ĐỌC OKU NO HOSOMICHI CỦA BASHÔ

Con đường hẹp vào chiều sâu tâm thức

 

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Ta mơ đời trôi giạt 

Dẫn Nhập 

Đường ṃn miền Bắc (tạm dịch nhan đề Oku no hosomichi viết dưới hai tự dạng 奥の細道 hay おくのほそ道) của Matsuo Bashô (1644-1694) là một tác phẩm kinh điển trong văn học Nhật Bản. Nó gồm có hai phần thơ và văn. Hai phần này không đứng riêng rẻ nhưng ḥa quyện vào một khối. Trên ba thế kỷ đă trôi qua mà người Nhật vẫn c̣n nhắc đến nó với tất cả sự cảm khái và trân trọng. Không những Oku no hosomichi diễn tả được hồn thơ của bậc đại sư haiku Matsuo Bashô, mà c̣n là tác phẩm giúp khám phá chiều sâu văn hoá có lịch sử non hai ngh́n năm của dân tộc Nhật Bản.   

Có người sẽ hỏi tại sao người viết lại phí công phí sức đi dịch lại một tác phẩm từng được nhiều người chuyển ngữ ra tiếng Việt và đă có bản dịch khá chuẩn mực? Thực t́nh th́ đây là một việc làm quá tầm tay ḿnh nhưng ḷng cố chấp nông nổi muốn có một bản dịch - dầu là vụng về - của riêng tây đă ám ảnh người viết từ nhiều năm nay. Huống chi nhân dịp này, người viết cảm thấy ḿnh c̣n có cơ hội hiếm có cung cấp thêm một số thông tin chung quanh tác phẩm giúp bạn đọc yêu thích Bashô có thể đi xa hơn trong việc thưởng thức áng danh văn. 

Người viết không “trực dịch” nguyên bản v́ như thế sẽ thành sao chụp, làm nó tẻ nhạt, gồ ghề khúc khuỷu do sự cô động và đa nghĩa của cổ văn (văn viết) nhưng “thông dịch” như các dịch giả Nhật Bản thường làm khi đứng trước độc giả bản xứ bằng cách “thao tác” sang kim văn (hiện đại văn, văn nói). Do đó, nó có thể khác với một số bản dịch sang Việt ngữ có trước đây. Hơn nữa, lần này, người dịch cũng nhân dịp sửa chữa những thiếu sót ḿnh mắc phải trong một lần dịch trước. 

Chú thích và phê b́nh cho Oku no Hosomichi đến từ những quyển sách thấy trong thư mục và ư kiến riêng của dịch giả.

Mục Lục 

I)      Giới thiệu tác giả 

II)     Khái lược về tác phẩm 

III)    Nội dung các đoạn và lời b́nh 

IV )    Lời kết

 

 Giới thiệu tác giả 

Về thân thế và sự nghiệp Bashô, xin xem Chương 1 của quyển sách dịch Matsuo Bashô, bậc đại sư Haiku mà chúng tôi đă phỏng dịch từ tác phẩm Matsuo Bashô, the Haiku Poet (1970) của Giáo sư Ueda Makoto cũng như Niên biểu đính kèm, tất cả đều đọc được tự do trên mạng. Ở đây, người viết chỉ nêu lên những nét chính về nhà thơ cũng như một vài điều chưa được đề cập tới trong văn bản trên và đặc biệt liên quan tới Oku no hosomichi. 

Bashô 芭蕉sinh năm 1644 (Kan.ei 21) ở Iga Ueno (thị trấn Ueno, tỉnh Mie), con trai thứ trong gia d́nh Matsuo松尾, một samurai cấp thuộc hạ gọi là musokunin (vô túc nhân), không bổng lộc tuy có vinh dự được đeo kiếm, thời b́nh chỉ chuyên việc nông nhưng cũng có khí phách con nhà vơ và một ít chữ nghĩa. Lúc ấy, cơ sở chính trị Nhật Bản đă đâu vào đấy, Shôgun đời thứ ba Iemitsu (家光Gia Quang) vừa lập xong một hệ thống hành chính an định. 

Thuở nhỏ Bashô theo hầu cậu chủ trẻ Tôdô Yoshitada, một người yêu mến văn chương nên có dịp theo ông ta trau giồi thơ phú. Từ khi cậu chết sớm, ông lang bạt kỳ hồ. Sau một thời gian, ông lên Edo và quyết chí bước vào cơi thơ haikai. Thông minh, sáng tạo, chẳng mấy lúc ông đă nổi tiếng và được liệt ngay vào hàng sư phó (haikaishi). 

Thế nhưng không bằng ḷng với những ǵ đạt được, ông tự nguyện làm người lữ khách vĩnh viễn, rời bỏ tất cả để bước vào cuộc sống phiêu bạt. Những chuyến đi dài cầu đạo ấy sẽ đem đến nguồn thi hứng mới vừa tạo cơ sở cho một lư luận thơ khác với những trường phái đi trước như Teitoku, Danrin mà ông có thời hâm mộ. Chuyến đi về miền Đông Bắc, bối cảnh của Oku no hosomichi, là chuyến đi dài nhất và gian khổ hơn cả. Nó cũng là chuyến đi nhiều thành quả, giúp ông hoàn chỉnh lư luận Fueki ryuukô 不易流行(Bất dịch lưu hành), Fuuga no makoto 風雅の誠 (Phong nhă chi thành), khái niệm Karumi 軽み(Nhẹ lâng) thêm vào khái niệm Sabi 寂び(Cô quạnh tịch liêu) đă có trước. 

Nhà thơ lữ hành và bậc đại sư Bashô đă qua đời năm 1694 ở tuổi 50 (tính theo tuổi mụ là 51) trên bước lữ hành như sở nguyện. Đó là một cuộc đời ngắn ngủi nhưng di sản ông để lại thật là phong phú, ảnh hưởng tỏa rộng và lâu dài. 

Khi Bashô lên đường đi đâu, lúc nào ông cũng có bạn đồng hành nhưng người thường xuyên di với ông và được ông vô cùng tin cậy là Sora. Sora xuất thân ở Kami-Suwa (tỉnh Nagano bây giờ), tên thật là Iwanami Masataka岩波正字, thường được nhắc dưới cái tên Kawai Sôgôrô 河合惣五郎. Khoảng giữa lứa tuổi 30, Sora đă t́m đến Edo và theo học haikai với Bashô.Trong chuyến đi về miền Oku, ông lănh việc điều tra và thu thập tài liệu về đường đất và tính toán chi phí cho cuộc hành tŕnh. Những điều này c̣n ghi chép lại một cách chân phương trong tập nhật kư tùy tùng của ông. Nhờ tư liệu này mà chúng ta ngày nay mới biết được đâu là phần hiện thực, đâu là phần hư cấu trong Oku no hosomichi. Có thể xem Nhật kư đi đựng của Sora và những bức thư ông để lại là tài liệu quan trọng nhất cho người muốn t́m hiểu về áng danh văn của Bashô vậy. 

Thế nhưng Sora không phải đơn thuần là một môn sinh theo học haikai với thầy Bashô. Trong đời thường, ông là một nhà Thần đạo học uyên thâm, có cả khả năng giảng giáo lư cho các quan chức đền thần. Ông c̣n là người am tường về địa lư nữa. Ông từng lănh trách nhiệm tuần du đó đây cho chính phủ tuy mục đích của những chuyến đi ấy là ǵ th́ không ai nắm rơ.  

Sau khi Bashô qua đời, Sora tiếp tục làm những chuyến lữ hành v́ công vụ. Năm 1710, Mạc phủ Edo đă gửi ông như quan tuần tra vùng Kyuushuu và ông đă qua đời ở đảo Iki, hưởng thọ 62 tuổi. Như thế, cũng như thầy ḿnh, Sora đă mất trong một chuyến lữ hành. Cuộc đời ông hăy c̣n nhiều điểm cần được soi sáng. 

 Khái lược về tác phẩm 

Cách gọi “Oku no hosomichi” おくのほそ道(Áo chi tế đạo) đă xuất hiện trong tác phẩm du kư giữa thế kỷ 14. Hồi đó, người ta gọi đường lên Ôshuu (Áo châu) miền Đông Bắc Nhật Bản là Ôshuu kaidô (奥洲街道, Áo châu nhai đạo) một con đường lớn. “Áo” ở đây viết có thể chỉ Áo châu tức vùng Đông Bắc đảo Honshuu, vừa có nghĩa bí mật, sâu thẳm. Đối xứng với nó có một con đường nhỏ và ngắn cùng tên “Oku no hosomichi” (đường nhỏ vào vùng sâu) gần bên phủ thành Taga nay ước định nằm gần chùa Tôkôji (Đông Quang Tự) ở Iwakiri thuộc tỉnh Sendai (xem thêm đoạn 22 của Oku no hosomichi, có nhắc đến). Đường nhỏ này chạy dọc theo ḍng sông Nana Kitagawa cho đến thành Taga. Thế nhưng vào thời của Bashô, nó nằm ở đâu th́ không ai nắm rơ v́ sông núi với thời gian đă thay h́nh đổi hướng. Lối diễn tả “hosomichi” c̣n được thấy trong một tác phẩm liên quan đến thi hào Fujiwara no Teika. Đó là Tsuta no hosomichi (con đường nhỏ phủ đầy hoa trường xuân) nhưng lại nằm ở miền Tây. 

Dĩ nhiên tuyến đường dài mà Bashô đă đi năm ông 46 tuổi không phải là hai con đường một dài, một ngắn này. Ông chỉ mượn h́nh ảnh “con đường nhỏ” để nói lên quyết tâm cầu đạo mănh liệt nơi ḿnh. Nếu không nói là Bashô đă thực hiện chuyến đi với tinh thần quyết tử của một samurai. Ông không ngại chết giữa cuộc hành tŕnh v́ theo ông, cổ nhân bao người đều đă thế. 

Chuyến đi 500 “ri” (2.400km) kéo dài 5 tháng trường kết thúc vào tháng 9 năm Genroku 2 (1689) nhưng phải đợi 3 năm sau, bản thảo ngắn khoảng 35 trang giấy (Nhật) mới hoàn tất v́ đây là một tác phẩm văn chương chứ không phải loại bút kư kể lại việc xảy ra hằng ngày. Viết lại cho gọn ghẽ phải mất thêm 2 năm nữa nghĩa là măi đến đầu mùa hạ năm 1694. Bashô qua đời vào tháng 10 cùng năm, nghĩa là sau khi ông  kết thúc chuyến đi dài được 5 năm. Trong các văn bản truyền lại cho đời sau, có bản của Soryuu (Tố Long), người bạn tin cậy và là nhà thư pháp lỗi lạc, cũng như các bản của đám học tṛ ông như Jôsô (Trượng Thảo), Sora (Tăng Lương, nhưng thực ra do tay Rigyuu tức Lợi Ngưu) chép lại .... Có khi nó mang tên sở hữu chủ của chúng như bản Nishimoto, bản Kakimori vv... Gần đây, năm Heisei thứ 8 (1996) có một tin chấn động học giới: trong một tiệm bán sách cũ đổ nát sau trận động đất Hanshin Awaji, đă phát hiện một bản được xem như là thủ bút của Bashô do Yaba (Dă Pha, một trong thập triết) giữ nhưng đă sang tay và thất lạc từ năm 1743. Nếu thế th́ c̣n ǵ quí hơn nhưng đến nay, những nhà nghiên cứu và giám định chưa thực sự hoàn toàn đồng ư về tính đích thực của nó nên người ta đành tạm gọi nó là bản Yaba. 

Vào thời Edo, việc ấn loát c̣n rất hạn chế, tác giả phải cho chép ra nhiều bản để sách đến được tay độc giả. Bashô có nhờ Soryuu, chép hộ một bản cho sạch sẽ gọn ghẽ và trên đó, có đính một mảnh giấy chính tay ông đề tựa và niêm lên. Bashô đă viết おくのほそ道 chứ không phải奥の細道. Việc viết tựa đề bằng hiragana mà không bằng chữ Hán giúp cho nhan đề hàm chứa được nhiều ẩn ư (v́ tác giả không muốn hạn chế điều ông viết trong một cách hiểu). Bản này sau khi Bashô mất đă được chuyển về quê hương Iga Ueno vào dịp lễ Vu Lan và tặng cho người anh là Hanzaemon. Nó sang tay Kyorai, học tṛ giỏi của Bashô rồi được tàng trữ ở nhà người tên Nishimoto ở Tsuruga. V́ vậy bản Nishimoto c̣n có tên là “Bản Soryuu chép và Bashô giữ”.  

Tóm lại, tuy nội dung mỗi bản một khác nhưng hiện nay, bản Nishimoto và bản Sora / Rigyuu được người đời xem như hai bản có thể tin tưởng hơn hết.

Hành tŕnh 5 tháng trường từ Edo đến Ôgaki trên 2.400 cây số

 

Phân đoạn 

Để cho dễ đọc, bản dịch của chúng tôi - vốn dựa trên tư liệu biên tập của Nhà xuất bản Kadokawa (Tôkyô, xem thư mục) - đă được phân thành 55 tiểu đoạn như sau: 

1-      Mơ đời trôi giạt.

2-      Buổi lên đường.

3-      Trạm Sôka, đêm ngủ trọ đầu tiên

4-      Ghé Muro no Yashima.

5-      Nikkô- Một vị Phật tên gọi Gozaemon.

6-      Nikkô-Ngọn núi Nikkô

7-      Núi Kurokami . Về Sora, người bạn đồng hành.

8-      Cánh đồng Nasu.

9-      Kurobane. Mũi thần tiễn của Yoichi. Con hồ ly tinh Tamamo.

10-  Chùa Unganji. Am cũ Thiền sư Butchô.

11-  Ḥn đá sát sinh.

12-  Cây liễu Ashino và những nhà sư vân du.

13-  Cửa quan Shirakawa.

14-  Trạm Sukagawa.

15-  Chùm hoa dẻ. Đời người ẩn dật.

16-  Núi Asaka và chuôm Asaka.

17-  Thôn Shinobu.

18-  Thôn Iidzuka. Di tích họ Satô.

19-  Một đêm ở suối nước nóng Iidzuka.

20-  Đảo Kasashima. Con đường mưa lầy lội.

21-  Cây tùng Takekuma tứ cây tùng chĩa hai ở Iwanuma.

22-  Cánh đồng Miyagi. Dấu xưa tích cũ vùng Sendai.

23-  Về tấm bia Tsubo.

24-  Núi Sue no matsuyama. Băi Shiogama. Pháp sư mù đánh đàn.

25-  Đền thần Shiogama. Ngọn thạch đăng của Izumi Saburô.

26-  Matsushima và bàn tay Con Tạo.

27-  Matsushima. Băi đá Ojima.

28-  Matsushima. Chùa Zuiganji.

29-  Ishinomaki. Bến cảng phồn vinh.

30-  Tiểu quốc Hiraizumi: Dấu cũ Takadate và Hikaridô.

31-  Cửa quan Shitonoseki: Người ngựa chung nhà.

32-  Chuyến vượt đèo Natagiri.

33-  Obanezawa. Nghề nuôi tằm và nhuộm vải.

34-  Chùa Risshaku. Tiếng ve thấm vào thớ đá.

35-  Mưa dầm tháng năm. Ḍng Mogami nước xiết.

36-  Dewa tam sơn: ngọn Haguro.

37-  Dewa tam sơn: ngọn Gassan và ngọn Yudono.

38-  Sakata. Chiều mát rượi trên phố biển.

39-  Đầm cạn Kisagata. Đảo Nôin và Cây buồn ngủ.

40-  Đường về xứ Echigo. Giải Ngân Hà bắc qua đảo Sado.

41-  Ichiburi. Du nữ, trăng và hoa hagi.

42-  Đường về xứ Etchyuu. Sông Kurobe và băi Nago.

43-  Kanazawa. Học tṛ yêu yểu mệnh.

44-  Đền thần Tada. Mũ trụ của Sanemori.

45-  Nata. Gió thu trắng.

46-  Suối nước nóng Yamanaka. Kể lại giai thoại ở nhà trọ.

47-  Biệt ly: Sora ngă bệnh.

48-  Chùa Zenshôji. Sau một đêm xa cách.

49-  Cây tùng Shiogoshi và bài thơ của Saigyô.

50-  Chùa Tenryuuji. Chùa Eiheiji. Chia tay với Hokushi.

51-  Đến Fukui.Một nhà ẩn sĩ tên Tôsai.

52-  Tsuruga: Thần cung Kehi với các Du hành thượng nhân.

53-  Irono hama. Những vỏ ṣ masuo trên băi.

54-  Ôgaki: chặng đường cuối và điểm khởi hành mới.

55-  Lời bạt của Sôryuu.

*** 

Nội dung các tiểu đoạn và lời b́nh 

Đoạn 1: Mơ đời trôi giạt (Hyôhaku no omoi漂白の思い

Ngày, tháng[1], muôn đời vẫn là khách qua đường[2]. Năm cũ ra đi, năm mới đến nhưng phận chúng có khác ǵ cái thân lữ khách, đi chẳng hề ngừng. Đối với kẻ lái đ̣ trên sông nước hoặc người mă phu dắt hàm ngựa, họ đưa đón khách đến già, mỗi ngày đă là một chuyến đi, lấy cuộc đời vô định làm nơi thường trú đấy thôi. Xưa nay, những người chọn sống đời phong lưu tao nhă[3] (như Lư Bạch, Đỗ Phủ, Saigyô (Tây Hành), Sôgi (Tông Kỳ)[4]...) phần nhiều đều bỏ ḿnh trong cuộc hành tŕnh. 

