NHẬP MÔN MAN.YÔSHUU

Qua thơ Vạn Diệp Tập, viễn du trong xă hội Nhật Bản cổ đại.

万葉集入門

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Bản thảo 2011

 

Chương Bốn

Các tác giả thời thơ Man.yô phát triển và hưng thịnh:

1-Thơ tước vương Ichihara. 2-Thơ bà Sano no Otogami no Otome. 3-Thơ Tanabe Sakimaro. 4-Thơ Ôtomo no Yakamochi. 5-Thơ những người đàn bà có liên hệ đến Yakamochi.

Trong giai đoạn niên hiệu Tempyô (Thiên B́nh, 729-749, đời Thiên hoàng Shômu, Thánh Vũ), văn hoá Yamato cực kỳ hưng thịnh. Nh́n từ quan điểm Man.yôshuu th́ ta thấy thời này có nhiều thi nhân Vạn Diệp đặc sắc hơn cả. Thi đàn Tempyô tiền kỳ th́ đă có các nhân vật tên tuổi nhưng lúc đó đang bước vào buổi văn niên như Ôtomo no Tabito, Yamanoue no Okura, Yamabe no Akihito, Kasa no Kanamura, Takahashi no Mushimaro. C̣n Tempyô hậu kỳ là giai đoạn chứng kiến sự thành đạt của Yuwara no Ôkimi, Ôtomo no Sakanoue no Iratsume cũng như Ichihara no Ôkimi, Ôtomo no Ikenushi, Ôtomo no Yakamochi và những nhà thơ nữ đang lên mà đời thơ và sinh hoạt riêng tư đều có dính líu với nhà biên tập và thi nhân lỗi lạc này.

Những nhà thơ nói trên đă không ngừng phát huy cá tính, tiến bộ không ngừng trên con đường mô tả về bản thân ḿnh. Thế nhưng văn hoá thời ấy nói chung đă phát triển thêm ở một qui mô rộng răi hơn, đó là kinh đô như một không gian đô thị lớn. Thi ca của các vị ấy diễn tả được tâm t́nh phức tạp, tinh tế, nhạy cảm của con người sống trong đó. Nội dung ca vịnh đă đánh mất đi sự thô sơ, trong sáng, đôi khi hoang dă nhưng đầy sinh khí của thơ đời trước. Thay vào đó, lần hồi người ta đă bắt gặp những tín hiệu đầu tiên mang màu sắc ưu nhă, mỹ lệ, đặc trưng của giai đoạn thứ tư của thời Vạn Diệp (và cũng là thời suy thoái của nó). Thế rồi, triều đại Nara sẽ bước qua Heian và thơ Man.yô (Vạn Diệp Tập, 759 ?) sẽ đi lần đến thơ Kokin (Cổ Kim Ḥa Ca Tập, 905 ? 914?). Trong lịch sử thơ Waka, đây là thời điểm cần phải hết sức chú ư.   

Tiết I: Thơ tước vương Ichihara 市原王:

Tước vương Ichihara (Ichihara no Ôkimi) là con trai của tước vương Aki truyền theo thứ tự sau đây: 1) Thiên hoàng Tenji...2) Hoàng tử Shiki ...3) Tước vương Kasuga ...4) Tước vương Aki...5) Tước vương Ichihara. Tính như vậy ông là cháu 4 đời Thiên hoàng Tenji. Năm Tempyô thứ 15 (733) ông c̣n làm quan dưới bậc tùng ngũ phẩm nhưng sau thăng lên chức đại phu ở xứ Settsu, lại nhận nhiệm vụ trưởng quan coi sóc việc xây dựng (chùa) Tôdaiji (Đông Đại Tự) , một công tŕnh kiến trúc quan trọng bậc nhất đương thời. Ông để lại 8 bài tanka trong Man.yôshuu.

Tượng Daibutsu ( chùa Tôdaiji) (Nguồn Wikipedia)

 

6-1042

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

一松 幾代可歴流 吹風乃 聲之清者 年深香聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 一つ松幾代か経ぬる吹く風の音の清きは年深みかも

Phiên âm:

Hitotsu matsu / ikuyo ka henuru / fuku kaze no / oto no kiyoki wa / toshi fukami kamo

Diễn ư:

Cây tùng ở trên ngọn đồi (Ikuji no oka, vùng lăng mộ xứ Yamashiro) này đă trải qua bao nhiêu năm tháng rồi nhỉ? Khi đến thăm cây tùng và nghe tiếng gió thổi xạc xào rơ mồn một th́ ta mới hiểu rằng nó từng sống lâu năm, (chứng kiến nhiều cuộc đổi thay). Tiếng gió trong ṿm lá cây cổ tùng nghe thật là hay.

Dưới bóng ngọn tùng già trên đồi cao, nâng chén rượu, nghe tiếng gió rạt rào trong cḥm lá, tước vương Ichihara như thoát ra khỏi cái bản ngă của ḿnh. Ngọn tùng già thường chống trả với làn gió mạnh mẽ hơn những cây tùng non nên tiếng gió đi ngang qua nó cũng có âm điệu trầm hùng hơn. Đây là một bài thơ vịnh thiên nhiên rất cao sang và tao nhă.

Tạm dịch thơ:

Tùng già trên đồi cao / Ai biết tuổi đâu nào! / Xào xạc theo làn gió / Nghe trầm hùng xiết bao / (Phải chăng v́ chứng kiến / Bao nhiêu cuộc biển dâu /) 

Tiết II:Thơ bà Sano no Otogami no Otome 狭野弟上娘子:

Trong Man.yôshuu, không thiếu ǵ nhà thơ nữ địa vị cao sang (5 nữ thiên hoàng, 3 hoàng hậu, 7 công chúa và 20 quận chúa) nhưng cũng có rất nhiều nhà thơ nữ xuất thân từ tầng lớp b́nh dân (93 người). Trong số đó, một con người nổi bật là Sano no Otogami no Otome, xin tạm rút gọn thành ...tiểu thư Sano no Otome, một cung nhân và là nhà thơ có thi phong lăng mạn, nồng nhiệt, được suy định đă sống vào thời Nara hậu kỳ. Lời chú trong quyển 15 của Man.yôshuu viết đại ư như sau để nói lên lư do tại sao bà làm thơ :

“ Khi Nakatomi no Asomi Yakamori 中臣朝臣宅守 cưới Sano no Otome, cung nhân làm việc ở Kurabe (cơ quan coi việc chi thu của cải trong cung) là Sano no Otogami no Otome, có chiếu chỉ đày ông ông lên vùng Echizen. Hai vợ chồng v́ thế phải sống xa cách, khó ḷng gặp nhau, nên đă cất lên lời than thở qua 63 bài thơ tặng đáp ”.

Cung nhân (nyoju, nữ nhụ) làm ở Kurabe với cấp bậc của Sano no Otome, theo lời giải thích của giáo sư Uemura Etsuko, chỉ là kẻ giữ việc quét nhà, châm đèn, những việc tạp nhạp, nhưng chỉ làm việc ấy mà có văn tài như bà, kể cũng đáng nễ. Nhưng h́nh như nơi bà làm việc, phụ nữ không được giao du với đàn ông bên ngoài. Cưới nhau cũng không tránh được tội, ông Yakamori bị lưu đày lên vùng Echizen (nay thuộc tỉnh Fukui, nh́n ra biển Nhật Bản). Thế nhưng đến tháng 9 năm Tempyô 13 (741), ông được đại xá và có lẽ lại hồi kinh. Sau đó, ông đă lên hàng quan ngũ phẩm. Chuyện về sau của hai người, không thấy sử sách nào chép tiếp. Có lẽ một kết cuộc “happy end” không đáng nói bằng 63 bài thơ trao đổi giữa cặp t́nh nhân trong giai đoạn lưu đày.

Trong 63 bài th́ bà Sano no Otome viết 23 bài. Nội dung 63 bài đó như sau:

1-  4 bài để nói lên mối sầu ly biệt;

2-  4 bài gửi cho ông lúc ông lên đường;

3-  14 bài ông viết khi đến chỗ phối lưu;

4-  9 bài bà nói về nỗi buồn của người ở lại;

5-  13 bài ông viết;

6-  8 bài thơ bà viết;

7-  2 bài ông tặng bà;

8-  2 bài bà họa lại thơ ông;

9-  7 bài ông mượn h́nh ảnh hoa điểu để gửi gắm tâm sự.

Kể lên như thế để tiếc mà nói rằng chỉ có những phần (1), (4), (6), (8) là c̣n giữ lại được, kỳ dư đă thất lạc.

Sau đây là bài thơ Sano no Otome đă viết ra trong giờ ly biệt: 

15-3724

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

君我由久 道乃奈我弖乎 久里多々祢也伎保呂煩散牟 安米能火毛我母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

君が行く道の長手を繰り畳ね焼き滅ぼさむ天の火もがも

Phiên âm:

Kimi ga yuku / michi no nagate wo / kuritatane / yakihorubosamu (san) / ame no himogamo /

Diễn ư:

Từ nay anh sẽ lên đường lưu đày ở vùng Echizen, con đường xa diệu vợi. Em chỉ muốn gh́ chặt lấy, kéo quăng đường dài đó về phía ḿnh và đốt cháy tiêu nó đi.Nếu được thế, anh chẳng cần phải đi đâu nữa. Ôi, em những mong có ngọn lửa từ trời xuống giúp em!

Tạm dịch thơ:

Con đường anh lưu đày / Xa xôi dằng dặc dài / Em muốn cuốn nó lại /Đốt tiệt giữ chân người / Phải chi có ngọn lửa / Kéo xuống được từ trời /  

V́ chồng ḿnh nhận được chiếu chỉ từ thiên hoàng quyền lực vô song cho nên đem sức người ra th́ đối địch sao cho được. Huống chi Sano no Otome chỉ là một người đàn bà yếu đuối. Bà nhân đó mới cầu mong trời đất và những sức mạnh tự nhiên tạo nên phép lạ giúp ḿnh đương đầu với nỗi bất hạnh đó.

Có thể trong cung, bà cũng làm công việc quay tơ cuộn chỉ (itokuri) những lúc đêm hôm nên bà mới liên tưởng đến việc rút ngắn đường đất.

Nhưng rút đường lại để mà đốt đi vĩnh viễn. Thái độ tích cực vượt lên lư trí đó chứng tỏ t́nh yêu của bà rất mănh liệt. Nó cũng chứng tỏ t́nh yêu ấy trong trắng và nguyện vọng đó chân thật như ước muốn của một đứa trẻ con.

Cuốn chỉ (Nguồn Wikipedia)

15-3730

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

加思故美等 能良受安里思乎 美故之治能多武氣尓多知弖 伊毛我名能里都

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 畏みと告らずありしをみ越道の手向けに立ちて妹が名告りつ

Phiên âm:

Kashikomi to / norazu arishishi wo / mikoshiji no / tamuke ni tachite / imo ga nanoritsu /

Diễn ư:

V́ ta mang tội phải cất bước lưu ly nên không có quyền gọi tên người vợ yêu dấu. Ta đành câm nín chịu đựng nhưng khi vào đất Echizen, đứng trên ngọn đèo ranh giới, ta không c̣n gắng gượng được nữa nên bất chợt đă lên tiếng gọi tên em.

Tạm dịch thơ:

 Thân mang tội lưu đày / Nào dám nhắc tên ai / Ngậm miệng đến biên giới / Bên đèo trông xa vời / Nhớ người vợ yêu dấu / Bất giác gọi “Em ơi!” /

15-3746

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 <>等能宇々流 田者宇恵麻佐受 伊麻佐良尓 久尓和可礼之弖 安礼波伊可尓勢武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 人の植うる田は植ゑまさず今さらに国別れして我れはいかにせむ

Phiên âm:

Hito no uuru / ta wa uemasazu / ima sara ni / kuni wakare shite / are wa ikani muse /

Diễn ư:

Ở bất cứ nơi đâu, khi ngựi nhà nông trồng luá, gặt lúa, họ đều có vợ có chồng làm chung. Nay không giúp em trong việc canh tác mà bỏ đi mất về xứ Echizen. Một ḿnh em ṿ vơ ở lại đất Yamato này biết phải làm ǵ đây?

