phải lúc nào cũng là những cảnh tượng vui tươi trong sáng. Ông cũng đề cập đến những chủ đề tối tăm và khổ năo của con người hơn như lăo, bệnh, bần, tử. Nếu như Hitomaro và Akahito chỉ ca tụng cái mỹ và là những con người theo lư tưởng chủ nghĩa, Okura đi t́m sự chân thực thấy trong sinh hoạt hằng ngày và miêu tả nó. Do đó, ông nén không dùng những kỹ xảo tu từ như gối thơ, chữ giáo đầu, đối cú, đối ngẫu, âm luật …thường thấy nơi Hitomaro vốn tạo ra được một phong cách thi ca diễm lệ và nhịp nhàng. Không khổ công đẽo gọt như nhà thơ tiền bối, thơ Okura hầu như không theo một kỹ pháp nào cả, ngược lại, tỏ ra chân chỉ trong việc đào sâu về mặt nội dung.

Thơ ông đa dạng, đă để lại 10 chôka, 60 tanka và 1 sedôka nhưng có vẻ rành về chôka hơn cả. V́ khuyết điểm của chôka là dông dài, ông đi t́m sự biến hóa bên trong bằng cách ngắt chúng là thành một, hai đoạn nhỏ, như thế, đề nghị một h́nh thức chôka mới và đă khá thành công về mặt đó.

Yamanoue no Okura cũng như Ôtomo no Tabito, là một thi nhân có khuynh hướng tiến bộ lấy cuộc sống con người làm chủ đề và là một nhà thơ có sắc thái đặc dị của giai đoạn thứ ba thời Man.yô. Tương truyền ông có biên tập Ruijuu Karin (Loại tụ ca lâm, 7 quyển) tức những bài thơ có chủ đề tương tự, nhưng ngày nay không t́m ra.

5-802

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

[宇利<><米婆> 胡藤母意母保由 久利波米婆麻斯提斯農波由 伊豆久欲利 枳多利斯物能曽 麻奈迦比尓 母等奈可可利提 夜周伊斯奈佐農

Dạng huấn độc (đă chua âm):

瓜食めば子ども思ほゆ 栗食めば まして偲はゆ いづくより 来りしものぞ まなかひに もとなかかりて 安寐し寝なさぬ

Phiên âm:

Uri hameba / kodomo omohoyu / kuri hameba / mashite shinuhayu / izuku yori / kitarishi mono zo / manakahini / motona kakarite / yasui shinasanu /

Diễn ư:

Khi ăn quả dưa ngọt, ta nghĩ đến đứa con yêu và muốn cho con nó ăn. Khi có món ngon hơn nữa như hạt dẻ, ta lại càng nhớ đến con ta, và cũng muốn nó được thưởng thức. Ôi, h́nh ảnh đứa con kia ở đâu mà lúc nào cũng hiện ra như thế nhỉ? Ban đêm nó vẫn lảng vảng trước mắt, khiến ta không sao ngủ cho ngon giấc.

Tạm dịch thơ:

Khi cắn miếng dưa ngọt / Ta nghĩ đến con yêu / Vị hạt dẻ thơm ngon / Xui ḷng nhớ con nhiều / Ôi con là ǵ vậy? / Mà ám ảnh ta hoài / Đêm khuya thao thức măi / H́nh bóng trẻ không phai. 

Yamanoue no Okura khi đi trấn nhậm ở vùng Chikuzen trên đảo Kyuushuu xa xôi, đă nhớ đến đứa con yêu của ông và vịnh về t́nh phụ tử. Trong lời tựa của bài này, có chỗ nói Phật Thích Ca cũng thương tất cả chúng sinh như ngài thương La Hầu La, con trai ḿnh. Bậc thánh nhân c̣n có t́nh phụ tử huống chi con người. Đây là một bài thơ nhớ con khi đang ở xa.

 

5-803

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

銀母金母玉母 奈尓世武尓 麻佐礼留多可良 古尓斯迦米夜母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

銀も金も玉も何せむにまされる宝子にしかめやも

Phiên âm

Shirogane mo / kugane mo tamano / nanisemu ni / masareru takara / ko ni shika me ya mo /

Diễn ư:

Cho dù vàng bạc châu báu là những của cải nhưng chúng dùng dược vào việc ǵ? Trong khi ấy, con cái mới thực là vật đáng quí!

Tạm dịch thơ:

Dẫu là vàng là bạc / Hay châu báu trên đời / Mang tiếng của cải đấy / Hỏi ích ǵ cho ai / Nếu đem ra so sánh / Với con cái loài người /.  

Đây là một bài hanka mà Okura đă viết ra để nói thay cho những tấm ḷng cha mẹ xưa nay. Trong số các thi nhân thời đó, không phải là không có người đề cập đến những chủ đề có nội dung quan niệm hay tư tưởng. Thế nhưng nói được một ư tầm thường mà ai cũng có thể cảm thấy th́ chỉ có Okura. Ông không miêu tả một hiện thực như trong bài chôka trước (có dưa, có hạt dẻ và những đêm mất ngủ) mà chỉ đưa lên một ư tưởng trừu tượng. Ông xem tấm ḷng thương yêu giữa cha mẹ và con cái c̣n quí hơn bao nhiêu châu báu, vàng bạc trên đời. T́nh mẫu tử đă có nhiều nhà thơ nói tới nhưng t́nh phụ tử chắc ít được nhắc. Đây cũng là một điều mới lạ khám phá ra nơi Okura. Ngay cả ở Tây phương cũng hiếm thấy. Giáo sư Uemura Etsuko có nhắc đến một tác phẩm của Balzac nhan đề Ông lăo Goriot nói về t́nh thương của một người cha đối với hai cô con gái, v́ lo cho hạnh phúc của họ mà hy sinh cả chính thân ḿnh.

5-892

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

風雜雨布流欲乃 雨雜 雪布流欲波 為部母奈久 寒之安礼婆 堅塩乎 取都豆之呂比 糟湯酒 宇知須々呂比弖 之<>夫可比鼻i之i之尓 志可登阿良農 比宜可伎撫而 安礼乎於伎弖 人者安良自等 富己呂倍騰 寒之安礼婆 麻被 引可賀布利 布可多衣 安里能許等其等 伎曽倍騰毛 寒夜須良乎和礼欲利母 貧人乃 父母波 飢寒良牟 妻子等波 乞々泣良牟 此時者 伊可尓之都々可 汝代者和多流 天地者 比呂之等伊倍杼 安我多米波 狭也奈里奴流 日月波 安可之等伊倍騰安我多米波 照哉多麻波奴 人皆可 吾耳也之可流 和久良婆尓 比等々波安流乎 比等奈美尓 安礼母作乎 綿毛奈伎 布可多衣乃 美留乃其等 和々氣佐我礼流 可々布能尾肩尓打懸 布勢伊保能 麻宜伊保乃内尓 直土尓 藁解敷而 父母波 枕乃可多尓 妻子等母波 足乃方尓 圍居而 憂吟 可麻度柔播 火氣布伎多弖受 許之伎尓波 久毛能須可伎弖飯炊 事毛和須礼提 奴延鳥乃 能杼与比居尓 伊等乃伎提 短物乎 端伎流等 云之如 楚取 五十戸良我許恵波 寝屋度麻R 来立呼比奴 可久<>可里須部奈伎物能可 世間乃道

Dạng huấn độc (đă chua âm):

風交り雨降る夜の 雨交り 雪降る夜は すべもなく 寒くしあれば 堅塩を とりつづしろひ 糟湯酒 うちすすろひて しはぶかひ 鼻びしびしに しかとあらぬ ひげ掻き撫でて我れをおきて 人はあらじと 誇ろへど 寒くしあれば 麻衾 引き被り 布肩衣 ありのことごと 着襲へども 寒き夜すらを 我れよりも 貧しき人の 父母は 飢ゑ凍ゆらむ妻子どもは 乞ふ乞ふ泣くらむ この時は いかにしつつか 汝が世は渡る 天地は 広しといへど 我がためは 狭くやなりぬる 日月は 明しといへど 我がためは 照りやたまはぬ人皆か 我のみやしかる わくらばに 人とはあるを 人並に 我れも作るを 綿もなき 布肩衣の 海松のごと わわけさがれる かかふのみ 肩にうち掛け 伏廬の 曲廬の内に直土に 藁解き敷きて 父母は 枕の方に 妻子どもは 足の方に 囲み居て 憂へさまよひ かまどには 火気吹き立てず 甑には 蜘蛛の巣かきて 飯炊く ことも忘れてぬえ鳥の のどよひ居るに いとのきて 短き物を 端切ると いへるがごとく しもと取る 里長が声は 寝屋処まで 来立ち呼ばひぬ かくばかり すべなきものか 世間の道

Phiên âm:

Kaze majiri / ame furu yo no / ame majiri / yuki furu yo wa / sube mo naku / samuku shiareba / kata shiho wo / toritsuzushirohi / kasuyuzake / uchisusurohite / shihabukahi / hana bishibishi ni / shikato aranu / hige kakinadete /are wo akite / hito wa araji to / hokorohedo / samuku shiareba / asabusuma / hikika ga furi / nuno kata kinu / arinokotogoto / kisohedomo / samukiyo sura wo / ware yori mo / mazushiki no / chichihaha wa / uwe koyuramu / mekodomo wa / kohite naku ramu / kono toki wa / ikani shitsutsuka / nagayo wa wataru /

Ametsuchi wa / hiroshito iedo / a ga tame wa / saku yanari nuru / hitsuki wa / akashi to iedo / a ga tame wa / teriya tamawanu / hito mina ka / are no mi yashikaru / wakuraba ni / hito to wa aru wo / hitonami ni / ware mo nareru wo / wata mo naki / nunokataginu no / miru no goto / wawa kesagareru /kakafu nomi / kata ni uchikake / fuse iho no / mage iho no uchi ni / hitatsuchi ni / wara tokishikite / chichihaha wa / makura no kata ni / mekodomo wa / ato no kata ni / kaku miru te / urehe samayohi / kamado ni wa / hoke fuki tatezu / koshiki ni wa / kumo no su kakite / ihi kashiku / koto mo wasurete / nuedori no / nodo yohi oru ni / itonokite / mijikaki mono wo / hashikiru to / iheru ga gotoku / shimo to toru / satoosa ga koe wa / neyado made / kitachi yobahinu / kaku bakari / sube naki mono ka / yo no naka no michi /

Diễn ư:

(Câu hỏi của người nghèo): Trong một đêm mưa gió tơi bời, chẳng những thế tuyết c̣n rơi lẫn vào trong mưa, lạnh lẽo đến nổi không làm ǵ được, ta chỉ biết lấy dăm hạt muối đen cứng nhắc ra liếm, nhấm nháp với mấy ngụm nước chắt từ bă rượu. Miệng th́ ho sù sụ c̣n mũi cứ sụt sà sụt sịt. Đưa tay lên găi mấy sợi râu cằm lún phún, nh́n quanh lấy làm tự hào, chắc chỉ có ḿnh mới là người đang ở trong cảnh thế này thôi. Tuy nhiên v́ quá giá rét khiến người run lập cập, đành lấy ít quần áo ngủ bằng vải thô trùm lên người và thêm manh áo khoác không ống tay để t́m chút hơi ấm. Thế mà lạnh vẫn hoàn lạnh. Nghĩ đến cha mẹ già của những gia đ́nh nghèo khổ hơn ta đang gặp cảnh rét mướt và đói khát, tội nghiệp cho họ biết đến chừng nào. Lại nỗi vợ dại con thơ đang réo khóc đ̣i miếng ăn nữa chứ! Nếu gặp hoàn cảnh như thế, làm sao sống? Có ai trả lời được ta nghe!  

(Câu trả lời của người cùng khổ): Trời đất tuy ai cũng nói là rộng răi bao la nhưng lại qua đổi chật hẹp đối với tôi. Mặt trời mặt trăng tuy sáng đấy nhưng có bao giờ chiếu đến chỗ tôi đâu. Xin hỏi ai cũng bị như thế hay chỉ có mỗi ḿnh tôi là sống trong cảnh chật chội, tối tăm, nặng nhọc. Được sinh ra làm người, có chân có tay tôi những muốn lao động như mọi người, thế mà sao trên vai chỉ có mỗi một manh áo thô, xác xơ như cây tùng biển bị gió đánh, thật không đủ ấm (cái mặc). Trong túp lều con thấp lè tè, cột kèo xiêu vẹo, trên mặt đất chỉ trải có ít rơm rạ, cha mẹ th́ nằm đằng đầu, vợ con nằm dưới chân, ḿnh ở giữa, chụm vào nhau mà than khóc (cái ở). Trong bếp không ngọn khói, thạp gạo th́ nhện giăng. Cách nấu cơm ra sao cũng đă quên (cái ăn). Khi cất tiếng than thở th́ đúng như trong ngạn ngữ người ta nói:”Vật đă ngắn c̣n đi cắt bớt đầu cắt bớt đuôi”, (đă khốn khổ như thế này sao c̣n đem d́m xuống đất đen), ông lư trưởng (satoosa) lại vác roi tới tận chỗ nằm quấy quả. Cuộc sống lao khổ như thế, tôi biết làm sao đây?

Tạm dịch thơ:

Trời mưa gió tơi bời / Tuyết lẫn với mưa rơi / Chắt nước từ bă rượu / Nhắm với muối đen thôi / Miệng ta ho sù sụ / Mũi sụt sịt liên hồi / Sờ cằm lâu lún phún / Lạ cho cái thằng tôi / Giá rét, run cầm cập / Quấn vội manh vải gai / Trùm thêm áo khoác ngắn / Cho đỡ lạnh đêm dài / Rét dẫu chưa hết rét / Nhưng c̣n sướng hơn ai / Những người nghèo cùng cực / Cha mẹ già, sao đây? / Con thơ và vợ dại / Kêu réo miếng ăn hoài / Làm ǵ cho bớt khổ ? / Thử trả lời ta hay!   

Trời đất tuy bao la / Đối với ta chật hẹp / Nhật nguyệt sáng cho người / Tối tăm tôi một kiếp / Xin hỏi cảnh khốn khổ / Có phải một ḿnh thôi? / Được sinh ra làm người / Cũng muốn gánh việc đời / Mà thân tùng tơi tả / Manh áo rách trên vai / Ở trong lều thấp bé / Cột đổ với tường xiêu / Trải rơm ra làm chiếu / Chen chúc khổ bao nhiêu / Trong bếp nào có khói / Khạp gạo nhện giăng nhiều / Cơm nước là chuyện cũ / Ḿnh quên bẵng từ lâu / Thế mà vẫn chưa hết / (Sưu thuế c̣n ngập đầu) / Lư trưởng vác roi đến / Nào đă thứ cho đâu!

Bài thơ này gồm 82 câu làm theo thể vấn đáp (問答体 mondôtai) Kẻ hỏi là người có học thức và chí khí nhưng gặp hoàn cảnh chính trị bất lợi, không gặp thời, đành phải bó tay. Vế trên nói chung là lời phát biểu của một ẩn sĩ thanh bần. Vế dưới là câu trả lời của một người chủ gia đ́nh có cha mẹ già yếu, vợ con nheo nhóc, không công ăn việc làm (ban ngày ban mặt mà cả nhà nằm lăn ra ngủ). Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà cửa xiêu vẹo, điều kiện sinh sống (y, thực, trú) như thế là quá tệ. Nhưng nào đă thôi đâu, anh ta c̣n bị chức sắc xă thôn mang roi đến gọi hối thúc lao động, đóng thuế hay đi sưu dịch nữa chứ.

Thời ấy, người Nhật đă bắt đầu nhập cảng vật dụng từ đại lục. Ở các địa phương, đầu lĩnh các thị tộc hay đại quí tộc thường câu kết với quan chức sở tại sách nhiễu bóc lột dân đen. Do đó sự chênh lệch giữa người giàu và kẻ nghèo càng khơi rộng. Giới giàu có sống trong nhung lụa trong khi lớp b́nh dân chỉ có gai đay, mùa đông lạnh lẽo đến, họ rất cực khổ v́ không đủ ấm.

Nhà thơ Yamanoue no Okura đă viết lên những vần thơ này qua những ǵ bản thân ông đă quan sát tận mắt. Buổi văn niên, ông được bổ ra làm một chức kokushi 国司 [2] ở địa phương cho nên hiểu được t́nh cảnh người dân. Hai nhân vật trong bài thơ tượng trưng cho 2 hạng người: quan lại thanh liêm cao khiết như Okura và những người dân mà ông cai trị hồi ở Chikuzen và Hôki. Một ông quan nghèo tỏ ra đồng t́nh với những thường thường dân cực kỳ khốn khổ mà so với họ, cuộc sống của một vị quan nghèo như ông c̣n sung sướng hơn nhiều. Qua bài thơ, ta nhận ra được t́nh cảm thương người cḥm xóm, thương dân, thương đời của tác giả.

Thế nhưng theo giáo sư Uemura Etsuko, ta cũng không khỏi thấy thái độ của nhà thơ chỉ là tiêu cực v́ ông chi mô tả thảm cảnh và ta thán chứ không tích cực nêu lên những sửa đổi ǵ mà ở địa vị kokushi, ông có thể làm để tích cực cứu giúp dân chúng cả. Cũng cùng có tư tưởng xă hội nhưng theo giáo sư Uemura Etsuko, th́ bên cạnh những Ressurection (Hồi sinh) của Leo Tolstoy hay Les Misérables (Những kẻ khốn cùng) của Victor Hugo, thơ của Okura hăy c̣n thiêu thiếu một cái ǵ.