Ta coi đời ḿnh cũng chỉ là một chuyến đi. Chẳng biết từ dạo nào, khi nh́n đám mây trôi giạt theo làn gió mời mọc, bỗng chạnh ḷng viễn phương, nên bước chân đă quanh quẩn trên những băi biển xa xôi nơi cuối đất[5]. Mùa thu qua, ta có về nghỉ thư giản ít lâu, quét màng nhện giăng trong túp lều tróc mái[6] bên ḍng sông Sumida. Khi năm mới bắt đầu và lúc nh́n lên trời thấy sương lam đă chuyển mùa vào tiết sơ xuân, ta muốn vượt cửa quan Shirakawa (Bạch Hà)[7] nối dài bước chân đến vùng Michinoku (Lục Áo)[8]. Theo tiếng gọi của ông Thần Cám Dỗ (Sozorogami)[9] để được nghe thấy thêm những điều mới mẻ, ḷng ta tưởng như điên loạn. Nghĩ rằng cả vị Thần Đi Đường (Dôsojin)[10] cũng chèo kéo ḿnh, ta càng không giữ nổi b́nh tĩnh. Mới tức tốc vá chiếc xà cạp bó chân đă rách, thay quai nón lá cũ, châm cứu huyệt Tam Lư [11] vv... Trong khi sửa soạn mọi thứ cho chuyến hành tŕnh th́ h́nh ảnh vầng trăng trên chùm đảo Matsushima[12] đă ám ảnh lấy tâm trí ta rồi. Bèn nhường Am Bashô cho người khác và về tạm trú ở gia trang của Sanpuu[13]. Lúc ấy có làm được câu thơ sau : 

草の戸も 住み替はる代ぞ 雛の家 

Kusa no to mo
Sumi kawaru yo zo
Hina no ie 

Dù là liếp nhà cỏ,
Cũng thay chủ đổi đời[14],
Nay chim non[15] đến ở

 

Để kỷ niệm, ta dùng nó như một câu hokku (câu mở đầu) làm thành tám câu thơ tựa đề cho chùm renku (thơ liên ngâm) rồi dán nó lên cột cái am cũ[16]

Lời B́nh: 

Đoạn mào đầu này của Oku no hosomichi được đặt tựa là Hattan 発端 (Bắt đầu), c̣n các đoạn sau thường mang tên những địa danh Bashô đă đi qua. Có người dịch thành Tabi no omoi 旅の思い (Mơ đời trôi giạt) hay Jinsei wa tabi人生は旅 (Đời là một chuyến đi). Đoạn này tŕnh bày nhân sinh quan của Bashô, xem đời con người chẳng khác ǵ một cuộc hành tŕnh. Ư tưởng không có ǵ độc sáng cả. Xưa kia, Lư Bạch, Saigyô, Sôki đều từng sống và viết như thế. Bashô chỉ học theo thôi. Khác chăng là ông đă thực hiện điều đó một cách tích cực hơn ai hết.                

Bắt đầu bài văn “Xuân dạ yến đào lư viên tự”, Lư Bạch viết :”Phù thiên địa vạn vật chi nghịch lữ (lữ quán), quang âm (nhật nguyệt) bách đại chi quá khách, nhi phù sinh (nhân sinh) nhược mộng” (Theo Cổ văn trân bảo, hậu tập). Thế nhưng tư thế khi đối mặt thời gian của Bashô lại khác với thái độ của Lư tiền bối. Nếu họ Lư cho rằng thời gian một khi đă trôi qua không ḥng ǵ kéo lùi và khuyên người ta nên hưởng lạc cho thỏa thích th́ ngược lại, Bashô chỉ mong nhập vào giữa ḍng thời gian để sống và nắm bắt được cái ư nghĩa chân thực của cuộc đời.  

Bashô không vùi đầu vào đống sách. Sau khi quan niệm thời gian là người khách qua đường, ông đă bỏ cả thư trai, thảo am, cất bước ra đi để chứng minh bằng sự thực rằng cuộc đời chính là một chuyến hành tŕnh. Kết quả cho thấy tác phẩm Oku no hosomichi ông viết ra là một quyển sách nói về hành động chứ không phải lư thuyết. 

Câu hokku làm quà cho chủ nhân mới của ngôi nhà cũng thể hiện ư thức “chỗ ở là nơi dời đổi” (住み替るsumikawaru). Bashô không hề chấp nhất về nơi cư ngụ. Ngôi nhà “của ḿnh” chính ra chỉ là một gian pḥng trọ, nó có bổn phận lần lượt đón tiếp hết người này đến người khác. Khi đưa h́nh ảnh nhân vật cô bé gái (như chim non, như búp bê) vào bài thơ, ta thấy tất cả từ tâm (muốn nhường chỗ cho thế hệ sau, những con người thế tục) của Bashô, kẻ lánh đời.          

*** 

Đoạn mào đầu của Oku no hosomichi không khác ǵ đoạn mào đầu thấy trong các danh tác bằng văn du kư (kikô bungaku紀行文学) của Nhật Bản. Trước khi lên đường, các tác giả thường mượn nó để quay đầu nh́n lại quăng đời cũ (nhân sinh hồi cố) và bày tỏ  động cơ chính của chuyến đi. Lối thổ lộ như thế là một định h́nh (stereotype) từng thấy trong hai tác phẩm thời trung cổ là Kaidôki 海道記 (Hải Đạo Kư, khoảng sau 1223)[17] và Tôkan Kikô 東関紀行 (Đông Quan Kỷ Hành, 1242)[18]. Ở đây, triết học của Bashô là ḥa ḿnh vào đại tự nhiên, nh́n cuộc đời và sự vật lưu chuyển không ngừng để t́m ra một nếp sống thuần khiết nhất, giống như cuộc đời những con người phong nhă rồi  vĩnh viễn ra đi như họ ở giữa chừng cuộc lăng du. 

Lên đường để thực hiện lư tưởng của ḿnh, Bashô đồng thời xem lữ hành như định mệnh bi đát của kiếp người nên văn ông mang màu sắc than thở, cao hứng, tự trào, có khi phóng cuồng nữa. Riêng đoạn văn mở đầu rất hàm súc khi ông nói đến động cơ của chuyến đi qua trích dẫn khéo léo gián tiếp văn Lư Bạch về buổi tiệc với anh em trong vườn đào lư, thơ Nôin khi vượt cửa quan Shirakawa.... 

Vế bài hokku làm trước khi nhường Am Bashô cho người khác th́ kigo (quí ngữ) của nó là hina (chỉ mùa xuân). Lễ Hinamatsuri (Dolls’ Festival) nhằm ngày 3 tháng 3 âm lịch.                     

 

Đoạn 2: Buổi lên đường (Tabidachi旅立ち) 

Cuộc hành tŕnh bắt đầu nhằm ngày 27 tháng 3 (16 tháng 5 dương lịch), trời vừa hừng sáng, chỉ thoáng điểm một lớp sương lam. Lúc ấy tuy ánh trăng về sáng đă nhạt nḥa nhưng hướng Tây, hăy c̣n nh́n được lờ mờ bóng núi Fuji. Chạnh nghĩ không biết đến bao giờ ḿnh thấy lại ṿm hoa anh đào nổi tiếng của khu rừng[19] Ueno-Yanaga (thành Edo) mà ḷng như chùng lại.  

Những người thân quen - vốn tụ tập lại từ đêm hôm trước - sáng nay cùng theo thuyền đi tiễn ta từ Fukagawa. Khi bước xuống bến cạnh khu nhà trạm ở Senju (nay là khu Adachi, Tôkyô), nghĩ đến đoạn đường tam thiên lư dằng dặc trước mắt, ta thấy lồng ngực có ǵ nghèn nghẹn. Biết rằng cuộc đời này lắm sự đổi thay đột ngột, bến sông (Senju) này cũng là một nơi mộng ảo, nước mắt chia ly dù có nhỏ xuống cầm bằng vô ích, thế mà chúng ta đă cùng nhau đổ lệ nuối tiếc v́ phải rời nhau.    

行く春や 鳥啼き魚の 目は涙 

Iku naru ya
Tori naki uo no
Me wa namida 

Nh́n mùa xuân ra đi
Chim kia c̣n nỉ non
Cá mắt dường rớm lệ. 

Đây là bài thơ viết ra đánh dấu bước đầu của cuộc hành tŕnh. Ḷng tiếc nuối làm dùng dằng bước chân lữ khách. Những người thân quen dàn hàng bên vệ đường, nh́n theo lưng (Bashô và Sora), chắc muốn tiễn chân chúng ta cho đến khi khuất bóng.

Họ nh́n theo chúng ta cho đến khi khuất bóng

Lời B́nh: 

Iku haru (hành xuân, mùa xuân ra đi) vừa có nghĩa là mùa xuân sắp tàn vừa có ư nói nhà thơ lên đường cùng một lượt với mùa xuân. Nó hô ứng với từ Iku aki (mùa thu ra đi) trong đoạn cuối khi Bashô đặt chân đến Ôgaki, điểm cuối của cuộc hành tŕnh. (Ôgaki cũng là điểm cuối của chuyến đi về miền Tây trước đó). Xuân thu dĩ nhiên hàm ư sự “chuyển động của thời gian”. 

Sora Tabi Nikki曽良旅日記 (Nhật kư đi đường của Sora là một nhật kư của kẻ tùy tùng (随行日記zuikô nikki) cho biết hai thầy tṛ dự định xuất phát vào ngày 27 tháng 3 âm lịch (Tị tam lịch tam nguyệt nhị thập thất nhật xuất thuyền) ở Fukagawa. Nếu tính ra dương lịch là ngày 16 tháng 5. Thế th́ lúc đó hoa anh đào ở Ueno và Yanaka c̣n đâu nữa để Bashô e rằng sẽ không có ngày gặp lại.Như vậy, h́nh ảnh “ngọn hoa anh đào” (hana no kozue) mà ông miêu tả ở đây chỉ có tính cách nghệ thuật chứ không phản ánh thực tế trước mắt. Thủ pháp này cũng giống như cách nói về vầng trăng tàn buổi sáng hay đoạn đường lữ hành “tiền đồ tam thiên lư” (sendo sansenri). Trăng tàn khi về sáng (ariake) là con trăng mỏng và nhạt làm người đọc liên tưởng tới vầng trăng mà chàng Genji cô đơn đă ngắm bên băi biển Suma trong bước lưu đày, c̣n tam thiên lư (Tam thiên lư ngoại hữu tri âm, thấy trong Thiền lâm cú tập) là h́nh ảnh tu từ quen thuộc trong thi ca Trung Quốc nói về cố hương xa xôi (người cung nhân trong bài thơ Đường nhan đề Hà Mạn Tử) hay tiền đồ mù mịt (sự tích Lư Lăng, Vương Chiêu Quân vào đất Hồ), lại thấy nhắc tới trong du kư Nhật Bản Tôkan Kikô.  

Lối diễn tả tượng h́nh “Điểu đề ngư mục lệ” (Chim gào cá rớm lệ) có nhiều lối giải thích, trong đó có thuyết cho là cảm hứng từ bài Xuân vọng của Đỗ Phủ (Cảm thời, hoa tiễn lệ. Hận biệt điểu kinh tâm). Thuyết khác cho là nó đến từ ư thơ Đào Uyên Minh trong bài Điền viên qui cư (Ky mă luyến cựu lâm. Tŕ ngư tư cố uyên) (Cổ văn trân bảo tiền tập). Cổ Nhạc Phủ lại có câu: Cổ ngư quá hà khấp, Hà thời hoàn phục nhập. Tuy nhiên h́nh ảnh chim, cá trong bài thơ đầu tập này lại tương tự với h́nh ảnh bản xứ như cá ayu (sweetfish) và shirauo (ngân ngư, Japanese ice fish) thấy trong mấy bài thơ nói về biệt ly khác của Bashô. Kokinshuu (Cổ Kim Tập, 905?, 914?) cũng có bài Waka nói về những hạt sương rơi trên cánh hoa hagi ven quán trọ chính là giọt nước mắt xót xa của đàn chim nhạn đang bay qua bầu trời. Chúng đặc biệt đối xứng với h́nh ảnh ṣ ốc (hamaguri) rất Nhật Bản ở bài thơ cuối tập. Phải chăng ở đây Bashô muốn nói rằng nào có phải riêng ḿnh mà cả đến những sinh vật quen thuộc trong thế giới của ông ở Fukagawa dường như cũng chia sẻ t́nh cảm buồn thương của cuộc chia tay. Ông đă ḥa điệu t́nh cảm cá nhân với cả cơi tự nhiên trong lần ra đi này. “Cá” nói ở đây c̣n có thể mang h́nh bóng Sanpuu, nhà buôn cá, người học tṛ đầu tiên và đă hết ḷng chu toàn cuộc sống cho ông, chắc phải rất buồn v́ phải xa thầy. 

Bến khởi hành Senju (千住Thiên Trú) - một ngh́n chỗ trọ - h́nh như cũng mang một cái tên dự báo của định mệnh vô thường, của cơi tạm dung, đầy màu sắc Phật giáo như cái am Genju (幻住Huyễn Trú) tức “Am đời hư ảo” về sau. Tuy nhiên h́nh ảnh lưu luyến trong cuộc phân ly của Bashô và những người đưa tiễn dẫu đầy cảm khái nhưng không hoàn toàn bi quan. Đỉnh núi Fuji và cḥm hoa anh đào ở Ueno-Yanaka hăy c̣n đó, ḷng thi nhân mong mỏi một ngày thấy lại chúng dường như đă đem đến vài yếu tố lạc quan cho lúc khởi hành. 

Kigo (quí ngũ, chữ tượng trưng cho mùa) của bài thơ là Iku haru (mùa xuân lên đường) dĩ nhiên trùng hợp với mùa xuân. 

 

Đoạn 3: Trạm Sôka, đêm ngủ trọ đầu tiên (Sôka草加)

Chẳng mấy lúc mà đă bước vào năm Genroku nguyên niên (1689), trong đầu ta, ư định làm một chuyến đi dài lên miền Ôu (Áo Vũ, Đông Bắc) vốn nung nấu từ lâu bỗng đột ngột hiện lên. Ta biết từ đây dưới tầng không của chuyến lữ hành về nơi xa lạ đó, tóc ta rồi sẽ bạc màu v́ gian lao như là phủ tuyết. Dù vậy, được đi đến tận những nơi ḿnh chỉ mới biết tên mà chưa từng đặt chân rồi b́nh yên trở về, đối với người làm thơ là nguồn hạnh phúc tuyệt vời. Bồi hồi với ḷng mong mỏi ấy, chân ta cứ buớc về phía trước và ngày hôm đó, cuối cùng tới được khu nhà trạm Sôka (tỉnh Saitama).  

Phải vác nặng cả đống hành lư trên đôi vai gầy trơ xương là cái ta ngao ngán nhất. Tưởng ra đi chuyến này một thân một ḿnh nhẹ nhơm, đâu ngờ phải mang nào áo kamiko (áo giấy phủ sáp quả thị) để pḥng trời lạnh đêm khuya, nào yukata (áo choàng nhẹ), đồ che mưa, bọc bút mực.... Đó là chưa kể những tặng vật mà người nặng ân t́nh cho ḿnh làm quà tiễn biệt, đâu dễ dàng từ chối. Đường bộ thật lắm rắc rối nhưng chẳng biết cách nào, đành cam chịu mà thôi. 

Lời B́nh: 

Ngày đầu tiên trong chuyến đi (bằng thuyền), Bashô chưa hé môi nói ǵ nhưng hôm nay, ông đă bắt đầu thấm thía sự cơ cực, trước tiên là nỗi khổ tâm với đống lành lư cồng kềnh. Hơn cả người du lịch đời nay, Bashô đă mang đủ thứ vật dụng để pḥng khi mưa gió bệnh tật, cả khi lỡ độ đường, phải ngủ ngoài đồng trống. 

Có người sẽ đặt câu hỏi rất thực tế là Bashô du hành như thế th́ tốn kém bao nhiêu và ông lấy đâu ra tiền? Nhật kư của Sora từng cho biết khi qua thị trấn Tsuruga, ông đă giữ hộ thầy một lạng vàng (USD 900), tính ra đủ ăn 600 bát ḿ kiều mạch (morisoba), bữa cơm thịnh soạn của người b́nh dân thời ấy. Như thế, chi phí cho cuộc đi không nhỏ. Tuy Bashô được tiếp rước đăi đằng đây đó nhưng ông c̣n phải trả tiền ngựa, tiền đ̣, tiền khiêng cáng, tiền mướn người hướng đạo... Takeda Tomohiro ước lượng chi phí ấy phải lên đến hơn 100 vạn Yen bây giờ (USD 10.000) Nó không hề giống h́nh ảnh “khất thực hành cước” của một nhà sư cầm bát ăn xin như ông mô tả. Về nguồn gốc lộ phí, có thể kể đến tiền thu được khi bán Am Bashô, học phí các tṛ đóng cũng như sự chi viện của vài đệ tử giàu có và các món quà tiễn biệt.  

Nhật kư Sora cho biết sau Senju, đêm đầu thầy tṛ đă ngủ lại ở Kasukabe, một nơi trên tuyến đường c̣n xa hơn cả trạm Sôka. Thế mà Bashô lại viết, “cuối cùng mới tới Sôka” th́ có thể xem như ông muốn nhấn mạnh đến t́nh cảm lưu luyến với người đưa tiễn và sự cực nhọc với mớ hành lư kềnh càng. Do đó, đây có lẽ là một chi tiết có tính hư cấu hơn là sự thực.  

Đoạn “Dưới tầng không của chuyến lữ hành, v́ gian lao, tóc ta rồi sẽ bạc màu như phủ tuyết” trong nguyên bản được diễn đạt sự hối hận nhất thời của ông qua mấy chữ Hán “Ngô thiên / trùng hận / bạch phát” ư nói đầu bạc chồng chất uất hận dưới trời Ngô (Giang Nam). Có lẽ Bashô mượn tâm t́nh của một người khách ở kinh đô Lạc Dương / Trường An trên bước lưu đày xuống miền nam xa xôi. Thiền lâm cú tập dẫn thơ trong Thi nhân ngọc tiêu có câu: Nón nặng tuyết trời Ngô, Hài thơm hoa đất Sở (Lạp trọng Ngô thiên tuyết, Hài hương Sở địa hoa). Tuồng Nô Take no Yuki (Trúc Tuyết) và chính haiku của Bashô cũng có câu với ư tương tự. 