Tạm dịch thơ:

 Việc nhà nông gian khổ / Vợ chồng phải có đôi / Một ḿnh anh biền biệt / Echizen lâu rồi / Yamato ṿ vơ / Trông người tủi phận tôi /

15-3748

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

比等久尓波 須美安之等曽伊布須牟也氣久 波也可反里万世 古非之奈奴刀尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

他国は住み悪しとぞ言ふ速けく早帰りませ恋ひ死なぬとに

Phiên âm:

Hitokuni wa / sumiashi to zo iu / sumu yakeku / haya kaerimase / koi shinanu to ni/ 

Diễn ư:

Em nghe nói rằng cuộc sống xa quê hương thường rất khó khăn. Nhớ chóng mà về nhé nghe anh. Đừng đợi đến lúc em quá sầu khổ héo hon mà chết trước ngày anh về.

Tạm dịch thơ:

 Sồng quê người khổ lắm / Câu nói đó nào sai / Anh nhớ về sớm nhé / Đừng để em đợi hoài / Nhỡ buồn, em chết héo / Mà anh chưa đến nơi /

15-3753

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

安波牟日能 可多美尓世与等 多和也女能於毛比美太礼弖 奴敝流許呂母曽

Dạng huấn độc (đă chua âm):

逢はむ日の形見にせよとたわや女の思ひ乱れて縫へる衣ぞ

Phiên âm:

Awamu (wan) hi no / katami nise yo to / tawayameno / omoi midarete /nueru koromo zo / 

Diễn ư:

Chiếc áo này xin cho phép em để dành làm vật kỹ niệm cho ngày trùng phùng của hai ta. Dù trong những khi buồn khổ bối rối, tâm hồn bấn loạn, em vẫn dồn hết t́nh yêu thương vào đường kim mũi chỉ để khâu cho anh đó.

Tawayame nghĩa là người đàn bà yếu đuối, lời Sano no Otome tự ví về hoàn cảnh của ḿnh trong lúc xa chồng.

Tạm dịch thơ:

Chiếc áo này xin giữ / Để tặng lúc anh về / Những khi ḷng buồn khổ / Tâm bấn loạn hôn mê / Em vẫn gữi t́nh yêu / Trong đường kim mũi chỉ /

 Sano no Otome đă muốn kéo lửa từ trời đốt con đường chồng phải đi để ngăn sự chia cách giữa hai người nhưng không thể thực hiện được. Chàng vẫn phải đi về xứ tuyết Echizen xa xăm. Mỗi đêm nàng chong đèn khêu bấc may áo cho chồng mặc cho đỡ lạnh. Mỗi đựng kim mũi chỉ đều là chứng cứ của t́nh yêu, có đẫm ḍng lệ máu của nàng.

Sau đây là thơ của Yakamori, chồng nàng.

12-3758

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

佐須太氣能 大宮人者 伊麻毛可母比等奈夫理能<> 許能美多流良武 [一云 伊麻左倍也]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

さす竹の大宮人は今もかも人なぶりのみ好みたるらむ [一云 今さへや]

Phiên âm:

Sasutake no / ômiyahito wa / ima mo kamo / hitonaburi nomi / konomi taru ramu (ran) / 

Diễn ư:

Đă là người phụng sự triều đ́nh th́ giống như thời c̣n ở kinh đô, lẽ nào ta chỉ thích thú trong việc dùng lời lẽ đùa nghịch làm phiền đến các cô các bà. (Nhưng ta biết có những kẻ hành động như thế và) chắc nàng cũng bị khốn khổ v́ bị điều tiếng, phải không nào? (Tội cho nàng ở trong cảnh tiến thoái lưỡng nan).

Sasutake (trưởng thành nhanh và mạnh như trúc) : từ hoa chỉ sự phồn vinh , trường hợp này là một makura kotoba nói về triều đ́nh (ômiya).

Tạm dịch thơ:

Từ khi ta làm quan / Trong triều hay bây giờ / Không quen thói quấy quả / Làm phiền người đàn bà / Lo nàng nay phải khổ / Chịu điều tiếng v́ ta / 

15-3772

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

可敝里家流 比等伎多礼里等 伊比之可婆保等保登之尓吉 君香登於毛比弖

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 帰りける人来れりと言ひしかばほとほと死にき君かと思ひて

Phiên âm:

Kaerikeru / hito kitareri / iishikaba / hotohoto shiniki / kimi ka to omoite /

Diễn ư:

Nghe ai nói người có tội được ân xá nay trở về kinh đô và sắp đến nơi, mừng ơi là mừng, ngực hồi hộp, hơi thở như muốn nghẽn (hotohoto). Bởi v́ em muốn chạy nhanh ra xác nhận người ấy có phải là anh không.

Tạm dịch thơ:

Nghe được tin ân xá / Tội nhân đă hồi kinh / Em chạy ra nghe ngóng / Mừng muốn vỡ con tim / Hơi thở chợt ngừng lại / Tưởng người ấy là anh!

Năm Tenpyô thứ 12 (740) có sắc lệnh đại xá, nhiều người được về kinh. Trong đó có bọn ông Hozumi Asomi 5 người cũng thuộc giới quan lại. Đột nhiên nhận được tin, Sano no Otome tưởng là chồng ḿnh nên đă vội chạy ra xem cho chắc. Hồi hộp v́ mừng và lo âu, đó là tâm trạng của nàng.Nhưng đó chỉ là mộng v́ trong đoàn tội nhân trở về không có chồng nàng.Từ đỉnh cao hy vọng nàng đă lọt xuống vực thẳm tuyệt vọng. Niềm vui chỉ thoáng qua trong một sát na.

15-3774

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 和我世故我可反里吉麻佐武 等伎能多米 伊能知能己佐牟 和須礼多麻布奈

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 我が背子が帰り来まさむ時のため命残さむ忘れたまふな

Phiên âm:

Wa ga seko ga / kaeri kimasamu (san) / toki no tame / inochi nokosamu (san) / wasureta mau na

Diễn ư:

Anh yêu dấu ơi, để đợi cho đến ngày anh về, chúng ḿnh phải bảo trọng mạng sống anh nhé. Xin luôn luôn nhớ cho rằng em sẽ cố rắng sống v́ ngày đó.

Tạm dịch thơ:

Người yêu dấu của em / Cho đến buổi anh về / Hăy cùng nhau bảo trọng / Tính mạng của ḿnh nghe / Nhớ rằng em sẽ sống / Để giữ trọn câu thề /

 Nàng có thể nghĩ chết đi có lẽ sung sướng hơn nhưng đă không làm như vậy v́ nghĩ lúc chàng về mà ḿnh không c̣n nữa th́ có lỗi với chồng là dường nào. Đó cũng là tâm sự những người vợ thời chiến khi “không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương”. Nhất là Yakamori và Sano no Otome chỉ vừa mới cưới nhau xong không được bao lâu!

Giáo sư Uemura Etsuko cho rằng tuy là phận nữ nhi nhuưng Sano no Otome tích cực hơn chồng trong t́nh yêu và thơ cũng hay hơn ông một bực.

Tiết III: Thơ Tanabe Sakimaro田辺福麿:

Tanabe no Sakimaro là một nhà thơ dưới thời Nara hậu kỳ, có thi tập riêng và từng xướng họa với Yakamochi. Trong tập thứ 9, ông có 3 bài thơ tức sự khi đi ngang ngôi mộ của nàng Ashiya no Otome (bài 1801 đến 1803), một bài thơ vịnh xác chết bên đường thấy trên quăng dốc Ashikara no saka (bài 1800) cũng như một trường ca thương khóc khi em trai ông qua đời (bài chôka 1804, hai tanka 1805 và 1806). Ngoài ra, trong tập thứ 6, ông c̣n có 21 bài khác nữa.

18-4032

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

奈呉乃宇美尓 布祢之麻志可勢於伎尓伊泥弖 奈美多知久夜等 見底可敝利許牟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

奈呉の海に舟しまし貸せ沖に出でて波立ち来やと見て帰り来む

Phiên âm:

Nago no umi ni / fune shimashikase / oki ni idete / namitachi ku ya to / mite kaeri komu / 

Diễn ư:

Ta muốn đi chơi trên vùng biển Nago rộng bao la và hiền ḥa. Hăy cho ta mượn chiếc thuyền với! Ta sẽ lên thuyền và ra khơi xa, đến tận nơi xem sóng có dậy lên hay không rồi mới quay về.

Tác giả tả cảnh biển ở xứ Etchuu (Toyama bây giờ), nơi ông từ kinh đô Nara ra trấn nhậm. Nara vốn chỉ có núi nên ông có vẻ thích thú muốn khám phá phong cảnh thiên nhiên ở một vùng đất mới mẽ đối với ḿnh.

Tạm dịch thơ:

Nago (phong cảnh đẹp / Bao la và b́nh yên) / Ta muốn đi dạo biển / Xin mượn người chiếc ghe / Ra tận nơi sóng lớn / Xem được mới quay về /   

Biển Okinawa (Nguồn Wikipedia)

  

Tiết IV: Thơ Ôtomo no Yakamochi大伴家持:

Họ Ôtomo là một ḍng họ lớn kể từ thời dựng nước. Tổ tiên Ôtomo Yakamochi rất gần gũi với các thiên hoàng đầu tiên, ít nhất là con cháu nhà Ôtomo đă chủ trương rằng ông tổ cuả họ đă có mặt vào lúc “thiên tôn giáng lâm” tự trời cao. Đến cuộc loạn Nhâm Thân (Jinshin no Ran, 672), họ Ôtomo (với Ôtomo Muraji và Ôtomo Yasumaro) đứng về cánh đảo chánh của Thiên Hoàng Temmu, lập được đại công với nhà vua. Con cháu nhờ thế đời đời lảnh chức đại tướng trong quân ngũ và hưởng phú quí vinh hoa của bậc trọng thần.

Con của Ôtomo Yasumaro (?- 714) là Ôtomo Tabito (665-731), một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Vạn Diệp. Ông tuy xuất thân nhà vơ nhưng là một văn nhân tinh thông Ḥa Hán, tâm hồn thấm nhuần tư tưởng Lăo Trang, biết hưởng một cuộc đời phong lưu tao nhă. Cùng với Yamanoue no Okura (660-733), ông đứng đầu thi đàn ở Tsukushi (trên đảo Kyuushuu bây giờ), làm phong phú những năm tháng vốn cô liêu nơi biên cảnh. Nhà biên tập Ôtomo Yakamochi (717?-785) của Man.yôshuu mà chúng ta nói đến nơi đây chính là con trai ông Tabito.  

Tượng nhà thơ và nhà biên soạn Ôtomo no Yakamochi (717?-785)

(Nguồn Wikipedia)

 

Sau khi cha mất sớm (731) lúc ông mới 14 tuổi, Yakamochi được bà cô ruột và cũng là một nữ thi nhân Vạn Diệp xuất sắc là Ôtomo no Sakanoue no Iratsume (Lang Nữ) nuôi dạy. Ông biết làm thơ từ năm 15, 16 tuổi. Cuộc đời của Yakamochi có thể chia ra làm 4 thời kỳ:

-Thời kỳ thứ nhất kể từ khoảng năm Tempyô thứ 10 (738) trở đi : Lúc đó ông làm quan thị vệ trong cung (udoneri), bắt đầu cuộc sinh hoạt của một nhà thơ cung đ́nh. Lúc này cũng là khi ông kết hôn với cô em họ (con bà Sakanoue no Iratsume) là Sakanoue no Ôiratsume (đại nương) và giao thiệp với một số đông phụ nữ, để lại nhiều bài thơ tặng đáp (kéo dài trong 13 năm trời).

-Thời kỳ thứ hai kể từ năm Tempyô thứ 18 (746) trở đi: Ông ra ngoài, giữ chức trấn thủ xứ Etchuu, nhiệm sở nằm ở Echigo (miền Đông Nhật Bản, Niigata bây giờ). Echigo thời đó là một nơi biên cương vắng vẻ, tuyết ngập đầy. Ông mắc bệnh nặng lại thêm gặp hung tin là người em trai ông bỏ lại Yamato qua đời. Đây là 6 năm trời (từ lúc 29 đến 34 tuổi) khá khó khăn cho ông. Tuy nhiên đấy cũng là thời điểm ông có một sinh hoạt thi ca sung măn, để lại nhiều tác phẩm. Chính lúc đó, ông đă bắt đầu xác định được thi phong độc đáo của ḿnh cho những năm về sau.

