NHƯ THỂ

(Ka no yô ni, 1911)

Nguyên tác: Mori Ôgai

Dịch: Nguyễn Nam Trân

Come Se, bản dịch Ka no yô ni sang tiếng Ý

 

Dưới đây là một “tiểu thuyết tư tưởng”(shisô shôsetsu) như người Nhật mệnh danh, hay “tiểu thuyết luận đề” theo cách nói của Việt Nam ta vì nó đề xuất một chủ đề để tranh cãi. Được viết vào tháng 5 năm 1911 và đăng trong Tạp chí Chuuô Kôron số tháng 1 năm 1912, sau một biến cố xã hội quan trọng là tòa án đương thời tuyên án xử tử nhà văn Kôtoku Shusui (1871-1911) và 11 người khác bị tình nghi can dự vào “âm mưu ám sát” Thiên hoàng Minh Trị vào năm 1910. Nội dung bài viết nhằm so sánh nền tảng của vương quyền giữa hai quốc gia Nhật và Đức, đồng thời phê phán lý luận có tính giáo điều về nguồn gốc thiêng liêng và tính chính thống của Thiên hoàng, tất cả dưới nhãn quan của một nhà trí thức từng du học phương Tây. Hidemaro trong truyện mang một chút hình ảnh đời thường của chàng sinh viên Mori Rintarô, tên thật của Ôgai.

Ka no yô ni nói lên nỗi khó khăn của người trí thức khi phải sống trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Đầu đề dịch từ Die Philosophie des Als-Ob, chữ dùng của triết gia Đức Hans Vaihinger (1852-1933) mô tả cái khổ tâm của con người khi phải chấp nhận một sự vô lý chỉ vì lý do thực dụng. Qua mẩu truyện này, Mori Ôgai cho thấy ông là con người thiên về lý trí nên suốt đời bị dằn vặt dù chỉ ao ước được sống trung thực.

 

* * *

 

Buổi sáng, khi Yuki - cô hầu phòng– đến nhen lửa lò than (hibachi) (1), gương mặt phu nhân thoáng vẻ lo lắng. Bà nói:

-Tối hôm qua, phòng của Hidemaro vẫn để nguyên đèn đấy nhé!  

-Thưa vâng. Chết chửa! Lúc nãy, khi con đi châm lửa vào lò sưởi bằng khí đốt thì thấy đèn đã tắt và cậu đang nằm hút thuốc trong chăn.

Yuki vừa trả lời vừa nhớ cái cảnh đôi khi vẫn xảy ra lúc cô mở cánh cửa đi vào đó, giữa gian phòng tối đen và im ắng, có đóm lửa xì-gà lớn lóe lên thật sáng rồi lại lụi dần. Thế nhưng sáng nay khi nhớ ra khoảnh khắc đó, cô hơi khựng lại như cố nén hai tiếng “chết chửa”.

-Thế hở con!

Tuy nói vậy nhưng vừa nhìn theo bóng Yuki, sau khi châm lửa rồi cời đống tro trắng giữa cái lò than lớn nằm trong khung vuông cho gọn ghẽ và đứng dậy dợm đi, mặt phu nhân hãy còn đượm vẻ lo âu. Cả ngôi dinh thự này, ngay đến nhà bếp còn dùng khí đốt nhưng phu nhân viện cớ ngọn lửa đó bốc cao nên chỉ dùng lò than.

Đèn điện thì có khắp nhà, ở đâu cũng thắp sáng suốt đêm. Riêng trong phòng Hidemaro, trước khi đi ngủ, anh có thói quen là phải tắt. Nếu đèn sáng suốt đêm có nghĩa là anh lại thức trắng để đọc sách. Khi phu nhân dậy nửa đêm đi ngoài chẳng hạn, từ hành lang có thể thấy ánh sáng hắt ra ngoài cửa sổ căn phòng kiểu Tây phương của Hidemaro.

Hidemaro sau khi xong Gakushuuin (2) thì vào Đại học Văn khoa (3) và đã tốt nghiệp hạng ưu tú về ngành Sử. Vì anh xem lịch sử nước nhà như lãnh vực để mình nghiên cứu trọn đời, không thể bạ gì viết nấy, nên rốt cuộc đã chọn đầu đề “Việc thu thập kinh điển nhà Phật của vua Kanishka” (4), một đề tài rút ra từ lịch sử cổ đại Ấn Độ. Đối với công lao thu thập này, người ta đã bàn nhiều về vua Asoka (5) nhưng ít ai nói tới vua Kanishka. Đặc biệt là khuynh hướng nghiên cứu về nhà vua hiện nay chưa có ai theo thành thử Hidemaro gặp nhiều khó khăn và phải mò mẫm từng bước một. Anh không đọc được chữ Sanskrit nên thấy mình khó lòng phán đoán một cách chính xác. Do đó, Hidemaro đã phải tìm đến chỗ Giáo sư Takakusu (6) để xin thụ giáo ông một số kiến thức cơ bản. Dĩ nhiên học hành như vậy thì không dễ gì giỏi trong một sớm một chiều. Mỗi lần anh tiến thêm một bước thì lại thấy thêm một khó khăn mới xuất hiện nhưng anh vẫn không chịu thua, tìm cách giải quyết chúng trong phạm vi đề tài mình đã lựa chọn. Tuy chưa lấy làm thỏa mãn nhưng thành thực mà nói, Hidemaro đã trình bày rất sáng sủa, không vẽ vời nên luận văn ra trường của anh có thể xem như một công trình ít ai sánh kịp.

Từ khi Hidemaro trình luận văn tốt nghiệp, bỗng anh bắt đầu có vấn đề. Tuy không bệnh tật gì mà anh cứ như người mất hết sinh khí. Sắc diện nhợt nhạt, mắt đỏ hoe. Vốn là một cậu con trai xưa nay ít giao du với ai, nay anh càng tránh né người đời. Cả gia đình Gojô, từ phu nhân trở đi, mọi người đều hết sức lo lắng. Phu nhân định gọi bác sĩ tới khám nhưng anh cho biết: “Con chẳng đau ốm gì cả!” và không nghe lời. Bà bèn ngấm ngầm mời bác sĩ Aoyama (7) đến hỏi ý kiến. Bác sĩ có vẻ ngạc nhiên khi được vấn kế và ông đã trả lời:

-         Trường hợp cậu Hidemaro thì nếu không chẩn bệnh, tôi không thể có ý kiến. Ừ nhỉ, cậu nhà cho là mình không bị bệnh và không muốn gặp bác sĩ à. Cậu ấy không bệnh hoạn gì cũng nên. Tôi có dịp hướng dẫn nhiều em sinh viên và nhận thấy một số em ưu tú thường có vấn đề như vậy vào thời gian trước hay sau khi ra trường. Mỗi năm vào dịp lễ tốt nghiệp, tôi có theo dõi các em và nhận thấy khi lãnh đồng hồ lưu niệm (8), sắc diện các cậu học giỏi đều giống như Hidemaro cả. Làm như họ xem việc tốt nghiệp như là một sự cần thiết. Chỉ cần chậm một chút là họ sẽ bị suy nhược thần kinh, thoát được cảnh đó đã là may mắn lắm.

Phu nhân nghe ông nói cũng chỉ biết gật gù, cố nén nỗi lo và tự nhủ với lòng thôi hãy ráng chờ, chắc mai mốt nó sẽ khỏi. Khi Hidemaro không có bên cạnh, bà nhớ lại lời bác sĩ Aoyama và cứ lập đi lập lại từng câu từng chữ như thế để tự trấn an. “Phải rồi, thằng Hidemaro làm gì bệnh tật, cứ yên trí, nó sẽ khỏi ngay mà”..Thì lúc đó, bà lại thấy Hidemaro không biết ở đâu xuất hiện với gương mặt xanh xao, như đang nói chuyện với ai đó trong không trung rồi sau lại im lìm. Nếu ai có bắt chuyện thì anh sẽ trả lời một cách từ tốn làm như không hiểu vấn đề hay chỉ nhằm ngăn người ta khỏi trách móc mình. Người nói chuyện với anh có cảm tưởng những câu hỏi của họ giống như mũi tên đồ chơi mà trẻ con thổi ra bằng ống phun, đã trúng phải một bức tượng đồng, bật ra và bị dội lại. Thấy thế, phu nhân càng thêm buồn phiền vì cái viễn tượng tốt đẹp bà đã xây dựng từ cơ sở lập luận của giáo sư Aoyama cũng không còn đáng tin cậy nữa.

Vừa tốt nghiệp xong, Hidemaro đã sang Âu châu. Một tân khoa cử nhân cùng khóa, điểm số cao hơn Hidemaro ít nhiều, lại từng lãnh thưởng đồng hồ bạc, đáng lý ra được Bộ Giáo Dục gửi đi ra nước ngoài nhưng anh ta phải dời ngày lên đường vì Bộ cho biết có một du học sinh đi bên ấy chưa về nên nhà nước không đủ tiền ứng thêm suất học bổng mới. Trong khi đó Hidemaro, vì là con của Tử tước Gojô (9), nên được phép đi trước. Tử tước thì tiền bạc thoải mái, việc lo cho cậu trưởng nam sang du học Tây phương như mọi người, đối với ông, không phải là vấn đề đáng kể.

Từ khi sang Âu châu, sức khỏe của Hidemaro có khá ra. Nội dung những bức thư anh gửi về gia đình cho họ có cảm tưởng là dù đã đến Berlin rồi, anh vẫn còn cảm thấy thích thú với những gì xảy ra trước đó. Nào là câu chuyện những đứa trẻ da đen lặn dưới nước như cá để mò mấy đồng bạc ở một bến cảng Ấn Độ, nào cảnh đoàn hát quốc tế với những nàng con gái địa phương có cùng một khuôn mặt tươi cười, trên tay cầm đủ thứ nhạc khí anh đã gặp khi lên bờ ở cảng Port Said (10), nào chuyện được tản bộ giữa phố phường Âu Tây lần đầu khi ghé Marseille (11)...Còn cả chuyện đi mua hàng ở những tiệm buôn không đề giá và không nói thách, khi anh chực đem hàng về thì được bảo rằng đừng mang trên người chi cho lích kích, tiệm buôn sẽ trao tận nhà trọ. Về tới nơi mới thấy hàng đến trước mình rồi. Thêm cả chuyện lúc ghé qua Paris, Hidemaro đã được một cậu ấm người trong họ đưa đi xem hát ở Opéra. Lúc ấy ở foyer (chỗ khán giả tạm nghỉ trong nhà hát, NNT), anh đã thấy cậu ấm kia từ chối rất xẳng với một vị phu nhân sang trọng khi người ấy tìm đến để trao đổi câu chuyện gì đó. Cậu ấy bảo là chúng tôi không biết tiếng Pháp, rồi nhìn vào khuôn mặt ngờ nghệch của tôi mà nói oang oang như thể bắt bà ấy phải nghe: “Tout ce qui brille, n’est pas or” (12) (Không phải cái gì bóng loáng đều là vàng cả). Tôi nhớ mãi đó là lần đầu tiên mình ngộ ra điều ấy.

Hidemaro còn viết rất chi tiết về ấn tượng anh có từ khi đặt chân đến Berlin làm vợ chồng tử tước lấy làm thích thú. Tử tước đã mua tặng phu nhân một tấm bản đồ thế giới do nhà sách Sanseidô xuất bản. Mỗi lần có thư từ hay điện tín anh gửi về, ông lấy bút chì gạch dưới hay điểm lên bên trên để giảng giải cho vợ là cậu con trai đã tới chỗ này hay đang đi ngang chỗ nọ.