“Nơi ḿnh chỉ biết tên mà chưa từng đặt chân” ư nói là những “gối thơ” (utamakura) tức điển cố thi ca về những miền đất do tiền nhân tạo ra. Riêng Bashô th́ chỉ mới biết qua sách vở. Theo chú giải của Ogata dẫn bởi Hisatomi Tetsuo, ở Nhật, các vùng Yamashiro, Ômi, Yamato, Setsu gần Kyôto và Ôu, Dewa miền Đông Bắc là những nơi qui tụ nhiều “gối thơ” hơn cả.

 

Đoạn 4: Ghé Muro no Yashima (Muro no Yashima室の八島). 

Ta đến tham bái đền Ômiwa Jinja thờ vị thần Muro no Yashima Myôjin (tỉnh Tochigi bây giờ). Sora, người bạn đồng hành, giải thích: Người được thờ ở đây là một nữ thần tên thật là Konohana sakuya hime (Mộc hoa thần). Bà cũng là vị thần được thờ ở đền Sengen (Đền Ngoài) dưới chân núi Fuji (tỉnh Shizuoka ngày nay). Chỉ v́ gần nhau có mỗi một đêm mà đă mang thai cho nên công nương này bị chồng là thần Ninigi no Mikoto[20] sinh ra nghi ngờ. Bà bèn lấy đất trám bít bốn bức tường một gian pḥng rồi vào đó ở cữ. Để chứng minh sự trong trắng của ḿnh, bà nguyền rằng nếu đứa bé sinh ra thực sự là con của Ninigi th́ dù nó có bị lửa táp cũng không chết. Thế rồi tự ḿnh phóng hỏa gian pḥng ấy. Kết quả là từ trong ngọn lửa, con bà là thần Hohodemi no Mikoto (Hỏa sinh thần, c̣n gọi là Yamasachihiko, Sơn tinh) đă xuất hiện mà không bị thương tật ǵ cả. Nhân căn phỏng bít kín (muro) ấy bị thiêu đốt như cái ḷ (kamado, yashima), người ta mới gọi nó là Muro no Yashima. Người đời truyền tụng rằng cũng v́ thế mà khi nói về căn pḥng ấy, thi nhân waka thường ví von t́nh yêu với làn khói 

Dân địa phương nhân đó kiêng không ăn loài cá mang tên konoshiro[21] v́ khi nướng lên th́ nó bốc mùi khét như thịt người chết cháy. Giai thoại về thần linh của Yashima được phổ biến rộng răi trong dân chúng.  

Lời B́nh: 

Sora, người bạn đồng hành của Bashô, đă giải thích cho ông sự tích của Muro no Yashima và ông đă lắng tai nghe. B́nh thường th́ Yashima chỉ được hiểu là tám ḥn đảo (bát đảo) chứ không phải cái ḷ (kamado). Tuy là đệ tử và bạn đồng hành nhưng Sora là người có kiến thức sâu rộng về Thần đạo và địa lư. Ông từng theo học Yoshikawa Koretaru (吉川惟足, 1616-1694), nhà Thần đạo học nổi tiếng đương thời. Ông lại nghiên cứu kỹ về tên các địa danh trước khi ra đi. Ở điểm này, Bashô rất tôn trọng và ưu ái, xem Sora như ngang hàng. 

Trong chuyến hành tŕnh với lư tưởng cao cả, Bashô dĩ nhiên không phải bạ ai cũng dắt theo. Sora xứng đáng được tuyển lựa như người bạn đó. 

C̣n nói về nữ thần Konohana sakuya hime (Mộc hoa thần) th́ bà vốn có một bà chị tên là Iwanaga hime (Nham thạch thần). Cha của họ là thần Ôyama Tsumi no kami (Sơn nhạc thần) đă đem gả cả hai cho Ninigi nhưng Ninigi chỉ chọn Konohana là cô em xinh đẹp mà trả Iwanaga về với bố. Việc đó làm thần Ôyama nổi giận, chúc cho cô chị (Iwanaga) sống lâu (naga) như ḥn đá tảng (iwa) và rủa cô em (Konohana) phải mang mệnh yểu như một cánh hoa (hana). Hai quyển cổ sử Kojiki (Cổ Sự Kư) và Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) đều ghi lại chuyện này. 

Lại nữa, thơ xưa vịnh về khói ở Muro no Yashima th́ đă có bài sau đây của Fujiwara no Sanekata (Đằng Nguyên Thực Phương藤原実方): T́nh ta ai người biết. Tỏa nhẹ, không cao vút. Đâu như khói bếp ḷ. Muro (no) Yashima (Ikade ka wa. Omoi aritomo. Shirazubeki. Muro no Yashima no. Kemuri nara dewa). 

Nhân vật Fujiwara no Sanekata là ai mà Bashô đă nhắc đến nhiều lần trong tác phẩm này vậy? Ông thực ra không nổi tiếng cho lắm nhưng có một bài thơ được tuyển vào Hyakunin Isshu (Bách nhân nhất thủ)[22]. Bashô thương mến ông có lẽ v́ ông đă chết nơi lữ thứ trên bước lưu đày. Là một công khanh sống vào thế kỷ thứ 10 (thời Heian trung kỳ), Sanekata thuộc ḍng họ quí tộc Fujiwara.Tương truyền ông rất hào hoa phong nhă và có mối liên hệ t́nh ái với cả nữ sĩ Sei Shônagon (tác giả Ghi nhanh bên gối tức Makura no Sôshi). Thế nhưng v́ có chuyện căi cọ với nhà thư đạo Kôzei tức Fujiwara no Yukinari, 1120-1156, trước bá quan, ông đă phật ư thiên hoàng nên bị biếm làm  trấn thủ vùng Mutsu. Ông chết nơi nhiệm sở. Có thuyết cho rằng bị thần Dôsojin vật v́ khi qua đền mà không chịu xuống ngựa. 

Bashô có vẻ thất vọng về phong cảnh Muro no Yashima. Ông chỉ muốn viếng chốn này v́ nó là một “gối thơ” (utamakura) nổi tiếng từ xưa và nhân đó giới thiệu với độc giả Sora, người bạn đồng hành thông thái của ḿnh. Nhật kư đi đường của Sora cho biết Bashô đến đây có vịnh một bài thơ nhưng có lẽ nội dung trùng phức với phần tản văn, ông đă không đưa vào tác phẩm. 

 

Đoạn 5: Nikkô: Một vị Phật tên Gozaemon (Nikkô: Hotoke Gozaemon日光:仏五左衛門). 

Ngày 30 tháng 3 (chính ra là 29, dương lịch là 18 tháng 5), chúng tôi dừng chân ngủ lại  dưới chân núi Nikkô (tỉnh Tochigi bây giờ). Ông chủ quán nơi chúng tôi ở trọ tự giới thiệu : “Tên tôi là Hotoke (Phật) Monzaemon. Mọi người thương mà đặt biệt hiệu cho tôi như vậy v́ lúc nào tôi cũng cố gắng thật thà lương thiện trong mọi việc. Vậy xin các thầy cứ yên tâm qua đêm ở đây!”. Ông làm ta nghĩ không hiểu ông là một vị Phật nào mà ḥa ḿnh vào đống bùn nhơ này để cứu giúp những kẻ hành hương khất thực đói khát như chúng tôi. Ta nh́n ông chăm chú và nhận thấy đó chỉ là một con người chất phác, không thông minh lanh lợi như bao kẻ khác. Trong Luận Ngữ[23], Khổng Tử có lần nhận xét rằng kẻ ngu phu với tấm ḷng đơn sơ mới dễ t́m về chân lư. Ḷng dạ ông chủ quán cũng trong sáng như thế khiến cho ông được mọi người đánh giá cao. 

Lời B́nh:  

Đoạn văn miêu tả Gozaemon cho ta thấy nhân sinh quan của Bashô. Với ông, con người ngu trực, không văn vẻ, mới gần lẽ đạo - dù là Nho hay Thần Phật - hơn cả. Theo Nhật kư đi đường của Sora th́ hai thầy tṛ sau khi viếng núi Nikkô, tối đến mới về trọ ở quán Gozaemon. Thế nhưng trong Oku no hosomichi, tác giả đă xếp theo một trật tự đảo ngược là họ đă trọ trong quán một đêm và chỉ lên viếng Nikkô vào sáng hôm sau.

 

Đoạn 6: Nikkô: Ngọn núi Nikkô (Nikkô: Nikkôsan日光:日光山) 

Ngày 1 tháng 4, chúng tôi lên viếng hai ḥn núi Nikkô (Nhật Quang Sơn, Nikkôsan).Núi này ngày xưa tên viết là Futarasan (Nikôsan, Nhị Hoang Sơn)[24] nhưng ngài Kuukai (Không Hải đại sư), khai tổ phái Chân Ngôn (Shingon) đă lập nên một cảnh chùa ở đây và đổi tên nó thành Nikkôsan. Có lẽ ngài tiên tri rằng một ngh́n năm sau, chốn này sẽ trở thành nơi trù phú. Ngày nay th́ uy quang của Nikkôsan đă chiếu dọi khắp cả nước, ân huệ của nó trùm khắp thiên hạ. Sĩ nông công thương tứ dân sống đời b́nh yên, tất cả vui hưởng cảnh thái ḥa. Nếu thêm thắt nữa e thành dông dài, vậy xin dừng bút ở đây.  

あらたふと青葉若葉の日の光 

Aratafu to,
Aoba wakaba no,
Hi no hikari. 

Ôi tôn quí làm sao,
Từ lá xanh lá nơn,
Đều tắm ánh chiêu dương. 

Lời B́nh: 

Thường th́ nói về thắng cảnh Nikkô, văn nhân thi sĩ đương thời phải nhắc đến Tôshôguu (Đông Chiếu Cung), ngôi lăng tẩm huy hoàng tráng lệ của Shôgun sáng nghiệp Mạc Phủ Tokugawa là Ieyasu. Thế mà trái với thông lệ, Bashô chỉ viết những câu đưa đón đối với chính quyền. Việc ca tụng nhà nước th́ văn nhân thời Edo thường làm, kể cả Ueda Akinari trong những câu nhập đề tác phẩm của ḿnh. Ngược lại, Bashô tập trung tán tụng sức mạnh tâm linh của tôn giáo mà tượng trưng là Đại sư Kuukai. Cái hoành tráng lộng lẫy của Tôshôguu là do con người làm ra không thể sánh nổi với sự đơn sơ nhưng oai nghiêm của thiên nhiên qua h́nh ảnh hai ḥn núi Nikkô, cùng với 3 ngọn Haguro (sẽ xuất hiện trong những tiểu đoạn kế tiếp) vốn được xem như thánh địa của các du tăng. Các ḥn núi đơn sơ chính nó đă là những vị thần. V́ thế đoạn 6 này ăn khớp với việc Bashô miêu tả nhân vật Hotoke Gozaemon (đoạn 5), ông chủ nhà trọ chân chất lương thiện, đáng được gọi là một sinh Phật. 

Kigo của bài thơ này là aoba wakaba (lá xanh và lá nơn), ám chỉ mùa hạ. Như thế, ánh thái dương của Nikkô đă bao trùm tất cả người và vật, sum la vạn tượng. Nếu có ai muốn hiểu đó là ân đức của “thần quân” Tokugawa Ieyasu đến cả “hoa kia cỏ này” th́ cũng được.

 

Đoạn 7: Núi Kurokami. Về Sora, người bạn đồng hành (Kurokamiyama黒髪山)

Kurokamiyama (Hắc Phát Sơn nghĩa là núi tóc đen, ḥn núi có h́nh đàn ông trong hai ngọn Nikkô) đă bắt đầu vương chút sương lam nhưng màu tuyết tàn vẫn c̣n thấy rơ. 

(Sora có thơ): 

剃り捨てて黒髪山に衣更え 

Sori sutete
Kurokami yama ni
Koromogae 

Đến núi tên Hắc Phát,
Nhớ chí buổi lên đường.
Gọt tóc, khoác cà sa. 

Sora, họ Kawai, tên anh là Sôgorô. Căn nhà nhỏ của anh cất dưới tàng chuối cạnh Am Bashô, vẫn thường đến giúp ta sửa soạn cơm nước, làm công việc nhà. Lần này vui v́ sẽ được dịp cùng nhau thăm viếng phong cảnh cḥm đảo Matsushima và đầm Kisagata, anh chịu làm bạn đồng hành để chia sẻ phần nào nỗi cơ cực. Sáng hôm lên đường, anh gọt tóc, bỏ áo thường lấy áo cà sa, đổi tên Sôgo (Tổng Ngũ) ra pháp danh Sôgo (Tông Ngộ). Đầu đuôi như vậy nên mới có bài thơ trên. Đọc hai chữ koromogae (y cánh, thay áo) trong bài thơ mới thấm thía khí phách và quyết tâm của anh.  

Leo từ đền thần lên núi khoảng trên 20 chô (200 m), gặp một thác nước. Thác ấy đổ xuống từ bên trên hang đá. Ḍng thác cao chừng 100 shaku (30 m) rớ vào một cái bầu nước rộng do những tảng đá tạo thành. Muốn xem thác phải cúi ḿnh chui vào trong hang mới thấy được thác từ sau lưng nó. V́ thác chỉ có thể được ngắm từ phía trong (ura wo miru) nên thác mới có tên là Urami no taki (Thác nh́n đằng sau). 

しばらくは滝にこもるや夏の初 

Shibaraku wa
Taki ni komoru ya
Ge no hajime 

Hăy để trong chốc lát
Thác nước phủ che ḿnh
Trời đă vào tiết hạ. 

Lời B́nh: 

Trong đoạn này, Bashô giới thiệu thêm về Sora, người bạn đồng hành. Nh́n bài thơ đầu,  chữ kuro (đen) trong Kurokami (tên một trong hai quả núi của Nikkô và c̣n có nghĩa là tóc đen) đi đôi với chữ kurozome (áo nhuộm đen của nhà tu) đối chọi với màu trắng của tuyết tàn (zansetsu) trong lời văn. Điều này nói lên nhân cách của Sora, con người tu hành. Sora trong chuyến đi về miền Oku với thầy, ông đă tỏ ra có quyết tâm nào kém Bashô trước những hiểm nguy trên bước đường dài nên đă xuống tóc, đổi áo thường mặc áo tu trước ngày ra đi.  

H́nh ảnh vây bọc bởi thác nước (taki ni komoru) là h́nh ảnh hai nhà tu đang nhờ sức nước ào ạt từ trên cao chảy xuống[25] để tẩy đi mọi điều ô uế. Bước vào hạ cũng là lúc nhà tu dừng chân lữ hành một quăng thời gian “nhất hạ cửu tuần” để nhập thất (lung đường籠堂) và tĩnh tâm (hạ lung夏籠, hạ an cư夏安居). Tuy vậy chữ shibaraku (trong chốc lát) được gắn vào câu thơ ở đây chỉ tâm trạng nhẹ nhàng, không câu thúc của người viết. 

Kigo của bài thơ này, đúng như Bashô đă b́nh là chữ koromogae (thay áo), diễn tả tâm trạng thoát tục, đổi đời, khi hai thầy tṛ bỏ áo xống thường ngày để mặc tấm cà sa màu đen. Thay áo cũng có nghĩa là đổi áo ấm mùa xuân sang áo mát mùa hè.  

Kigo của bài thơ này là Ge (hạ) chỉ mùa hạ (natsu).

 

Đoạn 8: Cánh đồng Nasu (Nasuno那須野

V́ có người quen[26] sống ở một nơi tên Kurobane trên cánh đồng Nasu[27](ở Kurobane, thuộc Tochigi bây giờ) nên ta mới từ Nikko băng qua đồng, theo lối tắt để t́m đến nơi. Trong khi nhắm làng thôn xa xa phía trước để tiến bước th́ trời chợt đổ mưa và ngày cũng đà xế bóng. Ta bèn ngủ đỗ ở ngôi nhà một nông phu, rồi khi đêm vừa hừng sáng lại bắt đầu tiếp tục đi bộ giữa cánh đồng.  

Giữa đường lúc đó có một con ngựa đang được thả ăn[28]. Ta bèn kể khổ với người đàn ông cắt cỏ và muốn xin mượn ngựa để đỡ chân. Tuy là kẻ làm ăn nơi ruộng rẫy, anh ta thực có t́nh người v́ mới nghe nhờ xong, đă bảo : « Ối chào, có chi nào ! Bây giờ tôi không thể bỏ việc mà đi chỉ đường, c̣n để bác là người lần đầu tới xứ này phải lạc lối tôi cũng mang tội, thôi th́ bác cứ lấy ngựa mà cưỡi, đến chỗ nó ngừng trả lại nó về đây vậy! ». Thế rồi anh cho ta mượn ngựa. 

Có hai đứa trẻ chạy theo đuôi. Một em là gái trông rất kháu khỉnh, hỏi tên mới biết là Kasane (Kép). Đó là một cái tên quê mùa ít ai đem đặt nhưng nghe cũng dễ thương. (Sora bèn có bài thơ vịnh rằng): 

かさねとは八重撫子の名らるべし 

Kasane to wa
Yae nadeshiko[29] no
Na narubeshi 

Nếu tên em là Kép,
Phải hiểu : nhiều tầng cánh,
Như loài hoa nữ lang.  

Chẳng bao lâu, chúng tôi đă đặt chân đến chỗ có làng xóm, bèn giắt tiền mướn ngựa trên yên rồi trả nó về.

Có hai đứa trẻ chạy theo đuôi ngựa

 

Lời B́nh: 

Trong nguyên tác, Bashô lập lại nhiều chữ “no” (cánh đồng), gợi được phong vị đồng quê. Cái chất phác của người nông phu đang cắt cỏ và đứa bé gái quê chạy theo chân ngựa không khỏi làm cho thầy tṛ Bashô quên đi nỗi nhọc nhằn của cuộc hành tŕnh và cũng khiến ta thoáng nở một nụ cười. 