-Thời kỳ thứ ba từ năm Tempyô Shôhô thứ 3 (752) trở đi: Ông về triều làm quan ở Bộ Binh, thăng quan tiến chức nhưng sau phải ra ngoài trấn thủ 7 năm vùng Inaba (miền Tây Nhật Bản, tỉnh Tottori bây giờ). Cũng như thời kỳ thừ hai, lúc này ông cũng làm được nhiều thơ. Thơ ông chín muồi và trở nên thoải mái, b́nh thản giống như tâm cảnh của ông lúc đó.

-Thời kỳ thứ tư là khoảng thời gian từ khi xong việc quan ở Inaba cho đến khi ông mất, tất cả là 26 năm (759-785). Điều lạ lùng là ông không có hoạt động thi ca nào đáng kể, không để lại một bài thơ nào. Ông sống cuộc đời của một vị quan và một nhà chính trị mà thôi. Đáng nói đến chăng là nhiều khi ông bị hài tội, thường là hàm oan. Cũng bởi v́ đó là một thời lắm tranh chấp đảng phái kịch liệt trong triều đ́nh và ông lại mang tên Ôtomo, một cái tên quá lớn.

Đang làm quan trong triều nhưng v́ vụ đảo chánh bất thành của Emi no Hoshikatsu (tức Fujiwara Nakamaro) dưới đời Nữ Thiên hoàng Kôken, ông bị tá thiên làm trấn thủ vùng Satsuma (cực Nam Nhật Bản, tỉnh Kagoshima bây giờ). Sau đó c̣n phải lênh đênh qua các vùng khác như Sagami, Kazusa, Ise (chung quanh Tôkyô ngày nay). Rốt cuộc vận may đến, ông được gọi về triều làm chức đại phu ở Đông Cung, tước tùng tam phẩm. Nào đă yên thân bởi v́ sau vụ mưu phản của Higai no Kawatsugu, ông bị khai trừ ra khỏi danh sách nhà quan. Đến khi sự việc sáng tỏ, ông phục hồi công việc ở Đông Cung  rồi vinh thăng chức Án Sát Sứ miền Michinoku (Đông Bắc). Tiếp đó, ông trở thành Tham Nghị bậc trung, tước vơ là Jisetsu Daishôgun tức đại tướng nhận mệnh vua tự quyết định ngoài biên. Với những chức vụ cao quư đó, ông được xem như người đại diện cho tập đoàn quí tộc Ôtomo. Nào ngờ khi Yakamochi chết lại nhằm lúc có vụ án mưu phản của một người đồng tộc là Ôtomo no Tsuguhito, do đó thi thể của nhà thơ không được ai đụng tới trong 20 hôm. Khi nghi án về ông giải tỏ, ông mới được phục chức. Như thế, vận rủi đă đeo theo ông cho đến khi chết. Năm đó ông 68 tuổi. 

Ông đủ có tài cán để được xem như nhà biên soạn Man.yôshuu. Ngoài ra ông đă đóng góp cho nội dung thi tập 48 chôka, 432 tanka, 1 sedôka, tổng cộng 479 bài thơ. Nh́n số lượng th́ đứng số một. C̣n về phẩm th́ những bài làm ra thời trẻ trong giai đoạn tập tành có thể đă mô phỏng Okura, Sakimaro hay Mushimaro nhưng về sau, dần dần Yakamochi đă biết tạo cho ḿnh một phong cách riêng. Thi phong đó là sự b́nh dị, trong sáng nhưng tràn trề t́nh ư. Đó là những bài tiêu biểu cho thơ cảm thương và hoa mỹ của giai đoạn cuối Man.yô. Ông đă đem lại được cái mới mẽ trẻ trung vào thơ, điều mà các bậc tiền bối của thế hệ trước không có.

Ông là người tinh tế và nhạy cảm. Trong ông, không có cái ǵ là vơ biền hay chính trị gia. Ông cũng không có vẻ gia trưởng của tập đoàn Ôtomo. Ông là một tao nhân mặc khách nhu ḥa mà cuộc đời gắn liền với những bóng hồng làm thơ luyến ái tặng đáp với ông. Ông là người ngồi trong pḥng văn để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên và tả cảnh tả t́nh, để lại cho đời những vần thơ thương cảm th́ đúng hơn.

Một buổi chiều xuân năm Tempyô Shôhô thứ 2 (751), ngồi trong vườn nhà, ngắm hoa đào (peach) nở, ông đă có những vần sau dây (2 bài trích 1):

Hoa đào (momo)   
(Nguồn Wikipedia)

                         

19-4139

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春苑 紅尓保布 桃花 下<>道尓出立D嬬

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 春の園紅にほふ桃の花下照る道に出で立つ娘子

Phiên âm:

Haru no sono / kurenaru niou / momo no hana / shita deru michi ni / idetatsu otome /

Diễn ư:

Trong vườn vào buổi chiều xuân, hoa đào nở đỏ đẹp đẽ. Trên con đường bên dưới, có những nàng thiếu nữ đang từ đó đi ra. Các nàng tươi đẹp, gương mặt ánh màu hồng của những đóa hoa.

Tạm dịch thơ:

Vườn xuân đào nở thắm / Hoa xinh một sắc hồng / Ánh lên trên màu má / Của cô em chưa chồng / Đường quê em nhẹ bước / Hoa, người trên lối chung /   

19-4141

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春儲而 <>悲尓 三更而 羽振鳴志藝 誰田尓加須牟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

春まけてもの悲しきにさ夜更けて羽振き鳴く鴫誰が田にか住む

Phiên âm:

Haru makete / monoganashiki ni / sa yo fukete / habuki naku shigi / tagata ni ka sumu /

Diễn ư:

Khi trời đất vào xuân, tự nhiên có điều ǵ làm ḿnh buồn. Con chim shigi (sandpiper) vừa đập cánh vừa cất tiếng hót trong đêm khuya khoắt. Không biết nó đang ở đám ruộng nhà ai vậy mà nghe sao buồn quá.

Tạm dịch thơ:

Xuân đến bỗng dưng sầu / Ḷng chẳng hiểu v́ sao! / Nghe chim cát đập cánh / Cất tiếng giữa đêm thâu / Giọng nó buồn thổn thức / Từ đám ruộng nào đâu /

Nửa đêm xuân bỗng dậy cơn sầu. Nghe chim kêu, mối sầu lại tăng thêm. Ai bảo ngày xuân chỉ đem lại niềm vui! Hay giữa mùa xuân mà đă tiếc xuân sắp qua đi.

Chim cát (Shigi) (Nguồn Wikipedia)

19-4143

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 物部<> <>D嬬等之 は乱 寺井之於乃 堅香子之花

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 もののふの八十娘子らが汲み乱ふ寺井の上の堅香子の花

Phiên âm:

Mono no fu no / yaso otomera ga / kumimagau / terai no ue no / katakago no hana /

Diễn ư:

Bao nhiêu nàng thiếu nữ đang chen chúc, tṛ chuyện ríu ra ríu rít như đàn chim, cho tay gàu múc nước ở giếng trong khuôn viên nhà chùa nằm giữa đám hoa katakago. Hoa và người cũng đẹp như nhau nhỉ!.

Katakago là tên cổ để gọi katakuri (dogtooth violet), một loại cây thân thảo có hoa màu đỏ tím, nở vào đầu xuân. Các từ điển xem như một loại cỏ gà hoa tím giống như hoa bách hợp (huệ tím), có thể hiểu là một loài hoa đồng cỏ dại.

Tạm dịch thơ:

Bao nhiêu nàng con gái / Ríu rít tiếng cười đùa / Giữa một vùng hoa dại / Tranh nước  giếng nhà chùa / Thử hỏi bao hoa tím / Đă đẹp bằng em chưa ?

19-4149

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

足引之 八峯之雉 鳴響 朝開之霞見者可奈之母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 あしひきの八つ峰の雉鳴き響む朝明の霞見れば悲しも

Phiên âm:

Ashihiki no / yasuo no kigishi / nakitoyomu / asake no kasumi / mireba kanashi mo /

Diễn ư:

Trời vừa hừng sáng, trong khi núi non đang yên tĩnh bỗng nghe tiếng chim trĩ gáy cất cao. Khi nh́n suốt một vùng sương lam che phủ, nghe trong ḷng tự dưng dậy lên một nỗi buồn.

Thêm một mối xuân sầu như thấy trong bài trước.

Tạm dịch thơ:

Lác đác tiếng trĩ gáy / Đâu đây trên núi đồi / Ngày mới vừa rựng sáng / Sương lam c̣n chơi vơi / Bỗng dưng ḷng khó nén / Một nỗi buồn khôn nguôi /

Chim trĩ (Nguồn Wikipedia)

19-4150

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 朝床尓 聞者遥之 射水河 朝己藝思都追 唱船人

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 朝床に聞けば遥けし射水川朝漕ぎしつつ唄ふ舟人

Phiên âm:

Asatoko ni / kikeba harukeshi / Imizukawa / asa ni gishitsutsu / utau funabito /

Diễn ư:

Buổi sáng nằm ở trong giường, ta lắng tai nghe th́ thấy có tiếng hát của người phu trạo chèo thuyền trên ḍng sông Izumikawa xa xa và nhỏ dần.

Quan trấn thủ ở nơi lữ thứ nghe tiếng hát của người chèo thuyền sáng sớm trên sông về phía xa vời khi ông vừa thức giấc và chạnh ḷng hoài cảm.

Tạm dịch thơ:

Sáng mùa xuân yên tĩnh / Nằm lắng nghe trong chăn / Chèo ai đang khuấy nước / Lướt về phía xa xăm / Khúc hát người phu trạo / Bên tai tiếng nhỏ dần /

Đây là một giai tác của Yakamochi. Nó toát ra một tâm t́nh hoài hương, không nói buồn mà cũng thấy buồn man mác.

19-4226

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 此雪之 消遺時尓 去来歸奈 山橘之 實光毛将見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 この雪の消残る時にいざ行かな山橘の実の照るも見む

Phiên âm:

Kono yuki no / kenokoru toki ni / iza yukana / yamatachibana no / mi no teru mo mimu /

Diễn ư:

Khi đám tuyết đọng này chưa tan đi th́ ḿnh hăy đi thôi! Bởi v́ lúc này màu những quả quất dại trong bụi cây thấp (yabukôji) vừa chín tới. Màu đỏ của quả quất núi tương phản với màu trắng tinh khôi của tuyết mới thực là một cảnh sắc tuyệt đẹp.

Tạm dịch thơ:

Giờ tuyết hăy c̣n đọng / Mau lên đường đi thôi ! / (Khi đi ngang qua núi / Sẽ thấy cảnh tuyệt vời) / Đỏ một màu quất chín / Giữa tuyết trắng tinh khôi /

Quất dại (Nguồn Wikipedia)

19-4290

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 春野尓 霞多奈i伎 宇良悲 許能暮影尓 鴬奈久母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 春の野に霞たなびきうら悲しこの夕影に鴬鳴くも

Phiên âm:

Haru no no ni / kasumi tanabiki / uraganashi / kono yuukage ni /uguisu naku mo /

Diễn ư:

Ngắm sương lam giăng mắc trên cánh đồng xuân, không hiểu tại sao ḿnh lại cảm thấy buồn buồn.Nhất là khi trong những tia nắng yếu ớt cuối ngày vẳng đâu đây tiếng cuốc kêu.

Tạm dịch thơ:

Nh́n sương lam mờ phủ / Trên cánh đồng mùa xuân / Tâm hồn ḿnh man mác / Nỗi buồn đâu ghé thăm / Huống chi trong nắng xế / Tiếng cuốc vọng bâng khuâng /

Bài thơ này nói lên dược nỗi buồn tịch liêu và phức tạp, khó nói nên lời của tác giả. Cho đến thời Yakamochi, không thấy có bài thơ nào tinh tế đến vậy. Dó là tâm sự chán chường mệt mỏi, nỗi buồn toát ra từ nội tâm của một người trí thức thời xưa (spleen kiểu Baudelaire chăng?), như t́nh cảnh của Yoshida Kenkô trong tập tùy bút Buồn Buồn Phóng bút (Tsurezuregusa) nhưng nhiều thế kỷ về sau.