Trong bài thơ dài 82 câu này, ngoài gối thơ (makura kotoba) là nuedori no (tiếng chim kêu chiêm chiếp yếu ớt ví với tiếng kêu than) đặt ở gần cuối bài và vài chỗ có đối ngẫu, hầu như không thấy kỹ xảo tu từ nào. Hơn nữa, lối cắt một chôka ra làm 2 đoạn theo kiểu vấn đáp là một điều mới mẽ, có lẽ cảm hứng từ thể đối đáp trong ca dao cổ đại. Cách miêu tả của ông cũng rất gợi h́nh, gây được ấn tượng, từ hạt muối đen cứng, nước bă rượu, manh áo tơi tả như thân cây tùng bị gió giật, cho đến trải rơm làm chiếu, râu cằm lún phún...để nói lên cảnh sống cơ cực.

Có thể nói bài thơ này của Okura là một bài nổi tiếng trong Man.yôshuu nói riêng và cả của thể loại waka nói chung.

5-893

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

世間乎宇之等夜佐之等 於母倍杼母 飛立可祢都 鳥尓之安良祢婆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

世間を憂しとやさしと思へども飛び立ちかねつ鳥にしあらねば

Phiên âm:

Yo no naka wo / ushi to yasashi to / omohedomo / tobitachikanetsu / tori ni shiaraneba

Diễn ư:

Cơi đời này đúng là một chốn đầy những khổ đau. Tuy cảm thấy tận đáy ḷng kiếp sống của ḿnh là tủi nhục nhưng không làm sao rứt bỏ nó mà đi được. Ḿnh nào có cánh như chim đâu!

Tạm dịch thơ:

Cuộc đời đầy khổ hận / Bao chuyện làm tủi thân / Ḷng không nguôi ray rứt / (Nhưng đành phải lặng câm) / Làm sao bay thoát được / Nào có cánh như chim.

Từ yasashi không có nghĩa là sự dễ chịu hay dễ dàng như cách hiểu của người đời nay. Trong cổ văn, nó đồng nghĩa với sự xấu hổ (hazukashi). Đây là một bài hanka nên nhẹ nhàng và có chút hài hước (như trong câu cuối) và không cần phải thâm trầm sâu sắc như bài chôka 5-892 đi trước nó.

Tiếp đến là 2 bài tanka 5-900 và 5-901, Okura cũng dùng đề tài cảnh nghèo tuy không phải thuộc loại hanka của bài chôka vấn đáp về cái nghèo đă nói đến bên trên. Chúng là 2 trong 7 bài thơ của Okura với lời chú thích: “trong cảnh tân khổ v́ thân già bệnh hoạn, nghĩ đến chuyện con cái”.

5-900

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

富人能家能子等能 伎留身奈美 久多志須都良牟 こ綿良波母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

富人の家の子どもの着る身なみ腐し捨つらむ絹綿らはも

Phiên âm:

Tomibito no / ie no kodomo no / kiru mi nami / kutashi sutsuramu / kinu watara wa mo / 

Diễn ư:

Trong nhà kẻ có của, áo xống chất đầy dẫy nhưng không có một bóng trẻ con để mặc. Tất cả vải vóc gấm lụa đó để trong tủ áo đến mục nát. Thật đáng tiếc làm sao v́ trong khi đó, con anh nhà nghèo lại khóc v́ không có manh áo che thân.

Tạm dịch thơ:

Nhà giàu đầy áo xống / Con cái thời lại không / Lụa là mục trong tủ / Thật đáng tiếc vô ngần / Con nhà nghèo th́ khóc / Không mảnh vải che thân!

Trong câu Kinuwatara wa mo th́ âm ra (những thứ) được dùng như tiếp vĩ ngữ của kinuwata (vải lụa) trong khi wa và mo là 2 tán thán từ. Tác giả đă đặt hai cảnh ngộ đối lập bên nhau để so sánh.

5-901

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

麁妙能布衣遠陀尓 伎世難尓 可久夜歎敢 世牟周弊遠奈美

Dạng huấn độc (đă chua âm):

荒栲の布衣をだに着せかてにかくや嘆かむ為むすべをなみ

Phiên âm:

Aratahe no / nuno kinu wo dani / kisekate ni / kakuya nage kamu / semusube wo nami

Diễn ư:

V́ ngay cả manh áo vải thô (aratahe) cũng không có để cho con mặc, không có cách nào hơn, chỉ biết cất tiếng than thôi sao. Trong khi những kẻ giàu sang lại cất kỹ áo xống v́ không có việc dùng.

Tạm dịch thơ:

Manh áo thô cũng không / Lấy đâu cho con mặc / Chẳng lẽ ngồi thở than / V́ đâu c̣n cách khác / (Ḱa những chốn giàu sang / Áo không dùng đem cất).

Trong bài Urihameta (5-802) nói về nỗi nhớ thương con khi cắn một miếng dưa ngọt, Okura có cho rằng con cái c̣n quí hơn mọi thứ của cải trên đời. Thế nhưng con người yêu con như ông gặp một cảnh hết sức đau ḷng là cậu con trai tên Furui, đă lâm bệnh và mất đột ngột. Dĩ nhiên là h́nh ảnh của người con yêu măi măi ám ảnh ông, nỗi tiếc thương to lớn biết ngần nào. Ông đă viết một bài chôka (5-904) gói ghém tất cả uất ức nghẹn ngào và sau đây là 2 bài hanka theo sau đó (5-905 và 5-906):

5-905

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

和可家礼婆道行之良士 末比波世武 之多敝乃使 於比弖登保良世

Dạng huấn độc (đă chua âm):

若ければ道行き知らじ賄はせむ黄泉の使負ひて通らせ

Phiên âm:

Wakakereba / michiyuki shiraji / mahi wa semu / shitabe no tsukai / ohite tohorase 

Diễn ư:

Đứa con yêu dấu của ta (cháu Furui) hăy c̣n bé bỏng, đâu đă biết đường đi nước bước để về chốn suối vàng. (Dĩ nhiên là con đường đó thế nào th́ bất luận già trẻ nào có ai biết được, nhưng khi nói như vậy, ta chỉ muốn bày tỏ tấm ḷng của một người cha mà thôi). Bước chân cháu hăy c̣n non yếu, hỡi người dẫn đường dưới cơi âm ơi, tôi sẽ xin đền ơn ông nếu ông cơng cháu đi hộ tôi.

Tạm dịch thơ:

Con ta c̣n bé bỏng / Thơ dại đă biết ǵ / Suối vàng xa vời vợi /Chân nhỏ làm sao đi / Hỡi người giữ âm ty / Xin cơng giùm đến chốn.

Bài thơ này không có chút lư luận ǵ trong đó, chỉ hoàn toàn t́nh cảm. Lời thơ chất phác, diễn tả được tấm chân t́nh của một người cha.

5-906

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

布施於吉弖吾波許比能武 阿射無加受 多太尓率去弖 阿麻治思良之米

Dạng huấn độc (đă chua âm):

布施置きて我れは祈ひ祷むあざむかず直に率行きて天道知らしめ

Phiên âm:

Fuse okite / ware wa kohikomu / azamukazu / tadani wiyukite / Araji shirashime

Diễn ư:

Đây là chút quà lễ, dâng lên để cầu khẩn ngài. Xin đừng lừa dối đưa con tôi về địa ngục nhưng hăy chỉ cho nó một con đường để có thể lên thẳng thượng giới.

Tạm dịch thơ:

Xin dâng lễ cúng này / Tỏ chút ḷng thành thực / Đừng lừa dối tôi chi / Bắt cháu về địa ngục / Xin chỉ nó nẽo đường / Thẳng lên miền thượng phúc /.

Sau đây là một bài thơ được xem như bằng chứng cho ta thấy Yamanoue no Okura thực sự là người thương vợ thương con. Giữa buổi tiệc vui, ông đă xin phép ra về nửa chừng v́ nghỉ đến gia đ́nh. Lời thơ không thiếu sự hài hước và hết sức chân t́nh:

3-337

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

憶良等者今者将罷 子将哭 其彼母毛 吾乎将待曽

Dạng huấn độc (đă chua âm):

憶良らは今は罷らむ子泣くらむそれその母も我を待つらむぞ

Phiên âm:

Okurara wa / ima wa makaramu (ran) / ko nakuramu (ran) / sore sono haha mo / wa ga matsuramu (ran) yo /

Diễn ư:

Cho phép Okura tôi về trước nhé, các cụ! Lúc này bọn con nít ở nhà đang khóc ré. Hơn nữa, mẹ chúng nó cũng đang ngóng tôi đấy.

Ông không chỉ đích danh “vợ tôi” mà chỉ nói “má bầy trẻ” (sono haha) , mẹ của mấy đứa con thôi! Về bản thân, ông tự gọi Okurara có nghĩa là “tên Okura này”, ư khiêm xưng. Trong Man.yôshuu, dùng ngôi thứ ba để nói về ḿnh, tính ra chỉ có Ôtomo no Tabito và Okura. Hai ông cùng với Sami Manzei và Ôno no Oyu là những nhân vật chính của thi đàn Tsukushi trên đảo Kyuushuu.

Tạm dịch thơ:

Okura kiếu nhé ! / Các cụ thứ cho nghe / (Đang vui mà bỏ cuộc / V́ chuyện nhà lề mề ) / Lũ con đang khóc ré / Mẹ chúng ngóng chồng về /

Bên cạnh Yamanoue no Okura, một nhà thơ có màu sắc xă hội và đào sâu t́nh cảm nhân quần, ta lại có Yamabe no Akahito, một con người yêu chuộng cái mỹ mà ông chỉ t́m thấy giữa thiên nhiên.

Yamabe no Akahito  (Nguồn Wikipedia)

 

Tiết III: Thơ Yamabe no Akahito山部赤人          

Thời đó người ta thường dùng chữ Sanshi no mon (Sơn Thị chi môn) để nói về hai nhà thơ Kakinomoto no Hitomaro (Thị) và Yamabe no Akahito (Sơn) (dù cũng có thuyết cho rằng Sơn là Yamanoue Okura) th́ mới thấy Akahito cũng có một vị trí rất cao trong làng thơ. Tuy tiểu sử của ông không mấy rơ ràng nhưng h́nh như ông cũng chỉ là một chức quan nhỏ buổi đầu đời Heian như hai ông Kakinomoto và Okura.

Nếu theo dấu các tác phẩm của ông mà suy ra th́ Yamabe no Akahito (700?-736?) đă từng làm những cuộc hành tŕnh như đi măi tận miền đông xa xôi để ngắm ngọn núi thiêng ở Suruga (nay thuộc Shizuoka), đến Katsushika (Tôkyô, Chiba) thăm mộ người đẹp trong truyền thuyết là nàng Mama no Tekona, về hướng tây th́ đặt chân lên vùng suối nước nóng Iyo (Ehime). Năm 724, có tới Kii, năm 734 đến Nanba (Ôsaka), năm 736 tháp tùng cuộc ngự du của thiên hoàng ở Yoshino (Nara), sau đó đến vùng Inami Inume (Kobe) vv…Ông sống sau Hitomaro một ít lâu, có thể xem như thi nhân thuộc giai đoạn thứ 3 của thời Man.yô.  

Ông để lại 37 bài tanka, ngoài 3 bài thuộc thể loại banka, phần c̣n lại là zôka.Không có lấy một bài sômonka. Đề tài của ông hầu như chỉ thu gọn chung quanh việc ca tụng cảnh sắc thiên nhiên. Ông đă nh́n và thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên một cách trầm tĩnh và tŕnh bày với một bút pháp hoàn toàn khách quan, triệt để tách ḿnh ra khỏi sự thương cảm có tính trữ t́nh thường thấy nơi những nhà thơ khác khi nói về thiên nhiên. Riêng sự khác nhau cơ bản này giúp ta phân biệt được ông với Hitomaro. Cái mà Akahito đi t́m như đối tượng nghệ thuật là cái đẹp và cái đẹp ấy, ông chỉ thấy ở trong thiên nhiên mà thôi. 

Có thể nói Akihito có bút pháp độc đáo, không ai có thể bắt chước. Ông biết nắm bắt thiên nhiên một cách bén nhạy, diễn tả đối tượng khách quan, như là cảnh thực. Lời thơ của ông rất giản dị, gọn ghẽ và thuần khiết. Thiên nhiên mà ông miêu tả do đó cũng trong trẻo, sáng sủa, tĩnh lặng. Ít thấy có người nào yêu thiên nhiên đến như ông. Ông yêu nó đến nổi sờ thấy, mó thấy được, ông có chung một nhịp thở với thiên nhiên rộng lớn. Qua cách thể hiện của ḿnh, ông như thu dược ngọn trào cảm động và niềm vui của thiên nhiên vào trong lồng ngực. Tóm lại, ông là nhà thơ đă biết phản ánh một cách thuần túy thiên nhiên hiện ra trước mắt ḿnh.

Những bài thơ tiêu biểu của ông là bài ngâm lên khi ngắm phong cảnh núi Fuji (bài 3-317), hai bài vịnh cố đô Yoshino (6-924 và 6-925) và bài tức cảnh băi biển Waka-no-ura (6-919).

3-317

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天地之分時従 神左備手 高貴寸 駿河有 布士能高嶺乎 天原 振放見者 度日之 陰毛隠比 照月乃 光毛不見 白雲母 伊去波伐加利 時自久曽 雪者落家留 語告 言継将徃不盡能高嶺者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天地の別れし時ゆ 神さびて 高く貴き 駿河なる 富士の高嶺を 天の原 振り放け見れば 渡る日の 影も隠らひ 照る月の 光も見えず 白雲も い行きはばかり 時じくぞ 雪は降りける語り継ぎ 言ひ継ぎ行かむ 富士の高嶺は

Phiên âm:

Ametsuchi no / wakareshi toki yu / kamu sabite / takaku tafu toki / Suruga naru / Fuji no takane wo / Ama no hara / furisakemireba / wataru hi no / kage mo kakurahi / teru tsuki no / hikari mo miezu / shirakumo mo / iyuki habakari / toki jiku zo / yuki wa furikeru / kataritsugi / ihitsugi yukamu / Fuji no takane wa/

Diễn ư:

Nghe nói nó đă có từ thưở trời đất chia hai. Bóng h́nh của ngọn Fuji thần thánh trong miền Suruga vẫn tồn tại oai nghiêm trường cửu cùng với thời gian. Khi nh́n ngọn núi vút cao trên bầu trời rộng th́ mới biết rằng ban ngày mặt trời đi từ phía đông qua phía tây kia cũng bị nó che khuất, ban đêm ánh trăng cũng bị nó vướng khiến ta nh́n không ra. Những đám mây trắng ngại ngùng phải bay qua trước mặt nó, c̣n tuyết kia th́ quanh năm cứ rơi không lúc nào ngừng. Chúng ta hăy măi măi ca ngợi ngọn núi hùng tráng này.

Tạm dịch thơ:

Từ thuở trời đất mở / Đă có ngọn núi thiêng / Uy nghiêm và vững chăi / Đứng trấn suốt một miền / Suruga là đất / Núi Fuji ấy tên / Ngày ngẩng nh́n lên đỉnh / Không thấy ánh hồng chen / Núi non che mặt nhật / Vầng nguyệt khuất lâu rồi / Mây ngại không bay qua / Tuyết quanh năm phủ trắng / Xin ca ngợi Fuji / Giữa ḍng đời bất tận.

Fujisan (Nguồn Wikipedia)

Chỉ cần 19 câu, tác giả đă vẽ lên được phong cảnh uy nghiêm hùng tráng của ngọn thần sơn vĩnh viễn in bóng sâu đậm trong ḷng người Nhật. Tuy là một đề tài không có ǵ đặt biệt v́ ai cũng có thể viết ra nhưng cách nắm bắt đối tượng của Akahito rất chuẩn xác, cách diễn tả lại đơn giản, không có chữ dùng thừa, nói lên bằng một cách khéo léo vẻ đẹp và sự thần bí của ngọn Fuji. Không những con người mà cả thiên nhiên (mặt trời, mặt trăng, mây trắng) c̣n phải kiêng dè nó nữa là. Akihito không hư cấu, ông chỉ dùng sự thực để đi ra ngoài hay bay cao hơn sự thực. Đúng như thủ pháp mà nhà soạn tuồng đời Edo, Chikamatsu Monzaemon, đă gọi là kyojitsu himaku (hư thực b́ mạc) nghĩa là nghệ thuật miêu tả một sự thực nằm chỗ cái màng ngăn cách cái chân thực với cái cấu, tưởng tượng.

Bài tanka sau đây cũng nói về Fuji khi đứng từ băi biển Tago mà nh́n. Đây là một địa thế nổi tiếng để nh́n núi Fuji (một trong Phú Sĩ tam thập lục cảnh).