Nadeshiko, tên hoa nữ lang (cẩm chướng), theo thủ pháp engo (duyên ngữ hay chữ gợi ư) c̣n hàm ư là dễ thương, muốn nựng một cái, trong cổ văn, có nghĩa là con cưng. “Người phụ nữ Nhật Bản khả ái” thường được gọi là Yamato-nadeshiko, giống hoa nữ lang Nhật Bản, để phân biệt với Kara-nadeshiko (ám chỉ hoa thạch trúc), vốn đến từ đại lục. 

 

Đoạn 9: Đến Kurobane (Kurobane黒羽) . Mũi thần tiễn của Yoichi và Con hồ ly tinh Tamamo. 

Chúng tôi đến chào chức văn quan đại thần[30] của quan thủ thành Kurobane là ngài Jôbôji (Tĩnh Pháp Tự) họ Mỗ. Cuộc viếng thăm đột ngột không dè làm ngài hết sức vui, cùng nhau bàn chuyện thơ văn từ sáng đến chiều. Em trai ngài là nhà thơ haikai Tôsui (Đào Thúy) cũng đến chơi mỗi ngày, c̣n mời về nhà riêng. Chúng tôi được giới thiệu với họ hàng thân quyến của ông ấy nữa. Cứ thế mà mấy hôm đă trôi qua. 

Có bữa, chúng tôi đi dạo ở vùng ngoại ô Kurobane. Sau khi ghé xem dấu tích nơi xưa kia người ta tập kỵ xạ bằng cách dồn chó (inuoumono) mà bắn[31], chúng tôi mới vẹt cánh đồng trúc lùn Nasu no shinohara để viếng ngôi mộ cổ tương truyền có con kim mao cữu vĩ hồ ly tinh hóa ra gái đẹp để trở thành hoàng hậu của thiên hoàng (gọi là Tamamo no Mae, phu nhân Ngọc Tảo). Sau khi Tamamo lộ nguyên h́nh, đă bị giết chết ở đấy. Thế rồi, chúng tôi đi tham bái đền Hachiman. Hồi hai họ Taira và Genji tranh hùng, có truyện chàng Nasu no Yoichi trước khi nhắm bắn mũi tên trúng đích lá quạt, đă khấn thần Hachiman nơi quê nhà của ḿnh. Khi nghe nói rằng vị thần nói trên chính là thần thờ ở đền này, ḷng ta lại càng thêm cảm khái. V́ trời đă về chiều, chúng tôi phải quay về nhà Suitô. 

Cạnh bên, có Kômyôji (Quang Minh Tự) là ngôi chùa của các tăng du hành. Được mời đến đấy chơi, chúng ta có cơ hội tham bái điện đường thờ ngài En no Gyôja. 

夏山に足駄を拝む首途かな 

Natsuyama ni
Ashida wo ogamu
Kadode kana 

Leo lên núi Natsu,
Khấn En no Gyôja,
Như ngài chân cứng cáp.
 

Lời B́nh: 

Thầy tṛ Bashô ở lại Kurobane mất hai tuần. Họ đến thăm phủ đệ của viên văn quan, đại thần của chức thủ thành Kurobane, là Jôbôji Zushô Takakatsu. Thời đó, lănh chúa khi vắng nhà v́ phải lên Edo hầu việc, thường là dài hạn, phải có người thủ thành thay thế để trông coi lănh địa. Biệt hiệu haikai của Takakatsu là Tôsetsu (Đào Tuyết), c̣n em trai ông là Tôsui ( Đào Thúy). Hai anh em yêu thơ này nhiệt liệt hoan nghênh sự viếng thăm của Bashô. Họ đối với ông nồng hậu và ông cũng rất vui ḷng. Họ lại đưa ông đi thăm những nơi thắng cảnh và cổ tích khiến ông cảm kích hơn nữa. 

Trường săn chó (nơi vũ sĩ Kamakura luyện tập kỵ xạ để săn chồn tinh), mộ nàng Tamamo (kim mao cửu vĩ hồ ly tinh hóa thành người đẹp, quyến rũ cả Thiên hoàng, đă bị vũ sĩ Kamakura bắn chết), đền Hachiman và mũi thần tiễn của Nasu no Yoichi (vũ sĩ Kamakura hàng đầu) được ghi lại trong Truyện Heike, là những sự tích liên quan đến các samurai thời xưa. Một người xuất thân từ giai cấp vũ sĩ, Bashô không khỏi cảm động và tự hào khi nh́n những di tích đó. Ngoài ra, việc Bashô tỏ ḷng kính trọng với En no Gyôja (En no Odzuno) cũng chỉ là một điều tự nhiên v́ ông này là thánh tổ của các tăng vân du gọi là yamabushi. 

En no Gyôja 役の行者, vị thánh tăng sống vào thế kỷ thứ bảy, đă lập chùa trên các ngọn núi thiêng như Kinpusen (Kim Phong Sơn) ở Yoshino. Tương truyền ông đầy pháp lực, sai bảo được cả quỉ thần múc nước, kiếm củi cho ḿnh. Ông đă h́nh thành một thứ tín ngưỡng mới mẻ là “sơn nhạc tôn giáo”. Bị kẻ chống đối vu oan giá họa nên bị đi đày ở đảo Ôshima (vùng Izu). Sau được tha rồi sang bên nhà Đường. En no Gyôja thường mang dép gỗ có ngấn cao (ashida) vượt núi băng đồng. Nh́n con đường trước mắt c̣n xa vời vợi, dĩ nhiên Bashô mơ ước có được đôi chân cứng cáp như người trong truyền thuyết.  

Kigo của bài thơ là Natsuyama (núi Natsu ở vùng Michinoku), chỉ mùa hè (natsu).

En no Gyôja và hai quỷ sứ theo hầu (tranh Hokusai)

 

Đoạn 10: Chùa Unganji (Unganji雲厳寺). Am cũ thiền sư Bucchô.  

Sâu trong khu chùa Ungan (Vân Nham Tự, tông Lâm Tế) của vùng Shimodzuke (tỉnh Tochigi ngày nay), có di tích của ngựi dạy Thiền cho ta là ḥa thượng Butchô (Phật Đính). Không nhớ có lần nào, ḥa thượng có kể rằng đă làm một bài kệ để tự răn ḿnh chưa đạt được tâm cảnh “vô nhất vật” rồi viết nó bằng than cây tùng lên tảng đá kề bên am: 

竪横の五尺にたらぬ草の庵むすぶもくやし雨なかりせば 

Tateyoko no
Goshaku ni taranu
Kusa no io
Musubu mo kuyashi
Ame nakariseba 

Ḷng duy c̣n nỗi hận,
V́ chưa sao vứt bỏ,
Một vuông lều cỏ chật,
Đủ đụt gió mưa thôi. 

Định t́m cho ra bút tích này, ta mới nương theo trượng hướng về hướng chùa Ungan. Người chung quanh tự nhiên mời mọc nhau, họp lại thành đoàn lũ, con số lên rất đông. Lớp trẻ đi theo cũng nhiều, hoạt náo tiến lên.Chẳng bao lâu chúng tôi đă đến bên chân núi nơi có cảnh chùa. 

Không khí trong núi sâu như bồng bềnh lảng đảng, đường dọc theo khe lũng nối tiếp, tùng và tuyết tùng mọc dày đen kịt không cho ánh mặt trời xuyên thấu. Mặt đất phủ đầy rêu xanh, trời đă vào hạ mà nơi đây hăy c̣n lạnh lẽo.Chúng tôi vừa đi vừa ngắm Ungan thập cảnh, khi vượt qua cây cầu (trong Ungan ngũ kiều) vừa đến nơi cuối đường đưa vào cổng sơn môn Unganji. 

Thế rồi, để kiếm di tích của ḥa thượng Butchô ở đâu, chúng tôi mới leo lên núi phía sau chùa th́ thấy một ngôi nhà nhỏ được xây trên tảng đá và dựa vào một hang động. Truyện ngày xưa cao tăng Trung Quốc là Diệu thiền sư[32] đă từng giam ḿnh trong một cái hang gọi là Tử Quan (Cửa vào cơi chết) rồi sau viên tịch ở đấy, cũng như truyện sư Pháp Vân[33] đă cất am bằng đá tảng (thạch thất), như hiện ra trước mắt. 

木啄も庵は破らず夏木立 

Kitsutsuki mo
Io wa yaburazu
Natsu kodachi 

Lốc cốc chim gơ kiến,
Muốn phá cũng không đành,
Am giữa lùm cây hạ. 

Tức cảnh sinh t́nh, ta đă viết ra một câu thơ như thế đặt lên cột am. 

Lời B́nh: 

Bashô đến viếng di tích nơi ẩn cư của Ḥa thượng Butchô (仏頂Phật Đính, 1642-1715) trong thời gian ông ở Kurobane. Ông đă dành cả một đoạn để chỉ nói về con người mà xưa kia ḿnh từng đến hỏi về Thiền. Ḥa thượng vốn xuất thân ở Kashima (tỉnh Ibaraki bây giờ), chỉ lớn hơn Bashô vài tuổi. Ông có thời ngụ cư ở Fukagawa, rất thân thiết với nhà thơ. Hai năm trước khi làm cuộc lữ hành dài về miền Oku, Bashô đă hành hương đền Kashima và tái ngộ Butchô, lúc đó đă về đấy ở ẩn. Ông có thoáng nhắc đến thiền sư trong tác phẩm du kư Chuyến viếng thăm đền Kashima (Kashima Môde). Lại có một công án thiền liên quan đến Butchô, Bashô và bài thơ “con ếch nhảy xuống ao”. Nó đă được các học giả như Suzuki Daisetsu và Mochidzuki Ryômin nhắc tới trong tác phẩm của họ[34]

Unganji (雲厳寺Vân Nham Tự, tông Lâm Tế) được chức Shikken của Mạc phủ Kamakura là Hôjô Tokimune北条時宗 cho dựng lên như một thiền tự. Lúc đó có nhiều danh tăng được mời đến tu hành và là chùa coi như nổi tiếng nhất địa phương. Năm 1590, già lam của nó đă bị Tể tướng Toyotomi Hideyoshi 豊臣秀吉thiêu rụi nhưng đời Edo được cất lại và bảo toàn cho đến ngày nay. Trong khu vực chùa Ungan có 10 cảnh đẹp gọi là Unganji Jikkei (Vân Nham Tự thập cảnh). Theo Nhật kư của Sora th́ đó là Hải Nham Các, Trúc Lâm, Thập Mai Lâm, Long Vân Động, Ngọc Kỷ Phong, Bát Vu Phong, Mộc Phân Thạch, Thiên Trượng Nham, Phi Tuyết Đ́nh và Linh Lung Thạch. 

Giữa cánh rừng dày, có tiếng chim gơ kiến (hay chim gơ mỏ, woodpecker), loài chim khoét bộng trong cây để t́m côn trùng làm thức ăn, vọng tới. Thế nhưng theo ư Bashô th́ dù chim có xung động phá phách hủy hoại, chúng cũng phải dành một chỗ không đụng tới: cái am cũ của Ḥa thượng Butchô, để tỏ ḷng kính trọng cao đức vị thiền sư. Đó cũng là t́nh cảm của Bashô đối với người thầy. 

Kigo của bài thơ này là Kitsutsuki (chim gơ kiến啄木鳥), liên quan tới mùa hạ 

 

Đoạn 11: Ḥn đá sát sinh (Sasshôseki殺生石): 

Rời Kurobane chúng tôi lên đường đến một nơi tên Sasshôseki (Sát Sinh Thạch). Đại thần của chức thủ thành, ngài Jôbôshi, cấp ngựa cho chúng tôi cưỡi. Người tùy tùng dắt ngựa ngỏ ư xin ta viết cho một câu thơ lên thiệp giấy. Ta thấy người này tuy không chức tước địa vị mà lại có cái thú thanh cao như thế, ḷng có hơi cảm kích, bèn tặng anh câu thơ sau đây: 

野を横に馬引き向けよほととぎす 

No wo yoko ni
Uma hikimukeyo

Hototogisu 

Chim cuốc bay qua đồng
Hăy kéo ngựa quay ngang
Để được nghe tiếng hót
 

Sasshôseki nằm ở đằng sau ngọn núi ở Nasu nơi có suối nước nóng Yumoto vọt ra. Hơi độc dậy lên chung quanh ḥn đá (sát sinh) ngày nay vẫn chưa tan. Côn trùng như ong và bướm chết chồng chất lên nhau thiếu điều phủ kín cả mặt cát.  

Lời B́nh: 

Sasshôseki là một ḥn đá từ dung nham, theo truyền thuyết th́ nơi ấy là dấu vết con hồ ly tinh hóa ra người đẹp Tamamo (đă nói, h́nh tượng đến từ Ấn Độ và Trung Quốc) bị người ta bắn chết. Chung quanh ḥn đá, hơi độc phun ra, giết tất cả những sinh vật nào đến gần. Đàn ong lũ bướm xinh xắn đáng yêu là thế đều làm mồi cho nó cả. Thi thể nạn nhân rải ra trên mặt đất và chồng chất lên nhau vô số. Chắc trước mắt Bashô lúc đó đă hiện lên h́nh ảnh mỹ nữ và cũng là quái vật.   

Có vở tuồng Nô cũng mang nhan đề Sasshôseki kể lại chuyện một thầy tăng vân du đă giáo hóa và cứu độ để tinh con hồ ly ở ḥn đá sát sinh này không gây tai ách nữa. 

Bài thơ của Bashô từ trên lưng ngựa giống như một lệnh truyền, tỏ ra ông c̣n mang cái khí phách của con nhà vũ sĩ. Trên thực tế cánh đồng Nasu lại là nơi vũ sĩ Kamakura từng luyện tập chiến đấu. Khi nhắc lại truyền thuyết xa xôi trong quá khứ, Bashô đă t́m về h́nh bóng của người chiến sĩ Nhật Bản thời xưa.  

Cũng cần nói thêm là chủ đề “mă thượng th́ điểu” 馬上時鳥 (nghe tiếng chim cuốc - th́ điểu - khi ngồi trên lưng ngựa) khá thông dụng trong thơ Waka và ta không thể loại bỏ giả thuyết là Bashô đă nghĩ tới điều đó khi gieo vần. 

 

Đoạn 12: Cây liễu thôn Ashino (Ashino no Yanagi蘆野の柳) và nhà sư vân du. 

Dưới bóng cây mang tên Cây liễu nhà sư vân du (Yugyôyanagi) [35], pháp sư Saigyô từng vịnh bài thơ nổi tiếng sau đây: 

道の辺に清水流るる柳かげしばしとてこそ立ちどまりつれ 

Michi no be ni
Shimizu nagaruru
Yanagikage
Shibashi tote koso
Tachidomari tsure 

Bên vệ đường đó,
Nước chảy trong sao.
Có bóng liễu mát,
Tưởng ghé một chút,
Nấn ná thành lâu! 

Cây liễu nằm ven làng Ashino (thuộc quận Nasu), nay vẫn thấy đứng bên bờ ruộng. Chức quan thuộc Bộ Hộ họ Mỗ quản lănh khu vực [36] có lần cho biết ông mong ta thể nào cũng nên xem một lần khi có dịp. Ta thắc mắc không hiểu nay ở nơi đâu và vẫn định bụng đến ngắm cho bằng được th́ ai ngờ hôm nay, lại đang đứng tựa dưới bóng râm của cây liễu ấy:  

田一枚植えて立ち去る柳かな 

Ta ichimai
Uete tachisaru
Yanagi kana 

Cấy vừa xong thửa mạ,
Đành phải chịu rời xa,
“Cây liễu ấy” chăng là?
 

Lời B́nh: 

Người xưa mà Bashô kính yêu hơn cả là thi tăng Saigyô (西行1118-1190). Trong một phút giây, trước cây liễu, ông đă tưởng tượng ra h́nh ảnh thần tượng của ḿnh, chắc từng có mặt dưới gốc liễu đó. 

Câu thơ súc tích, lắm lối giải thích. Tựu trung, có thể hiểu trong một khoảng thời gian đủ để những người nông dân hay thôn nữ (đă dẫn đường ông đến đấy?) cấy xong một khoanh ruộng (có thể Bashô cũng tham gia vào việc đồng áng như cử chỉ tượng trưng để chiêu hồn những nhà thơ ông yêu kính), thế rồi sau khi (xem hay cùng họ) cấy xong thửa mạ, ông đành theo họ về. Nhà thơ hơi tiếc không được ở lâu hơn bên cạnh cây liễu nổi tiếng của hai vị tiền bối (thi tăng Saigyô và sau đó là Du hành thượng nhân Ippen) và bàng hoàng tự hỏi có phải nó chính cây liễu huyền thoại ? Xin so sánh hai câu thơ Tachidomaritsure (Nấn ná thành lâu) của Saigyô và Tachisaru (Đă vội rời xa) của Bashô để thấy sự tương phản và kết hợp giữa chúng, cảm được sâu sắc hơn tâm t́nh tiếc nuối của nhà thơ. 

Thời Muromachi hậu kỳ, khoảng năm 1514, vở tuồng nô Yugyôyanagi 遊行柳(Du Hành Liễu), tác phẩm buổi văn niên của soạn giả Kanze Nobumitsu đă được đem ra tŕnh diễn lần đầu. Tuồng kể sự tích một lăo già đă hiện ra trước mặt Du hành thượng nhân tức tăng Ippen (一遍1239-1289) khi ông vượt cửa quan Shirakawa, chỉ đường cho ông đến xem “Cây liễu mục” mà thi tăng Saigyô đă đem vào thơ. Lăo già ấy nhờ thượng nhân tụng kinh niệm Phật mà được siêu thoát rồi biến mất vào trong bóng râm của cái g̣ bên cạnh cây liễu ấy. Đêm đến, con tinh lại hiện ra qua h́nh dạng một ông già tóc trắng, kể lại sự tích cây liễu mà múa một điệu vũ để cảm ơn thượng nhân rồi lại biến mất. Yugyôyanagi h́nh như được sáng tác để đối kháng với tuồng Saigyôzakura 西行桜(Tây Hành Anh, nói về cây anh đào thành tinh bên am Saigyô nhằm ca ngợi cảnh sắc mùa xuân của Kyôto) do soạn giả Zeami 世阿弥1363? - ? ) chấp bút nhưng Yugyôyanagi riêng nó là một tác phẩm có mục đích ca ngợi cuộc sống thanh cao, nhàn tĩnh.  