19-4291

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

和我屋度能 伊佐左村竹 布久風能於等能可蘇氣伎 許能由布敝可母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 我が宿のい笹群竹吹く風の音のかそけきこの夕かも

Phiên âm:

Wa ga yado no / isasa muratake / fuku kaze no / oto no kasokeki / kono yuube kamo /

Diễn ư:

Nghe tiếng xạc xào nhè nhẹ nhưng không biết ǵ đây. Phải rồi! Đấy chẳng qua là tiếng gió thổi bâng quơ qua bụi trúc con trồng trong sân nhà ta. Ôi, buổi chiều tịch mịch làm sao!

Tạm dịch thơ:

Nghe ŕ rào nhè nhẹ / Thầm hỏi tiếng ǵ đây / Chỉ là làn gió thoảng / Làm khóm trúc lay lay / Bên hiên nhà ta ở / Hoang liêu cảnh cuối ngày /

Tưởng tượng được cảnh Yakamochi một ḿnh ngồi bên hiên nh́n buổi chiều đến  ngoài vườn nhà. Tiếng gió thoảng khẽ lay cḥm lá trúc , tiếng xào xạc chỉ làm tăng thêm sự trống vắng, tịch mịch trong ḷng ông.

Bài thơ tinh tế, trong trẻo và cô quạnh.

19-4292

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

宇良々々尓照流春日尓 比婆理安我里 情悲毛 比<>里志於母倍婆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 うらうらに照れる春日にひばり上がり心悲しも独し思へば

Phiên âm:

Uraura ni / tereru haru hi ni / hibari agari / kokoro kanashi mo / hitori shi omoeba /

Diễn ư:

Ánh nắng mùa xuân nhẹ nhàng lấp lánh, con chim sơn ca (hibari, Japanese skylark) đang hót và lượn trên từng không cao vút. Người nghe tiếng chim th́ chỉ lẻ loi, một ḿnh trầm tư, và cảm thấy có một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn.

Tạm dịch thơ:

Ngày xuân nắng thắm nồng / Sơn ca trên cánh đồng / Tiếng hót lên cao vút / Bay lượn giữa từng không / Riêng ḿnh ta lẻ bạn / Sầu chất măi đầy ḷng /

Hibari (Nguồn Wikipedia)

Ngày xuân chim hót mà ḷng lại u sầu. Nói ra để có thể giải tỏa.T́nh cảm khó hiểu thay! Thế nhưng cái xuân sầu nơi thi nhân Trung Quốc Nhật Bản đó cũng là cái mà người Tây phương gọi là ennui hay spleen nơi con người hiện đại?

Ngoài ra, thời thơ ấu, cha mẹ mất sớm, tuy được cô nuôi dạy nhưng thiếu niên Yakamochi sau đó cũng phải sống bà cô, xa vợ, và mất đi một người bạn thân nên có lẽ ông già trước tuổi, đâm ra dễ thương cảm, xúc động trước mọi việc.

19-4021

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

乎加未河<> 久礼奈為尓保布 乎等賣良之 葦附[水松之類]等流登 湍尓多々須良之

Dạng huấn độc (đă chua âm):

雄神川紅にほふ娘子らし葦付[水松之類]取ると瀬に立たすらし

Phiên âm:

Okamigawa / kurenaru niou / otomerashi / ashitsuki toru to / se ni tatasu rashi /

Diễn ư:

Nh́n suốt một vùng sông Okami th́ đă thấy một màu đỏ thật đẹp bao trùm lên rồi. Ḿnh thấy ḍng nước ánh lên sao mà giống những cái váy màu đỏ của các nàng con gái đi cắt ashitsuki, (một loại rong ven bờ nước dùng làm thức ăn), đang đứng ở chỗ lội.

Tạm dịch thơ:

Nh́n suốt một vùng sông / Okami thắm hồng / Tưởng bao tấm váy đỏ / Những cô em chưa chồng / Cắt rong bên bờ nước / Đang lội ở trên ḍng /

Lá rừng thu bên sông (Nguồn Wikipedia)

19-4024

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

多知夜麻乃 由吉之久良之毛 波比都奇能可波能和多理瀬 安夫美都加須毛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 立山の雪し消らしも延槻の川の渡り瀬鐙漬かすも

Phiên âm:

Tachiyama no / yuki shi kurashi mo / Haitsuki no / kawa no watarise / abumi tsukasu mo /

Diễn ư:

H́nh như tuyết trên núi Tachi đă bắt đầu tan.Bởi v́ khi ta vượt qua chỗ lội trên sông Haitsuki th́ thấy nước dâng cao và chảy xiết hơn. Nước ngập đến cả bàn đạp ngựa của ta.

Tạm dịch thơ:

Phải chăng núi Tachi / Băng tan, chính là khi / V́ nước sông dâng gấp / Khi vượt Haitsuki / Ướt tận đến bàn đạp / (Người thúc, ngựa khôn đi) /.

Không có một chữ xuân nào trong bài mà ai nấy đều biết xuân về v́ băng trên núi tan làm cho nước dâng cao trên mặt sông. Cảnh tượng hết sức hùng tráng và lời thơ thật sảng khoái, linh động.

19-4114

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

奈泥之故我 花見流其等尓 乎登女良我恵末比能尓保比 於母保由流可母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 なでしこが花見るごとに娘子らが笑まひのにほひ思ほゆるかも

Phiên âm:

Nadeshiko ga / hanamirugoto ni / otomera ga / emai no nioi / omouyuru kamo /

Diễn ư:

Mỗi lần ngắm nh́n vẻ đẹp khả ái của những đóa hoa nadeshiko, ta đều liên tưởng đến khuôn mặt rạng rỡ của các nàng thiếu nữ.

Nadeshiko (pink, hoa cẩm chướng, một loài hoa tầm thường trong vườn hay ngoài đồng nội thường có màu hồng) c̣n mang tên là nữ lang hoa nên ví với khuôn mặt những nàng thiếu nữ (otome) th́ cũng không lạ ǵ. Emai là khuôn mặt tươi cười và nioi có nghĩa là xinh đẹp (thị giác, xin đừng hiểu theo nghĩa hiện đại là hương thơm, khứu giác).

Tuy có người giải thích otomera là vợ tác giả (Sakanoue no Ôiratsume) nhưng như thế th́ quá tầm thường. Có lẽ nên hiểu tác giả muốn nói chung đến những người con gái quê xinh đẹp và đơn sơ như hoa trong vườn nhà hay ngoài đồng nội như cái nghĩa cận đại th́ thi vị hơn chăng?

Tạm dịch thơ:

Mỗi lần nh́n cẩm chướng / (Đang khoe sắc thắm hồng) / Ḷng tự nhiên nhớ đến / Cô gái quê chưa chồng / Mặt tươi cười rạng rỡ / (Như hoa cỏ trên đồng) /

Hoa cẩm chướng tím (Nguồn Wikipedia)

4-741

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 夢之相者 苦有家里 覺而 掻探友 手二毛不所觸者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 夢の逢ひは苦しかりけりおどろきて掻き探れども手にも触れねば

Phiên âm:

Ime no ai wa / kurushi karikeri / odorokite / kaki saguretomo / te ni mo fureneba /

Diễn ư:

Những khi ta gặp vợ ta trong giấc mộng th́ không có ǵ làm ta đau khổ hơn.Bởi v́ khi tỉnh giấc quờ quạng chung quanh th́ cũng không sao t́m ra được bàn tay của nàng để nắm lấy.

Bài này có kèm lời chú thích là Yakamochi làm ra để tặng người vợ và cũng là cô em họ ông (Sakanoue no Ôiratsume).

Tạm dịch thơ:

Gặp được ḿnh trong mộng / Mà xót xa vô cùng / V́ khi anh tỉnh giấc / Dù cố gắng đi t́m / Cũng không sao nắm được / Bàn tay người nhớ mong /

Nhà chú thích Keichuu (Khế Trùng, 1640-1701) tự hỏi có phải Yakamochi đă lấy cảm hứng từ câu nói của Trương Văn Thành đời Đường trong tác phẩm Du Tiên Quật (cuốn tiểu thuyết diễm t́nh đă truyền đến Nhật vào thời Nara nhưng lạ́ thất truyền ở Trung Quốc) để viết ra bài thơ này chăng. Câu đó là: “Thiểu th́ tọa thụy tắc mộng kiến Thập Nương, kinh giác quặc chi hốt nhiên không thủ” (Có lúc ngồi ngủ gục mộng thấy nàng Thôi Thập Nương, giật ḿnh ôm lấy th́ trong tay không có ǵ cả). Nó cũng giống như t́nh cảnh của Goethe đối với người đẹp mà chàng vẫn gặp trong giấc mộng (xem Những nỗi khổ tâm của chàng trai trẻ Werther). Tuy nhiên chàng Werther sau đó tự sát, khác với Yakamochi và Ôiratsume th́ đi đến kết hôn, một kết cuộc có hậu hơn.

Sau khi cưới nhau rồi, Ôiratsume vẫn c̣n viết những vần “khuê oán” như sau:

4-735

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春日山 霞多奈引 情具久 照月夜尓獨鴨念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

春日山霞たなびき心ぐく照れる月夜にひとりかも寝む

Phiên âm:

Kasugayama / kasumi tanabiki / kokoroguku / tereru tsukuyo ni / hitori kamo nemu /

Diễn ư:

Trên núi Kasuga, sương mùa xuân giăng mắc và ánh trăng chiếu lạnh lùng. Đêm nay trong ḷng em bất an, có điều phiền muộn tiêu tao v́ anh đi đâu mà không đến, làm cho em phải ngủ một ḿnh. Buồn quá đi thôi! Hăy đến bên em với.

Tạm dịch thơ:

Núi xuân sương giăng mắc / Trăng xuân chiếu bẽ bàng / Cho ḷng em buồn bă / Người chẳng đến, thêm càng / Đêm nay ôm gối chiếc / Trong mộng nhớ mong chàng!

Và sau đây là bài thơ con người đa t́nh đa cảm Yakamochi đă họa lại:

4-736

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

月夜尓波 門尓出立 夕占問 足卜乎曽為之行乎欲焉

Dạng huấn độc (đă chua âm):

月夜には門に出で立ち夕占問ひ足占をぞせし行かまくを欲り

Phiên âm:

Tsukuyo ni wa / kado ni idetachi / yuuketoi / ashiura wo zo seshi / yukamaku wo hori 

Diễn ư:

Không phải đợi đến khi đọc nhưng lời em viết trong thơ, một đêm xuân như đêm nay, ḷng anh cũng nặng trĩu nhớ nhung, chỉ muốn chóng đi gặp em. Anh dă chuẩn bị ra cửa và hồi chiều anh đă gieo quẻ bói xem hôm nay hướng nhà em tốt hay xấu. Hăy chờ nhé, nếu có điềm tốt, anh sẽ đến ngay.

Tạm dịch thơ:

Đâu phải chờ thư nhắn / Mới hiểu ḷng nhớ nhung / Đêm xuân anh cũng muốn / T́m đến chỗ em thương/ Chiều nay vừa giũ quẻ / Mong tốt hướng thuận đường /

Khỏi phái nói những chàng trai ngoại t́nh thường lấy cớ cát hung tốt xấu để tránh không đến nhà vợ nhưng người đứng đắn cũng có khi là nạn nhân của sự mê tín. Quẻ bói định hướng xuất hành gọi là a.ura (ashi = chân, uranai占い = bói), một phong tục khá phổ biến thời cổ.

4-728

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

人毛無 國母有粳 吾妹子与 携行而 副而将座

Dạng huấn độc (đă chua âm):

人もなき国もあらぬか我妹子とたづさはり行きて副ひて居らむ

Phiên âm:

Hito mo naki / kuni mo aranu ka / wagimo koto / tazusawari yukite / taguite oramu /

Diễn ư:

Hỏi có nơi nào mà chẳng thấy một bóng người không nhỉ ? Nếu có th́ anh muốn đem em theo anh đến đó sống chứ ở đây tiếng đời phiền nhiễu làm anh chắc phải chết sớm mất!

Như thế chuyện tiếng đời phiền nhiễu không chịu cho thấu đă có tự thời xưa chứ đâu phải mới bắt đầu trong xă hội hiện đạivới những anh paparazzi. Con người hào hoa và đào hoa Yakamochi nay đă cập bến với cô em họ Ôiratsume (Đại nương) không thể nào tránh lời bàn ra tán vào. Nếu ông muốn cùng vợ đi đến một hoang đảo để sống th́ cũng không có ǵ lạ.

Tạm dịch thơ:

Nếu như có chỗ nào / Giống như nơi hoang đảo / Anh muốn đưa em đi / Không tin cho ai biết / Ở đây chịu tiếng đời / Chắc là anh phải chết ! .