3-318:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

田兒之浦従打出而見者 真白衣 不盡能高嶺尓 雪波零家留

Dạng huấn độc (đă chua âm):

田子の浦ゆうち出でて見れば真白にぞ富士の高嶺に雪は降りける

Phiên âm:

Tago no ura yu / uchi idete mireba / mashiro ni so / Fuji no takane ni / yuki ni furikeru

Diễn ư:

Đi ra băi Tago mà nh́n thời thấy tuyết trắng xóa đang rơi không ngừng trên ngọn Fuji kia. (Ôi, phong cảnh đẹp đẽ và cao cả làm sao)

Tạm dịch thơ:

Ra ngoài băi Tago / Đưa mắt nh́n xa xôi / Tuyết bên trời đă đổ / Trắng xóa núi non rồi / Ôi Fuji ṿi vọi / Phong cảnh thật tuyệt vời.

Đọc bài này chúng ta liên tưởng ngay đến thơ trong Hyakunin Isshu (Bách nhân nhất thủ). Tuy nhiên, tuyển tập đó không lấy thơ từ Man.yôshuu mà lấy thơ Kokin Waka shuu (Cổ kim Ḥa ca tập) cho nên có một chút dị biệt (ví dụ câu thứ 3 và câu cuối của bản đó là Shirotae no và Yuki wa furitsutsu). Bài này gây ra một cảm giác đột ngột hơn bài thơ trong Kokin v́ nói lên được sự ngạc nhiên của tác giả khi từ nhà ra ngoài băi Tago, ngẫng đầu lên đă thấy trên đỉnh Fuji tuyết đă phủ trắng xóa chứ thơ Kokin tả tuyết hăy c̣n rơi như đang buông một tấm sa trắng.

6-919

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

若浦尓塩満来者 滷乎無美 葦邊乎指天 多頭鳴渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

若の浦に潮満ち来れば潟をなみ葦辺をさして鶴鳴き渡る

Phiên âm:

Waka no ura ni / shiho michikureba / kata wo mina / ashihe wo sashite / tazu naki wataru

Diễn ư:

Bến Waka, nước triều đă dâng lên ngập đầy. Cả băi cạn ch́m dưới nước hết làm cho lũ chim hạc không c̣n chỗ đậu phải lánh đi nơi khác. Chúng nhắm hướng bờ nơi lau lách mọc kín, vừa bay vừa kêu.

Tạm dịch thơ:

Bến Waka băi cạn / Nước triều dâng ngập đầy / Đất đă ch́m dưới nước / (Đành phải bỏ đi ngay) / Hạc vừa kêu vừa bay / Sà xuống đám lau dày.

Đây là tác phẩm tiêu biểu của Akihito. Ta thấy ông nh́n sự vật một cách khách quan, chứ không thêm thắt ǵ vào đó t́nh cảm trong nội tâm của ḿnh khi đứng trước cảnh ấy cả. Trước mặt ông chỉ có những ngọn sóng đang ḅ lên băi cạn và dần dần lấp hết nó từng phân một. Bầy chim hạc không c̣n chỗ kiếm mồi đành phải gọi nhau bỏ đi chỗ khác. Chúng hướng về bờ lau đang vi vu trong gió. Akihito say sưa ngắm trời xanh, biển xanh, ngàn lau xanh, sóng bạc và đàn hạc lông trắng mỏ đen. Ấn tượng ông gợi cho chúng ta thật tươi mát. Những chi tiết trong đó không đứng riêng rẽ mà tụ họp lại thành một bức tranh có bố cục thống nhất hẳn hoi. Nhưng bức tranh ấy lại linh động v́ có cử động và diễn tiến theo một tŕnh tự thời gian, có lẽ so sánh nó với một đoạn phim th́ đúng hơn.

6-924

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

三吉野乃 象山際乃 木末尓波 幾許毛散和口 鳥之聲可聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

み吉野の象山の際の木末にはここだも騒く鳥の声かも

Phiên âm:

Mi-Yoshino no / Kisayama no ma no / konure ni wa / koko da mo sawaku / tori no kowe kamo /

Diễn ư:

Trong những lùm cây xanh mượt của núi Kisa ở chốn cố đô Yoshino, sao mà ta nghe nhiều tiếng chim hót rộn ràng đến như thế.

Tạm dịch thơ:

Giữa rừng cây xanh mượt / Núi Kisa trầm ngâm / Yoshino quạnh vắng / (Dấu kinh đô ngàn năm) / Bỗng nhiên trong tịch mịch / Bật tiếng chim rộn ràng.

Xin đừng vội xem bài thơ này như tác phẩm nói về một công viên hay vườn thú với tiếng chim kêu rộn ră. Tác giả tả tiếng chim kêu huyên náo như thế chỉ để làm tăng thêm vẻ u tịch của chốn núi rừng chốn cô đô mà thôi. Chỉ v́ núi rừng quá thâm u nên ngược lại, tiếng chim vừa mới nổi lên đă thành ra huyên náo như vậy. Cũng cần nói thêm rằng núi Kisa (Kisayama) nằm phía trên thác Miyataki là một nơi rất sâu trong vùng Yoshino, ít người lai văng. Nhà thơ đời Edo là Bashô có làm bài thơ như sau:

一鳥啼いて山更に幽なり

Hitotsu tori / naite yama sara ni / kasuka nari

Bỗng một tiếng chim kêu. Cảnh rừng thêm vắng vẻ.

Chắc Bashô cũng khai triển một chủ đề như Akihito vậy (Điểu đề sơn cánh u). Ông không muốn nói lên tiếng hót của chim rừng mà chỉ tŕnh bày cách nh́n của ḿnh trước vẻ u tịch của rừng núi mà thôi. C̣n như câu thơ quá nổi tiếng sau:

古池や、蛙飛び込む、水の音

Furuike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto

Ao xưa. Ếch nhảy bơm. Chỉ một tiếng nước xao!

th́ tác giả đă tả tiếng động con ếch gây ra khi nhảy bơm xuống cái ao xưa chỉ để nhấn mạnh sự thanh vắng của cảnh vườn Nhật Bản.

Nếu Hitomaro khi đứng trước thiên nhiên thường gửi gắm những t́nh cảm chủ quan th́ Akahito có thái độ khách quan. Muốn hiểu thơ Akahito không cần có kiến thức hay học vấn ǵ trước cả. Do đó thơ ông được mọi người yêu chuộng. Tuy nhiên về mặt sâu sắc th́ Akahito không thua ǵ hai người làm thơ nổi tiếng đời sau là Saigyô và Bashô. Nếu Hitomaro hùng tráng, trang nghiêm, cao rộng th́ Akahito trong trẻo, tĩnh mịch và ưu nhă.

6-925

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

烏玉之夜之深去者 久木生留 清河原尓 知鳥數鳴

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ぬばたまの夜の更けゆけば久木生ふる清き川原に千鳥しば鳴く

Phiên âm:

Nuba tama no / yo no fuke yukeba/ hisagi ofuru/ kiyoki kawahara ni / chidori shiba naku/

Diễn ư:

Đêm ở vùng cố đô Yoshino càng khuya khoắt vắng vẻ th́ trên bờ sông nơi những thân cây hisagi (một loại tùng bách) đổ bóng đen ng̣m trong đêm trăng, có vài tiếng chim óc cau phá tan bầu không khí tịch mịch và sau đó trả tất cả về cho im lặng.

Tạm dịch thơ:

Cố đô chừ khuya khoắt / Đêm vẫn âm thầm buông / Lặng lẽ đứng sừng sững / Rặng bách cỗi bên nguồn / Vang lên trong tịch mịch. Dăm tiếng óc cau buồn.

Hisagi là một loài cây thuộc họ tùng bách lá đỏ, cao, mọc hoang trên rừng núi, đến mùa th́ lá rụng, giống như cây bách . C̣n chim óc cau (chidori) là một loài chim di nhỏ bé, sống thành từng bầy, có giọng hót thảm thiết. Cụm từ nuba tama no (đen và đẹp như sắc lông quạ 烏玉の) đặt ở đầu bài thơ chỉ là một chữ gối đầu để trang sức cho chữ yoru (đêm)

Chim óc cau (Nguồn Internet)

 

8-1431

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

百濟野乃芽古枝尓 待春跡 居之鴬 鳴尓鶏鵡鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

百済野の萩の古枝に春待つと居りし鴬鳴きにけむかも

Phiên âm:

Kudarano no / hagi no furue ni / haru matsu to / orishi uguisu / naki ni kemu kamo /

Diễn ư:

Nhớ hôm nào, vào đông, giữa cánh đồng Kurada, trên những cành cây hagi (cây thưu) khô héo, có con chim oanh đang đợi mùa xuân đến. Bây giờ trong hơi ấm này, chắc nó đang hót líu lo.

Tạm dịch thơ:

Qua đồng Kudara / Trên cành cây khô se / Mùa đông rồi ta thấy / Con oanh đợi xuân về / Chắc nay hót trong nắng / (Cho bỏ ngày lạnh tê).

Chim oanh (Nguồn Wikipedia)

Cánh đồng Kudara thuộc khu vực Katsuragi nằm trong xứ Yamato là một giải đất hẹp và dài được tưới mát bởi 2 con sông Soga và Katsuragi. Akihito đă đi qua vùng đó và thấy một con chim oanh có dáng ủ rủ trên cành cây hagi, tựa hồ như đang đợi mùa xuân. Nay th́ trước cảnh xuân về, trong nắng ấm, nhà thơ nghĩ về con chim oanh ấy ông đoán chắc phải nó đang vui hót líu lo và đă quên được những ngày giá rét! 

Thơ Kasa no Kanamura笠金村

Tiếp theo đây là thơ của Kasa no Kanamura笠金村(Lạp, Kim Thôn), một người cùng thời với Akihito nhưng truyện kư không được rơ:

6-909

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

山高三白木綿花 落多藝追 瀧之河内者 雖見不飽香聞

Dạng huấn độc:

山高み白木綿花におちたぎつ瀧の河内は見れど飽かぬかも

Phiên âm:

Yama takami / shirayufubana ni / ochitagtsu / taki no kafuchi wa / miredo akanu kamo

Diễn ư:

Núi cao cho nên phong cảnh trên sông Yoshino tuyệt đẹp: nước đổ xuống ào ạt tung bọt trắng xóa như thể ghềnh đá đang ngậm những đóa hoa kết từ bông vải (hoa để thờ thần). Nh́n măi cũng không thấy chán.Sao mà cảnh đẹp đến thế.

Tạm dịch thơ:

Núi cao nước ào ạt / Ghềnh đá bọt tung đầy / Trông như bông vải trắng / Kết chùm xuống tận đây / Nh́n măi sao không chán / Sông ơi, đẹp khó tày.

Bài này do nhà thơ Kasa no Kanamura làm ra vào dịp ông theo Thiên hoàng Genshô (Nguyên Chính) tuần thú ở vùng cố đô và ngự ở ly cung Yoshino vào mùa hạ năm Yôrô thứ 7 (723). Nó là một trong hai bài hanka theo sau bài chôka của ông . Lời thơ tươi tắn và hào sảng. Phong cảnh thác nước bắn bọt trắng xóa như hiện ra trước mắt người đọc. Đây là một bài thơ thiên về ấn tượng thị giác.

Tuy nhiên, tiếc cho Kanamura là lại cũng có những bài tương tự với nó, ví dụ bài 1107 trong quyển 7 và bài 1736 ở quyển 9. Ông đă để lại trong Man.yôshuu 22 bài tanka và 8 bài chôka thuộc loại ứng chiếu (họa thơ thiên hoàng) và lữ hành. Phần lớn những bài thơ đó viết vào năm Jinki thứ 2 (725) đời Thiên hoàng Shômu (Thánh Vũ). Tuy Kanamura có khuynh hướng đồng cảm với tâm t́nh của người thường dân nhưng không thấy ông ca tụng cái đẹp thiên nhiên như Akihito.

 

Ono no Oyu no Ason 小野老朝臣 (Tiểu Dă Lăo Triều Thần)

Một nhà thơ khác, Ono no Oyu no Ason, chức thiếu nhị (shôni, chức quan hành chánh hạng thứ) ở phủ Dazai, lại có bài thơ như sau:

3-328

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

青丹吉寧樂乃京師者 咲花乃 薫如 今盛有

Dạng huấn độc (đă chua âm):

あをによし奈良の都は咲く花のにほふがごとく今盛りなり

Phiên âm:

Ao ni yoshi / Nara no miyako wa / saku hana no / nihofu ga gotoku / ima sakari nari /

Diễn ư:

Nara ngày nay phồn vinh, đang ở trong thời thịnh trị giống như vẻ đẹp của hoa anh đào đang độ măn khai ánh hồng tỏa hương thơm ngát khắp kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Chốn đế đô Nara / Anh đào đang độ hoa / Bao cánh hồng rực rỡ / Đời cũng vui như là / (Hoa kia khoe sắc thắm / Hương thơm nức gần xa)

Tác giả của bài thơ, Ono no Oyu là một chức quan nhỏ coi việc từ hàn. Ông ca tụng thời thịnh trị của kinh đô Nara trong khoảng niên hiệu Tenpyô (Thiên B́nh, 729-749). Chủ nhăn của bài thơ này là hương sắc của hoa anh đào đang thời măn khai được đem so sánh với cảnh thái b́nh và phồn vinh của chốn đế đô. Về mặt âm điệu, bài thơ này cũng rất tươi sáng và trôi chảy.

Nara (Nguồn Internet)

Năm Wadô thứ 3, kinh đô dời từ Fujiwarakyô (Đằng Nguyên kinh) sang Nara (710). Đây là cột mốc đánh dấu thời kỳ thứ 3 của Man.yôshuu.

Aoniyoshi (xinh đẹp nét đan thanh) là makura kotoba của Nara c̣n niou là chữ để chỉ vẻ tươi tắn đẹp đẽ (chứ không phải là thơm tho như nghĩa hiện đại).. Người không đặt ḿnh vào bối cảnh lịch sử đương thời th́ có thể xem thơ Ono no Oyu chỉ là bài thơ thù tạc tầm thường và sáo rỗng. Thế nhưng nên nhớ đối với thời ấy, sự dời đô về Nara có ư nghĩa trọng đại và nguồn gốc của niềm tự hào Nhật Bản cho đến ngày nay. Không những Nara mô phỏng kinh đô Trường An nhà Đường (khuôn vàng thước ngọc đương thời) mà qui mô c̣n to gấp 3 lần kinh đô cũ Fujiwarakyô, đông tây rộng ước 4km, nam bắc dài đến 5km. Đại lộ Suzaku (Chu Tước) ở trung ương rộng cỡ 70m. Các chùa lớn như Yakushiji (Dược Sư Tự), Kôfukuji (Hưng Phúc Tự) đều được dời về đây, triều đ́nh lại cho xây thêm Tôdaiji (Đông Đại Tự) và Tôshôdaiji (Đường Chiêu Đề Tự để đón danh tăng Giám Chân tức Kanjin 鑑真(688-763) từ Trung Quốc qua). Thành phố uy quang hiển hách với dân số 15 vạn là qui mô lớn nhất từ trước đến giờ. Khoảng thời gian đó là tăng lữ Việt Nam gốc Lâm Ấp là Phật Triết (Buttetsu) đă theo cao tăng Ấn Độ Bồ Đề Tiên Na từ Trung Quốc đến tham dự lễ điểm nhăn cho tượng Đại Phật ở Tôdaiji (752). Ngày nay vũ nhạc Lâm Ấp vẫn c̣n được lưu truyền ở Nhật.

 

Thơ Inukai no Okamaro 犬養岡麻呂

Tiếp theo đây là một bài thơ do Inukai no Okamaro 犬養岡麻呂làm ra vào năm Tenpyô thứ 6 (Giáp Tuất 734) để ứng chiếu thiên hoàng. Nhân vật Inukai không rơ là ai, chỉ biết trong đời Thiên hoàng Temmu, gia đ́nh ông được ban cho họ Sukune.

6-996

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

御民吾生有驗在 天地之 榮時尓 相樂念者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

御民我れ生ける験あり天地の栄ゆる時にあへらく思へば

Phiên âm:

Mi-tami ware / ikeru shirushi ari / ametsuchi no / sakayuru toki ni / aheraku omoheba

Diễn ư:

Một thần dân Nhật Bản như tôi đây thấy đời sống của ḿnh thật có ư nghĩa. Lư do là tôi đă được sinh nhằm thời đất nước cực kỳ thịnh trị, uy quang của thiên hoàng rạng chiếu khắp nơi.

Tạm dịch thơ:

Sinh làm dân một nước / Giữa thời đại huy hoàng / Uy quang của thiên tử / Rạng chiếu khắp giang san / Vận hội đang hưng thịnh / C̣n hạnh phúc nào hơn!

Có một thánh thiên tử như Thiên hoàng Shômu (Thánh Vũ) cai trị, uy quang rạng chiếu bốn phương, văn hóa của thời đại Tenpyô hôm nay rạng rỡ nhất từ trước đến giờ. Tác giả cảm kích và hạnh phúc v́ ḿnh sinh ra gặp thời. Lời thơ nồng nhiệt, khí thế mạnh mẽ tuy nội dung không có ǵ sâu sắc.