 

Đoạn 13: Cửa quan Shirakawa (Shirakawa no seki 白河の関

Trong tâm trạng bất an của cuộc lữ hành, ngày tháng cứ dần trôi. Giữa lúc ḷng bồn chồn không v́ một cớ ǵ rơ rệt, ta đă tiến tới gần cửa quan Shirakawa[37]. Đến đây, ta mới quyết tâm đi vào vùng Michinoku. Ngày xưa, tướng Taira no Kanemori[38] qua nơi ấy, đă vịnh một bài thơ bày tỏ ḷng cảm khái nhờ người nhắn tin ông về kinh đô. Ta nghĩ đó thật là một điều chí lư. 

Cửa quan Shirakawa, một trong ba hùng quan của miền Đông, ai là tao nhân mặc khách đều quan tâm đến nó. Họ đă để lại biết bao nhiêu là thơ đề vịnh nói lên tâm t́nh của ḿnh. Hồi tưởng lại bài thơ của tăng Nôin[39] viết về tiếng gió thu, bài thơ của tướng Yorimasa[40] vịnh lá đỏ rụng rơi tan tác trên cửa quan mà thấy cả hai như hiện ra trước mắt, bên tai. Tuy nhớ về h́nh ảnh của lá hồng lá thắm ngày xưa nhưng những chiếc lá xanh trên đỉnh cây trước mặt cũng đem lại cho ḿnh một thi vị riêng.

Thời điểm này, hoa “u” (măo) đă nở trắng toát. Cũng mang màu trắng của hoa kia [41](hoa măo) trong mấy áng thơ xưa, những cánh hoa gai nở chen vào chúng làm ta cảm thấy ḿnh như đang như bước đi giữa lớp tuyết trên cửa quan. Ngày xưa quan đại phu Takeda Yukimasa[42] đến nơi này, v́ muốn tỏ ḷng thành kính với bài thơ của ngài Nôin, đă sửa lại mũ măng, thay đổi áo xống chỉnh tề rồi mới dám đi qua. Đó là sự tích đă được Fujiwara no Kiyosuke[43] ghi lại trong tác phẩm Fukuro Zôshi. (Sora bèn có thơ): 

卯の花をかざしに関の晴れ着かな 

U no hana wo
Kazashi ni seki no
Haregi kana
 

Cài trên đầu hoa trắng,
Qua cửa quan, làm dáng,
Như mặc áo ngày hội.   

Lời B́nh: 

Thời Bashô đi qua, cửa quan Shirakawa đă bị để cho hoang phế (v́ nhu cầu pḥng chống người Ezo ở miền Đông Bắc không c̣n nữa) nhưng điều đó không phải chuyện khiến ông thắc mắc. Mục đích của Bashô là nhân việc viếng thăm địa điểm này t́m cách sống lại qua kư ức ḿnh những nhân vật lịch sử và tâm t́nh của họ. Đây là một chương nhuộm màu sắc lăng mạn về kỷ niệm những tiền nhân trên đường đi t́m cái thú phong nhă (tức thi ca). 

Hoa “u” viết chữ Hán là “không mộc” 空木hay “măo mộc”卯木, tiếng Anh là deutzia. Hoa nở thành chùm trắng vào khoảng tháng 4 âm lịch tức là tháng măo卯月 (udzuki, măo nguyệt) theo lịch Nhật. C̣n Ibara no hana[44] 茨の花 (hoa gai), một loại hoa đồng nội, cũng có màu trắng.  

Chương này đặc biệt qui tụ nhiều màu sắc từ màu xanh lá xuân vào hạ, màu đỏ lá thu, màu trắng của hoa “măo” và hoa gai, của tuyết, của tên cửa ải (Shirakawa = Bạch Hà), tất cả tạo nên một cảm giác tươi mát. Nhưng phải chăng v́ nghĩ ḿnh chỉ là những du tăng vân thủy, không mũ cao, áo rộng như nhà quan để xứng đáng qua cửa quan nên hai ông sư khất thực Bashô và Sora chỉ có thể làm một cử chỉ nhỏ là cắm một cành hoa trắng lên trên mái tóc (sáp đầu)[45] trước khi đi qua đó để tỏ ḷng kính quí tiền nhân?

Màu trắng hoa “măo” 

 

Đoạn 14: Nhà trạm Sukagawa (Sukagawa須賀川) 

Như thế, chúng tôi đă vượt qua Shirakawa, một nơi danh thắng trong thơ xưa, rồi tiến về phía trước để vượt sông Oukumagawa (nay đọc là Abukumagawa). Bên tay trái, ngọn Bandaisan của vùng Aidzu vươn lên nền trời, bên mặt, ba ấp trại[46] Iwaki, Sôma và Miharu trải dài nối tiếp nhau. Lại nữa, nếu nh́n đằng sau, sẽ thấy núi non chập chùng như phân chia biên giới khu vực Iwaki (tỉnh Fukushima bây giờ) với các vùng Hitachi (Ibaraki bây giờ) và Shimotsuke (Tochigi bây giờ). 

Chúng tôi cũng đă đi qua nơi tên Kagenuma (Hồ Bóng[47], c̣n gọi là Kagaminuma hay Hồ Gương) nhưng hôm đó trời nặng mây nên hồ không in cái bóng nào cả. Hồ này, theo sách cũ, thường in bóng chim bay.  

Chúng tôi đến khu nhà trạm Sukagawa, thăm người quản lư khu vực đó là nhà thơ haikai tên Tôgyuu[48] được ông cho trú chân bốn năm hôm. Tôgyuu nhanh nhẩu hỏi ngay: “Các thầy đi qua ải Shirakawa đă làm được câu thơ nào chăng?” Ta bèn trả lời: “Vừa đi đuờng xa nên thân thể mệt mỏi, c̣n tinh thần v́ tập trung vào việc hoài niệm những giai thoại thi ca của tao nhân mặc khách thời xưa nên lúc đó đâu đủ thong thả để gieo vần!” 

風流の初めや奥の田植え歌 

Fuuryuu no
Hajime ya Oku no
Taue uta 

Được nghe lần đầu tiên
Ḥ cấy lúa xứ Ôku

Gợi biết bao thi hứng.
[49]
 

Ḷng tự nhủ đi qua cửa quan mà chẳng vịnh được câu nào, ḿnh thật đáng trách nên cũng ráng làm ra bài thơ mào đầu (hokku) như trên. Thế rồi một sinh hai, hai sinh ba, liên tiếp chúng tôi được một bài liên ngâm 3 quyển.

Chúng tôi làm được một bài liên ngâm 3 quyển 

 

Lời B́nh: 

Nhân vật Tôgyuu (Đẳng Cùng, Đẳng Cung) là một người lớn hơn Bashô độ 6 tuổi. Có lẽ v́ thế mà sau khi gặp được Bashô, ông đă mở ngay một hội thơ haiku để xem thử Bashô làm thơ như thế nào. Chúng ta có thể phỏng đoán là Bashô giữ thái độ thận trọng với người đàn anh này nên ngày đầu ông không trả lời tích cực câu hỏi của chủ nhân.  

Tuy nhiên đến khi bắt đầu vào sáng tác th́ giữa những người rành thơ với nhau, họ đă hoàn tất ngay một bài liên ngâm (renku) 3 quyển.  

Trong bài thơ mào đầu của ḿnh, Bashô muốn nói là lần đầu tiên khi nghe tiếng ḥ cấy lúa (điền thực ca, taue uta田植歌) của vùng Michinoku, ông thấy vui và có nhiều cảm hứng v́ tiếp xúc được với nền văn hóa dân gian mộc mạc nhưng tao nhă của xứ đó. Ta cũng có thể xem đây như một lời chào gửi đến Tôgyuu, nhà thơ địa phương. 

Kigo của bài này là taue uta (ḥ cấy lúa) chỉ mùa hạ. 

 

Đoạn 15: Hoa dẻ (Kuri no hana栗の花). Đời người ẩn dật. 

Dưới bóng cây hạt dẻ cổ thụ gần khu phố nhà trạm này, có một vị sư, bạn của Tôgyuu và cũng là nhà thơ haikai hiệu Rissai (Lật Trai栗斎) lập am và sống cuộc sống lánh đời.  

Thi tăng Saigyô có lần vịnh:: 

山深み岩にしただる水溜めむ喝月落つる橡拾うほど 

Yama fukami
Iwa ni shitadaru
Mizu tamemu (tamen)
Katsugatsu otsuru
Tochi hirou hodo 

Ở trong núi sâu thẳm,
Hăy chận ḍng nước khe,
Đủ thời gian ta hốt,
Hạt dẻ rơi lốp bốp. 

Sơn Gia Tập (quyển hạ, phần tạp thi) Sankashuu, Ge, Zatsu) 

Dường như đời Rissai thật tĩnh lặng, chẳng khác chuyện nhà thơ ở ẩn đi nhặt hạt dẻ trong núi thời xưa (Saigyô). Ta nhân đó viết lên trên giấy chữ “hạt dẻ” (lật ) theo văn tự Trung Quốc. Nó gồm hai phần, có nghĩa là “phía Tây” (tây 西) và “cái cây” (mộc). Có lần Bồ tát Gyôki[50] đă liên tưởng cây hạt dẻ với cơi Tây Phương tịnh độ và ông dùng vật liệu cây ấy để chế ra gậy và cả kèo cột trong nhà ḿnh. 

世の人の見付けぬ花や軒の栗 

Yo no hito no
Mitsukenu hana ya
Noki no kuri 

Có mấy ai trong đời
Chợt t́m ra vẻ đẹp
Chùm hoa dẻ bên hiên.

Hoa dẻ 

Lời B́nh: 

Bashô thông cảm với tâm t́nh của con người siêu tục Rissai. Đời thường không hiểu giá trị chùm hoa dẻ màu vàng nhạt nhưng ngát hương nở bên hiên thảo am. Nó tượng trưng cho giá trị của người đi ở ẩn. Đời mấy ai biết đến cho nhưng Bashô đánh giá họ cao và hiểu rằng đó là những con người hoàn toàn tự do. Kẻ xuất gia đi tu chưa hẳn tự do v́ c̣n phải lo làm Phật sự và giữ mối liên hệ với người thế tục. Có những bậc tiểu ẩn vào trong núi sâu. Rissai tuy sống cạnh phố phường nhưng ông là người đại ẩn, đạt được tâm cảnh ấy mà không cần phủ định ḿnh.  

Cḥm hoa dẻ bên hiên người ở ẩn tượng trưng cho cuộc sống thanh bần của chủ nhân. Rissai cũng giống như một người yêu hoa dẻ nổi tiếng khác, bồ tát Gyôki (Hành Cơ).  

Kigo của bài thơ này là Kuri no hana (hoa dẻ) chỉ mùa hạ. Kuri (hạt dẻ, chestnut), có khác với hạt dẻ dại (tochi, horse chestnut) trong thơ Saigyô vốn phải nấu nướng mới ăn được. 

 

Đoạn 16: Ngọn núi Asaka (Asakayama安積山) và chuôm Asaka (Asaka no numa浅香の沼) 

Rời khỏi nhà Tôgyuu, đi được khoảng năm “ri” (20km), chúng ta đến một khu nhà trạm khác tên gọi Hiwada (thuộc Kôriyama, tỉnh Fukushima). Từ đấy tiến thêm một chút, chúng ta gặp ngọn núi Asakayama, một “gối” thơ thường thấy trong cổ thi, cách đường cái không xa. Ở đây lại có nhiều ao chuôm (Asaka no numa), đúng như cảnh người xưa đă ngâm vịnh. 

Lúc này là mùa người ta gặt loại lau gọi là katsumi. V́ không biết loại lau nào là “katsumi ra hoa” (hanagatsumi), ta mới hỏi thăm dân địa phương nhưng chả ai trả lời được. Ta bèn đi loanh quanh, mồm cứ lẩm bẩm “Katsumi, katsumi”[51], hết t́m nó chung quanh vùng ao hồ lại dọ hỏi thêm. Giữa lúc đó, mặt trời lặn dần về phía bên kia núi và màn đêm bắt đầu bủa vây cho nên mới bỏ ư định không kiếm katsumi nữa. Từ Nihonmatsu, ta quẹo bên phải đường cái để ghé mắt nh́n động đá Iwaya ở Kurodzuka rồi quay về ngủ lại ở Fukushima đêm đó.  

Lời B́nh: 

Sở dĩ Bashô cất công đi loanh quanh t́m cho được hoa katsumi bởi v́ ông vẫn c̣n nhớ truyền thuyết về nhà thơ Fujiwara no Sanekata (đă nói đến ở trên). Thời Heian, sau khi bị biếm ra vùng Ôshuu trên miền bắc, Sanekata v́ không t́m ra hoa xương bồ (ayame, blue flag, iris) đúng như truyền thống, phải tạm dùng hoa katsumi của địa phương để treo bên hiên trừ tà vào dịp Tết Đoan Ngọ[52]. Câu chuyện ấy làm Bashô chạnh ḷng hoài cổ. Katsumi ngày xưa là một cái tên dùng để chỉ một giống lúa dại (wild rice) nhưng đến thời đại Bashô th́ tên ấy được gắn cho một loại xương bồ.V́ hoa có thể chưng ngắm nên có tên là hanagatsumi. 

Động đá Iwaya ở Kurodzuka nơi Bashô ghé qua thăm tương truyền là một hang quỉ, có một con quỉ cái già, hay hút máu khách đi đường. Từ truyền thuyết này, những soạn giả tuồng Nô đă viết ra các vở Adachigahara, Kurodzuka. 

Nhân đây cũng nhắc lại hai bài cổ thi liên quan đến vùng đất này. Một bài nói về núi Asakayama (An Tích Sơn) (xưa tên ấy viết theo chữ Hán là Thiển Hương Sơn, xem Manyôshuu, chương 16). Bài thứ hai lấy đề tài chuôm Asaka no numa (Kokin Wakashuu, chương 4 thơ t́nh yêu): 

浅香山影さえ見ゆる山の井の浅き心を我が思わなくに 

Asakayama
Kage sae miyuru
Yama no i no
Asaki kokoro wo
Wa ga omo wa naku ni 

Nước trong phô ḷng suối,
In ngọn Asaka.
Dù ḷng khe chẳng sâu[53].
Dù núi tên hương nhạt[54],
T́nh ta khác núi khe. 

みちのくの浅香の沼の花がつみかつ見る人に恋いやわたらむ(らん) 

Michinoku no
Asaka no numa no
Hanagatsumi
Katsumiru hito ni
Koi ya wararamu (ran) 

Katsumi bên hồ,
Vùng Michinoku,
Có tiếng tự ngày xưa.
Nhưng hoa kia nào phải,
Người từng thoáng gặp đâu. 

 

Đoạn 17: Thôn Shinobu (Shinobu no sato信夫の里

Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường nhắm hướng Shinobu (tỉnh Fukushima) để đến xem tảng đá nơi người ta in mô h́nh trên vải từ nước chắt từ lá cây shinobu, nổi tiếng trong nhiều bài thơ cổ. Đó là một thôn làng bên kia núi khá xa khu nhà trạm. Hơn phân nửa ḥn đá đó đă bị đất vùi lấp.  

Bọn trẻ con trong thôn chạy đến, giải thích cho chúng tôi: “Xưa ḥn đá này nằm măi trên núi cơ. Khách qua đường thường nhổ lúa mạch loạn xạ rồi đem xát trên mặt tảng đá này nên người trong thôn bực tức, lật ḥn đá rơi xuống thung lũng. Mặt trên của tảng đá bị ụp xuống dưới và nó thành ra nằm ngang”. Nghĩ thầm lẽ nào chuyện ấy có thể xảy ra, ta chỉ biết mỉm cười.  

Sanae toru
Te moto ya mukashi
Shinobuzuri
 

Tay em nay nhổ mạ,
Có phải bàn tay xưa,
Chắt nước cỏ in vải.
 

Lời B́nh: 

Trong văn chương cổ, ngựi ta thường nhắc tới tảng đá người ta “in h́nh lên mặt áo bằng nước chắt từ lá cỏ shinobu” (hare’s-foot fern), loại dương xỉ mà phương Tây gọi  là “chân thỏ rừng”. Nghe tiếng tảng đá, Bashô đă t́m đến thăm nhưng ông chỉ rước lấy sự ngỡ ngàng. Tảng đá danh tiếng ấy đă bị lật đi chỗ khác và theo lời giải thích của trẻ con trong làng, v́ có nhiều người lạm dụng tảng đá để xát lúa mạch nên dân chúng tức giận thấy ruộng lúa mạch của họ bị ngắt tan hoang bèn bẩy nó đi cho bỏ ghét.  

Tại sao xảy ra truyện xát lúa mạch lên ḥn đá? Có truyền thuyết cho rằng nó liên quan đến một nàng trinh nữ tên Tora. Ngày xưa, khi vị quí nhân trẻ trung Minamoto no Tôru tức một hoàng tử, chức Tả đại thần ở Kawara, đi ngang qua vùng, chàng đă có một mối t́nh với nàng thiếu nữ xinh đẹp ấy. Khi chàng về kinh đô, nàng không làm sao quên được h́nh bóng. Mỗi khi nhớ (shinobu) người yêu, thử xát lúa trên mặt đá th́ h́nh bóng chàng lại hiện ra. Cuối cùng nàng con gái bất hạnh đă chết. Câu chuyện đó kích thích sự tưởng tượng của những đôi nam nữ trẻ đang yêu. Họ đă hành động giống như nàng để đưa đến kết quả phá hoại này.  

Liên tưởng đến việc đó, Bashô đồng hóa những thiếu nữ nhổ mạ ngoài đồng hôm nay với người trinh nữ nông thôn ngày xưa. Ông muốn tái hiện trước mắt h́nh ảnh trong truyền thuyết. Shinobugusa c̣n có thể viết dưới tự dạng “nhẫn thảo” 忍ぶ草là “cỏ nhớ nhung” và động từ “shinobu”忍ぶ là nhớ nhung hay nhịn chịu. 