Đại học Berlin thời Hidemaro du học (1900)

Trong thời gian sang Âu châu, Hidemaro đã sống ba năm ở Berlin. Năm thứ ba của anh là thời Viện trưởng Erich Schmidt (13) điều hành Đại học Berlin, cũng trùng với dịp kỷ niệm ba trăm năm thành lập nhà trường. Hidemaro nhân đó có vinh dự cầm đuốc gắn phù hiệu đại học, cùng với các bạn diễu hành khắp đường phố Berlin. Suốt thời gian theo học trong trường, anh vẫn thông tin chi tiết cho tử tước biết học kỳ này mình đang đi nghe giảng những môn nào. Trong số đó có những giảng khóa về thời Phục Hưng ở Ý (14), về nguyên nhân của cuộc cải cách tôn giáo, nghĩa là các đề tài thuần túy lịch sử. Ngoài ra, còn có những đề tài tuy liên quan đến sử học nhưng trừu tượng hơn ví dụ về nguyên lý sử học, tâm lý các dân tộc hay việc thành hình những thần thoại. Cũng có những bài giảng về vị trí của Pragmatismus (Chủ nghĩa thực dụng) (15) trong lịch sử triết học. Có lần anh đã đi nghe một giáo sư phụ tá trình bày về quan điểm lịch sử nghệ thuật của Friedrich Hebbel (16). Rồi đến cả những môn hoàn toàn tách xa khỏi nó như Lịch sử tu viện và Lịch sử kinh luận ở khoa Thần học. Cứ mỗi học kỳ, đọc bản tường trình của con, tử tước – vốn không có cơ hội chuyên sâu như thế – không phân biệt được khoa nào với khoa nào. Ông chỉ phỏng đoán là con mình đang đeo đuổi những môn học khá phiền toái. Dù vậy, ông không hề lo lắng chuyện đó. Cho con trai vào đại học rồi gửi nó ra nước ngoài, mục đích của ông không phải muốn nó có được một chuyên môn nào hết. Sắp tới đây, nó sẽ tập ấm chức tước của gia đình rồi trở thành phên giậu phò tá hoàng gia, đó là những đoạn đường tương xứng với địa vị và giai cấp của dòng họ. Để làm được điều này, nó chỉ cần đem về một số kiến thức cơ sở là đủ. Ông chỉ mong con mình có được một trình độ cao hơn giáo dục phổ thông một chút là đủ. Do đó, nếu cậu con muốn chọn môn học nào hợp với anh ta thì ông nghĩ nên để đương sự tự do.  

Thời theo học ở Berlin, khi đưa tin tức về học giới bên đó, Hidemaro có lúc khen ngợi văn tài và năng khiếu hùng biện của Erich Schmidt mà anh từng nghe tiếng đồn, nhưng hơn cả ông này, chính là sự nghiệp và phạm vi ảnh hưởng của nhà thần học Adolf von Harnack (17) mới là điều anh nhắc đi nhắc lại trong những bức thư gửi về cho cha. Hình như câu chuyện về Harnack có một ý nghĩa đặt biệt nào đó nhưng đợi đến khi gặp mặt mà giải bày thì còn phải đợi lâu cho nên qua những lá thư, Hidemaro dường như muốn thúc đẩy cha mình phải động não để hiểu giữa hai dòng chữ ý nghĩa những đoạn văn sôi nổi của anh.    

Nhà thần học người Đức Adolf von Harnack (1851-1930)

Đặc biệt là nhân khi thông tin cho gia đình về lễ kỷ niệm 300 năm thành lập Đại học, Hidemaro đã xem học giả Harnack như nhân vật chủ chốt của buổi lễ có ý nghĩa tuyệt vời này. Anh cho biết giữa Hoàng đế Wilhelm đệ nhị và Harnack vốn có một mối quan hệ vua tôi đặc biệt: bậc quân chủ rất tin cậy bày tôi và bày tôi lại có thái độ tận tâm đối với nhà vua qua những cống hiến trong lãnh vực học thuật của mình. Đồng thời khi đánh giá về những đóng góp của Harnack đối với nước Đức mà ông cho là mẫu mực, Hidemaro đã dẫn chứng bằng cách đi ngược lên tới tận Theodosius (18) - cha của ông ta – và trình bày về con người đã có những đóng góp có tính khai phá trong việc phát triển tân tôn giáo này. Tử tước lấy làm ngạc nhiên vì lãnh vực chuyên môn của con mình là sử học mà sao chẳng thấy cậu ta dồn hết tâm lực vào đó mà cứ viết đủ mọi thứ chuyện về Harnack. Thành ra ông mới để tâm đến lá thư đó và hay lấy ra xem. Thế rồi ông cố gắng nắm cho bằng được điểm trọng yếu nhất trong lá thư nói trên. Nói tóm tắt thì nội dung của nó như sau:

Chính trị là một hành động do nhiều người tương tác mà thành. Chính vì vậy khi làm chính trị, phải đặt tầm quan trọng của nó ngang với tôn giáo, vốn cũng là một hành động mà đến bây giờ vẫn có tác dụng lên đám đông. Nói về việc nội trị ở Đức thì phải làm sao cho nhân tâm hai miền Nam Bắc – vốn hoàn toàn khác nhau về mặt tôn giáo – được hòa hợp bằng cách khiến cho họ tìm đến với nhau. Trên phương diện ngoại giao cũng vậy. Dù Giáo hội Roma đã suy thoái đi nhiều nhưng nó vẫn còn gốc rễ sâu xa, ta bắt buộc phải đưa vai trò của Giáo hoàng vào trong con tính. Vì vậy, làm chính trị ở Đức là cố kìm hãm để chính trị ấy không đối nghịch với cựu giáo (đạo Ki-tô) của miền Nam Đức nhưng phải mưu tính việc phát triển văn hóa nơi đó theo tinh thần Tân giáo (đạo Tin Lành) của miền Bắc Đức. Hơn thế nữa, bậc quân chủ phải làm sao để có một cơ sở vững chắc về mặt tôn giáo. Cơ sở đó nằm ở trong thần học của Tân giáo. Hiện nay, người đại diện được cho thần học của Tân giáo chính là Harnack. Được đặt vào địa vị như vậy, những tưởng Harnack sẽ bẻ cong ý kiến về thần học của mình – dù chỉ là một chút - để thỏa mãn nhu cầu có tính giai đoạn của chính trị nhưng chuyện đó đã không hề xảy ra. Đức vua cũng không có ý định bắt ông làm như vậy. Đấy là điểm mạnh của người Đức. Nhờ đó mà người Đức mới có thể giương đôi cánh rộng của họ và trở thành vĩ đại. Ngay bây giờ, giữa thời mà Đảng Xã Hội Dân Chính đạt đến cao trào, hoàng đế Wilhelm đệ nhị vẫn có thể ngồi chung với vài viên sĩ quan hầu cận, chạy xe hơi và bóp kèn bí bo trên đường phố Berlin, không cần có đội cận vệ đi kèm khi ông đi xem triển lãm hay mua đồ ở các cửa hiệu. Có thể đem Đức so sánh với Nga. Người Nga để mặc Chính Thống Giáo Hy Lạp trong trạng thái trầm trệ, dường như họ thi hành một thứ chính trị khiến cho giới thượng lưu thì ăn ngon mặc đẹp còn bọn dân đen bên dưới phải chịu cảnh tối tăm ngu muội. Đến khi đám dân đen ngu muội kia chợt tỉnh ra, họ sẽ trở thành một nhóm người vô chính phủ mang ý tưởng cực đoan. Vì vậy, nếu Sa hoàng không có lính cảnh vệ mặc thường phục làm rào chắn vây quanh, thì khi ra đường khó lòng bước tới một bước. Nếu như ai cũng đồng lòng tin vào tôn giáo thì không còn cần đến Thần học. Ngay ở Đức, sở dĩ người ta học Thần học là để làm mục sư. Từ đó suy ra thì đối với những kẻ không đăng ký vào một giáo đoàn, Thần học chỉ là một món đồ vứt đi. Tuy đối với đa số không học hành và trí tuệ kém mở mang thì Thần học vô dụng đấy nhưng đối với những kẻ chịu khó học hỏi, nó sẽ trở thành hữu dụng. Nguyên lai, kẻ có học vấn thường không có cái “tín ngưỡng” mà nhà tôn giáo đề cập tới. Những người như thế - vì có học vấn nhưng không tín ngưỡng – dù được ai khuyên hãy tôn kính thần thánh, hãy tôn kính Phúc Âm, họ cũng không chịu nghe theo. Một khi đã không có tín ngưỡng thì sẽ không thấy tôn giáo là cái gì cần thiết. Người mang một tâm trạng như vậy trở thành kẻ có tư tưởng nguy hiểm. Trong số đó, có những kẻ sau khi đã mang tư tưởng nguy hiểm, mặc dù không có tín ngưỡng, vẫn làm bộ như là mình có. Họ không thừa nhận sự cần thiết của tôn giáo nhưng làm ra vẻ như nhìn nhận điều ấy. Trên thực tế, những kẻ giả dối cỡ đó có rất nhiều. Thế nhưng, những ai có học và có chí, chịu đi nghiên cứu kỹ lưỡng giáo nghĩa và lịch sử tu viện của một giáo phái như Tân giáo của Đức chẳng hạn, sẽ có cơ hội nhìn vào mớ kiến thức đẹp đẽ, tinh ròng mà các nhà chuyên môn đã chắt lọc được. Khi có khả năng nhìn như thế rồi, cho dù không tin theo nhưng những người ấy sẽ nhận ra rằng tôn giáo là một cái gì cần thiết. Lúc đó chúng ta sẽ có những nhà tư tưởng ôn hòa. Ở Đức, số người có lập trường như vậy rất đông. Bảo rằng sức mạnh của người Đức vốn dựa trên nền tảng của Thần học là vì lý do trên.

Cũng vì thế mà dưới mắt Hidemaro, Harnack là một nhân vật xứng đáng được ca ngợi. Tử tước cũng hiểu đại khái những điều gì con mình muốn trình bày qua bức thư.