Sa di Manzei 沙弥満誓và thi đàn Tsukushi

Sami hay Shami Manzei (Sa di Măn Thệ) là người đă được nhà tùy bút Kamo no Chômei (1165-1216) nhắc đến trong Phương Trượng Kư (Hôjôki, 1212) của ông. Đoạn văn ấy nguyên như sau:

« Có chăng là tảng sáng có dịp ra bờ sông ngắm thuyền bè đi lại xa xa ở Okanoya, thấy con thuyền th́ có chạnh nghĩ đến đời trôi nổi. Lúc đó miệng ngâm thầm mấy câu thơ phong lưu điệu Manshami 満沙弥mượn đỡ của người xưa. Hoặc là lúc chiều về nghe tiếng gió thu rào rào qua cành quế, bắt chước quan đô đốc Minamoto thả cho hồn ḿnh trôi về bến sông Tầm Dương của Bạch Lạc Thiên. Đôi khi, nếu chưa cạn hứng th́ dạo đàn cầm khúc Thu Phong Lạc ḥa với gió tùng, hay khảy ít tiếng tỳ bà khúc Lưu Tuyền bí truyền trước ḍng nước chảy ».

Lời chú thích cho biết Manshami gọi tắt Manzei.shami (Măn thệ sa di) khúc hát của một sa di tên Manzei,trước làm quan, đă thế phát quy y nhưng chưa dứt ḷng trần, lại c̣n đèo ḅng vợ con. Tóm lại, ông chỉ là cư sĩ, tu tại gia và là một thành viên của thi đàn Tsukushi do Ôtomo no Tabito chủ tŕ. Bài này là một bài thơ đặc sắc trong Man.yôshuu.

3-354

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

世間乎何物尓将譬 <>開 榜去師船之 跡無如

Dạng huấn độc (đă chua âm):

世間を何に譬へむ朝開き漕ぎ去にし船の跡なきごとし

Phiên âm:

Yo no naka wo / Nani nitatoemu (en) / asabiraki / kogi inishi fune no / ato naki gotoshi /

Diễn ư:

Cơi đời vô thường này đem so sánh được với cái ǵ đâu nhỉ ? Cuộc sống của chúng ta có phải như con thuyền khi hừng sáng rời bến, chèo chống ra đi mà không để lại dấu tích, không biết về đâu chăng?

Tạm dịch thơ:

Đời người ai hiểu được / Biết ví với ǵ chăng? / Như con thuyền tảng sáng / Rời bến ra khơi chừng / Nước xoá hết dấu vết / Mất dạng giữa vô cùng /

 

Tiết IV: Thơ Takahashi no Mushimaro高橋虫麻呂:

Truyện kư về Takahashi no Mushimaro cũng không mấy rơ ràng, chỉ biết ông là người sống vào đầu thời Nara (710-784) và có để lại một thi tập, trong đó có nhiều bài vịnh về tích xưa truyện cũ. Ví dụ như bài nói về sự tích nàng Mama no Tekona đất Musashi (vùng Tôkyô) ông làm ra trên đường đi nhậm chức ở Hitachi no kuni (tỉnh Ibaraki bây giờ). Xin xem bài chôka 9-1807 và các bài tanka nối tiếp. 

Thế nhưng, trước tiên xin tŕnh bày bài tanka mà Mushimaro làm ra trong buổi tiễn biệt Fujiwara no Umakai (694-737) nhận lệnh ra trấn nhậm miền tây (Tây Hải Tiết Độ Sứ). Umakai là con trai đại thần Fujiwara no Fuhito. Như thế, Umakai là ông tổ của đại vọng tộc Shikibu nhà Fujiwara và là viễn tổ của bà Murasaki Shikibu, tác giả Truyện Genji.

6-972

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

千萬乃 軍奈利友 言擧不為 取而可来 男常曽念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

千万の軍なりとも言挙げせず取りて来ぬべき男とぞ思ふ

Phiên âm:

Chiyorozuno / ikusa nari tomo / kotoagesezu / torite kinubeki / wonoko to zo mofu

Diễn ư:

Như ngài đây th́ tôi tin tưởng là cho dù phái đối đầu với muôn ngh́n quân địch, không nói không rằng vẫn dẹp tan được chúng và hiên ngang trở về trong khúc khải hoàn. (Vậy xin ngài cứ hăng hái lên đường).

Tạm dịch thơ:

Địch dù đông muôn ngàn / Tướng công không nói năng / Đánh chúng tan tác hết / Rồi về trong vinh quang / Ḷng trai vẫn tin chắc / Ngày vang khúc khải hoàn.   

Đây cũng là một bài có tính chất thù tạc và nghi lễ, và là một hanka cho chôka đi trước. Trong bài chôka đă có nói đến việc Umakai lănh nhiệm vụ nặng nề là đi về miền tây để lo việc pḥng thủ Tsukushi (vùng Kyuushu bây giờ). Địch quân có thể là hào tộc sở tại, quân lính hay hải tặc đột nhập từ Triều Tiên và Trung Quốc. Bài thơ này có ư khích lệ Umakai cho nên lời lẽ hùng hồn và trực tiếp, nhấn mạnh đến ḷng tin tưởng của ḿnh, rất hợp với không khí cúa buổi tiễn đưa người ra chiến trường.

 

Thơ kể lại truyền thuyết

Trong thể loại thơ kể lại truyền thuyết do Mushimaro viết ra, xin trích dẫn một bài thơ mà ông (chính ra tác giả vô danh nhưng nhiều thuyết gán cho Mushimaro. Sác xuất nầy rất lớn và đă được ghi lại trong thi tập mang tên ông) đề cập đến sự tích của chàng ngư phủ Urashima Tarô được rùa thần đưa xuống long cung, đến khi về trần th́ xóm làng, thân tộc…, mọi thứ đều đă thay đổi. Truyền thuyết này giống như chuyện Lưu Nguyễn, Từ Thức… trong bối cảnh hải đảo của Nhật Bản, thấy chép trong Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ, 720), Tango Fudoki (Đan Hậu[3] Phong Thổ Kư, ?) cũng như tập truyện cổ Otogi Zôshi (Ngự Già Thảo Tử, khoảng 1716-1736). Đây là một daichôka (đại trường ca) của Man.yôshuu, có h́nh thức ballad của phương Tây. Hứng thú t́m về chuyện xưa tích cũ vốn rất phổ thông nơi con người và nhất là nơi trẻ thơ, luôn luôn mơ mộng và hiếu kỳ. Do đó, nếu Mushimaro dùng nó như chủ đề sáng tác th́ cũng không có ǵ lạ. Nó c̣n chứng tỏ tính chất đa dạng về đề tài và bút pháp nơi thi nhân thời Man.yô.  

Bài đầu tiên (9-1740) nêu ra sau đây là một chôka nhan đề “Vịnh chàng Urashima Tarô ở Mizunoe” kèm theo 3 bài tanka (từ 9-1741 đến 9-1743).

9-1740

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春日之霞時尓 墨吉之 岸尓出居而 釣船之 得<>良布見者 <>之事曽所念 水江之 浦嶋兒之 堅魚釣 鯛釣矜 及七日 家尓毛不来而 海界乎 過而榜行尓 海若 神之女尓 邂尓 伊許藝T 相誂良比 言成之賀婆 加吉結 常代尓至 海若神之宮乃 内隔之 細有殿尓 携 二人入居而 耆不為 死不為而 永世尓 有家留物乎 世間之 愚人<> 吾妹兒尓 告而語久 須臾者家歸而 父母尓 事毛告良比 如明日 吾者来南登 言家礼婆 妹之答久 常世邊 復變来而 如今 将相跡奈良婆 此篋 開勿勤常 曽己良久尓 堅目師事乎 墨吉尓 還来而家見跡 <>毛見金手 里見跡 里毛見金手 恠常 所許尓念久 従家出而 三歳之間尓 <>毛無家滅目八跡 此筥乎 開而見手歯 <>本 家者将有登 玉篋 小披尓 白雲之 自箱出而 常世邊 棚引去者 立走 S袖振 反側 足受利四管頓 情消失奴 若有之 皮毛皺奴 黒有之 髪毛白斑奴 <>奈由奈波 氣左倍絶而 後遂 壽死祁流 水江之 浦嶋子之 家地見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

春の日の霞める時に 住吉の 岸に出で居て 釣舟の とをらふ見れば いにしへの ことぞ思ほゆる 水江の 浦島の子が 鰹釣り 鯛釣りほこり 七日まで 家にも来ずて 海境を過ぎて漕ぎ行くに 海神の 神の娘子に たまさかに い漕ぎ向ひ 相とぶらひ 言成りしかば かき結び 常世に至り 海神の 神の宮の 内のへの 妙なる殿に たづさはりふたり入り居て 老いもせず 死にもせずして 長き世に ありけるものを 世間の 愚か人の 我妹子に 告りて語らく しましくは 家に帰りて 父母に 事も告らひ 明日のごと我れは来なむと 言ひければ 妹が言へらく 常世辺に また帰り来て 今のごと 逢はむとならば この櫛笥 開くなゆめと そこらくに 堅めし言を 住吉に 帰り来りて家見れど 家も見かねて 里見れど 里も見かねて あやしみと そこに思はく 家ゆ出でて 三年の間に 垣もなく 家失せめやと この箱を 開きて見てば もとのごと 家はあらむと玉櫛笥 少し開くに 白雲の 箱より出でて 常世辺に たなびきぬれば 立ち走り 叫び袖振り こいまろび 足ずりしつつ たちまちに 心消失せぬ 若くありし 肌も皺みぬ黒くありし 髪も白けぬ ゆなゆなは 息さへ絶えて 後つひに 命死にける 水江の 浦島の子が 家ところ見ゆ

Phiên âm:

Haru no hi no / kasumeru toki ni / sumi no e no / kishi ni ide wite / tsuribune no / tp wo rafu mireba / inishihe no / koto zo omohoyuru /

Mizunoe no / Urashima no ko ga / katsuwo tsuri / tahi tsuri hokori / nameka made / ihe ni mo kozute / unasaka wo / sugite kogiyuku ni / watatsumi no / kami no wo tome ni / tamasaka ni / ikogi mukahi/ ahitoburahi / kotonari shikaba / kakimusubi / tokoyo ni itari / watatsumi no / kami no miya no / uchi no he no / tahe naru tono ni / tazusahari / futari iri wite / oimo sezu / shini mo sezu shite / nagaki yo ni / ari keru mono wo / yo no naka no / oroka hito no / wagi mo ko ni / norite kataraku / shimashiku wa / ihe ni kaherite / chichihaha ni / koto mo katarahi / asu no goto / ware wa kinamu to / ihikereba / imo ga iheraku / tokoyobe ni / mata kaeri kite / ima no goto /ahamu to naraba / konokushige / hiraku na yume to / sokoraku ni / katameshi koto wo / sumi no e ni / kaheri kitarite / ihe miredo / ihe mo ikanete / sato miredo / sato mo mikanete / ayashi mi to / soko ni omohaku / ihe yuidete / mitose no ahida ni / kaki mo naku / ihe usumeya to / kono hako wo / hirakite miteba / moto no goto / ihe wa aramu to / tamakushige / sukoshi hiraku ni / shirakumo no / hako yori idete / tokoyobe ni / nanabiki nureba / tachihashiri / sakebi sode furi /kohi marobi / ashizuri shitsutsu / tachimachi ni / kokoroke usenu / wakaku ari shi / hada mo shiba minu / kurokarishi / kami mo shirakenu / yunayuna wa / ikisahe taete / nochi tsuhi ni / inochi shinikeru /

Mizunoe no / Urasahima no ko ga / ihedokoro miyu.               

Diễn ư:

Vào một ngày xuân đẹp có sương lam vương nhẹ, ta đến nơi đây, chợt thấy trên băi biển Suminoe, một chiếc thuyền câu rập ŕnh trên mặt sóng. Cảnh vật làm ta chạnh nhớ câu chuyện xưa kia đă xảy ra trên băi biển này (phân đoạn 1 như nhập đề)

Đó là sự tích một chàng trai trẻ tên là Urashima Tarô (Phố Đảo Thái Lang hay “anh con trai làng chài”) quê quán ở Mizunoe, giỏi nghề câu, măi mê theo cá ngừ cá trắm, đi đă không biết bao hôm rồi chưa chịu về nhà. Chàng trai cứ chèo thuyền thật nhanh ra măi ngoài khơi về phía chân trời, thật ra có bao giờ mơ tưởng tới công chúa long cung đâu. Thế mà chàng lại gặp nàng ở giữa biển, ư hiệp tâm đầu rồi kết hôn với nhau. Nàng đưa chàng về cung điện nguy nga dưới đáy biển sâu và cùng nhau sống cuộc đời trường sinh bất lăo. Đă có cuộc sống bất tử với thần tiên, điều mà nhiêu người mong ước mà không được, rơ là anh chàng ta lại quá ngu dại.

Urashima đi nói với vợ là chàng muốn ngày hôm sau lập tức trở về thăm cố hương một thời gian ngắn để giải thích cho cha mẹ ḿnh biết về hoàn cảnh của ḿnh. Thế nhưng công chúa bảo nếu chàng về và c̣n muốn có thể trở lại cơi tiên để sum vầy như vợ chồng th́ hăy tuyệt đối không bao giờ mở cái hộp nàng sẽ trao cho chàng. Tuy đinh ninh ghi khắc lời dặn ḍ nhưng chàng không dằn ḷng được nên đă thành ra bội ước. Bởi v́ khi về đến băi biến Suminoe, chàng hết sức t́m kiếm mà vẫn không thấy đâu là ngôi nhà cũ của ḿnh. Thôn làng cũng chẳng c̣n. Lắc đầu thầm nghĩ, ḿnh mới ra khỏi nhà có 3 năm, không lẽ khung cảnh chung quanh và nhà cửa đă thay đổi đến mức đó. Làm ǵ có chuyện lạ lùng như vậy. Hay là thử mở hộp ra, may ra nhà cửa mọi sự sẽ trở lại như trước chăng. Thế rồi, ngạc nhiên làm sao, khi chàng mới vừa mở hé nắp hộp th́ từ trong hộp, một làn khói trắng bốc ra, bay về hướng cơi trời hoan lạc mà hai người từng sống. Chàng Urashima không c̣n hồn vía, tất tả chạy đuổi theo làn khói đang bốc lên cao, phất tay áo như gọi nó ngừng lại nhưng chân chàng không đủ sức, thành ra ngă lăn chiêng. Chàng chỉ c̣n biết dậm chân tiếc nuối và chẳng mấy lúc, trở thành điên dại. Chỉ trong nháy mắt, người thanh niên trai trẻ nhanh nhẹn đă biến thành ông già da dẻ nhăn nheo, mái tóc xanh đen trước kia giờ bạc trắng. Rốt cuộc, chàng đứt hơi tuyệt mệnh. (phân đoạn 2 như thân bài).

Ḱa, đằng xa kia hăy c̣n vết tích ngôi nhà cũ của Urashima Tarô vùng Mizunoe  người đóng vai chính trong truyện này lúc c̣n sống đă ở đấy . Ta hăy đến xem. (phân đoạn 3 như kết luận).

Tạm dịch thơ:

Hôm nay ngày xuân đẹp / Sương lam đang nhẹ vây / Ta đến thăm băi biển / Suminoe này / Nh́n chiếc thuyền câu nhỏ /Rập ŕnh sóng ngoài khơi / Ḷng bỗng đâm nhớ lại / Chuyện xưa tự bao đời.

Có anh chàng trai trẻ / Tên Urashima / Nơi đây là quê nhà / Sống bằng nghề chài lưới / Măi mê theo đàn cá / Mấy hôm đi chẳng về / Nh́n chân trời thẳng tiến / Nào mơ gặp người tiên / Thế mà lương duyên đến / Long cung ấy là miền / Họ gặp nhau giữa biển / Ư hợp lại tâm đầu / Nên thành chồng thành vợ / Sống trường sinh bất lăo / Trong cung điện biển sâu / Hưởng hạnh phúc tràn trề / Chàng đạt được mọi bề / Mộng bao người mong muốn / Nhưng vận may đổi hướng /(Mộng ước vỡ tan tành) / Cũng v́ chàng ngu dại / Khi ngỏ lời với vợ / Xin t́m lại quê hương / Để báo tin song đường / Ḿnh vẫn c̣n mạnh khỏe / Lúc ấy công chúa bảo / Cơi tiên sau muốn về / Chàng hăy giữ lời thề / Hộp ngọc không hề mở / Tuy đinh ninh lời dặn / Ḷng kia chẳng chịu dằn / Trước thay đổi đau thương / Chàng đâm ra bội ước / Bởi v́ khi trở lại / Vùng Suminoe / Xóm làng đă khác xưa / Cảnh cũ không c̣n nữa / Ba năm mà lạ lùng / Mở hộp, ḷng trông mong / Khốn thay, khi mới hé / Làn khói trắng bốc lên / Khói bay mất lên tiên / Cơi trời xưa hoan lạc / Chàng không c̣n hồn vía / Đuổi bắt làn khói kia / (Chạy măi miết như mê) / Và đưa tay vẫy gọi / Nhưng hạnh phúc đă ĺa / Đôi chân chàng ươn yếu / Ngă xuống, thấy mà thương / Chỉ dậm chân hối tiếc / Mấy chốc, tóc pha sương / Làn da co dúm lại / Rồi tắt thở bên đường. 

Ḱa ở nơi xa kia / Băi Mizunoe / Như hăy c̣n dấu tích / Ngôi nhà cũ của chàng / Gă trai chài trên bến / Trong câu chuyện ngày xưa / Hăy đến gần xem thử. 