Yakamochi thực ra có nhiều đặc điểm lôi cuốn được các bà các cô cho nên có bị họ hành cho cũng đáng. Thời trẻ chưa có danh vọng bằng ai nhưng ông là con nhà gia thế, Tuy mang tiếng vơ biền nhưng gia đ́nh ông có truyền thống văn chương qua phụ thân Tabito và cô ruột Sakanoue no Iratsume (Lang nữ). Đừng đầu một gia đ́nh danh giá, văn hay chữ tốt, tướng mạo đường đường, lại đang độ trẻ trung, làm ǵ ông không là  đích ngắm của các nàng. Đó là chưa kể ông có tương lai rạng rỡ của một vị quan trong nội cung (kunaikan) và c̣n rành rẽ những thứ “thể thao” đương thời như đi săn bằng chim ưng (takagari), thơ hay và dĩ nhiên là có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế nữa.

Trong Man.yôshuu, ông có nhiều thơ tặng đáp. Ngoài cô em họ và cũng là người vợ chính là Ôiratsume (Đại nương), ông c̣n trao đổi thơ với quận chúa Yamaguchi (Yamaguchi no Ôkimi), các tiểu thư Nakatomi no Iratsume, Kannagibe no Maso Otome, Kasa no Iratsume, Ômiwa no Iratsume, Kôno no Momoe no Otome, Awatame no Otome, Ki no Iratsume, Heki no Nagae no Otome, Abe no Iratsume, Heguriji no Iratsume vv...Sau đây, ta thử trích dẫn một số thơ của các nàng ấy. Dù sao,kiểm điểm lại th́ người mà Yakamochi đem tâm hồn trao gữi chỉ có thể là chính thê Ôiratsume mà thôi. 

Tiết V: Thơ những người đàn bà có liên hệ đến Yakamochi:

Ôtomo no Sakanoue no Ôiratsume 大伴坂上大嬢:

Con gái cả của Ôtomo no Sakanoue no Iratsume, liên hệ trước tiên với Yakamochi là vai cô em họ nhưng sau đó trở thành người vợ yêu của ông. Có một ông chồng được nhiều cô gái trẻ mến mộ như Yakamochi, bà Ôiratsume là cái đích của mọi sự thèm thuồng của họ. Chồng và mẹ vẫn thường tặng bà những bài thơ âu yếm nồng nàn.

Có thể Ôiratsume là người được hưởng đầy đủ tinh cảm nên thơ bà thật thà, tṛn trịa chứ không có những khúc mắc sâu xa. Nội dung hơi hạn hẹp, thiêu thiếu một cái ǵ. Trong quyển 4, bà có 10 bài, quyển 8 bà có 1 bài, tổng cộng là 11.

Sau đây là bài thơ bà làm ra để tặng chồng kèm theo món quà, một cái ṿng tết bằng gié lúa để cài đầu (inekazura):

8-1624

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾之蒔有 早田之穂立 造有 蘰曽見乍師弩波世吾背

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が蒔ける早稲田の穂立作りたるかづらぞ見つつ偲はせ我が背

Phiên âm:

Wa ga makeru / wasada no hotachi / tsukuritaru  / kazura zo  mitsutsu / shinowase wa ga se /

Diễn ư:

Món quà gửi đến anh đây là cái ṿng cài đầu tết bằng gié lúa mà em đă gieo mạ, chăm sóc từ lúc c̣n non, nghĩa là vật mà tự tay em làm ra. Hăy nh́n lấy nó mà nhớ về em, anh nhé.

Chuyện một tiểu thư khuê các như Ôiratsume nhúng tay vào việc đồng áng là điều cần xét lại. Có thể bà hơi khoa trương đôi chút. Sau khi nhận được thơ và quà, Yakamochi đă nhanh nhẹn trả lời ngay nh́n nhận món quà là do công khó của vợ ḿnh làm ra và đă “ ngắm măi không biết chán” (miredo akanu, bài 8-1625):

吾妹子が業と作れる秋の田の早稲穂のかづら見れど飽かぬかも

Wagimoko ga / nari to tsukureru / aki no ta no / wasaho no kazura / miredo akanu kamo

Người đời xưa thường lấy dây leo có hoa, gié lúa có bông kết thành vật trang sức. Trong bài 18-4086, Yakamochi có nhắc đến một ṿng hoa bách hợp (yuri) dùng để cài đầu.

Tạm dịch thơ:

Em gửi anh món quà / Ṿng cài đầu bằng lúa / Tự tay em gieo mạ / Chăm sóc lúc c̣n non / Mỗi lần nh́n thấy nó / Xin hăy nhớ em hơn /

Thơ Kasa no Iratsume 笠郎女

Ước tính có đến 124 nữ thi nhân trong Man.yôshuu. Trong đó có một nhóm qui tụ chung quanh Ôtomo no Yakamochi và liên hệ mật thiết với ông. V́ ông là nhà biên tập nên việc ông đem thơ họ vào thi tập nhiều cũng dễ hiểu.

Từ đời Nara trở đi, vận nhà Ôtomo cũng đă hưng vượng trở lại. Đó là một danh gia vọng tộc có nhiều nhân tài chứ không chỉ hai anh em trí thức Tabito và Sakanoue no Iratsume. Đến khi một người trẻ tuổi có mọi đức tính (thông minh, nhạy cảm, đẹp trai, hào hoa phong nhă) … như Yakamochi đă sinh ra đời để đứng ra lèo lái gia đ́nh th́ vận hội của ḍng họ Ôtomo đă đạt tới một đỉnh cao. Với vai tṛ ấy, nếu Yakamochi có lôi cuốn sự để ư của giới nữ lưu nghệ sĩ đương thời là điều không ai làm lạ!

Thơ tặng đáp trong Man.yôshuu khá nhiều. Trong trường hợp của Yakamochi th́ thơ của nữ giới tặng ông nhiều hơn. Thơ Yakamochi họa lại đếm được trên đầu ngón tay. Tác giả những bài thơ gửi đến ông là các cô gái trẻ sống dưới thời Tenpyô (729-749) nhưng người viết nhiều và c̣n để lại những bài có giá trị hơn cả chính là Kasa no Iratsume. Người ta thường ví chùm thơ t́nh của bà gửi ông Yakamochi như những hạt ngọc xâu thành một chuỗi, tất cả đều khả ái, nồng nhiệt và chân thành đến tự đáy ḷng.

Tuy truyện kư về bà không mấy rơ ràng nhưng có thuyết cho rằng cái tên Kasa có thể đến từ mối liên hệ họ hàng với nhà thơ Kasa no Kanamura 笠金村. Trong quyển 3 có chép 3 bài của bà, quyển 4 có đến 24, riêng quyển 8 chỉ có 2, tổng cộng 29.Tất cả đều theo thể tanka nhưng toàn là thơ bà làm ra để tặng cho Yakamochi. Ông ta trả lời bà mỗi hai lần mà không mấy thắm thiết.Có thể bà nằm trong đội ngũ nhưng người đàn bà thất t́nh v́ ông.

Trang phục phụ nữ thời Nara (Nguồn Internet)

4-593  

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

君尓戀 痛毛為便無見 楢山之小松之下尓 立嘆鴨

 Dạng huấn độc (đă chua âm):

 君に恋ひいたもすべなみ奈良山の小松が下に立ち嘆くかも

Phiên âm:

Kimi ni koi / ita mo subenami / Narayama no / komatsu ga shita ni / tachinageku kamo /  

Diễn ư:

Nghĩ về anh mà thương ơi là thương, đứng ngồi không phút nào yên.Em muốn lén ra khỏi nhà, lên ḥn núi Narayama bên cạnh, đứng dưới gốc tùng con mà buông tiếng thở dài cho vơi tâm sự.

Tâm sự của một cô cái trẻ trắng trẻo, tuổi độ 15, 16, tóc c̣n rẽ đường ngôi, với chiếc váy đỏ đứng bên cạnh gốc tùng con (để tương xứng với cô, không thể là một cây tùng già hay tùng lớn được). Mắt cô nh́n về xa xôi và đẫm lệ. Đó là h́nh ảnh phảng phất qua bài thơ này. Narayama là một vùng có nhiều lăng mộ.

Tạm dịch thơ:

Thương anh và nhớ anh / Đứng ngồi đâu có yên / Em lén nhà lên núi / Nara ở kề bên / Dưới bóng tùng, đứng khóc / Cho vợi nỗi niềm riêng? /.

4-594

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾屋戸之 暮陰草乃 白露之 消蟹本名所念鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我がやどの夕蔭草の白露の消ぬがにもとな思ほゆるかも

Phiên âm:

Wa ga yado no / yuukagekusa no / shiratsuyu no / kenu gani mo to na / omohoyuru kamo / 

Diễn ư:

Trong vườn nhà của em, vừa khi buổi chiều c̣n buông vài tia nắng nhạt, có những giọt sương c̣n đong đưa dưới cḥm lá những cây hoa nở thật dễ thương. Những giọt sương ấy sắp sửa tan đi, bản thân em cũng như mối t́nh của em đối với anh cũng nhạt nḥa dần trước anh và biến mất mà không làm sao giữ lại được.

Từ gốc tùng trên núi trở về pḥng, nàng chắc đang chống cằm nh́n ra vườn mà nghĩ về cái mong manh của mối t́nh đơn phương ḿnh mang trong ḷng.

Tạm dịch thơ:

Vườn em chiều nhạt nắng / Sương đong đưa cành hoa / T́nh em như sương ấy / Bám được anh chăng là / Theo tháng ngày tàn tạ / Giữ hỏi đến bao giờ?

4-596

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

八百日徃 濱之沙毛 吾戀二 豈不益歟奥嶋守

Dạng huấn độc (đă chua âm):

八百日行く浜の真砂も我が恋にあにまさらじか沖つ島守

Phiên âm:

Yahokayuku / hama no manago mo / a ga koi ni/ani masarajika / okitsu shimamori /

Diễn ư:

Bao nhiêu ngày, bao nhiêu ngày rồi đi suốt qua những bờ cát trắng bên biển. Cát trắng nhiều vô kể nhưng số lượng hạt cát lấm tấm ấy nếu đem so sánh với t́nh em không biết có thể gọi là nhiều không. Không đâu, làm thế nào mà ví với mối t́nh vô hạn của em được, hỡi người giữ đảo ngoài khơi (okitsu shimamori)!

Cát thường được đem ví với số nhiều là chuyện ai cũng biết nhưng đem so sánh với t́nh yêu như Kasa no Iratsume th́ cũng có thể gọi là mới mẽ. Lời nhắn nhủ đến người giữ đảo rất là thi vị.

Tạm dịch thơ:

Suốt mấy ngày dạo biển / Nh́n cát trắng mông mênh / Cát dẫu bao nhiêu hạt / Nhiều sao bằng t́nh em, Biết chăng, người giữ đảo / Ḷng em thương vô biên /

 

Đồi cát ở Tottori (Nguồn Wikipedia)

4-599

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

朝霧之 欝相見之 人故尓 命可死戀渡鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

朝霧のおほに相見し人故に命死ぬべく恋ひわたるかも

Phiên âm:

Asagiri no / ô ni aimi shi / hito yue ni / inochi shinu beku / koi wataru kamo /

Diễn ư:

Dù chỉ có một lần duy nhất thoáng gặp anh, đáng lư ra làm sao nhớ mặt được, thế mà v́ anh mà em khô héo cả tâm can. Yêu anh nồng nàn, không c̣n kể ǵ đến tính mạng.

Asagiri (suơng sớm mùa thu) ở đầu câu thơ là một từ hoa để bổ nghĩa cho ô (oho) ư nói bâng quơ hay mơ hồ, không rơ ràng. Từ gặp gỡ bâng quơ đến yêu thắm thiết không kể đến mạng sống, sự tương phản này có tác dụng nhấn mạnh cường độ của t́nh yêu.

Tạm dịch thơ:

Chỉ một lần thoáng gặp / Lẽ ra nào nhớ mặt / Nhưng t́nh đâu xui khiến / Héo úa cả tâm can / Yêu anh ḷng bỏng cháy / Sống chết em không màng /

4-600

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 伊勢海之 礒毛動尓 因流波 恐人尓 戀渡鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 伊勢の海の礒もとどろに寄する波畏き人に恋ひわたるかも

Phiên âm:

Ise no umi no / iso mo todoro ni / yosuru nami / kashikoki hito ni / koi wataru kamo /

Diễn ư:

Như ngọn sóng vỗ vào bờ đầy ghềnh đá của băi biển Ise, em đă làm một chuyện khó khăn là đi yêu anh, một người có địa vị cao cả. Nhưng em (cũng như ngọn sóng vỗ không ngừng nghỉ vào bờ) sẽ tiếp tục yêu anh măi măi.