Lúc đó là thời đại mà hai cuốn Seiyô Jijô (Tây Dương sự tình) và Yochishiryaku (Dư địa chí lược) (19) trở thành phổ biến, người ta tán thưởng những tác phẩm dịch thuật. Tử tước vốn biết đến chúng vì chỉ nghe qua câu chuyện của những người bạn trong giới hoa tộc (quí tộc mới từ thời Meiji, NNT) chứ tri thức của ông thì chẳng có gì khác ngoài mấy câu chú thích của Chu tử để giảng nghĩa Luận Ngữ. Tuy vậy, vốn là người thông minh cho nên sau khi đọc được những quyển sách nói trên thì đầu óc ông cũng đã mở mang đôi chút. Trong lá thư của con trai ông, có nhắc đến một tôn giáo gọi là đạo Ki-tô và vị thần của họ gọi là Chúa Ki-tô. Những điều ấy xưa nay vốn xa lạ với ông. Gia đình ông trước kia đã định sẵn một ngôi chùa làm nơi thờ phượng (bodaisho) cho dòng họ rồi. Thế nhưng vào thời Duy Tân, cha ông đã cắt đứt liên hệ với nhà chùa và giao phó việc cúng kiến ma chay của gia đình cho ông từ ở đền Thần đạo (20). Kể từ đó họ không còn biết Phật là ai, bây giờ thì ngoài vong linh tổ tiên, họ không nhìn nhận sự tồn tại nào khác. Hiện nay trong phủ đệ của họ có dựng một thần xã dành cho việc tế tự và họ hành lễ một cách trịnh trọng. Thế nhưng dù chủ trương là linh hồn tổ tiên tồn tại, bản thân họ có tin hay không là chuyện khác. Mỗi lần tổ chức cúng tế thì câu nói “phải chân thành xem là họ vẫn tồn tại” (Tế như tại) trong Luận Ngữ lại hiện ra trong đầu ông. Tuy câu ấy hàm nghĩa là tổ tiên hãy còn đó và ông phải cúng kiến, nhưng trong khi ấy, bản thân ông chẳng hề có cảm tưởng là tổ tiên thực sự hiện diện ở đâu cả. Nếu có thì chẳng qua ông đã cố gắng để có thể nghĩ như thế mà thôi. Nhìn lại những gì cậu con trai viết, ông cảm thấy anh ta đã nhập bọn với một lớp người không có lòng tin nhưng lại chấp nhận sự cần thiết của tôn giáo. Không, không, có lẽ không phải thế. Chắc con của ông chỉ muốn nói rằng hãy thử tìm hiểu Thần học một chút để thấy rằng với chừng đó giáo lý thôi thì dù không có lòng tin, ta vẫn có thể nhìn nhận sự cần thiết của tôn giáo, nghĩa là chấp nhận nó sau khi dùng lý trí để phán đoán. Riêng ông thì chưa bao giờ đọc sách vở Thần đạo. Chẳng những thế, ông cũng không biết có loại sách vở nào khác đáng cho mình đọc hay không nữa. Tuy nói vậy nhưng giữa ông và một người không học thức, không tín ngưỡng, chỉ tin sự có mặt của thần linh qua trực giác và không đặt nghi vấn, vẫn có chỗ khác nhau. Cho nên ông thấy việc lễ bái của mình chỉ là hình thức chứ không có một chút nội dung. Giả sử ông có cố gắng nghĩ rằng “thần linh tồn tại” đi nữa thì cố gắng ấy chỉ là vô nghĩa. Không, không, không thể nào một cố gắng có thể bị xem là vô nghĩa. Không thể có điều đó. Hơn nữa, nhìn lại mới thấy rằng tín ngưỡng ở nơi người không học thức là cái đã được di truyền tự bao đời và hãy còn rơi rớt lại dù là chút ít. Thế nhưng đúng như lời cậu con mình nói, điều đó chỉ đúngvới tiền đề là học vấn phá vỡ lòng tin mà thôi. Chẳng lẽ rốt cuộc lại thế sao? Có thể lắm. Được giáo dục như ngày nay thì con người sẽ không thể chấp nhận rằng thần thoại và lịch sử là một. Những câu hỏi thế giới đã được sinh ra như thế nào, phát triển ra sao, loài người từ đâu mà có, tại sao nó lại tiến hóa .... nếu thông qua học vấn thì dù bằng phương pháp học hỏi nông cạn đến mức nào đi nữa, chúng ta cũng có thể suy ngẫm được đôi điều. Và những suy ngẫm đó sẽ cho thấy thần thoại không phải là sự thực. Cùng với việc cách ly hoàn toàn thần thoại khỏi lịch sử, nghi vấn về sự tồn tại của tổ tiên và những thần linh khác sẽ được đặt ra. Như thế chẳng phải là con đường trước mặt đã có một vật thể cực kỳ nguy hiểm chắn lối hay sao? Thử hỏi xã hội sẽ nghĩ về vấn đề này như thế nào? Ngày xưa, người ta xem sự tồn tại của thần thánh như một sự thực, ngày nay người ta xem điều đó là một điều dối trá. Không phải họ xem như sự dối trá ấy là hiển nhiên và chẳng thèm để ý đến nó hay sao? Do đó, cuộc tế lễ nào cũng vậy, đối với họ, đều là những chuyện hình thức nên họ mới coi là hiển nhiên và đồng thời, chẳng quan tâm đến. Lại nữa, việc dạy thần thoại cho trẻ con và bảo đó là lịch sử, họ cũng thấy chẳng đáng quan tâm! Này xem, mọi người một đằng phân biệt hẳn hòi thần thoại với lịch sử, một đằng lại chẳng hề bức xúc trước việc người ta trộn lẫn thần thoại với lịch sử để dạy dỗ con em! Cá nhân mình tuy chẳng tin gì vào sự tồn tại của thần linh nhưng cũng khá hồ đồ, không ít thì nhiều đã hùa theo lối suy nghĩ của thiên hạ, tạo thành một phong tục tin tưởng thần thánh như thời xưa. Thử hỏi, trong một xã hội vắng bóng lòng tin vào thần linh như ngày nay – không biết phong tục còn sót lại ấy sẽ duy trì hiện trạng cho đến bao giờ? Một ngày nào nó sẽ bị diệt vong thôi nhưng rõ ràng là nó đang cố tình bám víu? Tin tưởng vào một chuyện mà mình không tin, biết đó là căn bệnh dối trá mà không lo chữa trị, rồi lại đem dạy cho con cái! Như thế thì khác gì chẳng lo lắng cho trạng thái tinh thần của con cái và để chúng ra sao cũng mặc? Con trai mình đã nói, dù nó không có tín ngưỡng nhưng chịu nhìn nhận tôn giáo là một cái gì cần thiết. Việc chấp nhận sự cần thiết của tôn giáo, và cả sự cần thiết phải chấp nhận sự cần thiết nói trên – đều chẳng được mấy ai trong xã hội quan tâm. Thế thì làm sao người vừa không coi thần thoại là lịch sử, vừa không tin sự tồn tại của thần linh lại đi chấp nhận tôn giáo là cần thiết giữa thời buổi này?

Bình sinh Hidemaro vẫn cho rằng khi đem những điều mình đang suy nghĩ để thử nói hay viết cho ai, chớ bao giờ cố ý làm cho người ấy hoàn toàn nghe theo lời mình. Đừng tìm cách thuyết phục họ nhưng hãy khiến cho họ tự thuyết phục lấy. Trong lúc trò chuyện hay viết thư, trước tiên phải làm rõ nghĩa những điều mình muốn nói và muốn viết, đến độ cảm thấy thỏa mãn về nội dung của nó. Lúc đó thì tư tưởng của mình sẽ nhận được kích thích mới và tiến về một chiều hướng khác. Có lẽ vì lý do đó mà vào thời điểm nhận được bức thư trả lời rất chi ly của tử tước, Hidemaro – dù đang bàn cùng một vấn đề – đã không còn ở vị trí để có những lời phát ngôn làm hài lòng cha mình nữa. 

Hồi được gửi qua Âu châu, Hidemaro đang ở trong tình trạng sức khỏe đáng lo ngại nhưng đến ngày lên đường, hình như anh đã đỡ ra nhiều. Điều này có thể thấy qua nét chữ rất linh hoạt trong những bức thư anh gửi. Có một cậu bà con mà anh thân thiết bên Đức khi về nước và đến nhà chơi đã cho biết Hidemaro tuy chăm chỉ học hành nhưng cũng chịu khó đánh bi-da hay trượt băng cũng như giao du với giới thượng lưu bên đó. Đến độ họ còn kháo với nhau rằng trong những dịp đi chơi, ví dụ xem khai trương một vở kịch với các sinh viên cùng pensionnat (nhà trọ) trong nhà phu nhân họ Mỗ, nếu không có Viconte (Tử tước) Gojô đi cùng thì hôm ấy sẽ mất vui. Bố mẹ anh nghe hết sức mừng rỡ và mong sẽ chóng gặp lại cậu con khỏe mạnh ở quê nhà.

Rồi mùa xuân năm vừa qua, khi Hidemaro hồi hương, anh mang về không biết cơ man nào là sách vở. Trước ngày sang Đức, anh hãy còn  nét non nớt của một thiếu niên. Mới có 3 năm mà anh đã thành ra người đàn ông đĩnh đạc. Da dẻ hồng hào, thân hình có thêm chút thịt. Thế nhưng phu nhân -bà mẹ từng ngóng trông con – khi để ý đến cử chỉ và cách ăn nói của anh, đã cảm thấy có điều gì bất ổn. Đó là cái dáng dấp trầm tư và thái độ không thích chuyện trò với người khác, điều mà bà có lần thấy khi con mình vừa tốt nghiệp đại học xong và sắp sửa xuất ngoại. Tưởng anh khi về nước thì đã hoàn toàn bình phục thế nhưng bây giờ bà mới rõ ra là so với trước khi đi, anh vẫn không có gì thay đổi.

Chuyện xảy ra hôm anh đặt chân tới ga Shinbashi (21). Trong số thân quyến và bạn bè ra đón, một số người đã tháp tùng anh về tận tư dinh của gia đình họ Gojô. Để chiêu đãi khách, nhà có bày ra ít rượu và món nhắm. Sau bữa tiệc nhỏ đó, giữa tử tước và Hidemaro đã có cảnh đối thoại như sau:

Tử tước mặc quần hakama ngồi trên ghế, hút thuốc lá rời bằng ống vố. Gương mặt gầy, đôi mắt sâu và hằn những nếp nhăn, ông chăm chú nhìn đứa con với vẻ hân hoan nhưng chỉ thốt ra một chữ “Sao?”

Hidemaro cũng nhìn trả lại cha và chỉ trả lời với một chữ “Vâng!” cụt lủn. Phu nhân ngồi bên cạnh, nhìn cậu con trai trong bộ âu phục chững chạc, thấy thái độ của con vẫn không thoải mái ra một chút nào so với hồi nãy khi anh phải tiếp khách. Điều này làm cho bà bận tâm.

Tử tước cứ tưởng con trai sẽ phát biểu thêm một điều gì, ngồi im lặng một lúc như thể chờ đợi. Không nghe gì từ phía anh, ông mới tiếp:

-Con đem về nhiều sách vở nhỉ?

-Mấy thứ cần phải có để làm việc bên này ấy mà. Chỉ tham khảo chứ không phải đọc. Thành thử số lượng đâm ra nhiều quá!

-À! Chắc con muốn bắt tay vào việc ngay?

Hidemaro có vẻ chần chừ chưa muốn trả lời nhưng sau cũng nói với nét mặt đăm chiêu:

-Vâng, trên tàu con cũng suy nghĩ nhiều rồi nhưng coi bộ chưa thể bắt đầu!

-Có gì phải gấp. In ra không bán được cũng chẳng sao. Với lại con đâu cần có thêm bằng cấp.

Nói xong ông lại tiếp:

-Nhưng được bằng cấp thì cũng tốt chứ!

Và ông phá lên cười.

Nãy giờ chỉ ngồi bên cạnh để nghe, phu nhân mới bắt đầu khơi một số chuyện. Hidemaro trả lời một cách nhẹ nhàng và thân ái. Thế nhưng ấn tượng đầu tiên của phu nhân là con mình trả lời là vì muốn cho mẹ vui lòng chứ không phải điều bà hỏi là những chủ đề anh đang quan tâm.

Sau khi Hidemaro đứng lên và đi ra, phu nhân mới quay lại nói với tử tước:

-Cơ thể nó thì đã khá ra rồi nhưng về đầu óc thì...nhiều khi thấy hơi e dè, không trình bày được hết những gì nó suy nghĩ, phải không ông?

-Chứng cứ nó đã trưởng thành. Đàn ông con trai đâu có như các bà mà muốn nói gì là nói!

-Thôi đi ông!

Phu nhân nguýt chồng. Đã vào giữa tuổi 40 rồi mà người đàn bà ấy vẫn còn giữ được đôi mắt to tròn đáng yêu.

-Có gì mà giận!

-Em đâu có giận.

Bà vừa cười vừa trả lời nhưng cái cười ấy còn có vẻ khách sáo hơn cả những câu trả lời của Hidemaro ban nãy.

 *   *   *

Gần một năm qua kể từ ngày ấy. Lâu lắm Hidemaro mới được đón một ngày đầu năm. Giờ đây vì đã có chút danh phận, tuy không bận bịu như cha nhưng anh cũng phải làm một số chuyện mà nghi thức đòi hỏi. Mặc lễ phục mới tinh tươm, không phô bày bộ mặt quạu cọ, mọi việc rồi cũng xong. Khi mẹ hỏi: ”Bên Tây phương, người ta ăn Tết sao con?” anh liền vui vẻ trả lời: “Có gì đặc biệt đâu mẹ. Đêm ba mươi, học trò đã kéo nhau hết ra ngoài quán. Họ chuẩn bị một thức uống gọi là bôre nghĩa là rượu pha với champagne, vang, đường và nước có tăm bọt, cắt thêm ít lát chanh cho vào khuấy rồi hâm lên. Họ rót vào cốc và chờ đến nửa đêm. Khi đồng hồ bắt đầu gõ 12 tiếng thì cùng nhau hô Prosit Neujahr để chúc mừng năm mới rồi cụng ly. Sau đó, cả bọn ra ngoài phố, vừa đi vừa đùa bỡn. Về tới nhà thì lăn ra ngủ, đến trưa ngày nguyên đán vẫn chưa chịu dậy. Nói chung, mọi nơi nhà nào cũng đóng cửa im lìm. Lễ Giáng Sinh đình đám bao nhiêu nhưng ngày đầu năm chỉ giống như ngày nằm suông để trông nhà.