Bài chôka này là một tác phẩm dài có tính tự sự rất hiếm thấy trong Man.yôshuu. Bài thơ viết theo một bố cục 3 đoạn, tác giả đă tường thuật truyền thuyết về chàng Urashima nhân khi thấy một chiếc thuyền câu hiện ra trên mặt sóng vùng biển Suminoe vào một ngày nắng đẹp có sương lam giăng nhẹ (đoạn 1). Lúc đó, tác giả liên tưởng tới việc rùa thần đưa người con trai đánh cá viếng long cung và sau đó là cuộc sống hạnh phúc trong tiên giới trước khi ḷng nhớ cố hương gây ra cho chàng một kết cuộc phủ phàng (đoạn 2). Đoạn 3 đưa chúng ta trở lại với hiện thực (ngôi nhà cũ trong thôn Mizunoe) và móc nối với đoạn đầu, thủ vĩ nhất quán. Người đọc như bước từ cơi thực vào cơi mộng rồi lại từ đó bước ra.

Toàn bài thơ tường thuật sự kiện bằng một giọng khách quan ngoại trừ một chỗ tác giả tỏ ra chủ quan khi chê trách Urashima là dại dột, ngu ngơ. Đây là một điểm đáng chú ư, nó cho ta thấy các vị tổ tiên người Nhật của thời Man.yô đều ôm ấp một giấc mơ được sống trong cơi cực lạc thần tiên. Như vậy, có thể suy ra nhân sinh quan của họ rất trong sáng, giản dị và thiên về sự hưởng lạc.

Cũng qua câu chuyện này, ta thấy một mô-típ quen thuộc trong truyện cổ là “thần hôn” (kết duyên với người tiên) và “thần cảnh yếm lưu” (ở lại sống lâu dài trong cơi tiên). Nó cũng có liên hệ đến thần thoại về “hải hạnh sơn hạnh” (việc Sơn Tinh Thủy Tinh đi thu hoạch sản vật trên núi dưới biển hay umi no sachi, yama no sachi) thấy trong Kojiki (Cổ Sự Kư), đó là chưa nói có những điểm khá giống với truyền thuyết Nhật Bản “vũ y” (hagoromo = áo lông chim) và “bạch điểu” (hakuchô = chim hạc dệt áo cho chồng) là những trường hợp người cơi tiên xuống làm dâu hạ giới rồi thất vọng bỏ về trời. Nếu ta thử đặt vấn đề tại sao có những truyền thuyết như thế th́ quả là không chỉ có Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Minh Hoàng… muốn cầu trường sinh bất tử mà thật ra, con người nói chung ai cũng mơ ước được sống lâu và sống hoan lạc trong cơi thần tiên. Sự khao khát sinh mệnh vĩnh cửu đă nẩy sinh ra truyền thuyết đó, nhưng kèm theo sự khao khát đó là nỗi thất vọng ê chề khi ước mơ vô lư của con người không thực hiện được. Thời xưa cũng vậy, việc sống hơn trăm tuổi đă là vượt giới hạn của xác thịt cho nên ước ao trường sinh rơ ràng là mâu thuẫn với thực tế.

Tượng Urashima Tarô ở Nhật (Nguồn Wikipedia)

Câu chuyện về chàng ngư phủ Urashima Tarô không có ǵ khác hơn là một tóm tắt gọn ghẽ về triết lư cuộc sống qua h́nh thức đưa ra một điều cấm kỵ (taboo) và quả báo do việc vi phạm cấm kỵ đó. “Cấm nh́n!” cũng là cấm kỵ của truyền thuyết “Hải Hạnh, Sơn Hạnh” 山幸海幸 (tương đương với Sơn Tinh Thủy Tinh) trong Kojiki, không cho phép nḥm vào trong chỗ kín đáo, căn pḥng nơi người đàn bà ở cữ (sản pḥng = ubuya). V́ phạm vào điều cấm đó mà Sơn Hạnh (Yamasachi hay Hikohohodemi no mikoto) phải vĩnh viễn cắt đứt t́nh duyên với người con gái có thần tính là nàng Phong Ngọc Cơ 豊玉姫 (Toyotama hime). Ước mơ trường sinh bất lăo và sự t́m về một cơi trời hoan lạc đă được thần thoại hóa dưới h́nh thức như thế. Trong trường hợp Urashima, sự thất bại v́ mâu thuẫn ấy (cuộc sống hữu hạn đối lập với ước mơ vô hạn) đă được giải thích khéo léo bằng lư do là “phạm vào điều cấm kỵ” với sự biến chuyển đột ngột từ cuộc gặp gỡ của chàng trai chài trẻ trung với nữ thần giữa trời nước mênh mông, cuộc sống hạnh phúc yêu đương trong cung điện dưới đáy biển, qua cảnh tượng thê thảm một ông lăo da mồi tóc bạc đứng khóc lóc thảm thiết rồi ngă gục bên bờ biển.

Ước mơ chung từ muôn đời của nhân loại đă được người Nhật thi vị hóa qua câu chuyện giản dị của chàng ngư phủ nói trên và nó đă xuất hiện như một bài thơ tự sự giữa ḷng tập Man.yôshuu. Tiểu thuyết gia người Mỹ Washington Irving trong tập truyện bằng tranh của ông cũng đă tạo ra nhân vật tương tự Urashima, đó là anh chàng tiều phu Rip Van Winkle, người Mỹ gốc Ḥa Lan. Chú tiều Van Winkle ngủ quên trong rừng, khi tỉnh dậy th́ cán búa đă mục nát thành bụi. Thế nhưng phải nói là câu chuyện về Urashima có nội dung đẹp và nên thơ hơn nhiều. Ở Trung Quốc cũng có câu chuyện ông tiều Vương Chất đi lạc vào trong núi vào đời Tấn đă đến được cơi tiên.

Sau đây là một bài hanka liên quan đến bài chôka tự sự nói trên:

9-1741:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

 

常世邊 可住物乎 劔刀 己之<>柄於曽也是君

Dạng huấn độc (đă chua âm):

常世辺に住むべきものを剣大刀汝が心からおそやこの君

Phiên âm:

Tokoyobe ni / sumubeki mono wo / tsurugitachi / na ga kokoro kara / oso ya kono kimi

Diễn ư:

Nếu như biết nghe theo lời dặn ḍ của công chúa th́ làm ǵ chẳng tiếp tục được sống hoan lạc trong cơi trường sinh bất lăo. Như anh chàng (Urashima Tarô) này th́ cho dù hành động theo t́nh cảm của ḿnh đă tỏ ra ngu dại để sẩy mất một cơ hội tốt đến như thế.

Tạm dịch thơ:

Nếu nghe nàng dặn ḍ / Đời sẽ đầy hạnh phúc / Sống bất lăo trường sinh / Giữa cơi trời hoan lạc / Nào ngờ, như ư ḿnh / Hành động theo cảm t́nh / Để sẩy cơ hội tốt / Ngu dại biết là bao !

Tsurugitachi chỉ là một chữ gối đầu trang điểm cho na (chính ḿnh).

Nếu trong chôka, tác giả giữ được sự khách quan th́ h́nh thức hanka cho phép tác giả bày tỏ cảm tưởng chủ quan của ḿnh, chê trách và cười cợt hành động ngu dại của Urashima Tarô khi phá lời giao ước với công chúa long cung mà mở chiếc hộp. Nhà văn Nhật gốc Anh Koizumi Yasumo (Lafcadio Hearn, 1850-1904) không ngớt ca ngợi bài thơ về truyền thuyết Urashima Tarô và đă đem giới thiệu nó với thế giới.

9-1742:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

級照 片足羽河之 左丹塗 大橋之上従 紅 赤裳<>十引山藍用 <>衣服而 直獨 伊渡為兒者 若草乃 夫香有良武 橿實之 獨歟将宿 問巻乃 欲我妹之 家乃不知久

Dạng huấn độc (đă chua âm):

しな照る片足羽川の さ丹塗りの 大橋の上ゆ 紅の 赤裳裾引き 山藍もち 摺れる衣着て ただ独り い渡らす子は 若草の 夫かあるらむ 橿の実の 独りか寝らむ 問はまくの欲しき我妹が 家の知らなく

Phiên âm:

Shinateru/ Katashiwa gawa no / sa ni nuri no / ôhashi no ue yu / kurenai no/ akamo susobiki /yamaai mochi / sureru kinu kite /tada hitori / iwatarasu ko wa / wakakusa no / tsuma ka aru ramu / kashi no mi no / hitori ka nuramu / towamaku no / hoshiki wagimo ga / ie no shiranaku. 

Diễn ư:

Trên cây cầu lớn sơn son bắc qua sông Katashiwa, người con gái ấy đang đi một ḿnh không ai tháp tùng (chắc đang có nguồn cơn ǵ đây). Nàng một chiếc áo dài màu đỏ rực, bên trên lại phủ một lớp áo khoác lụa xanh lam. Ḿnh không biết nàng hăy c̣n con gái hay đă có chồng. Nếu để mất nàng th́ thật là một chuyện đáng tiếc.

Tạm dịch thơ:

Bóng ai trên cầu đỏ / Nàng mặc áo thắm hồng / Khoác ngoài lụa xanh nơn / Không người hầu theo cùng / Hỏi con nhà ai vậy / Có nơi chốn hay không ? / Bỏ đi th́ thật tiếc / Nhỡ cô ấy chưa chồng!

Giống như cuộc gặp gỡ giữa chàng Dante và nàng Beatrixia trên cầu Ponte Vecchio ở thành Firenze nước Ư đă được nhà danh họa Leonardo de Vinci ghi lại, hai người này cũng gặp nhau ở trên cầu. Ở Nhật, người ta hay liên tưởng tới chuyện chàng Haruki và nàng Machiko gặp nhau trên cầu Sukiya trong cuốn phim tiền chiến nổi tiếng Kimi no na wa (Tên cô là ǵ?). Bùi Hàng với nàng con gái ở Lam Kiều cũng thế. Người đẹp ra dáng con nhà tử tế và trẻ trung với chiếc áo dài đỏ tươi, áo khoác màu xanh, đi ngang qua cây cầu cũng đỏ nốt. Những màu sắc ấy trẻ trung như sắc màu của hội họa. Nàng có vẻ là con nhà nề nếp nhưng sao lại đi một ḿnh như thế. Phải chăng nàng có duyên cớ ǵ hay chăng? Tuy nhiên tâm hồn chàng trai đă bị nàng thu hút và muốn t́m cách tiến gần đến để ướm hỏi. Như ư thơ trong Truyện Kiều:

Người đâu gặp gỡ làm chi,

Trăm năm biết có duyên ǵ hay không?

9-1743:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

大橋之 頭尓家有者 心悲久 獨去兒尓 屋戸借申尾

Dạng huấn độc (đă chua âm):

大橋の頭に家あらばま悲しく独り行く子に宿貸さましを

Phiên âm:

Ôhashi no / tsume ni ie araba / ma kanashiku / hitori yuku ko ni / yadokasamashi wo /

Diễn ư:

Nếu như ta có một mái nhà ở cạnh đầu cầu lớn này th́ ta sẽ cho người đàn bà có vẻ đang đau buồn khổ sở đi lang thang một ḿnh kia có chỗ để tạm trú.

Tạm dịch thơ:

Nếu ta có mái nhà / Ở cạnh đầu cầu lớn / Sẽ cho người cô đơn / Lang thang, buồn ảm đạm / Có một chỗ trú chân / (Để qua cơn hoạn nạn).

Cho dù nàng có thể là con nhà lương gia tử đệ nhưng mặt mày xinh đẹp, trang phục tươi tắn như thế mà một ḿnh buồn bă cúi gầm mặt đi trên cầu th́ chắc trong ḷng nàng phải có điều ǵ u ẩn. Không riêng ǵ tác giả bài thơ, ngay cả chúng ta đều phải đặt câu hỏi. Có điều là suy nghĩ như thế nhưng không biết chàng trai đă hành động như thế nào: tiến tới thật sự hay để cơ hội đi luôn khi cứ lư luận với những chữ “nếu”. Rất tiếc là bài thơ đă kết thúc ở đây và để lại câu hỏi cho chúng ta.

Quyển 9 của Man.yôshuu đă bắt đầu với bài thơ nói về truyền thuyết làm rể long cung của chàng Urashima Tarô ở Suminoe, sau đó c̣n được nối tiếp với nhũng bài thơ đẹp và đầy thi vị về những truyền thuyết khác. Trước tiên là bài 1738 vịnh nàng tố nữ Tamana no Otome ở vùng Kamitsufusa, bài 1807 vịnh nàng Mama no Otome ở Katsushika, cũng như bài 1809 đă được viết ra khi tác giả đứng trước ngôi mộ của nàng Unai Otome. Qua đó hiện ra trước mắt chúng ta là h́nh ảnh xă hội đơn sơ chất phác của người đương thời, từ phong tục tập quán đến tâm t́nh của họ.Thế giới dễ thương và thuần khiết của thời Man.yô cũng như t́nh yêu vô bờ bến của người trong cuộc được thể hiện ra một cách rơ ràng hơn bao giờ hết. Tuy ta không biết hẵn ḥi ai đă viết ra chúng nhưng nhân v́ những bài thơ ấy đều được ghi lại trong thi tập của Mushimaro nên có nhiều sác xuất chúng là tác phẩm của ông.

Truyện kư về Mushimaro cũng không mấy rơ ràng nhưng có thể xem ông như một nhà thơ waka thời Nara tiền kỳ.

9-1807

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

鶏鳴 吾妻乃國尓 古昔尓 有家留事登 至今 不絶言来 勝<>鹿乃真間乃手兒奈我 麻衣尓 青衿著 直佐麻乎 裳者織服而 髪谷母 掻者不梳 履乎谷 不著雖行 錦綾之 中丹L有 齊兒毛 妹尓将及哉 望月之 満有面輪二 如花 咲而立有者夏蟲乃 入火之如 水門入尓 船己具如久 歸香具礼 人乃言時 幾時毛 不生物<> 何為跡歟 身乎田名知而 浪音乃驟湊之 奥津城尓 妹之臥勢流 遠代尓家類事乎 昨日霜 将見我其登毛 所念可聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

鶏が鳴く東の国に 古へに ありけることと 今までに 絶えず言ひける 勝鹿の 真間の手児名が 麻衣に 青衿着け ひたさ麻を 裳には織り着て 髪だにも 掻きは梳らず 沓をだにはかず行けども 錦綾の 中に包める 斎ひ子も 妹にしかめや 望月の 足れる面わに 花のごと 笑みて立てれば 夏虫の 火に入るがごと 港入りに 舟漕ぐごとく 行きかぐれ人の言ふ時 いくばくも 生けらじものを 何すとか 身をたな知りて 波の音の 騒く港の 奥城に 妹が臥やせる 遠き代に ありけることを 昨日しも 見けむがごとも思ほゆるかも

Phiên âm:

Tori ga naku / Azuma no kuni ni / inishie ni / arikeru koto to / ima made ni / taezu ihikeru / Katsushika no / Mama no tegona ga / asaginu ni / aokubitsuke / hitasao wo / mo ni wa orikite / kamidani mo / kaki hakezurazu / kutsu wo da ni / hakazu yuke domo / nishikiaya no / naka ni tsutsumeru / iwahigo mo / imo ni shika meya / mochizuki no / tareru omowani / hana no goto / wemite tatereba / natsumushi no / hini iru ga goto / mina to irini / fune kogu gotoku / yukikagure / hito no ifu toki / ikubaku mo / ikeraji mono wo / nani su to ka / mi wo tanashirite / nami no oto no / sawaku minato no / Okutsuki ni / imo ga koyaseru / tohoki yo ni / arikeru koto wo / kinofu shimo / mikemu ga goto mo / omohoyuru kamo/

Diễn ư:

Trước đây lâu lắm rồi (Lúc gà vừa mới gáy), ở một vùng đất thuộc miền Đông có sự tích mà đến nay người ta hăy c̣n truyền tụng. Đó là chuyện nàng con gái tên là Mama no Tegona, người trong thôn Katsushika. Nàng hay mặc đồ tơ gai, khoác ngoài áo màu xanh, váy dài cũng chỉ may bằng tơ gai mộc mạc.Tóc tai không lược chải, chân trần trụi chẳng có lấy đôi dép, cứ như thế mà bước đi. Vậy mà những cô gái nhà sang được nâng niu như trứng mỏng trong chốn khuê pḥng cũng chẳng ai sánh được với nàng.

Đôi mắt nàng trong lành, sóng mũi dọc dừa, khuôn mặt xinh tươi hoa nhường nguyệt thẹn. Cậu trai nào cũng tranh nhau để đến trước cầu hôn. Họ chẳng khác nào lũ thiêu thân bị ngọn lửa thu hút khi thấy nàng nở nụ cười tươi tắn hay giống như đoàn thuyền bè đua nhau chèo vào bờ khi nàng đưa mắt nh́n ra bến. Thế nhưng nàng th́ rất bi quan, đau đớn nghĩ rằng đời người vốn chẳng dài lâu, chỉ được 50 năm, nào mấy ai đă sống hơn 100. Cho nên nàng ra ngoài bến sông rồi gieo ḿnh dưới làn sóng, tự tay ḿnh chấm dứt cuộc đời ngắn ngủi để được ngủ yên măi măi.. 

Hôm nay đi ngang qua đất này, nghe câu chuyện truyền lại tự ngày xưa, ta tuởng chừng như vừa mới xảy ra hôm qua, ḷng không khỏi bồi hồi thương cảm.