Nói đúng ra “shinobu mojizuru” chỉ là một cách thức in mô h́nh lên vải của thời cổ đại. Mojiru có nghĩa là vặn vẹo (twist). Có thuyết cho rằng nó ám chỉ những mô h́nh phóng túng, không đồng nhất được tạo ra khi người ta đem chất nước chắt từ thân và lá cỏ shinobu in lên vải trên mặt đá xù x́, đôi khi có khắc chữ nữa. 

Mô h́nh có h́nh thù không đồng nhất được diễn tả như tâm trạng bấn loạn của người con trai trước người ḿnh yêu, đă thấy trong chương đầu của Truyện Ise (Ise Monogatari, 伊勢物語), nhất là chữ Shinobu信夫, tên địa danh, lại ẩn ư 偲ぶ “nhớ về một người hay một chuyện đă qua”. 

Minamoto no Tôru[55] có một bài thơ như sau trong Cổ Kim Ḥa Ca Tập (Kokin Wakashuu, phần Thơ luyến ái), đă được Fujiwara no Teika tuyển vào “Thơ trăm nhà” (Hyakunin Isshu) với một chút sửa đổi: câu thứ 4 thành Midare some ni shi. 

みちのくのしのぶもじずり誰ゆえに乱れむと思う我ならなくに 

Michinoku no
Shinobu mojizuri
Tareyue ni
Midaremu to omou
Ware nara naku ni 

Như mô h́nh trên áo,
In từ cỏ nhớ nhung,
Ai xui ḷng bối rối,
Đâu phải là ta nhỉ,
Lỗi chỉ tại em thôi.  

Kigo của bài thơ này là sanae (mạ) chỉ mùa hè.

Cỏ shinobu (Cỏ nhớ nhung) 

 

Đoạn 18: Thôn Iidzuka (Iidzuka no sato飯塚の里). Di tích họ Satô.   

Sau khi đến viếng ḥn đá dùng để in vải, chúng tôi hướng lên phía bắc, vượt qua bến đ̣ Tsukinowa trên sông Afukumagawa (đọc theo cách ngày nay là Abukumagawa),tiến về phía khu nhà trạm Senoue (thuộc tỉnh Fukushima bây giờ). Đi khoảng một “ri” rưỡi (6 km) về phía tay trái th́ thấy chênh vênh bên sườn núi di tích ṭa thành cũ của tướng Satô Motoharu.Nghe nói nơi đó là Saban.o thuộc thôn Iidzuka. Vừa đi vừa hỏi thăm ngựi ta mới đến được ngọn đồi nhỏ có tên Maruyama (hay là Tateyama). Nơi đây có di tích thành quách của Motoharu, gọi là thành Maruyama. Xưa thành này nằm ở Sabano.o cơ. 

Dưới chân núi Maruyama hăy c̣n dấu vết cổng chính đưa vào thành.Vừa dạo quanh, ta vừa nghe họ giảng giải, cảm động nhớ việc xưa, phải ráng cầm nước mắt. Lại nữa, gần bên cổng ấy có ngôi chùa Rurikôzan Iôji (Lưu Ly Quang Sơn Y Vương Tự ) thờ phượng hương linh họ Satô. Trong sân chùa hăy c̣n bia mộ cả gia đ́nh ông. 

Trong đám ấy, dấu tích bia mộ hai người vợ của anh em Tsugunobu và Tadanobu[56] đă khơi trong ta niềm thương cảm hơn cả. Dù phận chân yếu tay mềm, họ để lại được tiếng thơm trong sử sách và làm ta không sao ngăn ḍng lệ nghẹn ngào. Đứng trước mặt người mẹ chồng và để an ủi cụ, hai bà từng mặc giáp trụ, thay mặt các đấng phu quân đă tử trận, diễn cái cảnh khải hoàn trong tưởng tượng của hai người chồng mà mẹ già sẽ không bao giờ được thấy. Người ta nói bên Trung Quốc có Trụy Lệ Bi[57] nghĩa là tấm bia đá ai đi qua đó cũng không cầm được nước mắt. Th́ nay ta tưởng như tấm bia ấy đang thực sự hiện ra trước mắt ḿnh.  

Vào bên trong chùa, ta được mời dùng trà. Nơi đây người ta có ǵn giữ như bảo vật như thanh trường kiếm của Yoshitsune và cái tráp đeo lưng của Benkei. (Ta bèn có thơ rằng): 

笈も太刀も五月に飾れ紙幟 

Oi mo tachi mo
Satsuki ni kazare
Kami nobori 

Bên cạnh cá chép giấy
Hăy treo tráp, trường kiếm,
Vào ngày Hội Con Trai. 

Lời B́nh: 

Gia đ́nh họ Satô được xem là tấm gương sáng cho người samurai nên khi đến viếng di tích này, Bashô không sao ngăn được ḍng lệ cảm thương. Satô Motoharu (tức Satô Shôji), quan cai quản trang viên (shôen) - người đă tử chiến để bảo vệ ân chủ Yoshitsune - là cha của hai anh em Motoharu và Tadanobu. Ba cha con đều được đời xem là trung thần nghĩa sĩ. Không những thế, các bà vợ của họ cũng đă sống một đời trung trinh tiết liệt. Trên thực tế, hai người con dâu chẳng để lại di vật ǵ trong chùa Iôji đâu. Bashô chỉ được thấy di tượng tạc bằng gỗ hai người ấy mặc trang phục chiến đấu vào ngày hôm sau trong Giáp Trụ Đường ở đền thần Tamura Jinja mà thôi. Tuy vậy đây là một sự nhầm lẫn chứ không phải Bashô muốn vẽ chuyện. Nhiều sác xuất là ông thực ḷng tin rằng trong vùng bia mộ của họ Satô nhất định phải có mộ phần của hai bà con dâu.  

Sự tích gia đ́nh Satô đă đưọc chép trong Gikeiki (Nghĩa Kinh Kư), pho truyện nói về cuộc đời của Minamoto no Yoshitsune 源義経(Nguyên Nghĩa Kinh). Sau đó nó đă trở thành đề tài quen thuộc của sân khấu Nô và Kabuki.  

Về Yoshitsune, ông là em trai thứ chín (Cửu Lang) và khác mẹ của Minamoto no Yoritomo 源頼朝(Nguyên Lại Triều), người sáng nghiệp Mạc phủ Kamakura. Tuy vũ công hiển hách, tiêu diệt được kẻ thù nhà là họ Taira và dành được chính quyền cho anh nhưng v́ mắc mưu ly gián của Thiên Hoàng Go Shirakawa, bị đố kỵ hay cư xử vụng về nên Yoshitsune làm anh trai nghi ngờ, đuổi bắt để trừ hậu hoạn. Ông chết khi lưu vong lên miền Bắc nương tựa họ Fujiwara ở Hiraizumi nhưng bị những người đồng minh cũ này phản bội. C̣n Benkei 弁慶là một nhà sư h́nh dáng lực lưỡng, vơ nghệ cao cường, được Yoshitsune thu phục, đă tận tụy theo hầu, chia sẻ những nổi vinh nhục với chủ trên đường bôn đào và chết theo ông.  

Trong bài thơ, Bashô nói lên nguyện vọng được thấy trường kiếm của Yoshitsune và tráp đeo lưng du hành của Benkei treo cạnh con cá chép vượt Vũ Môn bằng giấy (Kami koinobori) mà người Nhật vẫn treo trước cửa nhà trước ngày Tết Đoan Ngọ để hy vọng con trai của họ làm nên danh phận. Sự vũ dũng của thầy tṛ Yoshitsune đă khơi dậy hùng tâm của Bashô và ông muốn bày tỏ ḷng ngưỡng mộ hai người. Thực ra, di vật mà Bashô có thể nh́n thấy lúc bấy giờ chỉ là cái tráp của Yoshitsune từng đeo và mấy trang giấy Benkei chép kinh thôi. Trường kiếm của Yoshitsune và tráp đeo lưng của Benkei mà ông nói đến trong thơ có lẽ chỉ là những h́nh ảnh hư cấu. 

Kigo của bài thơ này là kami nobori (cá chép giấy) chỉ mùa hạ.

Cá chép trên nêu bay trong gió

 

Đoạn 19: Một đêm ở suối nước nóng Iidzuka ( Iidzuka飯塚)  

Chuyện xảy ra hôm mồng một tháng năm (17 tháng 6 dương lịch). Hôm ấy chúng tôi ngủ lại Iidzuka (nay là Iizaka). Chỗ trọ chỉ là một gian nhà nghèo nàn, trên nền đất trải mỗi manh chiếu lát. Đèn đóm cũng không có, chỉ nương dựa vào ánh sáng cái ḷ đặt giữa pḥng mà sửa soạn giường nằm. 

Ta nhớ là khi đă vào khuya, trời mưa thật dữ dội, kèm theo cả sấm chớp. Bên trên chỗ ngủ, nước mưa thấm ướt cả. Lại thêm cái nạn muỗi đốt rận chích nên không sao chợp mắt. Cơn đau bụng kinh niên[58] đến không phải lúc làm ta thiếu điều ngất đi. 

Đêm mùa hạ vốn ngắn nhưng ta thấy nó dài làm sao. Rốt cuộc trời mới sáng ra, ta bèn tức tốc rời khỏi khu nhà trạm. Dù vậy cơn đau hôm qua vẫn đeo đẳng làm đầu óc ta không hoàn toàn tỉnh táo. Chẳng biết cách nào, ta phải thuê ngựa cưỡi để đi về hướng trạm Koori (thuộc quận Date tỉnh Fukushima bây giờ). 

Đường trước mặt c̣n xa vời vợi mà thân đă mang bệnh như thế này, thật lo âu khôn xiết.Thế nhưng “Chuyến đi của ta lần này là cuộc du hành về những vùng hẻo lánh để t́m hiểu thế nào là kiếp sống vô thường của thế nhân. Ḿnh đă quyết tâm khi ra đi là dù có phơi thây bên vệ đường[59] th́ vẫn cứ phải tiếp tục cuộc hành tŕnh v́ có ǵ nữa chẳng qua là định mệnh”.Nhân đó, ta bèn đổi thái độ, lấy lại tinh thần, mạnh dạn tiến bước và đă vượt qua được vùng Ôkido (Đại Mộc Hộ) thuộc địa hạt Date. 

Lời B́nh: 

Bashô đă trải qua cái đêm cực khổ nhất ở suối nước nóng Iidzuka.Tuy vậy, ông xem việc bỏ mạng trên đường du hành là số trời định nên mới hăng hái trở lại và giục giă ḿnh tiến bước. Phần trên đoạn văn diễn tả kinh nghiệm bi đát khác với hơi văn lạc quan của phần dưới. Đây chính là chỗ cao diệu trong sự biến hóa của thể haibun vậy. Date no Ôkido có nghĩa là “cổng chính của thành Date”. Đời Kamakura, để nghênh chiến quân đoàn của Minamoto no Yoritomo lên chinh phạt vùng Ôshuu, phía Fujiwara no Hidehira đă cho đắp thành này. Sau cuộc chiến đấu khốc liệt, quân Fujiwara đại bại và tấn bi kịch của tiểu quốc Hiraizumi (muốn giữ được độc lập) bế mạc.  

Thế nhưng có phải Bashô đă thay đổi thái độ, tinh thần bỗng chốc trở nên phấn chấn v́ ông được khuyến khích bởi ḷng can trường và sự lao khổ của các chiến sĩ ở Date hay không? Địa danh này c̣n có nghĩa bóng là hade tức “nỗ lực”, “gồng ḿnh làm việc ǵ đến quá sức ḿnh”. 

 

Đoạn 20: Đảo Kasashima (Kasashima笠島). Con đường mưa lầy lội. 

Qua khỏi hai xóm chợ búa dưới chân thành là Abumizuri (thị trấn Shiroishi tỉnh Miyagi) và Shiroishi (cũng thuộc Shiroishi), chúng ta vào Kasashima (thị trấn Natori tỉnh Miyagi) 

Đă đến được Kasashima, ta bèn hỏi người sở tại xem có biết ngôi mộ của quan Trung Tướng đội Ngự Lâm Quân Fujiwara no Sanekata nằm ở đâu không, họ bèn chỉ cho “Tính từ chỗ này th́ hai thôn gọi là Minowa (Vành áo đi mưa) và Kasashima (Đảo nón lá) đều nằm ở dưới chân núi bên tay phải (đối với hướng tiến của Bashô lại là tay trái). Đền thờ Thần Đi Đường và bụi lau dấu tích của ngài Sanekata vẫn c̣n nguyên ở đó. 

Thế nhưng chính vào tiết ấy, mưa tháng năm[60] đă khiến đường sá lầy lội khó đi làm ta bước mệt nhoài nên chỉ biết vội băng ngang qua và nh́n phong cảnh từ xa. Dù vậy, ta thấy hai địa danh (áo mưa, nón lá) của Minowa và Kasashima không biết ai đặt mà thật phù hợp với cảnh mưa dầm. Bèn có một vần: 

Kasashima wa
Idzuko satsuki no
Nukarimichi 

Đảo Kasa phía nào?
Đường mưa dầm lầy lội,
T́m đến biết làm sao! 

Lời B́nh: 

Bashô muốn t́m thăm di tích mà chàng thanh niên công tử và thi nhân cung đ́nh đào hoa Fujiwara no Sanekata để lại sau khi ông này chết trên đường lưu đày ở vùng Ôshuu nhưng v́ đường mưa dầm lầy lội, đành bỏ cuộc. 

Địa danh Abumizuri ư nói quăng đường dốc mà người cưỡi ngựa khi qua đó, hai chân phải kẹp chặt bàn đạp (abumi) nếu muốn tránh rơi xuống vực. C̣n Shiroishi là tên khu phố chợ dưới chân thành của họ Katakura, một gia thần gia đ́nh lănhchúa Date[61]

Đền Thần Đi Đường (Dôsojin) là nơi tương truyền Sanekata đi qua mà không chịu hạ mă nên bị thần phạt cho ngă ngựa chết v́ tội vô lễ. C̣n bụi lau susuki kia, nó được nổi danh là nhờ bài thơ của thi tăng Saigyô trong Sankashuu, sau được tuyển vào Kokin Wakashuu.:     

朽ちもせぬその名ばかりをとどめおきて枯野の薄かたみにぞ見る 

Kuchi mo senu
Sono na bakari wo
Todome okite
Kareno no susuki
Katami ni zo miru 

Nhà thơ thân chết đi,
Nhưng danh kia c̣n măi,
Dừng chân, quanh mộ người,
Trên đồng hoang, lau bạc,
Là kỷ vật truyền đời. 

 

Đoạn 21: Cây tùng Takekuma (Takekuma no matsu 武隈の松). Cây tùng chĩa hai ở Iwanuma (Iwanuma futaki no matsu岩沼の二木の松

Chúng tôi qua đêm ở Iwanuma (nay là thị trấn Iwanuma tỉnh Miyagi). 

Thơ xưa thường nhắc đến Cây tùng Takekuma nổi tiếng ở đây. H́nh dạng nó thật rạng rỡ, nh́n lên ḿnh như mở bừng con mắt. C̣n có tên Futaki no matsu (Cây tùng chĩa hai) bởi v́ từ phía rễ đi lên, gốc của nó chỉa ra làm hai nhánh và vẫn giữ nguyên h́nh dáng ấy tự lâu đời. 

Ta chợt nhớ chuyện ngài Nôin. Ngày xưa, v́ có người (viên quan tên Fujiwara no Takayoshi) khi được phái lên trấn thủ vùng Mutsu, có lẽ đă chặt thân tùng để làm cọc chân cầu bắc qua sông Natorigawa (thuộc thành phố Sendai) nên tăng Nôin mới vịnh bài thơ sau đây: 

Takekuma no
Kono tabi ato mo nashi
Chitose wo hete ya
Ware wa kitsuramu 

Nay cây tùng đă mất,
Không c̣n dấu vết ǵ.
Hay ta đă đến đây,
Một ngh́n năm về trước!
[62] 

(Hậu tuyển Ḥa Ca tập, phần Tạp thi) 

Ta nghe nói có thời người ta đốn tùng, có thời người ta trồng lại nhưng hôm nay nó đă hiện trước mặt ta với dung nghi hùng tráng, đẹp đẽ mà lại đượm màu thần bí. 

Nhớ ngày ra đi, Kyohaku ( Cử Bạch, 挙白, một thương nhân, tên thực là Kusakabe, môn sinh của Bashô) đă tặng ta bài thơ tiễn biệt sau đây: 

武隈の松見せ申せ遅桜 

Takekuma no
Matsu mise môse
Osozakura 

“Anh đào muộn” miền bắc,
Nếu thầy ta có ghé,
Nhớ khoe hộ tùng nhé. 

Để đáp lễ anh, ta hạ bút: 

桜より松は二木を三月越し 

Sakura yori
Matsu wa futaki wo
Mitsukigoshi 

Từ khi anh đào nở,
Đă chờ hơn ba tháng,
Mới gặp tùng hai chĩa.
 

Lời B́nh: 

Bashô cảm kích khi thấy Cây tùng Takekuma, “gối thơ” của nhiều bài cổ thi, vẫn c̣n giữ được bóng dáng oai phong thần bí của nó. Ông đă dẫn thơ của Nôin và Kyohaku để nói lên niềm vui của ḿnh. 

Trong bài thơ đầu, Kyohaku nhắn cây anh đào ra hoa muộn (ososakura)[63] hăy tiếp đăi thầy ḿnh bằng cách giới thiệu Cây tùng Takekuma khi ông ghé qua vùng. Kyohaku là môn sinh của Bashô, tuy sinh sống ở Edo nhưng có thể là người sinh quán vùng này. 

Qua bài thứ hai Bashô bày tỏ niềm vui v́ được gặp cây tùng hai chĩa ấy ở Iwanuma, đúng như Kyohaku mong muốn. Nhân v́ matsu có nghĩa là cây tùng lại có nghĩa là chờ đợi待つ trong lối chơi chữ đồng âm dị nghĩa (kakekotoba). Do đó, nó hô ứng được với lối chơi chữ giữa hai từ “tháng ba” (三月mitsuki) và “nh́n thấy” (見つmitsu). 