-         Cũng phải cử hành nghi thức gì trước mặt đức vua chứ?

-         Dạ không. Chỉ có lễ triều kiến bắt đầu từ hai giờ chiều thôi ạ.

Như thế, Hidemaro nương theo chiều hướng câu chuyện mà trả lời những ai muốn hỏi anh về những gì xảy ra bên Âu châu.

Những ngày lạnh nhất trong tháng 2 và tháng 3 đã trôi đi. Mẹ anh thử đặt câu hỏi:

-Bên đó trời không ấm như thế này đâu con nhỉ?”.

-Có hiện tượng gọi là Glass-ice, nghĩa là giữa khi lạnh nhất cũng có vài buổi chiều ấm lên một chút. Phần ở bên trên lớp tuyết chảy ra và buổi sáng đóng thành băng. Cây và cành như được bao bọc bằng lớp thủy tinh. Lối đi của khách bộ hành trên đại lộ Unter den Linden ở Berlin thấy như là một tấm kính chỗ lồi chỗ lõm, dễ trượt chân. Người đi đường mới đeo những cái sọt đựng cát bên nách, rắc lên lối đi mà bước. Thời tiết khoảng đó cực lạnh nhưng chưa đến nỗi như bên Nga, đi ngoài phố mà cóng đến độ như lỗ mũi muốn tê cóng. Không có nhà nào mà không có lò sưởi, hầu như không ai mà không phải mặc áo lông thú. Lạnh đến mức đó, cơ thể con người không chịu nổi. Trong khi bên mình thì mùa hè ngồi trong nhà, mát mẻ như thế mà đã cho là lạnh.

Hoa anh đào nở rồi mùa xuân cũng trôi qua. Khi nghe mẹ hỏi về hoa anh đào, Hidemaro mới nói:

-Ở một nơi khí hậu lạnh như nước Đức, lúc xuân về thì mọi loài hoa đều nở một loạt. Cho nên mới có câu nói “ Tháng 5 là tháng đẹp nhất”(22). Không phải nước Đức không có anh đào nhưng bên đó người ta cứ nghĩ rằng anh đào là một loại cây ăn quả nên họ không tổ chức xem hoa. Cách Berlin chừng nửa thôi đường, có vùng tên Stralau (23). Thôn này năm bên bờ sông die Spree, là nơi có trồng rất nhiều anh đào. Sinh viên đến từ Nhật hay tụ họp ở đó ngắm hoa đấy chứ! Mấy cô công nhân nhà máy dệt thảm bên cạnh đi ngang qua và nhìn thấy thế, cứ tự hỏi không biết bọn người này đang làm trò gì ở đây.

Mùa hè oi bức đã đi qua. Khi mẹ hỏi: “Trong mấy hôm trời nóng như thế, bên Berlin người ta làm gì?” thì Hidemaro nghiêng đầu nghĩ ngợi một lúc, cuối cùng vừa cười vừa trả lời: ”Mùa này chán nhất đấy mẹ ạ! Họ đi nghỉ hè tất. Mấy cô gái trẻ thì qua Switzerland (Thụy Sĩ) leo lên mỏm núi cao. Người ở lại không biết làm gì hơn thì ra công viên nghe hòa nhạc và hóng mát cho đến nửa đêm. Vì nước này khá gần Bắc Cực nên khi đi chơi tới khuya, về nhà sắp sửa ngủ thì ngoài cửa sổ trời đã rựng sáng.

Bận bịu việc này việc nọ, không dè mùa thu đã đến tự lúc nào. Hidemaro mới bảo: “Ở Âu châu, mùa đông đến nhanh cho nên ít khi thưởng thức được những ngày mùa thu trời đẹp”. Đối với mẹ, anh có vẻ tươi cười, dễ chịu hơn hơn. Phần lớn cảnh chuyện vãn như vậy thường xảy ra quanh mâm cơm. Kỳ dư những khi khác thì Hidemaro cứ ở trong căn phòng ngủ trang trí kiểu Tây phương của mình. Sách vở anh mang từ bên đó về rất nhiều và các thùng sách choán hết chỗ trong đó. Anh phải cho dựng rất nhiều kệ sách bên mấy bức tường, chuyển hết lên và đặt chúng san sát bên nhau. Trước mấy cái kệ đều có phủ màn mỏng màu xanh nên dù không trang trí gì, bức tường vẫn thấy như dày ra gấp bội. Tất cả lý do đó khiến cho căn phòng trở thành tối tăm, đồng thời, bên trong phòng hầu như không nghe tiếng động như ở bên ngoài nên thật vắng lặng. Vào những ngày tiểu xuân (koharu, Indian summer), trời đẹp trở lại trước khi đi hẳn vào đông, khi mọi người ra bên ngoài chơi thì Hidemaro vẫn cố thủ trong phòng. Anh không rời bàn viết nửa bước, suốt buổi cứ mê mải đọc sách. Ánh nắng ngoài song từ phía trái chiếu xiên vào trong phòng, sau khi lọc qua bức màn xanh giăng bên trên, chỉ còn buông xuống bàn viết một thứ ánh sáng nhàn nhạt.

Cứ tưởng mùa thu này sẽ là một mùa thu ấm áp nhưng những trận mưa vừa mới thưa thớt đó đã biến thành mưa rào. Từ hai ba hôm trước, lò sưởi hơi đốt hiệu Fuben (24) đặt trong phòng của Hidemaro đã được bàn tay của cô hầu phòng Yuki nhen lửa.

Buổi sáng thức dậy và lần theo hàng hiên để ra ngoài vườn nhà, Hidemaro thấy trên mặt đất đầy những chiếc lá ngô đồng lớn màu vàng và lá phong dại nhỏ màu đỏ. Chúng lấp kín từ bậc đá cuối hành lang đưa xuống khu vườn như tô màu lên đó. Dọc theo bức tường đá là những bụi yatsude (fatsia japonica, NNT) với những chiếc lá to, xanh thẫm và ướt sương, vài chỗ còn chìa ra những cọng trắng trông như đài gắn nến. Trên những chùm hoa trắng của những bụi cây là bầu trời tuy hơi phủ mây nhưng vẫn để ít tia nắng xuyên qua. Dăm ba con se sẻ bay qua bay lại và cất tiếng hót.

Hidemaro ngắm nghía cảnh vật một đỗi rồi buông thõng hai tay và vươn vai ra đằng sau, hít khí trời thật sâu vào lồng ngực. Sau đó anh trở vào trong nhà, đến bên bồn và rửa mặt với nước nóng Yuki vừa mang đến rồi với tay lấy bộ đồ lớn mặc lên. Từ lúc ở Âu châu về, lúc nào ra đường anh cũng mặc Tây.

Vừa vặn lúc ấy, người mẹ bước vào nói:

-Hôm nay chủ nhật, bố còn muốn thư thả một chút nhưng mẹ thấy đã đến giờ cơm. Thế con có đi ăn chung với mẹ không?

Phu nhân vừa liếc nhìn con, vừa tiếp lời:

-Hôm qua, mẹ thấy con thức đến hơi khuya. Nhắc đi nhắc lại vẫn một chuyện nhưng lúc ở Âu châu về, nom con thật khỏe nhưng cứ làm việc quá mức kiểu này thì sắc diện xấu đi mất thôi.

-Ôi dào, con có bệnh tật gì đâu! Có lẽ tại không chịu ra đường nên da dẻ không bắt nắng.

Nói xong, anh vừa cười, cùng theo mẹ ra khỏi căn phòng kiểu Tây phương của mình.

Thế nhưng, khi nghe tiếng cười của anh, phu nhân thấy sao như có kim chích vào tim mình. Hidemaro không thật lòng. Anh vẫn giữ cố tật là dùng tiếng cười khỏa lấp ấy để che mắt thiên hạ, điều mà chính anh cũng không ý thức. Không biết lúc nào, nơi anh, nó đã trở thành một tập quán và với bản năng của một bà mẹ, phu nhân đã thấy được điều đó.

Sau bữa cơm, lúc về nhà thì mấy đám mây lúc hừng đông đã vén lên để bầu trời trở nên quang đãng. Những tia nắng mặt trời xưa nay vẫn bị đồ đạc trong căn phòng bừa bộn của Hidemaro ngăn cản, nay đã len được vào trong để thỏa chí tò mò. Chúng tô vẻ lên rèm cửa và những kệ sách, lên suốt cái bàn viết rộng, trên lọ mực, lên trên tấm thảm lót sàn những hình thù hoa cỏ kỳ dị, huyễn hoặc, làm như muốn cho thấy như sự sống có thể thay đổi trong từng sát na. Nó khiến cho không khí ở những nơi ánh sáng xen vào như được nhuộm bằng màu của lá xanh đã chớm vàng, và cũng trong bầu không khí đó, có những hạt bụi nhỏ xíu đang nhảy múa.

Hidemaro không chịu được nhiệt độ quá cao trong phòng, anh bớt đi một phần ba số than cốc trong lò sưởi. Ngậm điếu xì gà trên môi, anh ngả lưng xuống chiếc ghế xích đu. 

Nếu muốn giải thích một cảnh ngắn gọn về tâm trạng của Hidemaro trong lúc này thì chỉ có thể nói là anh đang bị sự hiu quạnh làm cho khổ sở. Tình cảm hiu quạnh đó khác với cái cảm giác nhàm chán của một người đang cần một kích thích nhỏ bé nào đó. Nó giống tâm tình của một người đang bị một công trình nuôi nấng bên trong thôi thúc đòi được lộ diện. Đó là sự thống khổ gây ra bởi một tiềm năng. Nó giống như cảnh Lưu Huyền Đức, người anh hùng đời Tam Quốc, khi nhìn thịt bắp đùi sổ ra vì không còn săn chắc mà cất tiếng than (25). Người ngoài nhìn vào chỉ thấy Hidemaro xanh xao ốm yếu nhưng riêng anh lại nhận thức được sức mạnh của mình cho dù bác sĩ đang lo là không khéo anh mắc bệnh não tủy bị teo vì thiếu hoạt động (26). Để thể thao đầu óc, anh vùi đầu đọc đủ thứ sách triết. Tử tước, cha anh, người vốn không bi quan về tình trạng sức khỏe của con như bà mẹ, có lúc trong bữa ăn đã nhìn anh và thốt ra một câu ngạn ngữ ”Kẻ có cá tính phải chăng là người chẳng chạy theo thời”(Ichito hiji ni awazu ka na) và cười vì thấy nó có vẻ hợp tình hợp cảnh. Hidemaro cũng nở trọn vẹn nụ cười cố hữu của mình và đáp lại: “Con đâu có phải là người chung thân bất mãn”. Hình như anh e rằng ông bố lại xem mình như một người chủ trương tự do tư tưởng đến mức cực đoan. Bố mình đã hiểu lầm. Dù vậy, Hidemaro nghĩ rằng ít nhất là chỗ đàn ông con trai với nhau nên khác với mẹ anh, ông đã thông cảm phần nào về trạng huống tâm lý của đứa con.