Tạm dịch thơ:

Ngày xưa ở miền Đông / Đă xảy ra câu chuyện / Bao nhiêu tháng năm ṛng / Đời vẫn c̣n truyền tụng / Nàng Mama người ở / Thôn Katsushika / Tơ gai làm áo xống / Đơn sơ chẳng lượt là / Nhưng dầu tóc biếng chải / Chân trần không dép hài / Thế mà các cô gái / Sống nhung lụa, trang đài / Đem ra so sánh với / Hơn nàng, nào có ai !

Mắt trong thanh, mũi thẳng / Miệng tươi tựa đóa hoa / Khi nụ cười hé nở / Bao chàng trai suưt soa / Như thiêu thân gặp lửa / Như thuyền chen vào bờ / Họ tranh được gần gủi / Bên người đẹp không thôi / Nhưng ḷng Mama đă / Chán ngán với cuộc đời / Trăm năm nào có mấy / Huống chỉ dài năm mươi / Ra băi kia sóng bạc / Nàng gieo ḿnh tự trầm / Thân ch́m vào nước biếc / Ngủ trọn giấc ngàn năm.

Hôm nay qua nơi đây / Nghe lại câu chuyện cũ / Niềm đau vẫn ngập đầy / Ḷng khôn nguôi thương nhớ / Tưởng chừng mới hôm qua / Dù người đà khuất măi.

Về mặt tu từ, cần chú ư là trong bài này có những “chữ gối đầu” như tori ga naku (gà gáy) để nói về azuma (phương đông) v́ gà gáy lúc mặt trời mọc ở hướng đông, mochizuki ( măn nguyệt, trăng rằm) để mô tả dáng vẻ khuôn mặt (tareru omowa) như “khuôn trăng đầy đặn” của người đẹp Mama no Tegona lúc nàng cười.

Những nàng con gái trẻ đẹp, trong trắng nhưng phải chịu cảnh nghèo khổ (như Cô Gái Da Lừa, Cô Bé Lọ Lem, Cây Thịt Đội Đèn, Cô Tấm, O-Shin ...) vẫn là đề tài trong văn chương cổ kim đông tây. Ta thấy ở đây tác giả đă mô tả một cách khéo léo về sức quyến rũ của nàng đối với đám con trai bằng những h́nh thức ví dụ không chút cầu kỳ. Những chuyện con thiêu thân bị lửa đốt hay cảnh đoàn thuyền nôn nă về bến đều là h́nh cảnh rất sống thực mà ai cũng có thể gặp mỗi ngày.   

Một ngựi con gái như nàng Mama, cuộc đời chưa có được một ngày vui đă vội ra đi, dĩ nhiên để lại cho thế nhân bao luyến tiếc. Đồng thời, người đọc cũng cảm thấy có một sự nhẹ nhơm, an tâm v́ cái vẻ đẹp trong trắng đó đă trở thành vĩnh cữu trong ḷng biển cả khi chưa hề gợn chút bợn nhơ của cuộc đời này. Chẳng những chỉ có bài thơ trên, mà nói chung, đề tài truyền thuyết về Mama no Tegona c̣n được các nhà thơ khác như Yamabe no Akahito khai triển trong một bài chôka (3-431) và nhiều bài tanka với ḷng hoài cổ mang mang.

Dưới đây là một bài hanka cùng đề tài do Takahashi no Mushimaro viết:

9-1808

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

<>鹿之真間之井見者 立平之 水は家<> 手兒名之所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

勝鹿の真間の井見れば立ち平し水汲ましけむ手児名し思ほゆ

Phiên âm:

Katsushika no / Mama no i wo mireba / tachinarashi / mizu kumashikemu / tegonashi omoyhoyu

Diễn ư:

Khi nh́n cái giếng tên là giếng Mama ở Katsushika, ta không thể nào không liên tưởng tới việc ngày xưa nàng Mama no Tegona thường ra đây múc nước. 

Tạm dịch thơ:

Qua giếng nàng Mama / Ở Katsushika / Ḷng ai không chạnh nhớ / Khi xưa Tegona / Thường ra đây múc nước / (Người xưa giờ đâu là ?).

Đi múc nước ngoài giếng về dùng là phận sự của những nàng con gái nghèo. Ta c̣n thấy cảnh ra bờ giếng này được mô tả trong các bài 14-3546 và 19-4143 chẳng hạn. Tác giả đi qua vùng, đến bở giếng mang tên nàng và bồi hồi tưởng tượng ra h́nh ảnh yêu kiều của người đẹp trong truyền thuyết. Cảnh bờ giếng trong bài tanka bổ sung và làm phong phú cho chôka vốn không nhắc đến nó.

Một truyền thuyết khác nói về người đẹp với số phận oan nghiệt cũng đă được Takahashi no Mushimaro khai thác. Đó là chuyện nàng Unai Otome trong bài thơ sau:

9-1809:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

葦屋之 菟名負處女之 八年兒之 片生之時従 小放尓 髪多久麻弖尓 並居 家尓毛不所見 虚木綿乃牢而座在者 見而師香跡 <>憤時之 垣廬成 人之誂時 智<><>士宇奈比<>士乃 廬八燎 須酒師競 相結婚 為家類時者 焼大刀乃 手頴押祢利 白檀弓 <>取負而入水 火尓毛将入跡 立向 競時尓 吾妹子之 母尓語久 倭<>手纒 賎吾之故 大夫之 荒争見者 雖生 應合有哉 <>串呂黄泉尓将待跡 隠沼乃 下延置而 打歎 妹之去者 血沼<>士 其夜夢見 取次寸 追去祁礼婆 後有 菟原<>士伊仰天 S於良妣 ひ地 牙喫建怒而 如己男尓 負而者不有跡 懸佩之 小劔取佩 冬ふ蕷都良 尋去祁礼婆 親族共 射歸集 永代尓 標将為跡 遐代尓 語将継常 處女墓中尓造置 <>士墓 此方彼方二 造置有 故縁聞而 雖不知 新喪之如毛 哭泣鶴鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

葦屋の菟原娘子の 八年子の 片生ひの時ゆ 小放りに 髪たくまでに 並び居る 家にも見えず 虚木綿の 隠りて居れば 見てしかと いぶせむ時の 垣ほなす 人の問ふ時 茅渟壮士菟原壮士の 伏屋焚き すすし競ひ 相よばひ しける時は 焼太刀の 手かみ押しねり 白真弓 靫取り負ひて 水に入り 火にも入らむと 立ち向ひ 競ひし時に 我妹子が母に語らく しつたまき いやしき我が故 ますらをの 争ふ見れば 生けりとも 逢ふべくあれや ししくしろ 黄泉に待たむと 隠り沼の 下延へ置きて うち嘆き 妹が去ぬれば茅渟壮士 その夜夢に見 とり続き 追ひ行きければ 後れたる 菟原壮士い 天仰ぎ 叫びおらび 地を踏み きかみたけびて もころ男に 負けてはあらじと 懸け佩きの小太刀取り佩き ところづら 尋め行きければ 親族どち い行き集ひ 長き代に 標にせむと 遠き代に 語り継がむと 娘子墓 中に造り置き 壮士墓 このもかのもに 造り置ける故縁聞きて 知らねども 新裳のごとも 哭泣きつるかも

Phiên âm:

Ashinoya no / Unai otome no / yatose go no / kataohi no tokiyu / wobanari ni / kamitaku made ni / narabi oru / ie ni mo miezu / utsuyufu no / komori te oreba / miteshi ka to / ibu semu toki no / kakihonasu / hito no tofutoki / Chinu otoko / Unai otoko no / fuse yataki / susushikihoi / ahi yobahi / shikeru toki wa / yakitachi no / takami oshineri / shiramayumi / yukitori ohite / mizu ni iri / hi ni mo iramu to / tachi mukahi / kihohishi toki ni / wagimo ko ga / haha ni kataraku / shitsutamaki / iyashiki wa ga yue / masura wo no / arasohu mireba / ikeri to mo /ahu beku are ya / shishiku shiro / yomi ni matamu to / komoinu no / shitaba he o kite / uchiageki /imo ga inureba / chinu wo toko / sono yo ime ni mi / toritsutzuki / oi yuki kereba / okure taru / Unai otokoi / ame afugi / sakebi orabi / tsuchi wo fumi / kikami takebite / mokoro wo ni / makete wa araji to / kakehaki no / odachi tori haki / tokorozura / tomeyuki kereba / yakara dochi / iyuki tsudohi / nagaki yo ni / shirushi ni semu to / tohoki yoni / katari tsugamu to / otome tsuka / naka ni tsukurioki / otoko haka / konataka nani ni / tsukuri okeru / yue yoshi kikite / shiranedomo / nihimo no goto mo / nenaki tsuru kamo /

Diễn ư:

Nàng trinh nữ tên Unai ở vùng Ashinoya (bây giờ là Ashiya) từ khi hăy c̣n là đứa bé mới lên tám cho đến lúc tóc rẽ đường ngôi, không bao giờ ra mặt cho xóm giềng hai bên thấy được ḿnh, suốt ngày chỉ cấm cung trong nhà. Những anh chàng si mê nghe tiếng người đẹp t́m đến nh́n cho được nàng sắp hàng dày như bờ rào ngoài ngơ.

Trong số đó có hai người hăm hở nhất là tay tráng sĩ ở Chinu và ở Unai. Hai cậu tranh nhau đến cầu hôn, mang kiếm bén, vác cung cứng gỗ bạch đàn và mang ống tên trên vai, thề rằng nếu v́ người đẹp th́ có nhảy vào nước lửa, họ cũng cam ḷng. Họ c̣n chực quyết đấu với nhau. Lúc ấy người con gái mới quay sang thưa với mẹ rằng nếu v́ một người con gái nghèo hèn là ḿnh mà để cho hai chàng tráng sĩ đáng kính kia phải đi đến chỗ tranh giành th́ thực là không phải. Kiếp người dù có sống dài lâu, mấy ai gần gủi được người ḿnh yêu dấu. Thế th́ đành chờ người ḿnh yêu ở một kiếp sau mà thôi. Quyết tâm như vậy, nàng than thở khôn cùng rồi kết liễu cuộc đời. Ngay đêm đó, trong giấc chiêm bao, chàng tráng sĩ Chinu nằm mơ thấy nàng đă chết bèn t́m cách chết theo luôn.C̣n lại mỗi chàng tráng sĩ Unai, lúc ấy chỉ biết ngửa mặt lên trời, nghiến răng, dậm chân than khóc như điên dại. Nghĩ ḿnh không thể chịu thua người con trai đồng trang lứa, nên tuốt đoản đao mang bên ḿnh ra tự sát theo hai người.

Gia đ́nh của ba người trẻ tuổi trước cảnh ấy bèn họp với nhau, bàn rằng phải làm sao cho câu chuyện của ba người sẽ không bao giờ trôi vào quên lăng cho đến ngàn đời. Họ bèn xây mộ cho nàng trinh nữ và chôn hai chàng trai hai bên tả hữu cạnh nàng.

Nghe những t́nh tiết như thế, tuy rằng không trực tiếp biết người trong cuộc, nhưng câu chuyện quá thương tâm làm ta không khỏi xúc động đến rơi lệ.

Tạm dịch thơ:

Xưa có nàng Unai / Quê vùng Ashiya / Từ khi mới lên tám / Đến lúc rẽ đường ngôi / Không ai được biết tới / Vẫn cấm cung trong nhà / Tiếng đồn nàng xinh đẹp / Vang dội khắp gần xa / Bao nhiêu chàng trai trẻ / Si mê bao quanh nhà / Ḷng nào cũng nao nức / Làm sao gặp mặt hoa / Có hai chàng tráng sĩ / Đều đáng mặt làm trai / Chinu đă vũ dũng / Unai lại anh tài / Gươm sắc và cung cứng / Tên nhọn, muốn cầu hôn / Dù phải vào nước lửa / Cũng không ngại tranh hùng / Nhưng Unai đau khổ / Nàng thưa cùng mẹ già / Thân con nào đáng gíá / Để hai chàng bận tâm / Cho dù sống trăm tuổi / Người yêu biết có gần / Xin đợi nhau kiếp khác / Than thở rồi liều thân / Chinu nghe báo mộng / Biết nàng đă măn phần / Đau đớn cho số phận / Cũng bỏ cơi dương trần / Chỉ Unai c̣n lại / Than trời và dậm chân / Nghiến răng chàng căm tức / Không chịu thua bạn bè. Dao ngắn tuốt khỏi vỏ / Theo họ về bên kia / Gia đ́nh và thân tộc / Của tất cả ba người / Họp nhau thương tiếc măi / Kỹ niệm mong truyền đời / Dựng cho nàng ngôi mộ / Chôn hai chàng cạnh nơi.

Ôi thảm kịch ngày xưa / Dù người dưng kẻ lạ / Mà tưởng mới gần đây / Lệ dâng buồn cảm khái /.      

Chuyện về một người con gái xinh đẹp được hai hay nhiều người đàn ông yêu, phát triển đến t́nh huống du họ vào bước đường cùng, không chỉ có trường hợp nàng Mama no Tegona và nàng Unai Otome thôi đâu. Trong Man.yôshuu, loại truyện kư như vậy rất nhiều. Truyền thuyết về nàng Sakurako (bài 16-3786 và 3787) cũng như chuyện nàng Atsurako ( bài 16-3788 và 3790) chẳng hạn đều theo mô-típ đó. Sakurako được hai chàng trai yêu, đâm ra buồn khổ đến nổi vào rừng treo cổ chết. Đó là một câu chuyện tranh vợ dẫn đến kết thúc thương tâm. Atsurako th́ được cả ba chàng cùng đến cầu hôn, ḷng cũng quá đỗi đau đớn nên trầm ḿnh dưới đáy hồ Miminashi-ike. Ba chàng trai sau đó đă làm thơ ai điếu vong linh nàng. Mô - típ tranh đoạt vợ với chủ đề một người con gái xinh đẹp trong trắng đau đớn v́ ḿnh trở thành đối tượng của một sự tranh chấp không mấy đẹp đẽ, bèn tự ḿnh kết liễu cái kiếp nhân sinh bất như ư. Hai câu chuyện này có cả lời tựa viết bằng Hán văn, trước những bài thơ ai điếu của các chàng trai đều kèm thêm lời giải thích.

Riêng t́nh sử của nàng Unai Otome đă được tŕnh bày một cách rất tinh tế, đáng được xem như câu chuyện điển h́nh của đề tài tranh vợ trong thời cổ (Sơn Tinh Thủy Tinh cũng thế). Trong trường hợp Mama no Tegona, lời giải thích tâm sự nàng và lư do cái chết của nàng hăy c̣n quá sơ lược làm người ta không thấy được tính thuyết phục của nó. Trong câu chuyện về Unai Otome, sự xung đột trong tư tưởng của cô gái bộc lộ rơ ràng hơn. Cô tỏ ra khổ tâm v́ hai chàng trai quá tự tín về khả năng chinh phục người đẹp của ḿnh, đến nổi muốn so tài đao kiếm. Thiếu nữ mới nghĩ rằng nếu ḿnh không hiện hữu nữa th́ cái mầm tranh chấp sẽ mất đi và không xảy ra lưu huyết. Cho dù nàng chọn chàng Chinu (người khác làng) là người nàng có cảm t́nh hơn th́ cuộc đời này vẫn sẽ đen tối. Để thoát khỏi sự ràng buộc vào tấn bi kịch đó, không ǵ hơn là giải quyết bằng cách từ bỏ cuộc đời này vĩnh viễn. Có thể nói ở đây, người ta đă thấy h́nh bóng của tư tưởng Phật giáo với h́nh ảnh của một cơi đời sau trường cửu chứ không tạm bợ như cuộc sống hiện tại.

Thế nhưng, chàng Chinu linh cảm được cái chết của nàng một cách siêu h́nh (trong giấc mơ) đă t́m cách theo nàng mà không trù trừ một phút giây. C̣n chàng Unai (người cùng làng), v́ giữ thể diện và cũng v́ thất vọng, đă không chịu ở lại một ḿnh nên tức khắc t́m cách theo chân.

Những câu chuyện tương tự chắc không thiếu ǵ trong xă hội hiện đại mà người ta không muốn đưa ra trước ánh sáng đó thôi. Dù sao, ngày xưa, con người tỏ ra trong trắng và hành xử một cách nồng nhiệt hơn người thuộc thế giới chúng ta. Xă hội động vật hoang dă đă có cảnh các con đực tranh nhau con cái. Trong cổ tích ở vùng Đông Á cũng có những câu chuyện tương tự như Táo Ông Táo Bà hay Sự Tích Trầu Cau với cảnh hai ông một bà quen thuộc nơi người Nhật thời Vạn Diệp mà nổi tiếng nhất có lẽ là mối t́nh tay ba Tenji-Tenmu-Nukata.

Bài chôka nói trên như một đoạn phim ngắn hay một màn kịch. Nó cũng được gói ghém trong h́nh thức tanka như hai bài thơ sau đây của Tanabe Sakimaro 田辺福麻呂 vịnh trường hợp nàng trinh nữ ở Ashiya 芦屋処女 này với tâm trạng hoài cổ khi đi ngang ngôi mộ của nàng (các bài 9-1810, 9-18011):

9-1810:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

葦屋之 宇奈比處女之 奥槨乎 徃来跡見者 哭耳之所泣

Dạng huấn độc (đă chua âm):

芦屋の菟原娘子の奥城を行き来と見れば哭のみし泣かゆ

Phiên âm:

Ashi no ya no / Unahi otome no / okutsuki wo / yukiku to mireba / ne no mi shinaka yu

Diễn ư:

Khi đang đi ngang ngôi mộ của nàng trinh nữ Unai Otome ở Ashiya và ngắm nh́n nó, ta tưởng như tất cả chi tiết cuộc đời nàng như diễn ra trước mắt. Xui ta bật tiếng khóc thương người đă khuất.