Hai bài thơ không có kigo trực tiếp nhưng v́ nhắc đến cụm từ sakura yori...mitsukigoshi (đă quá ba tháng từ mùa anh đào) tên nó thể hiểu là mùa hạ.  

 

Đoạn 22: Cánh đồng Miyagi (Miyagino宮城野

Vượt sông Natarigawa, chúng tôi vào đất Sendai, khu chợ dưới chân thành của ḍng họ lănh chúa Date, hưởng thực ấp 62 vạn thạch thóc. Lúc ấy vừa đúng tiết Đoan Ngọ, người ta có lệ treo hoa xương bồ bên hàng hiên. Chúng tôi lấy nhà trọ để ở lại đây bốn năm bữa. 

Ở thị trấn này có người vẽ tranh và sống bằng nghề in sách tên gọi Kaemon. V́ ông có kiến thức về thơ haikai nên chẳng mấy lúc chúng ta trở nên thân thiết. 

Có hôm ông bảo: “Mấy năm gần đây tôi đă ra sức điều tra tại chỗ, kiểm chứng những “gối thơ” có nguồn gốc không rơ ràng”. Thế rồi, ông hướng dẫn ta xem những nơi đó. 

Cánh đồng Miyagi (Miyagino) nổi tiếng v́ hoa hagi (bushclover, đinh hương dại, thưu). Ở đây, hoa ấy chụm đầu vào nhau, mọc um tùm, rơ là muốn khoe sắc đẹp của mùa thu. Ở Tamada, Yokono, Tsutsujigaoka thường thấy trong các áng thơ cổ th́ nhằm đúng mùa hoa asebi (hay ashibi, asemi, andromeda) đang nở. 

Lại có dịp đi vào những khu rừng tùng thâm u mà nắng mặt trời không chiếu lọt. Theo ông th́ đó là “gối thơ” Kinoshita (Dưói ṿm cây).Nơi đây, tự ngày xưa, sương móc rất dày cho nên mới có bài thơ vịnh nó với câu misaburai mikasa nghĩa là “Người tùy tùng ơi, hăy dặn chủ mang theo nón che đầu”. 

Ta chấm dứt cuộc du ngoạn hôm đó sau khi chiêm bái mấy nơi như Yakushidô (Dược Sư Đựng) mà ngài Date Masamune cho dựng lại và cung Tenmanguu (Đền thờ đại thần và văn hào Sugawara no Michizane) trên Tsutsujigaoka (Đồi hoa đỗ quyên). 

Không những hướng dẫn đi thăm những nơi danh thắng, Kaemon c̣n tặng ta mấy bức tranh họa đồ vùng Matsushima và Shiogama. Thêm vào đó là hai đôi dép quai bằng vải màu xanh lam như quà tiễn chân[64]

Đúng như ta nghĩ, cái con người ương ngạnh phóng cuồng này, qua những món quà tiễn biệt vô cùng thanh lịch làm động tâm can, ta đă cho thấy cái sâu sắc của tâm hồn ông. 

あやめ草足に結ばん草鞋の緒 

Ayamegusa,
Ashi ni musuban
Waraji no o 

Quai dép tơ màu xanh
Trừ tà như xương bồ
Xin sẽ buộc thật kỹ. 

Dựa theo mấy bức tranh họa đồ Kaemon biếu, chúng tôi lần bước tiến tới th́ gặp được con đường mang tên Oku no hosomichi (đoạn đường nhỏ chạy từ khu Iwakiri của Sendai, ven theo sông Nanakitagawa đến thành Taga)[65]. Dưới chân những ngọn núi chúng tôi men theo, thấy mọc rất nhiều cỏ lát mà người ta dùng để đan loại chiếu nổi tiếng gọi là Tofu no sugagomo từng xuất hiện trong những bài thơ xưa. 

Gọi là chiếu lát Tofu (Thập phù) v́ nó đan rất dày (tofu = mười lớp). Vùng chung quanh đây là nơi sản xuất có tiếng. Hàng năm người ta hăy c̣n đan chiếu ấy để dâng lên lănh chúa. 

Lời B́nh: 

Thầy tṛ Bashô vào thị trấn Sendai đúng dịp Tết Đoan Ngọ. May mắn thay, họ gặp được con người quái dị Kaemon. Là nhà nghiên cứu lâu năm các địa danh và thắng cảnh, ông đă ân cần đưa hai thầy tṛ đi xem những “gối thơ” trong vùng như Tamada, Yokono, Miyagino, Kinoshita, Tofu.... Ông c̣n tặng cho hai người bao nhiêu quà cáp. Bảo Kaemon là “phóng cuồng”, Bashô chỉ muốn tỏ ḷng kính trọng ông và không có một lời khen nào có thể đẹp hơn. 

Hai đôi dép Kaemon ưu ái tặng thầy tṛ Bashô có kết tơ xanh như giây xương bồ. Người ta tin xương bồ có công dụng trừ tà. Dép ấy sẽ giúp họ “chân cứng đá mềm”. Đây là bài thơ tỏ ḷng cảm tạ và chào từ biệt mà Bashô muốn gửi đến Kaemon. 

Kigo của bài thơ Bashô viết là ayamegusa (giây xương bồ) chỉ mùa hạ, một loại xương bồ thân giây như giây khoai, khác với cỏ xương bồ ra hoa (Japanese Iris). 

Về các địa danh vùng Miyagino được xem như “gối thơ” th́ liên hệ của chúng với cổ thi có thể biết như sau: 

Về Tamada, Yokono, thơ Fujiwara no Toshiyori trong Sanbokuki Kashuu có câu: 

取りつなげ玉田横野の放れ駒つつじが岡にはあせみ咲きなり 

Toritsunage
Tamada Yokono no
Hanare koma
Tsutsuji ga oka wa
Asemi[66] sakunari 

Tama Yokono:

Ngựa con xin nhớ cột,
Đừng để nó chạy rông,
V́ đồi Tsutsuji,
Hoa độc đang mùa nở. 

Về Kinoshita, phần Azuma Uta (Đông ca) trong Kokin Wakashuu có câu: 

みさぶらい御笠と申せ宮城野の木の下露は雨にまされり 

Misaburai
Mikasa to môse
Miyagino no
Kinoshita tsuyu wa
Ame ni masareri 

Hởi kẻ đi theo hầu,
Nhớ nhắc chủ đội nón.
Trên đồng Miyagi
Kinoshita tàng lá,
Sương rơi dày hơn mưa. 

Về Tofu no sugagomo, có bài thơ tác giả vô danh chép lại trong thi tuyển Fuboku Wakashô: 

みちのくの十符の菅菰七符には君を寝させて我三符に寝む(寝ん) 

Michinoku no
Tofu no sugagomo,
Nanafu ni wa
Kimi wo nesasete
Ware mifu ni nemu (nen) 

Lát Michinoku,
Chiếu Tofu mười lớp,
Bảy lớp xin để dành,
Để em yêu ta ngủ,
C̣n ba lớp cho anh. 

 

Đoạn 23: Về tấm bia Tsubo (Tsubo no ishibumi壺の碑

Tấm bia Tsubo nằm ở thành Taga thuộc thôn Ichikawa. Bia Tsubo này chiều cao có lẽ khoảng 6 shaku (ước độ 2m), bề ngang khoảng 3 shaku (0,98 cm). Mặt trước tấm bia đă bị rêu phủ kín mít, chữ trên bia hầu như do rêu khắc nên, chỉ đọc được mang máng. Trước tiên, nó nhằm qui định khoảng cách bốn bên khu vực của nước Nhật. Sau có ghi rằng “Thành này vốn do chức án sát sứ kiêm trưởng quan Phủ chinh phạt Đông Di (ám chỉ người Ezo) là ngài Ôno no Ason Azumahito đă cho dựng lên vào năm Jinki nguyên niên (724). Đến năm Tenpyô Hôji thứ sáu (762), nó lại được quan tham nghị lănh chức tiết độ sứ của hai vùng Tôkaidô (Đông Hải Đạo) và Tôsandô (Đông Sơn Đạo) cũng là trưởng quan Phủ chinh phạt Đông Di tu bổ và cho dựng bia đá. Ngày tháng được khắc lên đó là mùng một tháng 12. Như thế, việc xây dựng thành này xảy ra vào đời Thiên hoàng Shômu (Thánh Vũ, 701-756) vậy.      

Phải biết là những nơi nổi tiếng bao lần được nhắc tới trong các áng thơ xưa so với thực tế hầu hết đă bị hủy hoại. Núi sụt lở[67], sông đổi ḍng, đường lệch hướng, đá bị đất lấp khuất, cây cối th́ cây mới đă mọc lên thế cho cổ thụ.Thời đại đổi thay như vậy nên những danh sở cựu tích không nơi đâu c̣n được nhận ra rơ ràng[68]. Riêng tấm bia Tsubo này là kỷ vật của một ngh́n năm về trước. Ta bèn hiểu được tâm t́nh của ngựi xưa đă cảm động mà đề vịnh khi đứng trước tấm bia. Thế rồi, quên đi tất cả những lợi ích, niềm vui được sống để có ngày nay cũng như bao lao khổ dọc đường, ta rưng rưng muốn trào giọt lệ[69]  

Lời B́nh: 

Bia thành Taga chỉ được đào lên từ ḷng đất vào đầu đời Edo nhưng thiên hạ đă đồng hóa nó với tấm bia gọi là Tsubo no ishibumi vốn được nhắc đến nhiếu lần trong cổ thi nên mới sinh ra nhiều sự hiểu lầm. Hai tấm bia ấy thực ra là vật khác nhau. Dù vậy người đương thời cứ tin chắc là tấm bia được đào lên chính là tấm bia được nói dến trong văn chương. Cả Bashô cũng thế và điểu này làm ông cảm kích thiếu điều rơi nước mắt. Được đứng trước một tấm bia đă có tự một ngh́n năm về trước, dù không là Bashô, ai là người chẳng xúc động và chỉ nghĩ rằng được sống và thấy nó thôi, đối với họ là cả niềm vui thỏa.    

Thực ra th́ sau khi tấm bia ấy được đào lên, đă có ngay thuyết cho nó là vật giả mạo. Kể từ đời Meiji, không ai c̣n xem nó như di vật lịch sử. Tuy vậy gần đây, khi điều tra thực địa di tích thành Taga th́ các nhà khảo cổ lại đổi thái độ, quay qua nh́n nhận nó là một tấm bia có thực. May cho Bashô, năm 1994, nhà nước đă công nhận nó là một hiện vật lịch sử. Mặt khác, năm 1950, ở bến đ̣ Tsubo (Tsubowatari) cũng thuộc vùng này người ta đă phát hiện một tấm bia khác có khắc mấy chữ “Nhật Bản trung ương” (Đây là điểm nằm giữa nước Nhật) nên từ đó có chủ trương bia thứ hai này mới thực là Tấm bia Tsubo nổi tiếng. 

Có điều cần nêu lên ở đây là sự cảm động có tính lịch sử của Bashô đă làm chín muồi lư luận về haikai của ông. Sự chân thực của văn học (chủ quan) có lúc cần vượt lên trên sự phán đoán đâu là chân thực hay hư ngụy (khách quan) của lịch sử. 

 

Đoạn 24: Ngọn núi Sue no matsuyama (Sue no Matsuyama 末の松山). Băi Shiogama. Nhà sư mù đánh đàn. 

Sau đó, chúng tôi thăm viếng các nơi nổi tiếng như con sông Noda no tamagawa và (cái ao có) tảng đá Oki no ishi. Núi Sue no Matsuyama nằm ở phía bắc Oki no ishi, ngày nay người ta đă dựng ở đó ngôi chùa Matsuyama Hôkokuji (Tùng Sơn Bảo Quốc Tự). Trong cánh đồng trồng tùng bên cạnh, giữa những lùm cây, ta thấy có vài ngôi mộ. Nh́n chúng, chạnh nhớ đến những câu chuyện chim so cánh cùng bay hay cành lá quấn quí vào nhau[70] nói lên lời thề măi măi thương yêu của những đôi nam nữ. Tự hỏi cuối cùng số phận của họ là nấm mộ[71] thế này sao mà trong ḷng ta không khỏi dậy nên một niềm thương cảm.    

Cuối cùng, chúng tôi đến được băi Shiogama no ura. Nghe trong tiếng chuông thu không cả sự vô thường của cuộc đời.Cơn mưa mùa hạ hơi ngớt giọt, bầu trời sáng sủa ra và ánh trăng bắt đầu chiếu nhẹ làm cho chúng tôi có thể nh́n thấy cả đảo Magakigashima (ngoài khơi Shiogama) như ở gần bên. Những chiếc thuyền con của bạn chài dắt díu nhau chèo về, tiếng chia nhau cá đánh được nghe lanh lảnh trên bến. Câu thơ xưa “Tsunaide kanashimo” (Kéo nhau chèo về bến)[72] như sống lại trong ḷng làm kẻ đi đường thêm chạnh t́nh lữ thứ. 

Đêm hôm đó, nghe vẳng tới bên tai tiếng nhà sư mù dạo khúc t́ bà, kể bản tuồng Jôruri (Tĩnh Lưu Ly) của đất Ôshuu. Khúc ấy không phải là Heikyoku (B́nh khúc) nói về chuyện hưng vong nhà Taira, cũng không phải điệu múa Kôwakamai (Hạnh nhược vũ). Làn điệu quê mùa càng lúc càng cao, ồn ào vọng đến bên gối khiến ta cảm thấy khó chịu. Dù vậy, ta không khỏi kính phục những con người đó, v́ họ đă biết giữ ǵn nghệ thuật cổ, truyền đến những chốn hoang vu như nơi đây. 

Lời B́nh: 

Nh́n khu mộ địa ở Sue no Matsuyama (hay Matsushôzan), Bashô chạnh nghĩ đến những lời thề son sắt giữa những đôi trai gái và sự bất lực của họ trước định mệnh khắt khe. 

Thế rồi, sau khi ngắm cảnh trời chiều trên bến Shiogama, Bashô lại có cơ hội nghe tiếng đàn và giọng kể truyện của nhà sư mù. Truyền thống đánh đàn t́ bà và kể truyện Heikei bắt đầu thời Heian và kéo dài đến tận thời Meiji. Thế nhưng khúc đàn và giọng hát ông nghe đêm đó lại không phải Heikyoku (truyện bước đường cùng của tập đoàn Taira) và Kôwakamai (có khúc nói về Yoshitsune, có nói khúc về anh em Soga), những khúc hát và điệu múa được truyền tụng đương thời, mà lại là điệu Jôryuuri dân dă mộc mạc của riêng vùng Date và Nanbu kể lại bước đường bôn đào của Minamoto no Yoshitsune lên miền Đông Bắc. Thế mới biết văn nghệ của vùng Oku có đặc sắc là in sâu màu sắc dịa phương. 

Về địa danh Noda no tamagawa th́ đó là một con sông nhỏ chảy không xa phía đông thành Taga. Nơi đây nổi tiếng là nơi tụ họp của một loại chim di nhỏ bé tên chidori (óc cau). Tăng Nôin xưa có bài thơ đuợc tuyển vào Shin Kokin Wakashuu (Tân Cổ Kim Ḥa Ca Tập): 

夕されば潮風越してみちのくの野田の玉川千鳥なくなり 

Yuu sareba
Shiokaze koshite
Michinoku no
Noda no tamagawa
Chidori naku nari 

Khi trời ngả bóng chiều,
Thổi về ngọn gió triều,
Trên gịng sông Noda,
Vùng Michinoku,
Chim óc cau quang quác. 

Oki no ishi là tên tảng đá lớn nằm trong cái ao sau nhà một nông dân cách thành Taga 3 km. Nhà thơ nữ Nijôin Sanuki có viết bài thơ về nó được tuyển vào Tensai Wakashuu (Thiên tải Ḥa ca tập)[73]:   

わが袖は潮干に見えぬ沖の石の人こそ知らね乾く間もなし 

Wa ga sode wa,
Shio hi (i) ni mienu,
Oki no ishi no
Hito koso shirane
Kawaku mamonashi 

Oki no ishi[74]
Đá ch́m nên luôn ướt
Ai người có thấy cho,
Tay áo ta cũng vậy[75],
Đẫm lệ măi không khô.  

Sue no matsuyama, ngọn núi đă gợi nguồn cảm hứng cho một bài Azuma-uta (Đông ca) thường là do tác giả vô danh sáng tác. Bài dân ca này cũng được chép lại trong Kokin Wakashuu. 

君をおきてあだし心をわが持たば末の松山波も越えなむ 

Kimi wo okite,
Adashigokoro wo
Wa ga motaba
Sue no matsuyama,
Nami mo koenamu (nan) 

Nếu anh sinh hai ḷng,
Bỏ em yêu ṿ vơ,
Th́ chuyện không thể có,
Là đỉnh Matsu kia,
Bị sóng cao phủ cả !
[76] 

Về ḥn đảo Magakigashima, phần Azumauta (Đông ca) trong Kokin Wakashuu lại có chép: 

わがせこを都にやりて塩竈の蘺ヶ島が島の松ぞ恋しき 

Wa ga seko wo
Miyako ni yarite
Shiogama no
Magakigashima no
Matsu zo koishiki 

Em tiễn người em thương,
Đi về chốn kinh đô.
Dù thân chẳng là tùng (matsu)
Trên đảo Magaki,
Yêu anh, xin măi đợi (matsu) 

Địa danh Shiogama no ura cũng là đề tài cho một bài Azuma-uta khác thấy trong tuyển tập nói trên: 

みちのくはいづくはあれど塩竈の浦漕ぐ舟の綱手かなしも 

Michinoku wa,
Idzuku wa aredo
Shiogama no
Ura kogu funa no
Tsunaide kanashi mo.
[77] 

Miền Michinoku,
Cảm động chi cho bằng.
Cảnh đoàn thuyền đánh cá,
Kéo giật đưa nhau về,
Bến Shiogama. 