Câu nói của người cha bất chợt làm Hidemaro nhớ lại một câu khác mà ông có lần phát biểu. Hôm dó cũng trong bữa cơm, ông đã lên tiếng: “Nghe người ta bảo tổ tiên con người là loài vượn, sao mà thấy khó chấp nhận quá!”. Hidemaro hơi chột dạ. Anh không phải là người tán đồng Anthropogenie (Lý luận về nguồn gốc nhân loại) cửa Hackel (27) và cũng dám xác nhận điều đó mà không cần úp mở. Tuy nhiên, bên trong câu nói của người cha làm như chứa đựng một thắc mắc nào đó khiến cho lối suy nghĩ của ông và của anh không thể nào dung hợp. Người như ông bố anh thì khó lòng tin vào cái thần thoại lập quốc vốn thành hình từ một thời đại mà dân chúng hãy còn bán khai và xem thần thoại đó là một bộ phận của lịch sử. Thế nhưng mặt khác, ông cũng chả dại gì mà nói huỵt toẹt rằng thần thoại không phải là lịch sử. Nếu xử sự như thế là ông đã bắt đầu làm sụp đổ một góc của vật thể quan trọng trong cuộc sống của mình. Phải chăng tử tước lo rằng, giống như một chiếc thuyền rò rĩ(rỉ), tư tưởng duy vật sẽ theo cái lỗ toác ra dưới đáy mà chui vào khiến con thuyền chìm. Theo Hidemaro, với thái độ như vậy, bố anh chẳng đã vô tình trở thành một người cố tình giữ rịt sự sai lầm của mình hay một nhà tư tưởng đang đeo mặt nạ!

Vì suy nghĩ như thế nên Hidemaro cứ phải chần chừ, không muốn nói gì thêm để đánh tan sự hiểu lầm của người cha. Việc phát biểu thẳng thắn, rõ ràng rằng thần thoại không phải lịch sử là một mệnh lệnh đến từ lương tâm của Hidemaro. Dù có nói trắng ra điều đó, anh nghĩ mình chẳng qua là một trái cây đang che chở cái hạt cứng của nó nằm bên trong tức bảo vệ phần quí giá của cuộc sống mà thần thoại đang vây bọc chung quanh. Anh nghĩ cứ chấp nhận điều đó để duy trì sự sống ấy cái đã và điều đó không những là nhiệm vụ của một học giả, còn là phận sự của một con người.

Ở điểm này, Hidemaro cảm thấy rằng giữa anh và người cha có một cái hố thật hẹp và thật sâu ngăn cách. Thêm nữa, khi cha anh nói chuyện với anh, ông giống như người rụt rè mở nắp đậy cái hộp mà ông nghi ngờ trong đó có chứa một vật nguy hiểm rồi rút nhanh tay về. Thái độ ấy vừa làm cho anh bực bội vừa khiến anh tội nghiệp, lo âu nên không nỡ ra tay. Khi người cha thử mở cái nắp đậy, không phải là ông đã nhìn thấy quỉ sứ hiện ra giữa ban ngày hay đang đứng trước một vật chẳng có gì độc hại mà lại xem nó là một thứ của độc để mà sợ hãi. Ông chỉ mới nghi ngờ nội dung của cái hộp ấy thôi.

Hidemaro suy nghĩ như vậy bởi vì anh cũng có cái lý của anh. Tử tước vốn là người tinh tường nên khi đọc bức thư của con viết về Harnack, ông đã phải gác việc trả lời qua một bên. Sau đó là những đêm trằn trọc, đầu óc ông không rời những vấn đề tôn giáo. Càng suy nghĩ ông càng cảm thấy mình không có khả năng giải quyết, ông mới đi đến kết luận rằng nếu mình nhúng tay vào đó thì sẽ gây nguy hiểm mà thôi. Dù sao, ông không muốn con mình phải tìm hiểu sâu xa về vấn đề này. Nếu được, ông chỉ muốn đầu óc nó hướng qua chuyện khác. Vì nghĩ như thế, ông quyết định không hở môi thêm về vấn đề tôn giáo. Nhưng vì vẫn lo sợ vấn đề ấy đã đâm rễ sâu vào trong đầu óc con mình, ông âm thầm theo dò diễn tiến của sự việc.

Dù những cuộc đối thoại giữa Hidemaro và cha anh từ ngày anh ở Âu châu trở về đã kéo dài hơn một năm nhưng hai bên đối thủ khi ra mặt trận chỉ mới gửi những đơn vị thám thính. Mỗi khi đơn vị dọ thám khám phá ra bóng quân giặc, họ chỉ bắn dăm phát từ xa rồi rút về, hầu như hết sức né tránh những cuộc chạm trán nhưng đồng thời cũng không hề tuyên bố giảng hòa.

Mẩu tro trắng của điếu xì-gà bên mép Hidemaro đã khá dài và chực rơi đến nơi. Trên thành ghế xích đu nơi anh vắt cái gi-lê, đã lác đác những mẩu tro hình vẩy cá nho nhỏ và trên mặt thảm dưới sàn cũng có ít đốm tro vương vải. Nếu cứ ngồi thế này và không làm gì cả, Hidemaro có cái cảm giác khó chịu là trong lòng, những điều mình toan tính cho sự nghiệp mai sau dường như đang chịu một sức ép, còn bên ngoài thì đó là bầu không khí căng thẳng do gia đình tạo ra.

Hidemaro nghĩ thầm “Hay mình đi kiếm quyển sách mà đọc! “. Từ trước, anh đã có ý định viết về lịch sử nước nhà nhưng vẫn chưa có thể bắt tay vào việc nếu chưa vạch rõ được lằn ranh giữa thần thoại và lịch sử. Huống hồ trước tiên anh phải tra cứu cho thật kỹ lưỡng với tính học thuật về sự hình thành của thần thoại. Cùng với thần thoại, anh còn phải trình bày về tôn giáo một cách rõ ràng, và tốt hơn hết là viết về sự phát triển của tư tưởng tôn giáo cũng như sự phát triển của giáo hội vì đó là cơ quan đã sử dụng tư tưởng tôn giáo ấy vào việc tế lễ. Như vậy, vừa chứng minh rằng giáo lý Protestantism (Thệ Phản) (28) không làm tổn thương cho lịch sử phát triển tư tưởng tôn giáo và lịch sử của giáo hội, vừa đặc biệt cho thấy chủ trương sùng bái tổ tiên cũng như những cơ quan điều hành nó nhất định sẽ không vì thế mà bị nguy hại.    

Anh nghĩ rằng hoàn thành điều này sẽ hết sức dễ dàng và lúc đó có cảm tưởng trước mắt mình đã hiện ra được một bản phác thảo khá rõ ràng và giản dị. Có lẽ khi làm xong việc này rồi, anh sẽ yên tâm bắt đầu nghiên cứu lịch sử. Tuy nhiên, dù biết thế, anh vẫn nhận thấy là có cố gắng đến đâu, anh vẫn chưa được môi trường chung quanh cho phép đem những điều hiểu biết của mình sử dụng cho bài viết. Cảm tưởng ấy đã bắt đầu có từ hồi còn ở Berlin, thời gian anh đang thu xếp hành lý hồi hương. Trong vùng ý thức của Hidemaro, trước tiên, cảm tưởng nói trên đã hiện ra như vài hạt bụi nhỏ xíu nổi lên ngay trung tâm một dung dịch nhưng dần dần kết tinh rồi lan rộng. Rốt cuộc, nó đóng thành một mảng to và đen đặc trong bộ não của Hidemaro, ngăn trở sự phát triển mọi kế hoạch anh đang thao thức. Nó hầu như làm tắt nghẽn mạch sáng tác, khiến anh chỉ còn biết đọc sách để thể thao đầu óc. Khi cầm sách lên đọc thì lạ lùng thay, anh tập trung được tinh thần, không còn chịu sức ép đến từ nỗi lo về sự nghiệp tương lai và không cả sự căng thẳng của bầu không khí gia đình. Cứ thế mà anh tiếp tục chúi mũi vào đống sách.

Vừa lúc đó, anh nghe bên ngoài có tiếng lọc cọc gõ cửa. Thì ra Yuki đang chờ trả lời để bước vào phòng. Khuôn mặt nhỏ bé, đôi mắt đen ướt lóng lánh với cái mũi gọn và cao, có hơi hếch lên một chút làm nơi cô toát ra một vẻ vô cùng đáng yêu. Hồi Hidemaro mới về nước, vì Yuki chưa từng hầu phòng kiểu Tây phương, khi thấy cửa mở, cô vào hẳn bên trong, khom mình xuống đóng lại rồi chống tay trên mặt thảm và thưa chuyện. Lúc đó, anh hết sức ngạc nhiên, mới mỉm cười, chỉ vẽ cho cô bé cách xử sự của người phương Tây. Chuyện gì chỉ cần nghe một lần là Yuki hiểu ngay nên đến lần sau cô đã quen và làm đúng lời anh dặn.

Hidemaro đang đứng đâu lưng với lò sưởi thì thấy Yuki từ ngoài cửa bước vào, gương mặt của anh trở nên rạng rỡ. Cuộc sống erotic (tình dục) của anh bấy lâu nay như bị ngủ vùi. Có thể nói rằng trong cái gia đình êm ả nhưng u ám này, anh chỉ có được giây phút sảng khoái khi có dịp nhìn thấy cô bé hầu phòng.

-Dạ thưa, cậu Ayakôji đến rồi đấy ạ!

Yuki hướng về phía Hidemaro với đôi mắt tròn to như một con chim nhỏ trong lồng khi bắt gặp mắt người ta. Mỗi khi có dịp nhìn cậu chủ trẻ là tim cô lại đập rộn ràng. Cô tôn thờ anh một cách ngây thơ và không hậu ý.

Từ phía hành lang đã có cái bóng hối hả chạy tới và mở cảnh cửa Yuki vừa khép lại sau lưng. Đó là một người đàn ông trong bộ âu phục bằng nhung màu nâu, một bạn học đồng khóa với Hidemaro. Người ấy chạy ùa vào trong phòng, bất thần đưa bàn tay béo và đỏ của mình nắm lấy vai của Yuki và bảo:

-Này, Yuki! Sao cứ đực người mà đứng ngắm cậu chủ thế. Không ra ngoài cửa đón khách vào à!

Yuki đỏ mặt, ngượng chín. Thế rồi, không nói một lời, cô bỏ ra ngoài như chạy trốn. Akakôji quay lại nhìn thì cô đã mất dạng.

Hidemaro hơi nhíu mày, một cử chỉ mà ai không để ý thì sẽ không nhận ra. Và nó cũng biến mất thật nhanh sau đó không để cho ai có thời giờ bắt gặp. Anh nói với một giọng nghiêm trang:

-Riêng ở đây, xin cậu đừng nói đùa kiểu đó cho tớ nhờ!

-Ôi chà! Mới sáng ra mình đã bị mắng rồi. Hôm nay trời đẹp đó nghe ông! Trong lòng phải tươi như ngoài trời mới được chứ! Bây giờ theo lịch thì saison (mùa) là đông rồi nhưng có giai đoạn chuyển tiếp lúc giống như đông lúc giống như thu. Hôm nay hãy xem nó là một ngày thu đi. Những phân tử của mùa đông như bị chìm xuống dưới đáy. Trong ánh nắng của mặt trời sắp tắt, mình thấy như le lói một nỗi buồn nhưng nó cũng đem đến cho ta một sự sảng khoái. Giống như vẻ đẹp của người đàn bà đứng tuổi. Ngày đẹp thế này mà trốn nhủi trong nhà như con bọ và úp mặt xuống mặt bàn mở sách ra đọc thì cả cái thế giới rộng bao la này, cậu là người duy nhất đấy. Cho phép tôi khen cậu như vậy.

Hidemaro tuy là người nghiêm nghị nhưng lúc ấy, khuôn mặt của anh không hề tỏ ra khó chịu. Anh chỉ đưa mắt nhìn Ayakôji đang đứng trước mặt và ba hoa. Nói đơn giản thì hình thù của người bạn này sao mà giống như một con quỷ đói. Tóc cắt hơi dài chút xíu, vắt ngược từ trán lên đỉnh đầu và buông về phía sau ót, trông dựng đứng như chòm lông của mấy con heo rừng thấy trong tranh họa kiểu Nhật. Đôi mắt hí trễ xuống đằng đuôi, môi lúc nào cũng chực nở một nụ cười chế nhạo. Trên đôi má bao chung quanh cái miệng rộng là mấy nếp nhăn trông như những ngoặc đơn ngoặc kép.