Có lẽ Kasa làm bài thơ này lúc mới bắt đầu gặp gỡ Yakamochi. Tuy nhiên nàng đă thấy trước những khó khăn v́ nhiều lư do, trong đó có sự cách biệt về giai cấp. Bày tỏ t́nh yêu bền bĩ đấy nhưng nghe như là nàng đang tự thương thân.

Tạm dịch thơ:

Như sóng vỗ bờ đá / Phận ḿnh quá chon von / Nhưng yêu người tha thiết / Ḷng em nào đâu sờn / T́nh như con sóng vỗ / Đến muôn thuở không ngừng /

Giáo sư Uemura Etsuko tự hỏi có phải nhà thơ thiên tài và Shôgun bất hạnh của mạc phủ Kamakura, Minamoto no Sanetomo (Nguyên, Thực Triều, 1192-1219) cũng là người hâm mộ Man.yôshuu, chẳng đă lấy cảm hứng từ câu thơ này để viết bài tanka 5/7/5/7/7 vẫn được đời truyền tụng của ông là:

大海の磯もとどろに寄する波割れて砕けて散るかも

Ôumi no / kiso mo todoro ni / yosuru nami / warete kudakete / sakete chiru kamo 

(Biển khơi, sóng muốn xô ghềnh / Đánh ầm, vỡ khắp, rồi im tan tành )

4-602

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 暮去者 物念益 見之人乃 言問為形 面景尓而

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 夕されば物思ひまさる見し人の言とふ姿面影にして

Phiên âm:

Yuu sareba / monomoi masaru / mishi hito no / kototou sugata / omokage ni shite  

Diễn ư:

Mỗi khi chiều xuống, t́nh yêu của em càng chất chứa đầy ḷng. Bây gờ ḷng em tràn ngập h́nh dáng anh lúc anh ngỏ lời cùng em trong lúc gặp gỡ mới hồi năy đây thôi.

Kototou sugata là h́nh ảnh của người đàn ông vừa nói chuyện với ḿnh. Kasa ghi nhớ mỗi lời nói, mỗi cử chỉ và lập đi lập lại trong đầu cảnh tượng đó. “Hôm nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm…Em nhớ tiếng, em nhớ h́nh, nhớ ảnh (mono omoi / sugata / omokage), em nhớ anh, em nhớ quá, anh ơi” như ư một câu thơ Việt của Xuân Diệu trên một ngh́n hai trăm năm sau và trong một chiều ngược lại vậy.

Tạm dịch thơ:

Chiều xuống t́nh càng dâng / Ôi dáng ai ân cần / Mỗi lời, mỗi cử chỉ / Nhớ ơi, nhớ vô ngần / Dẫu mới vừa gặp đó / Ḷng lại đă bâng khuâng /

4-603

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

念西 死為物尓 有麻世波 千遍曽吾者死變益

Dạng huấn độc (đă chua âm):

思ふにし死にするものにあらませば千たびぞ我れは死にかへらまし

Phiên âm

Omou ni shi / shini suru mono ni / aramaseba / chitabi zo ware wa / shinikaeramashi /

Diễn ư:

Giả sử có một định mệnh dành cho người khổ v́ t́nh là phải ôm nỗi niềm riêng mà chết đi th́ em sẽ v́ t́nh yêu của ḿnh mà chết rồi tái sinh cả ngh́n lần để tiếp tục yêu anh, cho anh thấy t́nh yêu đó sâu đậm và vượt thời gian như thế nào

Tạm dịch thơ:

Ví bằng tương tư khổ / Phải chết trong héo hon / Em nguyện v́ anh chết / Và sống lại ngh́n lần / Để yêu anh măi măi / (Vĩnh viễn vượt thời gian)/

4-605

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天地之 神理 無者社 吾念君尓不相死為目

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天地の神の理なくはこそ我が思ふ君に逢はず死にせめ

Phiên âm:

Ametsuchi no / kami no kotowari / naku wa koso / a ga omou kimi ni / awazu shiniseme /

Diễn ư:

Em vẫn ngày đêm cầu thiên thần thổ địa sao cho em có dịp gặp anh. Nếu các ngài ấy mà không biết điều (thường th́ làm ǵ có chuyện đó nhưng nếu lỡ ra), em sẽ không thể đạt được điều ḿnh mong mỏi và như thế em sẽ chết trong đau khổ. Nhưng trời đất quỷ thần là kẻ biết điều, chắc em sẽ toại nguyện đó anh.

V́ t́nh yêu mănh liệt của ḿnh vượt khỏi giới hạn của thế giới này, Kasa phải trông đợi vào sự trợ giúp của thần linh. Thế th́ tại sao Yakamochi không đáp lại ḷng thành khẩn ấy? Có thể là mối t́nh của Kasa đă đến không nhằm lúc, vào ngay thời điểm ông đang tràn ngập hạnh phúc với Ôiratsume chăng? 

Tạm dịch thơ:

Luôn luôn khấn đất trời / Sao cho em gặp người / Nếu quỷ thần chẳng thấu /Đành chết cô đơn thôi / Nhưng trời cao có mắt / Xin ngóng đợi một ngày /

4-607

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

皆人乎 宿与殿金者 打礼杼 君乎之念者寐不勝鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

皆人を寝よとの鐘は打つなれど君をし思へば寐ねかてぬかも

Phiên âm:

Minahito wo / neyo to no kane wa / utsu naredo / kimi wo shiomoeba / inekatenu kamo /

Diễn ư:

Này mọi người ơi, đă đến giờ ngủ, chúng ta đi ngủ thôi. Tiếng chuông làm hiệu đă đổ từ năy rồi.Thế mà đầu óc em đang đầy ắp h́nh ảnh của anh, không tài nào nhắm mắt. Ôi, biết làm sao?

Người xưa đi ngủ khoảng giờ Hợi, nghĩa là từ 9 đến 11 giờ tối. Từ đời Nữ thiên hoàng Saimei có lệ đánh chuông báo giờ (tokigane). Công việc này do các quan bác sĩ về thời khắc ( rokoku hakase, 2 người) và kẻ giúp việc đo thời giờ (shushinchô, 20 người) bằng nước và cát trong Viện Âm Dương (Ônmoryô) phụ trách. Đem tiếng chuông báo giờ đi ngủ vào thơ cũng là một chuyện hiếm có nhưng nó vẽ ra được cảnh tượng cuộc sống rất thực của cung đ́nh.

Tạm dịch thơ:

Chuông báo giờ đă điểm / Ai nấy đều đi nằm / Em không sao nhắm mắt / Trằn trọc đến canh năm / Chỉ v́ trong tâm trí / Đầy h́nh ảnh của anh /.

Qua những bài thơ nói trên, ta thấy t́nh cảm của Kasa là t́nh cảm khả ái, thuần khiết, yêu đơn phương và không toan tính của một cô gái mới lớn đứng trước mối t́nh đầu đời. Không bày tỏ được cho ai, nó chỉ chất chứa trong ḷng. May là có thi ca đă mở cho nàng một lối thoát duy nhất.

Phản ứng của Yakamochi trên thực tế thế nào không rơ nhưng trong Man.yôshuu th́ chẳng thấy có một bài henka ( phản ca, 返歌nào để trả lời (xin chớ nhầm với hanka, phản ca, 反歌 vốn có một ư nghĩa khác mà ta đă biết). Hai bài 4-811 và 4-612 ông họa cho 2 bài 4-609 và 4-610 mà bà tặng ông chỉ là thơ làm ra sau khi đă xa nhau và nhân một lần tái ngộ (tương biệt cánh lai). Lúc đó, bà c̣n làm những bài thơ 4-608 như sau đây để tặng ông nhưng xem ra th́ t́nh xưa không c̣n để lại dấu vết ǵ, nếu không nói c̣n đượm chút màu cay đắng nữa.

 4-608

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 不相念 人乎思者 大寺之 餓鬼之後尓額衝如

Dạng huấn độc (đă chua âm):

相思はぬ人を思ふは大寺の餓鬼の後方に額つくごとし

Phiên âm:

Ai omowanu / hito wo omou wa / ôtera no / aki noshirie ni / nuka tsuku gotoshi /  

Diễn ư:

Nếu ta yêu và người ấy cũng nghĩ đến ta, tương tư tương ái như thế th́ t́nh yêu mới thích thú. Chứ đây chỉ có mỗi ḿnh ta là nồng nhiệt - chả khác nào con bào ngư chỉ có một lớp vỏ (người Nhật thường xem con bào ngư(abalone, ear shell) một mặt áp vào đá, không có vỏ bọc bên kia, là con vật yêu một chiều (片思いkataomoi) ! Cứ xem những người chẳng biết mô tê, nhè con ngạ quỷ ở góc chùa lớn kia mà đứng sau lưng nó ś sụp cúi đầu xuống sàn làm lễ! Nào được lợi ích ǵ đâu, hỏi có ngu không?

Tạm dịch thơ:

Yêu người không yêu ḿnh / Nồng nàn, đáp lạnh tanh / Có khác ǵ những kẻ / Gặp ngạ quỷ cúi ḿnh / Dập đầu xuống làm lễ / Trong chùa, ai thấu t́nh /

Ngạ quỷ là h́nh thù tướng mạo mà những ai đă phạm ác nghiệp trong cuộc đời này khi đến khi chết đi phải mang lấy. Lúc nào ngạ quỷ cũng đói, cũng thèm ăn nhưng khi miếng ăn đưa lên miệng th́ thức ăn biến thành lửa ngọn không thể nào nuốt được. Kẻ lọt vào ngạ quỷ đạo ốm chỉ c̣n da bọc xương, tháng ngày than khóc v́ thèm ăn. Để khuyến thiện trừng ác, các chùa lớn thường dựng tượng ngạ quỷ ở một góc chùa.

Những kẻ sớn sát, khi đi cúng Phật th́ lại đến ngay bên tượng ngạ quỷ khấn khứa huyên thiên, lạy lấy lạy để, xong rồi về và như thế làm thành tṛ cười cho thiên hạ. Kasa lúc ấy có ư trách thái độ vô t́nh của Yakamochi (như ngạ quỷ) và tự trào một cách lạnh lùng về mối t́nh đơn phương dại dột của ḿnh giống như anh chàng đi chùa sớn sát, lạy lục kẻ không đáng phải lạy.

Trước bài thơ như vậy, chắc Yakamochi chỉ biết cười ngao ngán nhưng không khỏi khen thầm tài thơ văn của Kasa. Bằng cớ là ông đă đem nó vào tuyển tập ! Chịu mang tiếng xấu chẳng qua là cái nghiệp của ông đối với các nàng mà thôi. C̣n về phần Kasa, bà quả thực là một nữ thi nhân tài trí có vị trí hàng đầu trong lănh vực sômonka thời Vạn Diệp.

Abe no Iratsume 安部郎女

Truyện kư về bà này không mấy rơ.Qua thi văn mới biết bà có mối liên hệ với một quí tộc là ông Nakatomi no Asomi Azumahito 中臣朝臣東人. Ngoài ra cũng thấy Yakamochi có tặng bà một bài thơ (bài 8-1631) than thở cảnh một ḿnh khổ sở v́ cô đơn trong đêm thu dài nên cũng phỏng đoán được là ông có quan hệ luyến ái với bà. Thế nhưng không thấy thơ bà đáp lại.

Thơ các bà các cô có liên hệ với Yakamochi phần lớn được đang trong hai quyển 4 và 8 nhưng thơ Abe no Iratsume không thấy trong quyển 8. H́nh như bà quê vùng cố đô Fujiwara (kinh đô thời Nữ thiên hoàng Jitô và thiên hoàng Mommu). Trong quyển 3 bà có 1 bài, quyển 4 được 4, đều là tanka. Tên bà có khi viết là 阿部thay v́ 安部, không hiểu có phải là một nhân vật khác không?