Tạm dịch thơ:

Chậm bước qua ngôi mộ / Trong thôn Ashiya / Tưởng như cuộc đời của / Unai đang diễn ra / Chạnh thương người đă khuất / Nước mắt bỗng chan ḥa. 

Đặt bên cạnh bài chôka hết sức hoa mỹ, bài hanka này có một thi vị đặc biệt v́ đơn sơ, b́nh dị.

9-1811:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

墓上之 木枝靡有 如聞 陳努<>士尓之 <>家良信母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

墓の上の木の枝靡けり聞きしごと茅渟壮士にし寄りにけらしも

Phiên âm:

Haka no uhe no /kono enabi keri / kiki shigoto / Chinu wotoko ni shi / yori ni kerashi mo /

Diễn ư:

Ta nghe nói rằng cây hoàng dương (tsuge) trồng trên mộ của nàng Unai Otome thường ngă về phía ngôi mộ của chàng Chinu. Thấy thế mới biết những lời đồn đại lúc sinh tiền là ḷng nàng ngă về phía chàng Chinu hẳn là có thực.   

Tạm dịch thơ:

Nh́n cành dương bên mồ / Vươn về phía Chinu / Mới hay ḷng thiếu nữ / Từ lúc hăy thơ ngây / Đă gửi gắm cho ai / Đúng như người ta nghĩ.

Thường thường những bài hanka lúc nào cũng có những chi tiết gắn bó với chôka đi trước. Bài tanka này nói về cành cây hoàng dương (tsuge) trên ngôi mộ của nàng Unai  Otome có liên quan với chôka mang số 19-4211 và tanka 19-4212. Người Nhật ngày xưa đă tin rằng ḷng của Unai vốn hướng về Chinu trong mói quan hệ tay ba đó và chi tiết thấy cành cây ngă về phía ngôi mộ của Chinu chỉ củng cố thêm ḷng tin đó. Qua đó, họ tỏ ra đồng t́nh với Unai Otome khi nàng chọn cái chết để tránh thảm kịch có thể xảy ra v́ cái tính nóng nảy, cuồng nhiệt của tráng sĩ Unai.

Việc hai tráng sĩ cầu hôn nàng Unai Otome cũng được chép trong Truyện Vùng Đại Ḥa (大和物語 Yamato Monogatari, 951) đoạn 147, nghĩa là sau Man.yôshuu một ít lâu.Trong Yamato Monogatari, câu chuyện đă được thêm nhiều chi tiết minh họa bằng tranh kèm theo thơ waka của các thi sĩ đương thời và dâng lên Hoàng hậu Onshi, chánh cung của Thiên hoàng Uda.Tấn thảm kịch chung quanh chuyện cầu hôn này c̣n là đề tài cho dao khúc tuồng Nô mang tên Motomezuka 求塚 và truyện ngắn nhan đề Ikutagawa 生田川 của nhà văn cận đại Mori Ôgai.

 

Sự hấp dẫn, lôi cuốn của cái chết đối với người Nhật không ngờ đă bắt nguồn từ một quá khứ xa xôi như thế. Chết đi để khỏi bị nhơ nhớp, chết đi để giải quyết vấn đề vv...Cách chết cũng là một phần của cách sống trong đạo lư của người samurai về sau. Tất cả những điều đó phải chăng đă có thể nh́n thấy qua những ḍng thơ từ thời Vạn Diệp.

 

Tiết V: Thơ hoàng tử Shiki志貴皇子:

Hoàng tử Shiki (Shiki no Miko, ? – 715?, 716?) vốn là con trai thứ bảy của Thiên hoàng Tenji. Ông là cha của Thiên hoàng Kônin (Quang Nhân, tại vị 770-781, sống 709-781) và tước vương Yuhara. Hoàng tử đă để lại trong Man.yôshuu 6 bài thơ gồm 5 zôka và 1 sômonka (bài 4-513). Ông thường khai thác chủ đề về thiên nhiên, với tâm tư tĩnh lặng và thanh khiết. Sau đây xin giới thiệu 2 bài zôka của ông.

8-1418

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

石激垂見之上乃 左和良妣乃 毛要出春尓 成来鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

石走る垂水の上のさわらびの萌え出づる春になりにけるかも

Phiên âm:

Iwabashiru / tarumi no uhe no / sa warabi no / moe izuru haru ni / nari ni keru kamo /

Diễn ư:

Bên cạnh bờ thác nơi ḍng nước từ trên ghềnh đá đổ xuống mạnh mẽ, đă thấy (những) cọng rau rừng warabi (dương xĩ hay đuôi chồn) vừa nhú mầm. Rơ ràng là tín hiệu của một mùa xuân tươi sáng vừa mới đến!

Tạm dịch thơ:

Bên bờ thác cao vợi / Nước đổ xuống trùng trùng / Dương xĩ kia mầm nhú / Xanh biếc ngọn rau rừng / Như đưa tin ta biết / Xuân sẽ đẹp vô ngần /

Đây là bài thơ mào đầu của quyển thứ 8, trong đó ta cảm được tâm t́nh của tác giả vui v́ bắt được tín hiệu của mùa xuân khi nh́n thấy mầm của loại rau rừng warabi bên bờ thác nước chảy xiết (cũng có thể là dấu hiệu băng tuyết trên núi vừa tan?). Tuy là hoàng tử thứ bảy của Thiên hoàng Tenji nhưng hoàng tử Shiki là người hẩm vận, sống một cuộc sống phong kín. Chỉ đến lúc cuối đời, khi con trai ông là Hoàng tử Shirakabe (Bạch Bích Vương) lên ngôi trở thành Thiên Hoàng thứ 49 Kônin (Quang Nhân, 709-781) th́ ông mới thấy tia sáng mùa xuân đầu tiên của đời ḿnh. Bài thơ này vịnh cọng rau rừng nhú mầm khi gặp ánh dương xuân cũng là bày tỏ sự sung sướng của ông khi giấc mộng vinh hoa được toại nguyện. Màu mầm rau xanh và ḍng nước bạc tạo nên một cảnh sắc thật sảng khoái. Cọng warabi h́nh giống đuôi chim nhưng cuộn xoáy vào trong, đọt non ăn mềm, rất mát.

Mầm warabi (Nguồn Wikipedia)

Thời cổ, văn hóa c̣n thấp kém, con người suy nghĩ thực thà. Họ nhạy cảm trước những thay đổi của khí hậu, thời tiết, cái nóng cái lạnh. Mùa xuân giải phóng họ ra khỏi sự lạnh lẽo nên họ rất mong ngóng. Có lẽ bài thơ này đă làm ra khi Hoàng tử Shiki t́nh cờ nh́n thấy mầm warabi nhú lên xanh biếc bên bờ thác Tarumi trong xứ Settsu. Bài thơ đơn sơ, không lư luận nhiều, không chút ồn ào, chỉ nói đến một hiện tượng thiên nhiên t́nh cờ ḿnh bắt gặp. Bài thơ nhẹ nhàng và thông suốt với 7 âm hàng ra (ru, ru, ra, ru, ru, ri, ru) đặt gần nhau. Bashô cũng có bài thơ (bài 909 trong toàn tập của ông và làm ra khoảng năm 1688-1704):

雪間より、薄紫の芽、独活かな

Yukima yori / usumurasaki no me / udo kana

Chợt thấy màu tím nhạt / Ngoi lên giữa tuyết tan. Mầm udo đang nhú ?

nói lên niềm vui thấy mùa xuân sớm đến khi bắt gặp mầm cây udo màu tím nhạt ngoi lên từ lớp tuyết đang tan trên núi. Udo là một loài cây thân thảo, mọc dại, lớn lên có thể cao đến 2 m, hoa nhỏ, hương thơm. Có thể ăn và dùng làm thuốc.

Hoàng tử Shiki c̣n để lại những giai tác khác như bài thơ sau đây:

1-64

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

葦邊行 鴨之羽我比尓 霜零而 寒暮夕 <>之所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

葦辺行く鴨の羽交ひに霜降りて寒き夕は大和し思ほゆ

Phiên âm:

Ashibe yuku / kamo no hagahi ni / shimo furite/ samukiyufuhe ha / Yamato shiomohoyu /

Diễn ư:

Những con vịt trời đi về (bơi về) phía bờ lau trên bến Naniwa, sương rơi ướt trên cánh chúng. Cảnh chiều lạnh lẽo như thế này làm ḷng ta nhớ đến cố hương trong xứ Yamato.

Tạm dịch thơ:

Nh́n vịt trời động bóng / Bơi về băi lau xa / Sương rơi ướt chéo cánh / Lạnh chiều Naniwa / Yamato lăng lắc / Buồn gửi tận quê nhà.

Bài thơ này Hoàng tử Shiki làm ra khi tháp tùng Thiên hoàng Mommu (Văn Vũ) đi tuần du ở cung Naniwa (Ôsaka), trong đó ông mô tả cảnh chiều hôm lạnh lẽo ở một chốn hải tần. Thật ra cố hương Yamato (Nara) th́ cũng gần đó thôi chớ có bao xa nhưng thời cổ th́ đường đất khó khăn, cách nhau chừng ấy đă coi như xa diệu vợi. Cố hương với những người thân yêu đối với tác giả là nơi ấm cúng nhường nào. Tâm t́nh của ông nơi đây thật thanh thoát nhưng không kém phần sâu sắc.

Nhớ về cố hương th́ đă có những vần thơ viết khi nh́n khói sóng trên sông như trong Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài của Lư Bạch, ngay với Huy Cận, nhà thơ Việt Nam trong Tràng Giang (Mênh mông trời rộng nhớ sông dài). Riêng cảnh “vịt trời động bóng” làm ta liên tưởng một tứ thơ khác của Huy Cận thời trẻ, rất đắt:

Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.

Khác nhau chăng là lúc cuối ngày, dơi ra đi kiếm ăn và vịt t́m chỗ ngủ.

Tiếp đến, xin tŕnh bày bài tanka hoàng tử Shiki viết nhân cuộc thiên đô của Nữ thiên hoàng Jitô từ Asuka về Fujiwara, kinh đô mới trong khoảng thời gian 16 năm (694-710) . Đây là một bài thơ rất đẹp:

1-51

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

女乃袖吹反 明日香風 京都乎遠見 無用尓布久

Dạng huấn độc (đă chua âm):

采女の袖吹きかへす明日香風都を遠みいたづらに吹く

Phiên âm:

Unene no / sode fukikaesu / Asuka kaze / miyako wo t ômi / itazura ni fuku /

Diễn ư:

Ngọn gió ở phế đô Asuka từng thổi lật qua lật lại ống tay áo của những nàng uneme (cung nữ xinh đẹp hầu cận lo cái ăn cái mặc cho thiên hoàng) trong suốt một trăm năm  (cuối thế kỷ thứ 6 - cuối thế kỷ thứ 7) không biết rằng kinh đô giờ đă dời đi xa rồi nên vẫn c̣n thổi vô ích hoài công.

Hoàng tử Shiki c̣n sống sót sau cuộc loạn năm Jinshin (Nhâm Thân, 672) mà ông thuộc về phía chiến bại và đă đứng bên ngoài cuộc tranh chấp ngai vàng cho nên nỗi niềm thương tiếc phế đô của ông có một thi vị đặc biệt.

Tạm dịch thơ:

Asuka phế đô / Vẫn ngọn gió ngày xưa / Phất phơ áo cung nữ / Thổi tận đến bây giờ / Người đẹp về đâu nhỉ? / Hoài công gió vẩn vơ /

Mộ cổ Ishibutai ở phế đô Asuka (Nguồn Wikipedia)

Đọc mấy vần cổ thi này, không khỏi liên tưởng đến hai câu thơ rất đẹp về cố đô Huế  được nhắc đến trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân, tuy Quỳnh Giao, nhà thơ Việt ấy, gieo vần một cách hoa lệ hơn:

Một hàng tôn nữ cười trong nón ,

Sông ngữa ḷng ra đón bóng yêu.

Như Lục Tổ Huệ Năng giải thích trong truyện Thiền nhan đề Phi phong phi phan, không phải là gió động hay phướn động mà là ḷng người động. Ở đây cũng vậy, không phải là ngọn gió Asuka hay ḍng Hương Giang đa t́nh cảm động trước vẻ đẹp yêu kiều, chỉ là con tâm nghệ sĩ của thi nhân rung động đấy thôi.

 

 Thơ tước vương Yuhara湯原王

Trở lại với Man.yôshuu qua bài thơ dưới đây của tước vương Yuhara (Yuhara no Okimi), con trai thứ hai hoàng tử Shiki và là cháu nội Thiên hoàng Tenji. Yuhara có người con trai là tước vương Ishino 壱志濃王 (Ishino Ôkimi) và đă để lại trong Man.yôshuu tất cả 19 bài tanka mà bài nào cũng đẹp đẽ, tinh tế. Với phong cách làm thơ như thế, ông đă được xem như người đi mở đường trong ḍng thơ đầu thời Heian (từ năm 794).

3-375

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

吉野尓有夏實之河乃 川余杼尓 鴨曽鳴成 山影尓之弖

Dạng huấn độc (đă chua âm):

吉野なる菜摘の川の川淀に鴨ぞ鳴くなる山蔭にして

Phiên âm:

Yoshino naru / natsumi no kawa no / kawa yodo ni / kamo zo naku naru / yamakage ni shite /

Diễn ư:

Trên sông Natsumi ở vùng kinh đô Yoshino, dưới bóng núi tịch mịch bỗng có tiếng mấy chú vịt trời kêu những chỗ sâu nơi nước ngập trong xanh.

Tạm dịch thơ:

Natsumi sông chảy / Yoshino cố đô / Vực sâu nước xanh thẳm / Soi bóng núi âm thầm / Bỗng tiếng đàn vịt nước / (Đánh thức giấc thời gian) /

Sông Natsumi là một đoạn của ḍng sông Yoshino chày qua vùng cố đô của người Nhật. Nơi đây, núi biếc sông xanh, có những vực sâu nước ngập đầy in bóng núi đá, không khí vô cùng yên tĩnh, ít khi có dấu chân người. Bất chợt, tiếng vịt trời ở đâu đó cất lên phá vỡ sự im lặng của thiên nhiên.

Với 9 âm trong hang na (no, na, no, no…) và 6 âm trong hang ka (kawa, kamo, naku, kage…), bài thơ mang âm điệu uyển chuyển và đẹp đẽ. Thường nghe kể rằng tính t́nh của Yuhara cũng thanh tao và trầm lặng như thấy qua thơ ông.

 

Tiết VI: Thơ bà Ôtomo no Sakanoue大伴坂上郎女:

Tên của bà thật ra là Ôtomo no Sakanoue no Iratsume (Đại Bạn Phản Thượng Lang Nữ), một danh xưng khá dài. Xin gọi tắt là Ôtomo no Sakanoue. Bà là một nhà thơ tài hoa và là một nhân vật rất quan trọng của thời Vạn Diệp v́ là nhà thơ nữ được đăng nhiều thơ nhất trong đó, lại là cô ruột, mẹ nuôi và mẹ vợ của nhà biên tập Man.yôshuu là Ôtomo Yakamochi 大伴家持 (Đại Bạn Gia Tŕ).

Gia phả tổ tiên của gia đ́nh bà kéo lên tận tới thời “thiên tôn giáng lâm” tức là thời tổ tiên của những vị thiên hoàng đầu tiên “hạ cánh” từ thượng giới xuống cơi đời này. Họ hàng bà đời đời theo nghiệp vơ và lănh trọng trách ở chốn triều đ́nh. Cha của bà là vị Đại Tướng Quân kiêm Đại Nạp Ngôn (Dainagon) Ôtomo no Yasumaro, mẹ của bà là mệnh phụ Ishikawa Ôba, người thuộc một đại quí tộc khác. Bà có một người anh nổi tiếng mà ta đă được đọc thơ. Ông là Ôtomo no Tabito 大伴旅人 (Đại Bạn Lữ Nhân), người có nhắc đến nhiều lần ở trên vậy.

Hồi mới lớn lên, bà làm vợ chính thất của Hoàng tử Hozumi (Hozumi no Miko), một ông già nổi tiếng v́ mối t́nh vụng trộm với công chúa Tajima thời son trẻ. Sau khi ông mất, bà đi thêm bước nữa với Fujiwara Maro no Taifu, người con trai thứ tư của đại thần Fujiwara Fuhito, thuộc gia đ́nh quyền thần vào bậc nhất. Người chồng thứ ba của bà là một ông anh họ, Ôtomo Sukunamaro. Bà có hai con gái với ông ấy, đó là cô chị Ôtomo Sakanoue Ô-iratsume (đại nương) và cô em Oto-iratsume. Sau khi ông anh Tabito của bà góa vợ lúc đi phó nhậm ở phủ Dazai dưới Kyuushuu, bà đă nhận nuôi dạy người cháu ruột sau này sẽ trở thành rễ (cưới cô chị Ô-iratsume) là Yakamochi. Khi Tabito mất đi cách đó không lâu, gia thế sa sút, chính một tay bà đứng ra đông bôn tây tẩu, lèo lái cho đại gia đ́nh Ôtomo qua cơn sóng gió.