Ayakôji vẫn chưa thôi hùng biện:

-Sao cậu cứ mãi nhìn chầm chập vào tớ. Chắc trong lòng cậu đang khinh bỉ tớ chứ gì ! Nhưng chẳng sao cả. Cậu là roi (ông vua), còn tớ là bouffon (thằng hề cho nhà vua). Hề kiểu đó tiếng Đức gọi là Hofnarr đấy. Vậy cứ đối xử với tiểu thần như kẻ mua vui cho bệ hạ.

Hidemaro chợt thốt lên:

-Tớ có ý định khinh khi gì cậu đâu nào!

-Thế thì đừng nhìn tớ với vẻ trách móc như thế.

-Ừ. Thôi, tớ xin lỗi.

Hidemaro vừa trả lời, vừa mở nắp hộp xì-gà đưa ra mời. Rồi anh nói như thể chỉ có một mình:

-Tại tớ cảm thấy cậu đang tiêm chất độc vào trong đầu người khác đó thôi.

-Ôi, thế là cậu quá sentimental (tình cảm).

Ayakôji đưa tay với lấy điếu xì gà và Hidemaro châm lửa.

-Merci (Cám ơn).

Ayakôji hít vào một hơi rồi nói:

-Kiếm chỗ ấm ngồi tốt hơn.

Ayakôji đẩy cái ghế của mình một nấc đến trước lò sưởi. Anh đặt tay lên thành ghế nhưng chưa vội ngồi xuống mà nhìn chung quanh. Trên mặt bàn viết thấy có một quyển sách Hidemaro còn để mở từ tối hôm qua. Anh để ý đó là một quyển sách Tây, dày và có đóng gáy tạm. Bên cạnh nó là một cái rọc giấy to bản làm bằng đồi mồi trông như nột cái ni đo vải.

-Cậu đang gậm nhấm món nào đây nhỉ?

Nói xong, Ayakôji đưa mắt nhìn Hidemaro rồi thả người xuống ghế.

  *   *   *

Ayakôji là người thi đỗ vào trung học Gakushuuin (Học Tập Viện) cùng khóa với Hidemaro nhưng trong khi Hidemaro học lên đại học thì Ayakôji vì muốn trở thành họa sĩ, đã bắt đầu lui tới một xưởng vẽ tranh phương Tây ở khu Tameike (29). Thế rồi giữa khi Hidemaro còn ghi danh ở khoa Văn, Ayakôji đã sang Paris. Khi Hidemaro rời tàu lên bờ ở bến Marseille và trên đường qua Berlin, anh có ghé Paris hai ba hôm. Anh đã được Ayakôji tiếp đãi rất tận tình. Họ đã cùng nhau tản bộ trên đại lộ Champs Elysées, xem hát ở các rạp Théâtre Franccais hay Gymnase Dramatique...Ayakôji đã không tiếc thời giờ hướng dẫn Hidemaro thăm thú nhiều nơi. Anh còn chu tất đến độ sắm thêm mấy bộ quần áo mới để bạn mặc khi đến Berlin.

Ayakôji là một con người sống với giác quan, hai mắt và hai tai. Ngay cả chuyện nghệ thuật, anh cũng không lấy làm nghiêm túc cho lắm nhưng đầu óc lúc nào cũng minh mẫn và như đang khao khát một điều gì. Từ khi về nước, Hidemaro cứ ru rú trong nhà, chẳng chịu đến nhà Ayakôji nhưng anh thì đôi khi có đi thăm bạn. Trong câu chuyện liên quan đến những quyển sách Hidemaro đang đọc, tuy qua lời ăn tiếng nói thì có vẻ như đùa cợt nhưng lúc nào Ayakôji cũng lắng nghe và tìm cách suy ngẫm về chúng một cách đứng đắn.

Ayakôji tiến về phía cái bàn viết, lấy quyển sách đang mở, lật qua lật lại cái bìa để xem.

-Ủa. “Die Philosophie des Als Ob” (30) à? Cái tựa sao nghe lạ tai quá!

Triết gia người Đức Hans Vaihinger (1852-1933)

Giữa lúc ấy thì Yuki đã mang cái khay bằng bạc hình bầu dục trên có bộ đồ uống trà đỏ đến. Cô tiến về phía cái bàn cạnh lò sưởi và đặt nó lên. Cô kín đáo nhìn Ayakôji như không muốn cho anh thấy mình đang nhìn rồi lặng lẽ bước ra ngoài. Cô sợ anh phát biểu một câu nào đó. Có lẽ cô đang nghĩ điều anh nói ra sẽ làm mình mắc cỡ thêm lần nữa. Nhưng chính ra trong bụng, cô cũng mong được nghe anh nhắc lại nhưng lần này, Ayakôji vẫn giữ nguyên im lặng.

Hidemaro lật lại mấy cái tasse (tách) đang úp và rót trà. Thế rồi anh quay lại hỏi Ayakôji :

-Cậu uống trà với sữa chứ nhỉ?

-Cứ việc cho tớ thật nhiều sữa vào, như lần trước ấy! Mà này, Als Ob nghĩa là gì hở?

Vừa hỏi, Ayakôji nhấc chiếc ghế mình ngồi đến trước mặt lò sưởi.

-Comme si (31) đấy! Nói theo tiếng Nhật, có lẽ nghĩa của nó là Ka no yô ni (Như thể). Đó là cách suy nghĩ bằng cách bỏ qua khía cạnh không ổn thỏa của một sự việc nào đó để có thể tiếp tục đi xa hơn trong giòng suy tưởng. Vì tớ thấy lối giải thích tác giả trình bày không ngờ đã phù hợp với hoàn cảnh của mình một cách sít sao nên tớ bị lôi cuốn. Tối hôm qua đã phải thức đến 3 giờ sáng để đọc nó đó.

Ayakôji tròn mắt:

-Mãi đến 3 giờ sáng cơ à! Chỗ nào trong đó mà cậu thấy nó ăn khớp với hoàn cảnh của mình?

-Có chứ!

Tuy nói thế nhưng Hidemaro cũng ngừng một chút để suy nghĩ rồi mới trình bày về những điểm quan trọng anh nghĩ mình đã nắm được trong quyển sách dày cả nghìn trang mà anh vừa đọc được bảy tám phần:

-Đầu tiên là phải suy nghĩ về kiểu giải thích cho rằng mình “dựa trên sự thực”. Ở các phiên tòa, thẩm phán thường đi đến phán quyết sau khi đưa ra những chứng cớ mà họ gọi là sự thực. Có thể gọi chúng là những sự thực hiểu theo cái nghĩa thông thường. Tuy nhiên, một sự thực hiểu theo nghĩa đó không hề tồn tại. Dù được gọi là sự thực nhưng một khi đi qua quá trình miêu tả bởi con người rồi thì nó đã bị tô điểm, thêm thắt, như lối nghĩ của nhà tư tưởng duy vật Lange (32). Con người không ý thức được là họ đang làm thơ. Họ thành ra những kẻ nói dối. Từ chỗ nói dối, nay họ còn bị bắt buộc dựng lên một sự thực cho có ý nghĩa. Tiểu thuyết là một lời nói dối được ngụy trang để mang lấy ý nghĩa như sự thật. Thế nhưng tự buổi đầu, tiểu thuyết đã không phải là sự thực. Khi sáng tác, nhà văn ý thức rằng nó là dối đấy nhưng vẫn cứ phổ biến đến mọi người. Thế rồi chẳng bao lâu, cuốn tiểu thuyết ấy lại có được sự sống và giá trị của riêng nó. Những thần thoại được tôn thờ cũng đã thành hình theo qui trình ấy và được phổ biến cùng một kiểu nhưng ngay tự đầu, nó không hề là sự thực. Tranh cậu vẽ cũng vậy, dù cậu mô tả sống động đến mức độ nào, nó không thể là một sự thực. Cậu đã vẽ tranh với cái ý định là nói lên một điều không phải sự thực rồi. Những cái gọi là sinh mệnh hay giá trị quan của con người mà chúng ta ý thức đều giả dối tất. Chúng ta không thể tìm kiếm đâu bên ngoài nó ý nghĩa thứ hai của cái gọi là sự thực. Cách nhìn như thể có hai thứ sự thực đã bắt đầu với một ông tổ là Kant, gần đây lại có những người theo trường phái Pragmatism (Duy thực dụng). Họ lập đi lập lại ý tưởng của ông nhưng với luận lý kém phần sắc bén. Nếu tớ không nói qua một chút về điều này thì câu chuyện giữa chúng mình khó lòng tiến thêm.

-Thôi được. Hãy tạm gác câu chuyện ngôn từ. Nếu vấn đề chỉ có bấy nhiêu thôi thì ngay tớ cũng có thể hiểu được. Khi tớ vẽ thì tuy bức tranh không nói lên sự thực nhưng trong kỳ triễn lãm năm nay, tớ đã bán được một bức. Rõ ràng nó phải có một chút giá trị nào chứ. Vì vậy, không thể nào nói tranh của tớ không phải là sự thực. Trong trường hợp tớ vừa nói thì chủ trương Comme si của cậu sẽ được áp dụng kiểu nào? 

-Khoan, nghe tớ cái đã! Cậu muốn xét lại cả mọi thứ tri thức cũng như căn bản học vấn của con người từ cơ sở đó chứ gì? Trong môn học được xem là chính xác nhất như số học chẳng hạn, người ta thường phân biệt điểm và tuyến. Một cái chấm dù đem chặt nhỏ mức nào cũng không thể trở thành điểm mà một cái sợi dù kéo mỏng đến bao nhiêu cũng không trở thành tuyến. Cắt mép bìa một miếng ván khéo đến đâu cũng không có được cái gọi là tuyến. Góc của nó cũng không thể gọi là điểm. Điểm và tuyến không hề tồn tại. Chúng phát xuất từ một sự nói dối có ý thức. Thế nhưng nếu chúng ta không nghĩ “như thể” điểm và tuyến tồn tại thì chúng ta không thể xây dựng được môn hình học (kỷ hà học). Phải xem như chúng có thì mới thực hiện được. Comme si là thế đấy! Còn khoa học tự nhiên thì sao? Không có cái gì gọi là vật chất mà có thể tự tồn tại được một mình. Vật chất được biết đã kết hợp từ những nguyên tố. Nguyên tố chính ra cũng không tồn tại. Đành rằng là vậy nhưng nếu không chấp nhận sự tồn tại của vật chất, của nguyên tố, chúng ta sẽ không đo lường tính toán được nguyên tố và sẽ không có môn hóa học. Còn về những môn khoa học tinh thần thì thế nào? Tự do, linh hồn bất diệt hay nghĩa vụ, tất cả đều không tồn tại. Nếu không xem những vật không có thực ấy như là có thực thì sẽ không dựng được một cơ sở luân lý. Cái mà ta gọi là lý tưởng vốn đến từ đó. Chúng ta từ lâu cũng đã thừa biết ý chí tự do trong lãnh vực pháp lý cũng là cái không có thực. Thế nhưng nếu chúng ta không xem “như thể” nó có thì toàn bộ môn hình luật sẽ trở thành vô nghĩa. Kể từ thời cận đại, không có triết gia nào mà không nghĩ rằng mọi sự ở đời đều là tương đối và cái gọi là tuyệt đối thì không ai thấy nó nằm ở đâu cả. Dù vậy, họ cứ phải giả dụ “như thể”cái tuyệt đối ấy cũng có . Schleiermacher (33) có lần nói là từ thủa xưa, các tôn giáo đã có lối suy nghĩ về thượng đế “như thể” một người cha. Khổng tử cũng giống như tiền nhân của ông tự bao đời, nhìn nhận “như thể” là linh hồn tổ tiên tồn tại và tổ chức cúng tế họ. Thấy thế thì biết ngay là không chỉ trong lãnh vực học vấn và tri thức, tôn giáo hay những định chế khác của loài người đều giống nhau. Khi thử điều tra về cơ sở của chúng, ta sẽ thấy tất cả đều đã được xây dựng như sự thực trên một nền tảng không có thực chút nào. Nói cách khác, tính cách “như thể” đã bao trùm lên cái nền tảng ấy.