4-505

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

今更 何乎可将念 打靡 情者君尓縁尓之物乎

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 今さらに何をか思はむうち靡き心は君に寄りにしものを

Phiên âm:

Imasara ni / nani wo ka omowamu (wan) / uchinabiki / kokoro wa kimi ni / yori ni shi mono wo /

Diễn ư:

Đă đến lúc này rồi mà vẫn c̣n lưu luyến, vướng bận những ǵ đâu đâu nữa sao! Trong ḷng em bây giờ chuyện của anh là cái em đă dẹp qua một bên (yori ni shi mono) rồi.

Giọng điệu cứng cơi, quyết tâm rơ ràng. Quả là khi người đàn bà đă quyết định một điều ǵ rồi, thật khó lay chuyển. Có phải v́ người trong thơ đă đối mặt với cảnh khổ do cha mẹ, bạn bè chung quanh hay người đời mà phải đi đến quyết định chia tay? Nhưng dù là chồng hay người yêu, người ấy đều có đủ can đảm để dẹp ra khỏi cuộc đời của ḿnh.

Ngược lại, khi công chúa Tajima đem ḷng yêu hoàng tử Hozumi, người anh khác mẹ của bà, bà cũng ăn nói mạnh mẽ như thế (Như bông lúa đồng thu / Chỉ nghiêng về một phía / Ḷng em anh biết rơ / Chỉ tựa vào anh thôi / Dù cho ai cười cợt / Em cũng mặc tiếng đời) ( xem bài 2-114 của công chúa trong Chương II) ta thấy người con gái ấy cũng có một quyết tâm tương tự. Mới nh́n qua th́ tưởng là ủy mị, nhưng đọc đến câu cuối mới thấy cái sắt đá. Như thể bà đang tuyên cáo với chồng hay đang thề nguyền với chính ḿnh!

Tạm dịch thơ:

Bây giờ có lưu luyến / Chuyện cũ đă xa xôi / (Dầu rắp tâm níu kéo / Chỉ bằng thừa mà thôi ) / Trong cơi ḷng em đó / Anh khuất bóng lâu rồi /

4-506  

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾背子波 物莫念 事之有者 火尓毛水尓<> 吾莫七國

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が背子は物な思ひそ事しあらば火にも水にも我れなけなくに

Phiên âm

Wa ga seko wa / mono na omôi so / kotoshi araba / hi ni mo mizu ni mo / ware nakenaku ni /

Diễn ư:

Anh ơi, đừng suy nghĩ vẫn vơ nữa! Vạn nhất nếu có điều ǵ th́ hăy c̣n có em đây, người dám nhảy vào nước lửa không một chút chần chờ.

Nhà thơ thổ lộ rơ ràng nhiệt t́nh của ḿnh, không từ nan trước cả nước lửa. Mới đọc, thấy như muốn nói cho kêu nhưng h́nh như nếu không dùng cách diễn đạt rạch ṛi như thế th́ tác giả không bộc lộ hết cơi ḷng. Nó giống tâm t́nh của một người vợ khi thấy chồng đang đối đầu với nghịch cảnh nên khuyến khích, nâng đỡ chồng vượt qua. Nh́n toàn bài, ta thấy khí thế lên cao dần.

Thơ tương tự (ruika類歌) như bài này th́ có thơ của công chúa Minabe (Minabe no Himemiko御名部皇女), người chị cùng mẹ của Thiên hoàng Gemmei 元明天皇khi bà họa thơ ông (bài 1-77). Bài thơ ấy cũng ngụ ư khích lệ nhà vua khi ông đang gặp khó khăn chính trị:

吾が大君ものな思ほし皇神の継ぎて賜へる我なけなくに

Wa ga ôkimi / mono na omôshi / sumekami no / tsugite tamaeru / ware nakenaku ni /

Tạm dịch thơ:

Chàng ơi, đừng rối trí / Hăy tin vào thiếp đi / (Sự thể dù sao nữa / Em vẫn bên chàng đây) / Phải nhảy vào nước lửa / Không ngần ngại phút giây / 

Bài thứ ba trích thơ Abe no Iratsume cũng nói lên sự chung thủy và tận tâm của người đàn bà:

4-514

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 吾背子之盖世流衣之 針目不落 入尓家良之 我情副

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が背子が着せる衣の針目おちず入りにけらしも我が心さへ

Phiên âm :

Wa ga seko ga / keseru koromo no / harime ochizu / irini kerashi mo / a ga kokoro sae /

Diễn ư:

V́ là tấm áo của anh yêu mặc lên người nên em dồn hết t́nh thương vào mỗi đường kim mũi chỉ. Mỗi mũi kim khâu đều chứa đựng tâm t́nh em trong đó, cho nên t́nh yêu của em lúc nào cũng sát cạnh bên anh.  

Qua bài thơ, ta thấy hiện lên h́nh ảnh một cô gái sau khi đă chăm chú khâu áo cho chồng nay hoàn thành tác phẩm của ḿnh và tỏ ra thỏa măn, hạnh phúc v́ ḿnh sẽ theo chàng trên suốt đoạn đường cho dù chàng có phải đi xa khỏi kinh đô. Người đi xa có khi là nhận việc quan đi trấn nhậm hay bị lưu đày. Theo sách Kogi (Cổ Nghĩa古義) của học giả đời Edo là Kamochi Masazumi 鹿持雅澄th́ “anh yêu” trong tác phẩm này có lẽ là Nakatomi no Asomi no Azumahito.

Tạm dịch thơ:

V́ áo anh yêu mặc / Nên từng mỗi đường kim / Em đăm đăm khâu lấy / Dồn hết cả tâm t́nh / Mai dù anh đi vắng / Vẫn mang em bên ḿnh /                 

Yamaguchi no Ôkimi 山口女王

Truyện kư về bà cũng không rơ. Sáu bài thơ của bà đều là thơ đem tặng Yakamochi nhưng không có lấy một bài do ông họa lại. Chắc là một phụ nữ ái m ông thôi.

4-613

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

物念跡 人尓不<>見常 奈麻強<> 常念弊利 在曽金津流

Dạng huấn độc (đă chua âm):

もの思ふと人に見えじとなまじひに常に思へりありぞかねつる

Phiên âm:

Mono omou to / hito ni mieji to / namajihi ni / tsune ni omoeri / ari zo kanetsuru /

Diễn ư:

Biết rằng đă yêu th́ chớ nên để cho ai thấy. Thế mà mấy ai thực hiện nổi điều đó.Nhưng bộc lộ, để vỡ lỡ ra th́ lại e ḿnh khó sống.

Trong Hyakunin Isshuu (Bách nhân nhất thủ) có chép hai bài thơ của Taira no Kanemori và Mibu no Tadami về cùng một chủ đề và một tâm trạng.

Thơ Taira no Kanemori như sau:

しのぶれど色に出でにけりわが恋いはものや思うとひとの問うまで

Shinoburedo / Iro ni ide ni keri /Wa ga koi wa / Mono ya omou to / Hito no tou made

Dẫu nén tận đáy ḷng, / Trên mặt khó che cùng. / Người chung quanh dọ hỏi, / Tương tư hay là không?

C̣n thơ Mibu no Tadami:

恋すてふわが名はまだき立ちにけり人知れずこそ思ひそめしか

Koi suchô / Wa ga na wa madaki / Tachi ni keri / Hito shirezu koso / Omoi some shika

Chưa chi ai đă vội, / Rêu rao t́nh của tôi. / Dù âm thầm chôn dấu, / Ḿnh hiểu ḷng ḿnh thôi.

Như thế th́ t́nh yêu thường là cái ǵ phải ẩn dấu. Nếu t́nh yêu để lộ trước mặt mọi người là đi ngược với thế t́nh. Làm như thế chỉ đem đến sự khổ đau và đôi khi c̣n có hại cho mạng sống v́ sẽ chịu tiếng đời nếu là trường hợp một mối t́nh ngang trái. Yamaguchi no Ôkimi không phóng đại, bà có vẻ nói thực ḷng. Ta có thể thông cảm cho bà. Đối với người con gái khác th́ c̣n công ăn việc làm và những mối lo cấp thiết khác chứ khuê các như bà (một công chúa) th́ t́nh yêu là tất cả.

Tạm dịch thơ:

T́nh yêu thường phong kín / Ấp ủ giữa con tim / Nghĩ thế nhưng đâu dễ / Chôn chặt nỗi niềm riêng / C̣n như cho người biết / Ḷng sẽ héo hon thêm /.  

8-1617

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

秋芽子尓 置有露乃 風吹而 落涙者留不勝都毛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 秋萩に置きたる露の風吹きて落つる涙は留めかねつも

Phiên âm:

Akihagi ni / okitaru tsuyu no / kaze fukite / otsuru namida wa / todomekanetsu mo

Diễn ư:

Những giọt sương đọng trên cánh hoa thưu (hagi) mùa thu tan tác bay trong làn gió như cánh bướm. Nước mắt của em v́ t́nh yêu của em đối với anh cũng tuôn ra lă chă như thế đấy.

Đem giọt sương tan tác trong gió ví với nước mắt của người con gái quí phái khóc cho t́nh cũng khá thi vị. Đây là bài thơ khá nhất trong 6 bài thơ công chúa để lại.

Tạm dịch thơ:

Sương trên cành hoa thắm / Tan tác v́ gió thu / Khác nào ḍng lệ thảm / Tuôn ra v́ t́nh yêu / Có bao giờ đọng lại / (V́ anh, khóc đă nhiều!) 

Hoa thưu dại (yamahagi) (Nguồn Wikipedia) 

Heguriuji no Iratsume平群氏郎女

Thêm một nhân vật nữa mà cuộc đời không để lại nhiều chi tiết.Hẵn là một người hâm mộ Yakamochi. Bà có 12 bài thơ, toàn là thơ làm để tặng ông.

17-3940

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

餘呂豆代尓 許己呂波刀氣C 和我世古我都美之<>見都追志乃備加祢都母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 万代に心は解けて我が背子が捻みし手見つつ忍びかねつも

Phiên âm

Yorozuyo ni / kokoro wa tokete / wa ga seko ga / tsumishi temitsutsu / shinobikanetsu mo.

Diễn ư:

Đă giao kết là ḷng chúng ta hoà quyện với nhau cho đến muôn đời, cánh tay này ngày xưa anh có lần bấu mạnh làm em đau, bây giờ khi ḿnh đă phải chia ly, mỗi lần ngắm chỗ đó, em thấy thương nhớ anh thật nhiều, thật nhiều.

Hai người đă thề nguyền đinh ninh như thế nên khi nh́n vết ngắt để lại trên da thịt, người con gái không sao quên được những tháng ngày âu yếm cũ, h́nh ảnh cũng như cử chỉ cuồng nhiệt của chàng (bấu chí, sadism) như hiển hiện trước mắt.Một bài thơ đầy tính nhục cảm cụ thể như thế rất hiếm có trong thế giới cung đ́nh và đây là đặc điểm của nó.

Tạm dịch thơ:

Thề thốt ḿnh như một / Yêu nhau đến trọn đời / Trên tay nh́n vết ngắt / Ḷng em chợt nhớ người / Và ngày âu yếm cũ / Từ một thuở chia phôi /

17-3942

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

麻都能波奈 花可受尓之毛 和我勢故我於母敝良奈久尓 母登奈佐吉都追

Dạng huấn độc (đă chua âm):

松の花花数にしも我が背子が思へらなくにもとな咲きつつ

Phiên âm :

Matsu no hana / hana kazu ni shite mo / wa ga seko ga / omoeranaku ni / moto na sakitsutsu /

Diễn ư:

Hoa tùng không đập vào mắt ai và cũng chẳng đẹp đẽ ǵ cho cam. Cũng chẳng ai đem sắp nó vào loài hoa. Thế mà đến mùa, nó cũng ra hoa như mọi loài hoa khác.Cững vậy, tuy anh như mọi người chẳng để ư ǵ đến em nhưng em giống như mọi người (có lẽ v́ đến tuổi dậy th́ như hoa đến mùa) vẫn cứ thầm kín yêu anh.

Trong 12 bài thơ của Heguriuji no Iratsume, đây c̣ lẽ là bài xuất sắc nhất. Yakamochi là công tử nên chỉ yêu đàn bà đẹp như thói thường người ta yêu hoa đẹp. Nghĩ rằng là một người con gái tầm thường như ḿnh th́ chàng nào có đoái hoài nhưng cũng cho chàng biết ḿnh là một người đàn bà, và đă là bàn bà, tất biết rung cảm trước t́nh yêu như bất cứ ai. Đây là một vần thơ chất chứa oán hận (uramigoto) dù muốn giữ vẻ b́nh tĩnh.