Với kinh nghiệm đời phong phú như thế và được nuôi dưỡng trong bầu không khí văn chương của thế giới cung đ́nh, thơ của bà rất đa dạng. Đề tài đi từ luyến ái qua t́nh yêu gia đ́nh, thơ về người cháu và cũng là chàng rễ tài hoa Yakamochi, thơ ca tụng thánh thần, thơ nói về t́nh mẫu tử đối với con gái. Tất cả bà có 84 bài trong Man.yôshuu. Như thế, thơ của bà có thể so sánh được với thơ nam giới v́ mang nhiều chủ đề và sử dụng đủ các h́nh thức, từ tanka (77 bài), chôka (6 bài) đến sedôka ( 1bài).

Sau đây xin tŕnh bày vài bài thơ tiêu biểu của bà:

4-651

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

久堅乃天露霜 置二家里 宅有人毛 待戀奴濫

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ひさかたの天の露霜置きにけり家なる人も待ち恋ひぬらむ

Phiên âm:

Hisakata no / Ame no tsumeshimo / Oki ni keri / ie naru hito mo / machi koi nuramu /

Diễn ư:

Ngày tháng đi qua nhanh, không biết tự lúc nào sương đă ngập đầy, đất trời bước vào cuối thu rồi. Ta bỏ gia đ́nh đi lâu như thế, không khỏi không nhớ đến khuôn mặt các con nhưng ở vùng Yamato, chắc các con thơ của ta cũng đang sốt ruột ngóng ta về.

Tạm dịch thơ:

Ngày tháng như tên bay / Sương thu đă ngập đầy / Xa xôi thương lũ trẻ / Hai khuôn mặt thơ ngây / Nơi quê nhà con chắc / Cũng ngóng mẹ từng ngày?

Bài thơ nói lên t́nh mẫu tử giữa tác giả và hai cô con gái c̣n bé dại. Nếu bà đi xa nhớ con th́ các cô chắc cũng đang tựa cửa mong mẹ về. Sau khi chị dâu măn phần, bà phải xuống phủ Dazai chăm sóc anh và lo cho đứa cháu mới mồ côi mẹ là Yakamochi, để hai con lại kinh đô.

Về sau, thời Heian, không biết vô t́nh hay cố ư nhưng các nhà thơ cũng rập theo một khuôn khi gắn liền sự biến đổi của đất trời với ḷng mong nhớ kinh đô trên bước lữ hành. Những người đi xa, qua cửa ải Shirakawa (gần Fukushima) lên miền Đông Bắc thường ngóng về kinh đô mỗi khi thấy gió thu nổi hay rừng phong thay lá đỏ, để cảm thấy ḿnh đi xa quá lâu rồi. Ví dụ thơ tăng Nôin 能因法師 (Nôin Hôshi, 988-?):

都をば、霞と共に、立ちしかど、秋風ぞ吹く、白河の関
Miyako wo ba / kasumi to tomo ni / tachishikado / aki zo fuku / Shirakawa ga seki /

Ta ra đi từ kinh đô môt lượt với sương xuân, nhưng giờ đây, trên cửa ải Shirakawa, đă thấy gió mùa thu nổi lên rồi.

hay thơ vơ tướng Gen Sammi 源三位 (Minamoto no Yorimasa 源頼政, 1104-1180):

都には、まだ青葉にて、見しかども、紅葉散りしく、白河の関
Miyako ni wa / mada aoba nite / mite shikadomo / momiji chirishiku / Shirakawa no seki /

Ở chốn kinh đô, hôm nào thấy lá hăy c̣n xanh, thế mà nay trên cửa ải Shirakawa, lá đỏ đă rụng đầy. 

4-652

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

玉主尓 珠者授而 勝且毛 枕与吾者 率二将宿

Dạng huấn độc (đă chua âm):

玉守に玉は授けてかつがつも枕と我れはいざふたり寝む

Phiên âm:

Tamamori ni / tama wa sazukete / katsugatsu mo / makura to ware ha / iza futari nemu /

Diễn Ư:

Con gái (thứ hai) của ta xinh đẹp như ngọc quí trong tay. Tuy ḷng mẹ biết bao nhiêu lo lắng nhưng cũng đành đem nó gửi gắm cho người chủ ngọc (ám chỉ Sugura Maro, anh con rễ thứ hai của bà) . Khi con gái đi rồi, căn pḥng trở nên trống trải, mẹ đành ôm gối ngủ một ḿnh chứ có đứa nào sẽ là người ngủ chung với mẹ đêm nay đâu!  

Tạm dịch thơ:

Con mẹ xinh như ngọc / Cũng đành đem trao tay / Ḷng không nguôi lo lắng / Nhưng biết làm sao đây / Con đi, nhà trống trải / Ai cạnh mẹ đêm nay?

Cô chị Ô-iratsume đă được gả cho Yakamochi. Cô thứ hai tức Oto-iratsume th́ gả cho chàng công tử cùng họ là Suruga Maro, và đây là tâm trạng của người mẹ một lần nữa phải xa đứa con gái yêu. Cô hai không những là một người xinh đẹp được mẹ cưng chiều mà con là người bạn tâm sự c̣n sót lại của mẹ nữa. Do đó, ta hiểu được nỗi bất an của bà Sakanoue. Vui v́ con có mối lương duyên nhưng cũng lo lắng cho những bất trắc có thể xảy ra cho con. Đó là tâm trạng phức tạp vui buồn lẫn lộn của bà mẹ muôn thuở. Trong một chừng mực nào, trên một ngh́n năm sau, Nguyễn Bính của chúng ta với bài Ḷng Mẹ trong Lỡ Bước Sang Ngang đă bắt gặp hồn thơ ấy:

Đưa con ra đến cửa buồng thôi,

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi.

Con ạ, đêm nay ḿnh mẹ khóc,

Đêm nay ḿnh mẹ lại đưa thoi.

Hơn nữa, cảnh pḥng không, ôm gối chiếc ngủ một ḿnh của bà sau khi con đă vu quy làm ta dễ dàng liên tưởng đến câu thơ của nhà thơ nữ đời Edo, Kaga no Chiyojo, viết ra sau khi chồng mất:

起きて見つ、寝て見つ蚊帳の,広さかな

Okite mitsu / nete mitsu kaya no / hirosa kana /

Thức cũng thấy mà ngủ thời cũng thấy / Hay v́ màn chắn muỗi rộng thênh thang / [4]

Có thể trong bài thơ này bà cũng nói lên được tâm trạng “ghen tuông” với chàng rễ của cả những ông bố khi nh́n con gái về nhà chồng?

Đối với Yakamochi, đứa cháu trai mà bà dưỡng dục và sau thành rễ của bà, Sakanoue cũng có những t́nh cảm sâu đậm, nhiều khi giống như t́nh cảm giữa người khác phái như thấy qua mấy bài thơ sau đây:

6-979

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

吾背子我 著衣薄 佐保風者 疾莫吹 及<>左右

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が背子が着る衣薄し佐保風はいたくな吹きそ家に至るまで

Phiên âm:

Waga seko ga / keru kinu usushi / Sahokaze wa / itaku nafukiso / ie ni itaru made /

Diễn Ư:

Ôi cái áo người ấy (cháu của ta) mặc quá mong manh. Đi về đến nhà ở miền tây sao cho nổi. Này, ngọn gió ở Saho, xin đừng thổi quá mạnh nhé, gió ơi!

Tạm dịch thơ:

Mong manh áo một mảnh / Gió Saho rát vai / Lối về hăy c̣n dài / Đến nhà sao cho nổi / Khi gió nhẹ, cho người / Trên đường đi khỏi lạnh /

Saho là một địa danh vùng Nara, nơi có con sông Sahogawa chảy qua, nhiều phủ đệ nhà quan, nơi bà Sakanoue xuất thân. Chắc lúc này Yakamochi chưa là rễ nhưng đă thường xuyên đến thăm bà cô và cô em họ, sau này sẽ thành vợ của chàng.

Sau đây là một trong hai bài thơ mà bà cô Sakanoue tặng cháu, lúc đó là quan trấn thủ xứ Etchyuu (Toyama bây giờ):

18-4081

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

可多於毛比遠 宇万尓布都麻尓 於保世母天 故事部尓夜良波 比登加多波牟可母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

片思ひを馬にふつまに負ほせ持て越辺に遣らば人かたはむかも

Phiên âm:

Kataomoi wo / uma ni futsuma ni / ôse mote / koshibe ni yaraba / hito katahamu kamo /

,Diễn ư:

Này cháu Yakamochi, t́nh cảm thương nhớ của cô nghĩ đối với cháu thật tràn trề , dù lấy ngựa mà thồ cũng không xuể. Nếu cô đem gửi nó đến nơi cháu đang làm việc th́ e rằng kẻ trộm sẽ tưởng là vật quư mà cuổm đi mất thôi. Khổ thật, thế th́ không biết nên gửi đi hay không?

Tạm dịch thơ:

Ḷng cô tưởng nhớ cháu / Nhiều chở không hết đâu / Dẫu nhờ sức ngựa mạnh / Mang đi được là bao / Tưởng quí, trộm cum mất / Cô không biết cách nào?/

Đem t́nh cảm là vật vô h́nh để ví với đồ vật như hành lư ngựa thồ được, bà cô này thật trẻ trung, ranh mănh và hài hước. Thế nhưng t́nh cảm của bà đối với cháu thật thắm thiết và trân trọng v́ bà sợ kẻ trộm lấy mất đi vật quí giá ấy (dĩ nhiên quí giá đối với bà mà thôi). Có thể nói nơi đây bà biểu lộ một tấm chân t́nh chứ không phải dùng cách ví von này như một kỹ xảo làm thơ đơn thuần.

Thơ Sakanoue gửi cho cháu vốn có rất nhiều. Khuôn khổ hạn hẹp của chương sách không cho phép đưa lên tất cả. Tuy nhiên, những bài dưới đây đáng được lưu ư v́ Sakanoue đă rời bỏ cương vị một người cô để trở về cương vị một phụ nữ b́nh thường khi đứng trước Yakamochi:

4-661

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

戀々而相有時谷 愛寸 事盡手四 長常念者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

恋ひ恋ひて逢へる時だにうるはしき言尽してよ長くと思はば

Phiên âm:

Koi koi te / aeru toki da ni / uruhashiki / koto tsukushite yo / nagaku to omowaba /,

Diễn ư:

T́nh yêu nóng bỏng như thế này và đă lâu mới có dịp gặp th́ trong giây phút gặp gỡ ngắn ngủi, nếu mong muốn t́nh ḿnh măi măi bền lâu th́ xin chàng hăy nói với em những lời lẽ âu yếm, ngọt ngào nhất, nghe chàng.

Tạm dịch thơ:

Yêu ngựi, yêu cháy bỏng / Th́ lâu ngày gặp nhau / Dù thời giờ ngắn ngủi / Chớ tiếc câu ngọt ngào / Lời có say ḷng thiếp / T́nh mới được bền lâu /

Nhan đề của bài thơ là “Cô Sakanoue tặng cháu Yakamochi, quan trấn thủ Etchyuu” nên có thể xem như đây là bài thơ bà “nói thay” cho Ô-iratsume, cô con gái lớn của ḿnh và là người vợ tương lai của Yakamochi. Có thuyết khác cho rằng đối tượng của bài thơ này là ông rễ thứ hai cơ nhưng điều này cũng không quan trọng lắm bởi v́ nó cũng có tính phổ quát của một bài thơ t́nh giữa hai người đang yêu. Bởi v́ sau khi đă gánh vác gia đ́nh Ôtomo một thời gian dài (nuôi con, giúp anh, dạy cháu), có thngười đàn bà đa t́nh đă ba đời chồng này cũng thoáng nghĩ về hạnh phúc cá nhân, muốn nghe những lời âu yếm từ một người đàn ông nào đó chăng?

Các nhà thơ nữ Nhật Bản thời vương triều viết nhiều vần thơ giàu nhục cảm và có sinh hoạt t́nh ái phóng túng. Thí dụ điển h́nh nhất có lẽ là Izumi Shikibu 和泉式部 và Ise no Go 伊勢の御. Thế nhưng Sakanoue cũng đă tỏ ra không cần che đậy tâm hồn cháy bỏng yêu đương của bà khi viết những ḍng này

 

Anh đào (Nguồn Internet)

4-688

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

青山乎 横雲之 灼然 吾共咲為而 人二所知名

Huấn độc (đă chua âm):

青山を横ぎる雲のいちしろく我れと笑まして人に知らゆな

Phiên âm:

Aoyama wo / yokogiru kumo no / ichishiroku / ware to emashite / hito ni shirayu na /

Diễn ư:

Nh́n đám mây trắng vắt ngang ngọn núi cây cối xanh um trông đẹp lạ thường nhưng có người đưa mắt mỉm cười với ta lúc ấy. Xin người làm thế nào cho kín đáo để người chung quanh không biết về mối quan hệ của đôi ta nhé (v́ họ sẽ gây ra lắm điều tiếng).

Tạm dịch thơ:

Xanh xanh là đỉnh núi / Mây trắng, giải lưng xinh / Ai kia miệng cười mỉm / (Mắt lóng lánh đưa t́nh) / Xin đừng làm thế nữa / Người ta đoán sự t́nh /

Câu trên là một câu tả cảnh, câu dưới tả t́nh và cả hai đều đẹp. “T́nh đẹp hơn cả là ở trong sự bí mật”, như lối suy nghĩ cổ kim đông tây. Cho nên giải mây vắt ngang rặng núi xanh đă đẹp rồi mà nụ cười kín đáo, cái nh́n vụng trộm mà những người yêu gửi đến cho nhau c̣n đẹp hơn thế nữa. T́nh cảm đó của Sakanoue mới mẽ ngay cả với con người hiện đại chúng ta và không có một chút ǵ hời hợt hay lộ liễu.

Sau đây là một trong 4 bài Sakanoue họa thơ Fujiwara Maro Taifu, người chồng thứ hai:

4-527:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

将来云毛 不来時有乎 不来云乎 将来常者不待 不来云物乎

Dạng huấn độc (đă chua âm):

来むと言ふも来ぬ時あるを来じと言ふを来むとは待たじ来じと言ふものを

Phiên âm:

Komu to iu mo / konu toki aru wo / koji to iu wo / komu to wa mata ji / koji to iu mono wo /

Diễn ư:

Hôm nay nếu chàng có hứa đến thăm em th́ chắc giống như trong quá khứ, nhiều lần chàng đă bất chợt lấy cớ công kia việc nọ, không giữ được lời hứa. Cho nên hôm nay chàng nói với em rơ ràng là bận việc trong cung nên không đến được, thoái thác ngay từ đầu, th́ em chắc hẳn chàng không đến được.

Cho nên em sẽ không hy vọng chàng có thể đến và chờ đợi chàng đâu. Ngay từ đầu chàng đă bảo là không đến rồi cơ mà!

Tạm dịch thơ:

Xưa hứa đến thăm em / Mượn cớ rồi không đến / Nay từ đầu bảo bận / Sẽ không đến được đâu / Em chẳng đợi chẳng cầu / Lúc nào chàng chả thế! / 

Có phải từ đầu chàng đă thế hay không, hỡi quan đại phu Fujiwara Maro ? Không phải một ḿnh ông mà tất cả các chàng quí tộc thời vương triều đều như thế cả. Chế độ kết hôn thời cổ là mukotori (ở rễ) chứ không phải yomeiri (về nhà chồng). Các ông chiều tối đến thăm, đến hừng đông lại bỏ ra đi. Các bà chịu quạnh quẽ v́ các ông đa thê, rất bận bịu chia phần. Họ kiếm cớ như đi họp, đi chầu, lấy cớ quẻ bói định ngày tốt ngày xấu, ngày kiêng ngày kỵ, phương hướng phong thủy không thích họp để “chạy tội”.

Bài thơ của Sakanoue nhằm mỉa mai hành động khéo léo mượn cớ đó của các ông. Và bà không phải là nhân vật duy nhất đem thổ lộ điều đó trong văn chương. Thế nhưng, nếu đọc giữa hai ḍng chữ, ta sẽ thấy ở đây không chỉ là một lời trách móc đơn thuần mà là c̣n là câu nói hờn dỗi. “Nói như vậy mà không phải vậy”. Chắc chắn ḷng bà vẫn nồng nàn, âm thầm chờ đợi với niềm hy vọng gặp ông mong manh như đốm lửa lập ḷe. 


 

[1] Dainagon là một chức quan văn cao, được tham dự vào quốc chính, cỡ bộ trưởng, thứ trưởng trong chính phủ.

[2] Theo chế độ quan chức thời cổ, kokushi (quốc ty) là hàng quan hành chánh địa phương, gồm có 4 cấp bậc (thủ = kami, trợ = suke, duyện = jô, mục = sakan).

[3] Tên một vùng, xưa gọi là một nước, nay nằm ở phía bắc Kyôto.

[4] Tiếng Nhật có thành ngữ “kaya no soto” (bên ngoài màn chắn muỗi) để nói về những kẻ đứng bên ngoài sự bí mật và...thân mật.

 

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : 11/1/2011 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của soạn giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com