-Khoan khoan, hượm cái đã! Cậu thường bảo tớ nói không kịp nghĩ nhưng lúc cậu phát biểu thì bao giờ cũng đi quá nhanh làm tớ đuổi theo không kịp. Tớ đã mường tượng ra một chút mặt mũi cái con quái vật mang tên Ka no yô ni của cậu rồi nhưng cho phép tớ uống xong tách trà và suy nghĩ thêm để xem thực sự nó là cái gì.

-Chắc trà nguội mất!

-Gì hở? Không sao đâu. Nếu để cái bằng chứng được dựng lên như một sự thực có tên là Yuki bước vào trong phòng này thì lúc đó sự suy nghĩ của chúng ta sẽ rối rắm thêm thôi. Tóm lại, nếu lúc đó sự thực và sự thực có va vào nhau và đùn thành một đống thì chúng mình cũng đành chịu. Khi chúng ta nối kết chúng lại với nhau là đã chấp nhận một cơ sở mới cho sự suy nghĩ của mình mà trong đó, đã thấy lẫn vào một vật mà ta không muốn. Cơ sở đó chính là cái được mệnh danh Ka no yô ni đấy cậu ạ. Đúng không? Tuy nhiên, tớ sẽ bỏ qua, không suy nghĩ gì về con quái vật ấy đâu. Ngay có nghĩ tới, tớ cũng không nói ra.

Ayakôji chiêu nốt ngụm trà nguội và hạ quyết tâm như thế.

Mặt Hidemaro chau lại:

-Tớ cũng sẽ không mở mồm như cậu thôi. Thế nhưng cậu chỉ vẽ tranh nên cậu có thể không lên tiếng. Tớ thì khác, tớ đeo đuổi học vấn là để phát biểu. Dĩ nhiên, tớ không thể nào không suy nghĩ. Suy nghĩ rồi mà không nói ra thì một là ngậm câm, hai là ngụy trang nó bằng một lời nói dối nào đó. Nếu thế thì tớ đã đánh mất lập trường của mình rồi.

-Nhưng mà này, cậu bảo cậu học hành là để nói ra tức là cậu định viết sử đấy phỏng? Sao cậu không viết ào ào như tớ vẽ tranh đi, nghĩa là hãy để mặc con quái vật đó tự do trở thành cơ sở cho sự suy nghĩ của cậu. Có sao đâu!

-Không được, cậu ơi. Khi bắt đầu cầm bút viết thì tớ bắt buộc phải loại thần thoại qua một bên. Khi tớ loại nó ra một bên, thiên hạ sẽ đặt nghi vấn là tại sao phải loại và vì cớ gì không chịu để mọi thứ trộn chung vào với nhau. Dù thế nào đi nữa, lịch sử không phải là cái mình có thể nắm bắt chỉ trong một sát-na như hội họa.

-Thế cậu muốn bảo rằng hội họa có thể chấp nhận vì nó ẩn dấu được con quái vật kia còn lịch sử mà cậu viết, vì làm lộ diện nó, trở thành điều không nên, chứ gì?

-Ừ, đấy đấy!

-Cậu nhát gan quá! Có lộ diện thì đã sao?

-Tớ sẽ bị xem là kẻ có tư tưởng nguy hiểm. Nếu thiên hạ chỉ nói ra nói vào thôi thì tớ xin phấn đấu. Nhất là làm sao cho ông bố của tớ chấp nhận được cái đã.

--Cậu còn nhát hơn tớ tưởng. Nếu chỉ có chừng ấy phức tâm, như tớ thì tớ đã dẹp phắt từ lâu. Khi tớ thành họa sĩ, ông bô đã bỏ mặc xác, bây giờ ổng coi tớ như một đứa lêu lổng hạng sang. Trong khi đó, cụ nhà cậu thì vui vẻ đồng ý cho con mình trở thành sử gia. Cậu đã tốt nghiệp đại học. Còn khi du học ở phương Tây, cậu cũng học dễ dàng thoải mái chứ không khổ cực như tớ. Nhưng đến giờ này, cậu còn ôm lấy những phức tâm trong khi tớ đã dẹp xong phần mình từ 5, 6 năm trước. Hãy giải quyết nó đi và viết sử theo kiểu cậu thích. Vậy có tốt hơn không? Đành phải thế chứ sao!

-Thế nhưng tớ nghĩ chuyện tớ làm đâu nhắm tạo ra những xung đột tinh thần như vậy. Tớ đã tìm thấy phương pháp giải quyết nó trong hòa bình. Có thể nói là như có thể nắm được nó giữa lòng bàn tay. Chỉ có mối lo là tay mình vụng về vì tớ không muốn chịu nếm mùi thất bại. Cho nên tớ mới lần lữa, đến nỗi để cậu phải chê là nhút nhát.

Nói xong, Hidemaro buông tiếng thở dài.

Ayakôji mới hỏi:

-Hừm! Tại sao cậu cần phải thuyết phục cụ nhà cho bằng được?

-Đâu! Tớ chỉ muốn cho bố tớ biết là điều tớ suy nghĩ không phải là tư tưởng nguy hiểm hay cái chi chi cả.

-Cậu cho biết điều đó bằng cách nào? Giả sử tớ là ông cụ đang đứng trước mặt, cậu thử nói xem nào?

-Khó thật!

Sau khi trả lời, Hidemaro đứng lên và đi đi lại lại trong phòng.

Bóng râm đã vượt khỏi hàng hiên ngoài hành lang và phủ dần lên mái nhà. Bầu trời xanh trong của một ngày thu muộn đang nhuộm lên trên cửa kính dọc hành lang một cái màu tựa hồ ngọc bích nhưng từ bên này khung cửa sổ thì có hơi sẩm. Buổi chiều một ngày chủ nhật trong khu dinh cơ vùng Yamanote này thật vắng lặng. Cánh vườn khá rộng của ngôi biệt thự làm cho ta có cảm tưởng đang đứng giữa đồng quê. Bỗng có tiếng ồn ào của một chiếc xe hơn chạy ngang bên ngoài bức tường gạch rồi trả tất cả về với sự yên tĩnh cố hữu.

Hidemaro tiếp tục nói:

-Này nhé! Khi nãy, cậu có nói về quái vật này quái vật nọ, rồi lại bảo nó là Ka no yô ni đấy, đúng không? Theo tớ thì nó không phải là quái vật gì cả. Bởi lẽ không có Ka no yô ni thì sẽ không có học vấn, cũng chẳng có nghệ thuật lẫn tôn giáo. Mỗi giá trị trong cuộc sống của con người đều phải lấy Ka no yô ni làm trung tâm. Người đời xưa khi thì tin vào sự tồn tại một vị thần độc nhất, khi thì tin rằng có vô số thần linh. Giống như kiểu họ cúi đầu sùng bái chư thần, tớ cũng thành kính cúi đầu trước Ka no yô ni. Sự tôn kính của tớ không hề nồng nhiệt. Nó chỉ là một tình cảm trong sáng không vương chút gợn. Đạo đức cũng giống y như thế. Biết rằng nghĩa vụ của ta đối với nó là cái gì không thể chứng minh bằng sự thực cho nên khi thấy Ibsen (34) thể hiện điều ấy bằng cách sử dụng quái vật hay hồn ma, tớ đã cáu lên không nhịn nổi. Có lẽ Ibsen muốn phá hoại nó để tránh cho nó khỏi tự băng hoại. Thế nhưng cuối cùng chẳng lẽ không còn thấy vết tích nào của nó sao? Vẫn có một vật thể nếu nhìn bên ngoài thì cực kỳ bé nhỏ, không nắm được trong tay, nhưng ở phía trong, cái gọi là Ka no yô ni kia vẫn nằm dưới đáy một cách kiên trì. Nó khiến con người lúc nào cũng phải hành động “như thể” là mình có nghĩa vụ và từ đây, tớ cũng định làm giống họ. Chuyện con người xuất phát từ loài khỉ là một sự thực nhưng là một sự thực cần chứng minh nên được gọi là giả thuyết. Hypothesis (giả thuyết) khác với “như thể” (Ka no yô ni) nhưng tư tưởng cơ bản của tiến hóa luận thì có tính cách “như thể” bởi vì ta chỉ có thể suy nghĩ “như thể” các loài các giống đã tiến hóa. Tớ nhìn thấy ánh sáng nơi tiền đồ của nhân loại và nhắm hướng đó mà dấn bước. Tớ quay lại sau lưng và thấy “như thể” tổ tiên hiện hữu, rồi thờ phượng họ, coi việc mình giữ gìn đạo lý, nhìn ánh sáng ở con đường phía trước và tiến tới, xem đó ”như thể” nghĩa vụ của mình. Qua đó, sẽ thấy trên thực tế, tớ chỉ là một kẻ cực kỳ ngu muội, cực kỳ phục tùng, không khác gì những người nông dân sống trong rừng núi. Khác chăng là đầu óc tớ không mơ mơ màng màng như họ. Tớ cũng không khác gì các vị giáo sĩ hay những nhà đạo học cực kỳ ngoan cố và thành khẩn, khác chăng là tớ không gai góc, thô bạo như họ. Này, cậu không thấy là nếu giữ tư tưởng ở mức độ này thôi là sẽ khỏi bị mang tiếng là nguy hiểm và lại được an toàn hay sao? Thần không phải là một sự thực.Nghĩa vụ cũng không phải là một sự thực. Ngày nay, chúng ta phải nhìn nhận điều này và sự nhìn nhận ấy là giải pháp để phàm tục hóa thần linh và chà đạp lên nghĩa vụ. Nhưng nguy hiểm sẽ phát sinh kể từ giây phút ấy. Phải làm sao để đánh tan sự nguy hiểm, qua hành động là chuyện dĩ nhiên rồi nhưng cả trong tư tưởng nữa. Thế nhưng nếu con người kiểu đó xuất hiện thì chúng ta sẽ bắt buộc trở lại cái thời xưa, khi người ta còn tin có thiên đường, còn nghĩ rằng trái đất đứng một chỗ và mặt trời quay chung quanh. Điều đó làm sao có được. Một khi đã thành như vậy, nền đại học hay gì gì đi nữa cũng phải sụp đổ và cõi đời này chỉ còn một màu u ám. Dân chúng sẽ sống trong ngu dốt và điều này cũng không làm sao chấp nhận. Do đó chỉ còn có cách tôn thờ cái Ka no yô ni. Ngoài lập trường này, tớ không thể có lập trường nào khác.

Cho đến lúc ấy, vẫn với một nụ cười khó hiểu nở trên khuôn mặt mà bên khóe miệng có nhiều vết nhăn vây bọc như những ngoặc đơn ngoặc kép, Ayakôji vừa hút thuốc vừa nghe bạn trình bày. Sau khi gạt điếu thuốc cho tro rơi vào trong cái gạt tàn, anh nhấc người dậy và nói cụt lũn “Không được, không được !” rồi đứng quay lưng với lò sưởi. Anh nhìn Hidemaro đang đi đi lại lại và hùng hồn giải thích, bằng cặp mắt lạnh lùng.

Hidemaro dừng bước ngay trước mặt Ayakôji, chăm chăm nhìn vào khuôn mặt kẻ đối diện. Đường viền của đôi mắt trên gương mặt xanh xao của Hidemaro chợt đỏ ra và sâu bên trong đôi mắt ấy, thấy lóe ra một tia sáng như ánh lửa của fanatisme (sự cuồng tín):

-Tại sao? “Không được” ở chỗ nào?