Một bài thơ thông minh. Tỏ ra khiêm tốn đến mức tự hạ nhưng sắc bén trong ư tưởng, đáng được nể trọng v́ tư cách.

Tạm dịch thơ:

Hoa tùng nào có đẹp / Đâu lọt được mắt ai! / Nhưng mùa sang lại nở / Khoe sắc như muôn loài / Phận hèn không kẻ đoái / T́nh vẫn hứa trao người. /

                      Ômiwa no Iratsume 大神郎女

Về bà, vẫn chưa rơ truyện kư. Hai bài thơ đều để tặng Yakamochi cả.Phải chăng hai bên vốn có một quan hệ luyến ái?

8-1505

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

霍公鳥 鳴之登時 君之家尓 徃跡追者将至鴨

Dạng huấn độc (đă chua âm):

霍公鳥鳴きしすなはち君が家に行けと追ひしは至りけむかも

Phiên âm:

Hototogisu / nakishi sunawachi / kimi ga ie ni / yuketo oishi wa / itarikemu kamo /

Diễn ư:

Anh có lần nói với em rằng anh thích nghe chim cuốc (hototogisu) hót, phải không nào! Có con chim cuốc vừa hót cạnh em đây, em đă bảo nó đi đến chỗ anh mà hót đi. Thế anh đă nh́n thấy nó chưa?

Tuy là một câu nói đùa nhưng chứng tỏ ḿnh đă không quên một lời nào của người yêu cả. Một bài thơ chứa chan t́nh ư của tác giả đối với Yakamochi.

Tạm dịch thơ:

Có lần anh bảo em / Anh thích nghe tiếng cuốc / Khi chim cao tiếng hót / Em bảo nó t́m anh / Giờ chim đến nơi chưa ? / (Con chim làm sứ giả).

Chim cuốc (Nguồn Wikipedia)

Kôchi no Momoe no Otome河内百枝娘子

Truyện kư không rơ. Đă viết ba bài tặng Yakamochi.

4-701

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

波都波都尓 人乎相見而 何将有何日二箇 又外二将見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

はつはつに人を相見ていかにあらむいづれの日にかまた外に見む

Phiên âm

Hatsuhatsu ni / hito wo aimite / ika ni aramu (naran) / izure no hi ni ka / mata yoso ni mimu / 

Diễn ư:

Tuy chỉ gặp nhau thoáng chốc rồi chia tay nhưng đă yêu anh rồi. Không biết một cơ hội nào đây, ḿnh có thể nh́n thấy lại nhau dù chỉ trong tư thế người dung kẻ lạ. Ôi chao, em mong mỏi ngài tái ngộ ấy xiết bao!

Yakamochi quả là người nặng nợ, đă có bao nhiêu cô gái yêu thầm nhớ trộm ông như vậy. Đến đổi phải bộc lộ qua lời thơ như thế, chứng tỏ nàng không thể cầm ḷng được nữa rồi!

Tạm dịch thơ:

Gặp nhau trong thoáng chốc / Xa rồi c̣n vấn vương / Biết bao giờ thấy lại / Dù như khách qua đường / Ôi dẫu là khoảnh khắc / Mong tái ngộ người thương /

Kannakibe no Maso Otome 巫部麻蘇娘子

Truyện kư không rơ. Cả thảy 4 bài thơ bà làm ra h́nh như đều để tặng Yakamochi. Thơ b́nh thường , không có ǵ độc đáo nên xin miễn đưa ra.   

Awata Me no Otome 粟田女娘子         

Không rơ về cuộc đời của bà.Thơ có hai bài cũng để tặng Yakamochi.

4-707

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

思遣 為便乃不知者 片h之 底曽吾者戀成尓家類 <[注土h之中]>

Dạng huấn độc (đă chua âm):

思ひ遣るすべの知らねば片もひの底にぞ我れは恋ひ成りにける <[注土h之中]>

Phiên âm:

Omoiyaru / sube no shiraneba / katamoi no / soko ni zo ware wa / koi nari ni keru /

Diễn ư:

V́ không biết phương pháp quét sạch t́nh yêu nên càng ngày nó càng thêm đầy. Mấy lúc này th́ đă lún xuống đáy vực t́nh yêu (đáy bát) rồi. Khổ sở không sao thấu.

Katamoi c̣n có nghĩa là bát uống nước không có nắp đậy. Một lối diễn tả hiếm có vậy!

Tạm dịch thơ:

Bởi v́ không biết cách / Đuổi được t́nh đi xa / T́nh mỗi ngày tràn ngập / Khổ sở một thân ta / Lún sâu trong thương nhớ / Đâu c̣n biết lối ra /

Heki no Nagae no Otome 日置長枝娘子

Không rơ về cuộc đời của bà.Thơ có 1 bài tặng đáp với Yakamochi.

Nakatomi no Iratsume 中臣郎女

ới đây là một trong 5 bài thơ bà gữi đến Yakamochi (bài thứ 4).

4-675

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

娘子部四 咲澤二生流 花勝見都毛不知 戀裳摺可聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

 をみなへし佐紀沢に生ふる花かつみかつても知らぬ恋もするかも

Phiên âm:

Ominaeshi / sakisawa niouru / hanakatsumi / katsute mo shiranu / koi mo suru kamo  

Diễn ư:

Em nay đang sống trong một mối t́nh cực kỳ đau khổ mà ḿnh chưa từng trải qua. Người gây ra nông nỗi là anh đó thôi!

Ominaeshi (nữ lang hoa) là từ tu sức (makurakotoba) cho Saki (bởi v́ Saki vừa là địa danh vừa có nghĩa là (hoa) nở. Tất cả 3 câu đầu ( hoa nữ lang nở đẹp đẽ bên bờ đầm Saki...) chỉ dùng để tạo không khí cho katsute (xưa kia có lần) mà thôi. Không có khả năng dịch chính xác.

Tạm dịch thơ:

Em đang triền miên khổ / V́ sống trong mối t́nh / Đau thương chưa từng có / Suốt cả cuộc đời ḿnh / Ai làm nên tội lỗi ?/ Nào anh biết không anh!

Hoa nữ lang (Nguồn Wikipedia)

Ki no Iratsume 紀郎女

Đây là bài thứ nhất trong hai bài bà đă tặng Yakamochi.

4-762

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

神左夫跡 不欲者不有 八<多也八多> 如是為而後二 佐夫之家牟可聞

Dạng huấn độc (đă chua âm):

神さぶといなにはあらずはたやはたかくして後に寂しけむかも

Phiên âm:

Kamu sabuto / inaniwa arazu / hata ya hata / kakushite nochi ni / sabushikemu kamo /.

Diễn ư:

Không phải v́ em ngại ḿnh già nua mà không muốn gặp mặt anh nữa đâu. Sở dĩ em chán ngán không muốn gặp chỉ v́ mỗi lần, cứ y như rằng anh sẽ nói những lời không thành thực để quyến rũ em.

Đây là tâm sự của một cô gái lớn tuổi, ư cũng muốn gặp Yakamochi nhưng trong ḷng c̣n chần chờ v́ nghĩ đến nhược điểm là tuổi tác của ḿnh. Ở đây, cô chỉ khéo léo thoái thác như thế để che dấu lư do thực sự tại sao ḿnh ngại ngùng.

Tạm dịch thơ:

Đâu sợ nhan sắc tàn / Mà chưa muốn gặp chàng / Ḷng riêng c̣n ngần ngại / Nhỡ anh không đàng hoàng / Nếu tin lời ngon ngọt / Mai sau lại bẽ bàng / 

Yakamochi đă hợa lại bà như sau:

4-764

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

百年尓 老舌出而 与余牟友 吾者不戀者益友

Dạng huấn độc (đă chua âm):

百年に老舌出でてよよむとも我れはいとはじ恋ひは増すとも

Phiên âm :

Momotose ni / oijitai dete / yoyomu to mo / ware wa itohaji / koi wa mama to mo /

Diễn ư:

Không không, nào có thể xảy ra được chuyện như thế! Dù cho cô có già đến trăm tuổi, răng cỏ lung lay, ăn nói lọng ngọng, lưng c̣ng đi nữa th́ tôi vẫn không hề chán cô.Không những thế, tôi càng cảm thấy yêu cô hơn nữa đấy!

Oijita là h́nh dạng người già ăn nói lúng búng, ngập ngọng. Yoyomu tomo ư nói ngôn ngữ không rơ ràng. Có thuyết cho là lưng c̣ng cho nên xin giữ cả hai nghĩa.

Tương truyền bà Ki no Iratsume đă có chồng, một tước vương tên là Aki no Ôkimi và có mở một nơi hội họp trong vương phủ để đàm đạo thơ văn (salon littéraire) nên không loại bỏ khả năng Yakamochi cũng thường lui tới đó. Xem thơ hai người th́ ta cảm thấy lúc hư lúc thực, lại có chút hài hước nên khó quyết đoán câu chuyện đă xảy ra thế nào. Có điều là Yakamochi ít làm thơ họa lại những người ái mộ khác mà chỉ họa với vài người như bà Ki no Iratsume.

Tạm dịch thơ:

Cớ chi lại thẹn thùng / Dù em có lưng c̣ng / Già nua đến trăm tuối / Răng cỏ thảy không c̣n / Anh vẫn yêu tha thiết / Cho nên chớ ngại ngùng /

8-1460

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 戯奴 [變云 和氣] 之為 吾手母須麻尓 春野尓 抜流茅花曽 御食而肥座

Dạng huấn độc (đă chua âm):

戯奴 [變云 わけ] がため我が手もすまに春の野に抜ける茅花ぞ食して肥えませ

Phiên âm

Wake ga aru tame / wa ga te mo suma ni / haru no no ni / nukeru tsuba na zo / meshite koemase /

Diễn ư:

V́ cậu em mà tôi bận bịu túi bụi không bao giờ ngơi tay. Mùa xuân tôi đi ra ngoài đồng hái những bông tsubana (c̣n đọc là chibana) trắng đem về cho cậu đấy. Này, ăn đi, cậu ăn rau này cho mập lên tí nào! .

Wake ở đây có nghĩa là wakamono tức chàng trẻ tuổi, ư nói đàn em. Thơ chỉ tinh nghịch chứ không ác ư. Không hiểu đích xác hoa chibana là loại rau ǵ vàn ăn th́ có mập lên không?

Tạm dịch thơ:

V́ cậu tôi tất tả / T́m ngắt đọt hoa đồng / Để cậu xơi cho bổ / Mai mốt dễ lên cân / Ăn đi, này cậu bé / Xem mập chút nào không /

Ki no Iratsume lên mặt đàn chị lo lắng cho ư trung nhân Yakamochi gầy ốm không khác nào anh chàng Iwamaro mà có lần chính ông đă có thơ đùa (xem phàn nói về thơ hoạt kê trong chương 5), bà không quản nắng nôi cực nhọc ra đồng hái rau cho người yêu ăn. Cảm động v́ tấm t́nh của nàng, Yakamochi dù ít khi tặng thơ cho ai khác ngoài người vợ yêu Ôiratsume (Đại Nương) cũng đă nhanh nhẩu làm thơ họa lại, với một giọng điệu khôi hài tương xứng.

8-1462

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

 吾君尓 戯奴者戀良思 給有 茅花手雖喫 弥痩尓夜須

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が君に戯奴は恋ふらし賜りたる茅花を食めどいや痩せに痩す

Phiên âm:

A (Wa) ga kimi ni / wake wa koburashi / tabaritaru / tsubana wo hamedo / iya yase ni yasu /

Diễn ư:

Coi bộ tui (wake) đâm ra yêu cô mất, cô ơi! Nhưng không có thuốc của thầy nào, không có nước tắm suối nào có thể trị cho hết bệnh thành thử tui (wake) càng ngày càng rạc ra. Dĩ nhiên về bó rau tsubana mà cô không quản mưa nắng hái đem về th́ tui xin nhận lấy.

Tạm dịch thơ:

Không khéo yêu cô mất / Nào, đă hiểu ra chưa ? / Nhưng bệnh tui nặng lắm / Thang thuốc cũng bằng thừa / Chỉ xin bó rau dại / T́nh cô dăi nắng mưa /

 

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : 11/1/2011 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của soạn giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com