-Làm sao tớ biết tại sao! Nếu dùng những ý tưởng cậu đang có mà đi thuyết phục mọi người thì chắc chẳng ai nghe theo đâu. Thiên hạ nghĩ rằng trong ngày O-Bon (Vu lan bồn) hồn ma của tổ tiên của họ sẽ đặt miếng vải ba góc có viết chữ Shi lên ngang trán (35) và lửng thửng đi về từ cõi chết. Mấy ông thày dạy giáo lý Thần đạo là kẻ ban phát nghĩa vụ như một nhà máy phát điện. Họ nghĩ rằng các vị thầy của mình đã nhận luồng điện lấy từ một nơi nào đó trên trời và truyền xuống tới họ nên suốt đời họ cứ rậm rật như bị kích động vì nó. Con người ta vốn hướng về những gì mình muốn nhìn cho nên họ vừa sùng bái vừa tuân thủ chúng. Còn như đem một bức tranh lõa thể do tớ vẽ để tặng một người rồi bảo anh ta đừng lấy vợ, đừng đi đến mấy chỗ chơi bời và phải xem người đàn bà trong tranh như người sống thì hỏi ai mà chịu nghe! Cái Ka no yô ni của cậu chính là thế đấy.

-Nếu đúng như vậy thì phần cậu, câu nghĩ sao? Chẳng lẽ cậu tin chuyện ma hiện hồn về? Hay cậu đang bị họ truyền điện đấy?

-Không có chuyện đó!

-Thế thì ý kiến cậu là thế nào?

-Tớ không có ý kiến gì cả.

-Không có ý kiến làm sao được.

-Vậy mà không có đấy. Không phải là tớ không có ý kiến nhưng tớ phải làm như không, được chừng nào hay chừng ấy. Tớ cố tình không chọn lựa. Vẽ tranh thì đỡ phải chọn lập trường.

-Nếu thế, giả sử cậu ở địa vị của người phải viết về lịch sử như tớ, cậu sẽ hành động thế nào?

-Tớ không đứng ở địa vị một người phải viết về lịch sử. Xin cậu tha cho.

Nụ cười cố hữu trên khuôn mặt của Ayakôji đã biết đâu mất. Chỉ còn một dáng điệu bình tĩnh đến lạnh nhạt.

Như tỏ vẻ chán chường, Hidemaro buông thơng hai tay, đến lượt mình nở một nụ cười buồn:

-Phải rồi, mỗi người ai nấy đều phải làm việc của mình và để cho vấn đề nó tự giải quyết một mình. Tớ đã không khéo chọn nghề. Cứ lửng lửng lơ lơ hay đặt điều nói dối thì chẳng phiền ai, thế nhưng nếu định bụng làm việc một cách chính trực và nghiêm túc thì tức khắc rào cản sẽ bủa vây bốn phía. Bản chất nghề nghiệp mà tớ chọn là thế đó.

Trong một thoáng, ánh mắt của Ayakôji đanh lại như ánh thép:

-Nếu rào cản có bủa vây thì phải đột phá chứ, sao lại không dám?

Viền mắt của Hidemaro lần nữa lại đỏ lên. Anh thấp giọng như đứa trẻ con phải trả lời người lớn:

-Nói tóm lại thì việc tớ muốn thỏa hiệp với bố tớ là không nên à?

-Hoàn toàn không nên!

Ayakôji lên tiếng. Rồi như để sưởi ấm lưng mình, anh đưa cái thân hình phục phịch ghé sát lò sưởi, hai tay quành lại sau lưng còn đầu hơi chúi về phía trước. Đứng thẳng tắp ba bốn bước trước mặt anh là Hidemaro, với khổ người mảnh mai giống như một cây tre non sẽ còn có cơ hội trưởng thành. Hai người đưa mắt nhìn nhau, cùng im lặng hồi lâu. Sự yên tĩnh của một ngày chủ nhật trong khu dinh cơ Yamanote vẫn y nguyên và đang vây bọc lấy hai người.

 

Dịch xong ở Tokyo ngày 11/4/2018

N.N.T.

 

Chú thích:

(1)   Hibachi (charcoal brazier): lò than con đặt trong khung vuông ở giữa gian phòng kiểu Nhật để hơ tay cho ấm hay nấu nước uống.

(2)   Trường dành cho con nhà quí tộc mới (hoa tộc), sáng lập năm 1878.

(3)   Tức tiền thân của khoa Văn Đại Học Tokyo.

(4)   Kanishka (129-152), một ông vua thuộc bộ tộc Kushan nước Đại Nguyệt Thị (hay Nguyệt Thị, Yue-zhi) vùng Tây Bắc Ấn Độ, người có công thu thập kinh điển nhà Phật lần thứ tư. Việc thu thập này đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử Phật giáo sau khi Đức Thích Ca nhập diệt, do các đệ tử và tín hữu chủ trì, nhằm giữ những di huấn của ngài khỏi bị thất thoát.

(5)   Asoka (272 TCN-232 TCN), một vị vua thuộc vương triều cổ đại Maurya và là người đã chủ trì cuộc kết tập lần thứ ba kinh điển nhà Phật.

(6)   Takakusu Junjirô (1866-1945), giáo sư triết học Ấn Độ Đại học Tokyo, từng đóng vai giám sát việc in Đại Tạng Kinh vào thời Taishô..

(7)   Tức bác sĩ Aoyama Tanemichi (1859-1917), một nhà y khoa tên tuổi, chuyên về bệnh truyền nhiễm, giáo sư Y khoa Đại học Tokyo.

(8)    Tập quán của Đại học Tokyo, áp dụng cho đến năm 1918. Các sinh viên cực kỳ ưu tú sẽ nhận được một đồng hồ bằng bạc do Thiên hoàng ban tặng.

(9)   Thời Minh Trị, một chế độ quí tộc mới gọi là Hoa tộc đã được thiết lập, dành cho các công thần của chế độ lẫn quý tộc Triều Tiên. Triều Tiên đã bị sáp nhập vào Nhật Bản từ năm 1910.

(10)           Port Said, hải cảng Ai Cập, phía bắc kênh đào Suez, điểm tiếp giáp của Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải.

(11)           Marseille, cảng quan trọng trên Địa Trung Hải, lãnh thổ Pháp.

(12)           Nguyên văn tiếng Pháp.

(13)           Erich Schmidt (1853-1913), nhà nghiên cứu văn học sử, Viện trưởng Đại học Berlin.

(14)           Thời kỳ Phục Hưng (Renaissance) văn hóa từ cuối thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 16) ở Ý.

(15)           Pragmatismus (tiếng Đức) chủ nghĩa xem chân lý chỉ thực sự có giá trị khi có thể áp dụng vào thực tế.

(16)           Christian Friedrich Hebbel (1813-1863), nhà viết kịch người Đức, người đã hoàn thành phong cách hiện thực chủ nghĩa (Realism) trong kịch nghệ thế kỷ 19.

(17)           Karl Gustav Adolf Harnack (1851-1930), nhà thần học đạo Tin Lành phái Luther (Thệ Phản), một nhân vật có thẩm quyền về lịch sử đạo Ki-tô cổ đại và trung đại. Trước là giáo sư Đại học Leipzig, đến cuối đời trở thành Viện trưởng Đại học Berlin. Tác phẩm có “Bản chất đạo Ki-tô” (What ‘s Christianity?), “Lịch sử các giáo điều” (The History of Dogma) vv...

(18)           Theodosius Harnack (1817-1889), cha của Adolf và cũng là một nhà thần học.

(19)           Tây Dương sự tình là tác phẩm của Fukuzawa Yukichi nói về tình hình các nước Âu Mỹ, đăng trên báo vào khoảng cuối đời Keiô sang đầu đời Meji (1868-70). Dư địa chí lược là sách về địa dư do Uchida Masao biên dịch (1870-1878). Hai quyển nói trên và Tây quốc lập chí biên (Saikoku Risshihen, 1870-71) do Nakamura Masanao dịch từ Self Helf là 3 tác phẩm lớn trong ngành xuất bản đầu đời Minh Trị.

(20)           Thời kỳ có phong trào bài Phật và đặt nặng vai trò của Thần đạo trong đời sống quốc gia do chính phủ chủ trương.

(21)           Shinbashi là tên một nhà ga trung tâm Tokyo, có đường xe hỏa nối với cảng Yokohama, nơi tàu thủy đưa Hidemaro từ Đức cập bến.

(22)           Không rõ xuất xứ câu nói nhưng tiếng Pháp có câu tương đương (En Mai, fait ce qu’il te plait).

(23)           Stralau, thôn làng ngoại ô, hướng tây nam Berlin, phong cảnh đẹp và có chỗ để câu cá.

(24)           Lò sưởi bằng hơi đốt, làm bằng kim loại do Đức chế, nhiệt được gây ra bằng phản xạ của lửa trên những thanh đồng.

(25)           Lưu Bị vì không có dịp đi ngựa ra chiến trường nên bắp thịt đùi sổ ra và lấy đó mà buồn cho sự nghiệp chưa thành.

(26)           Theo y học, một bộ phận không làm việc thường có nguy cơ bị teo lại.

(27)           Ernst Heinrich Hackel (1834-1919), nhà động vật học và nhà tư tưởng người Đức, tán đồng quan điểm Tiến hóa luận.

(28)           Chủ trương cách tân Ki-tô giáo với giáo sĩ Martin Luther (1483-1546) và sau đó là Jean Calvin (1509-1564). Họ xem Kinh Thánh như phương tiện duy nhất đáng tin cậy và hô hào cho sự đối thoại nội tâm giữa tín đồ và Thiên Chúa, xem đó như nguyên lý tôn giáo cơ bản.

(29)           Ý nói trung tâm nghiên cứu hội họa Tây phương của Mitsutani Kunishirô, và Yoshida Hiroshi, bắt đầu lập lên từ năm Meiji 38 (1905). Trung tâm này nằm ở Tameike, khu Minato (bến tàu) TP Tokyo.

(30)           Die Philosophie des Als Ob (Triết lý về những cái gọi là “như thể”, 1911), tác phẩm của triết gia người Đức Hans Vaihinger (1852-1939). Als Ob chính là từ khóa của truyện ngắn này. Từ tương đương của nó trong tiếng Nhật là Ka no yô ni, tiếng Pháp là Comme si, tiếng Anh là As if, As though.

(31)           Comme si, tiếng Pháp, có nghĩa là “như thể” , tương tự, có vẻ như thế dù không phải thế.

(32)           Ý nói Konrad Lange (1855-1921), triết gia và nhà nghiên cứu mỹ học người Đức. Ông đã đứng trên lập trường tâm lý học của mỹ học để viết những trước tác như”Bản chất của nghệ thuật”.

(33)           Tức triết gia trường phái lãng mạn Friedrich Ernst Daniel Schleiermacher (1768-1834), ông tổ của thần học Tin Lành hiện đại. Tác phẩm có “Tôn giáo luận”, “Độc ngữ lục”(Nói một mình).

(34)           Henrik Ibsen (1828-1906), kịch tác gia người Na-Uy. Với lập trường cấp tiến và lý tưởng chủ nghĩa, ông đã viết nhiều tác phẩm phê phán cái ác trong xã hội. Những vở kịch tiêu biểu của ông là “Căn nhà búp bê”, “Con vịt trời”. Ở Nhật, tư tưởng của ông rất được nhiều người, nhất là giới phụ nữ, yêu chuộng.

(35)           Chưa rõ. Có lẽ là hình ảnh của hồn ma trong trí tưởng tượng của người Nhật và Shi có nghĩa là Tử.

 

Tư liệu tham khảo:

1-     Mori Ôgai, Ka no yô ni, 1912, trong Tuyển tập Mori Ôgai khổ bỏ túi (tám truyện), Bunshun Bunko , Tokyo, xuất bản 1998, nguyên tác Nhật ngữ.

2-     Hình ảnh minh họa từ Internet.

 

Cập nhật 20/05/2018

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com