 

Đoạn 25: Vị thần đền Shiogama (Shiogama Myôjin塩釜明神). Ngọn thạch đăng của Izumi no Saburô. 

Tảng sáng hôm sau, chúng tôi đến chiêm bái đền Shiogama. Đó là ngôi đền mà ngài Date Masamune, vị lănh chúa của phiên cho xây dựng lại nên những cây trụ trong đền đều to chắc, kèo rường tô nhiều màu trông đẹp mắt, thang đá rất cao và nối tiếp với nhau, có đến hai trăm bậc. Đặc biệt dưới ánh nắng mai, ṿng rào sơn son như thể ánh ngời lên. 

Cho đến một vùng biên cương xa xôi đối với kinh đô như vậy mà uy quang của chư thần c̣n gieo rắc tận nơi. Ḷng ta cảm thấy tất cả cái quí hóa về phong tục tốt đẹp của một  đất nước linh thiêng. 

Trước mặt điện thờ ta thấy có một ngọn thạch đăng cổ kính. Trên cánh cửa bằng thép của nó có khắc ḍng chữ “ Izumi no Saburô tiến cúng vào năm Bunji tam niên (1187)” . Trước mắt như hiện ra h́nh ảnh của nhân vật sống năm trăm năm về trước khiến ḷng ta xiết bao rộn ràng. 

Ngài Izumi no Saburô[78] là một trang mănh tướng vừa dũng cảm, vừa hiếu hạnh vừa trung nghĩa, có thể nói ngay cả thời nay, không ai không biết tiếng. Người xưa có câu: “Đă là người, phải nỗ lực làm người, giữ trọn ân nghĩa. Sau đó, tiếng thơm tự nhiên  sẽ tới với ḿnh”. Ta thấy quả là đúng như vậy.  

Trời đă sắp giữa trưa nên trước khi ngả về chiều, phải thuê thuyền để qua cḥm đảo Matsushima. Đường đến đó chỉ cách Shiogama khoảng 2 “ri” (độ 10km) nên chẳng mấy chốc, chúng tôi đă cập bến đảo Ojima[79]. 

Lời B́nh: 

Chánh điện của đền thần Shiogama vừa tráng lệ vừa trang nghiêm làm Bashô tấm tắc măi không thôi. Đặc biệt ông xúc động khi đứng trước ngọn thạch đăng mà “Chàng Ba” Izumi no Saburô đă tiến cúng cho đền. Saburô tức là Fujiwara no Tadahira, con trai thứ ba của Fujiwara no Hidehira, người đứng đầu Tiểu Quốc Hiraizumi. Người cha quá cố đă căn dặn các con phải bảo vệ Yoshitsune, kẻ đồng minh đang sa cơ thất thế. Tuy vậy, hai năm sau khi tiến cúng ngọn thạch đăng, Tadahira bị chính anh ḿnh là Yasuhira (v́ chủ trương giảng ḥa với Mạc phủ Kamakura) tập kích và Tadahira đă tuẫn tiết bên cạnh Yoshitsune trong cuộc giao tranh. Ngày nay ngọn thạch đăng có tên Bunji shintô (Văn Trị thần đăng) vẫn c̣n đó.

 

Có lẽ niềm cảm khái ḷng trung dũng của Tadahira đă bắt nguồn từ khi Bashô nghe nhà sư mù đánh đàn và ngâm nga khúc Jôruri vùng Oku kể lại đoạn đường bôn đào và kết thúc bi thảm của Yoshitsune. 

 

Đoạn 25: Matsushima và bàn tay Con Tạo Hóa (Matsushima, zôka no tenkô 松島:造化の天工

Nay th́ xin lập lại một chuyện tiền nhân hay nhắc tới mà ai nấy đều biết: Matsushima là thắng cảnh số một của đất nước Phù Tang. Nó không thua kém chút nào nếu đem so với Động Đ́nh Hồ hay Tây Hồ bên Trung Quốc.Từ hướng Đông Nam, nơi vịnh tạo ra h́nh cánh cung và biển lấn lục địa, trong một khu vực sông độ 3 “ri” (12 km), nước mặn tràn vào chẳng khác nào ngọn triều Chiết Giang[80] nổi tiếng. 

Trong ḷng vịnh có vô số đảo. Có ḥn vút cao như chỉa ngón tay chỉ trời xanh, có ḥn thấp nằm ngang như đang cưỡi lên sóng. Có đảo chập lên nhau thành hai tầng, có đảo ba tầng. Nếu có đảo tiếp nối về phía trái th́ cũa có đảo kéo dài sang bên phải. Lại có đảo đội trên lưng ḿnh những ḥn đảo nhỏ ra chiều che chở, ôm ấp, chẳng khác nâng niu con cháu[81].   

Màu xanh lục của những cây tùng thật là đậm, cành lá ngă theo gió triều, trông khéo léo như có bàn tay người bẻ chúng lại, sửa sang thành h́nh thù tự nhiên. Cái đẹp của Matsushima là cái đẹp tươi thắm của một trang mỹ nhân[82] lại được trang điểm thêm. Địa h́nh như thế này có phải là công tŕnh của Ôyamatsumi no kami[83], vị thần sơn nhạc thời chư thần xa xưa, đă kiến tạo nên chăng? Cái linh diệu của thiên nhiên hùng vĩ mà các vị xây đắp[84], hỏi thử hội họa và văn chương của loài người thể hiện được đến đâu? Có thể nói là chúng ta hoàn toàn bất lực!.  

Lời B́nh: 

Cảnh Matsushima mà Bashô mô tả ở đây có thể xem như một đoạn văn hay của Oku no hosomichi, ngang tầm với đoạn ông mô tả đầm Kisagata. 

Nhân cách hóa để so sánh những ḥn đảo như người sống và thổi vào dó ngọn gió triều, Bashô đă làm toàn cảnh sống lại một cách linh hoạt. 

Để tăng hiệu quả, ông cũng đă đem cổ điển Trung Quốc vào đó so sánh. Hồ Động Đ́nh nằm ở phía bắc tỉnh Hồ Nam bên hồ có lầu Nhạc Dương, nổi tiếng qua thơ Đỗ Phủ.Tây Hồ nằm ở phía tây Hàng Châu tỉnh Chiết Giang được biết với Tô Đông Pha. Tỉnh này có con sông Tiền Đường rất rộng, mức độ nước biển lúc triều lên triều xuống khác nhau xa. Lúc triều lên, nước biển ào ào đổ ngược vào sông là một quang cảnh hùng vĩ, thấy trong thơ Lạc Tân Vương. 

 

Đoạn 27: Matsushima, băi đá Ojima (Matsushima, Ojima ga iso松島:雄島が磯) 

Băi đá đảo Ojima là chỗ lục địa đâm ra biển và đột ngột ngoi lên. Trên đảo hăy c̣n di tích tọa thiền đường của tăng Ungo (Vân Cư)[85] và tọa thiền thạch tức ḥn đá ông ngồi tham thiền.   

Hơn nữa, dưới bóng rừng tùng ta c̣n thấy thấp thoáng h́nh dáng nhiều kẻ xa rời thế tục, không muốn giao du với người đời. Từ những túp lều mái rạ của họ, khói đốt lúa mót và quả tùng khô thổi cơm bay lên. Nói chung, dù không biết là ai nhưng cuộc sống của họ thật thanh tĩnh làm ta xúc cảm và muốn đứng lại ghé mắt nh́n xem. 

Nh́n chẳng được bao lâu th́ thấy trăng đă mọc và soi bóng trên mặt biển, so với cảnh tượng ngắm lúc ban ngày, nó cũng có một thi vị khác. 

Ta trở lại bờ biển Matsushima và kiếm chỗ trọ. Chỗ kiếm được là căn gác hai của một ngôi nhà cửa sổ mở nh́n thẳng ra khơi. Từ đó có thể nh́n toàn bộ phong cảnh ban đêm của Matsushima.Lúc ấy ta cảm thấy tràn trề một cảm giác thần bí của người trên bước đường du lịch được yên nghỉ trong sự che chở của thiên nhiên[86].  

松島や鶴に身を借れほととぎす 

Matsushima ya,
Tsuru ni mi wo kare
Hototogisu 

Cuốc ơi, xin nhớ nhé,
Đến Matsushima,
Hăy mượn thân chim hạc
[87] 

Sora đă vịnh bài thơ nói trên, c̣n ta th́ quá xúc động trước phong cảnh Matsushima nên không viết thành câu. Lại định nằm xuống dỗ giấc ngủ nhưng không chợp mắt được. Khi ta rời Am Bashô ở Edo, người bạn thân là Yamaguchi Sodô[88] có biếu bài thơ chữ Hán nói về Matsushima thay quà tiễn biệt. Ngoài ra Hara Anteki[89] cũng tặng một bài waka chủ đề cây tùng ở Urashima. Trằn trọc không sao ngủ, ta mới mở túi xách đi đường của nhà tu (zudabukuro = đầu đà đại) lấy chúng ra xem để làm bạn trong đêm.Túi ấy c̣n đựng cả mấy câu hokku của hai người học tṛ ta là Sampuu và Jokushi[90] (Trọc Tử) nữa.   

Lời B́nh: 

Tuy Matsushima là nơi có dấu tích tọa nhiền của nhà sư Ungo (Vân Cư) nhưng cái lôi cuốn Bashô hơn cả là cuộc sống ẩn dật của những kẻ lánh đời cất am trên đó. 

Khi đêm đến, con trăng leo lên bầu trời. Ấy là con trăng làm bạn với người lữ khách, con trăng của Matsushima, nó đă ám ảnh ông tự buổi lên đuờng (xem đoạn mào đầu).

Bashô bảo phong cảnh thật tuyệt nên không nói nên lời thành thử Sora đă thay ông làm việc đó. Lại có giai thoại câu thơ “Matsushima ya, a a Matsushima ya, Matsushima ya” (Ôi Matsushima, chao ôi Matsushima, ôi Matsushima) để nói lên sự bất lực của nhà thơ khi muốn diễn tả phong cảnh chốn này nhưng thực ra nó chỉ là một ngụy tạo của người đời sau với mục đích quảng cáo du lịch. Có lẽ v́ trong tác phẩm Zanzoshi (Tam sách tử)  của các học tṛ ông cho biết: “Tôn sư quá xúc động khi đứng trước Matsushima, người không có lấy một lời!” mới làm cho người ta có định kiến như vậy. Trên thực tế, ở một nơi khác, Bashô đă có một bài haiku về Matsushima: 

島々やちじに砕けて夏の海 

Shima-jima ya
Chiji ni kudakete
Natsu no umi 

Đảo đảo, trùng điệp đảo
Như biển của mùa hè
Vỡ bắn trăm ngàn mảnh.
 

 

Đoạn 28: Matsushima, chùa Zuiganji (Matsushima, Zuiganji松島:瑞巌寺). 

Ngày 11 tháng 5 (27 tháng 6 dương lịch), chúng tôi đến chiêm bái Zuiganji (Thụy Nham Tưụ, tông Lâm Tế), ngôi chùa thờ phượng hương hồn gia đ́nh Date. 

Chùa này từ lúc xây lên tính đến nay đă dược 32 đời. Lúc đó, nhà tu tục danh là Makabe no Heishirô[91] sau khi xuất gia đă sang bêng Trung Quốc, đến lúc trở về mới lập nên cảnh chùa. Tới đời thiền sư Ungo (Vân Cư, xem lại đoạn trước), nhờ sự tận tâm tận lực của ông mà toàn thể ngôi chùa được trùng tu. Những bức tường màu vàng (kim bích) và trang sức lộng lẫy bên trong (thất đường) của ngôi đại già lam lấp la lấp lánh, làm tưởng chừng cơi cực lạc tịnh độ hiện đang ra ở thế giới này. 

Thế nhưng ḷng ta cứ thắc mắc không biết ngôi chùa có ngài Kenbutsu Shônin[92] (Kiến Phật thượng nhân) kia nằm ở đâu nhỉ?[93] 

Lời B́nh: 

Đoạn văn này hơi tầm thường v́ nó giống như một trang quảng cáo cho chùa Zuiganji. Có thể xem nó như đóng vai tṛ kéo màn sau khi đă tŕnh bày phong cảnh tuyệt vời của Matsushima.  

Người tên Kenbutsu Shônin là một nhà tu đă sống và truyền giáo rất lâu ở Matsushima vào đầu thời Kamakura. Ông là một vị cao tăng mà Saigyô rất kính trọng. Dĩ nhiên với tư cách một người kính mến Saigyô, Bashô phải quan tâm đến ông.  

Thế nhưng, theo nhật kư tùy tùng của Sora th́ Bashô đă đến viếng Zuiganji vào ngày mồng 9 chứ không phải 11. Ngày 9, sau khi từ Shiogama đến Matsushima, vừa nhấp xong một chung trà, Bashô đă đến ngay Zuiganji thăm viếng. Tiếp đó, ông đă lên đảo Ojima xem phong cảnh rồi về Matsushima qua đêm. Thay đổi trật tự giữa 3 đoạn từ cái “động” của Matsushima sang cái “tĩnh” của Ojima và Zuiganji là tất cả sự khéo léo trong nghệ thuật của nhà thơ Bashô, chứ không phải do một sự lầm lẫn của trí nhớ và cũng không phải một chi tiết hoàn toàn hư cấu.

Như biển của mùa hè, Vỡ bắn trăm ngàn mảnh 

 

Đoạn 29: Ishinomaki (Ishinomaki石巻), bến cảng phồn vinh. 

Vào ngày 12 tháng 5, chúng tôi rời Matsushima nhắm hướng Hiraizumi. Từng biết có những thắng cảnh như Cây tùng Aneha (thị trấn Kurihara tỉnh Miyagi) và Chiếc cầu Odae (thị trấn Furukawa) là những “gối thơ” gần đấy, chúng tôi đă mượn một con đường vắng vẻ chỉ có thợ săn và tiều phu lui tới để t́m đến. Thế nhưng chẳng bao lâu hoàn toàn bị mất hướng và lựa nhầm một con đường khác, nhờ đó t́nh cờ đến được một bến cảng tên gọi Ishinomaki. 

Kinkazan[94], ḥn đảo mà thơ phú ngày xưa ca tụng nơi ấy hoa nở thành vàng hiện ra lờ mờ ở ngoài khơi. Năm Tenpyô 21 (749), người ở đấy đă đem vàng (từ các mỏ vàng) sản xuất ở đấy dâng lên triều đ́nh. V́ trong thơ Ôtomo no Yakamochi có câu “Kogane hana saki” (Hoa nở thành vàng) nên mới có địa danh ấy. 

Trong ḷng vịnh Ishinomaki, hàng trăm chiếc thuyền chở hàng đang neo, c̣n trên băi biển bao nhiêu ngôi nhà mọc san sát bên nhau, từ đó những đợt khỏi thổi cơm bay lên không ngớt. Không hề mơ tưởng đến được một thị trấn như thế này nên chúng tôi rất xúc động!  

Đi kiếm chỗ trọ nhưng chẳng ai cho qua đêm. Cuối cùng chúng tôi đành phải chờ trời sáng trong một túp lều hoang. Ngày hôm sau chúng tôi tiếp tục cuộc hành tŕnh trên một tuyến đường ḿnh hoàn toàn xa lạ. Nh́n hướng Bến đ̣ Sode (nay là xóm Kitamachi của Ishinomaki), Cánh đồng thả ngựa Obuchi (nay là cảng của Ishinomaki) và Đồng cỏ tranh Mano (khu Mano của Ishinomaki) đằng xa, chúng tôi đi dọc theo con đê dài ngút mắt bên bờ sông Kitagami. 

Sau đó ḷng đầy lo lắng, chúng tôi đi men một cái chuôm dài để cuối cùng nhận ra nơi tên gọi Toima (xóm Toyoma thị trấn Tome). Sau khi ngủ lại một tối ở đây, chúng tôi mới lên đường đến được Hiraizumi. Đoàn chúng tôi hẳn đă vượt đến trên hai mươi “ri”(khoảng 80km).  

Lời B́nh: 

Bashô cho biết đoạn đường từ Matsushima đến Hiraizumi không dễ dàng chút nào cho hai thầy tṛ. Nó đầy những “gối thơ” mà hai người lại không rơ đường đất nên cực kỳ khổ sở. Giữa đường, sự t́nh cờ xui khiến, ghé được một thị trấn chuyên buôn bán cá sầm uất gọi là Ishinomaki và họ không khỏi ngạc nhiên. 

Bảo Kinkazan (Kim Hoa Sơn) sản xuất vàng th́ không đúng, lỗi của người đời sau truyền lại sai. Thực ra nơi ấy nằm bên cạnh đền thần đạo Koganeyama (Hoàng Kim Sơn) ở xóm Wakuya quận Tôda. 

Lại nữa, không như Bashô viết, từ Ishinomaki người ta không thể nào nh́n thấy Kinkazan dù là từ xa. Một là ông nhầm với một ngọn núi khác bao quanh vùng, hai là ông muốn nhân đó, đưa sự tích bài thơ của Ôtomo Yakamochi về việc xưa kia người vùng Đông Bắc dâng vàng cho triều đ́nh, thấy trong Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập).  

Bashô bảo không ai cho ngủ qua đêm, thiếu thông tin, c̣n đi nhầm đường vv...nhưng trên thực tế, không hề có chuyện thiếu chuẩn bị đến như thế và người địa phương c̣n rất tốt bụng. Tuy có chuyện giữa đoạn đường đến Ishinomaki, ông ghé nhà dân xin nước uống và bị từ chối (nhật kư Sora cũng chép chuyện này) nhưng lại có chuyện một nguời samurai đứng tuổi tên là Imai Genta Zaemon cho nước nóng và cả hai đă qua đêm ở một nhà trọ tươm tất thay v́ một túp lều hoang. Sáng hôm sau chủ nhà trọ lại tiễn chân thầy tṛ thêm một thôi đường. 

Bashô xem việc thầy tṛ ông đặt chân lên Ishinomaki là một sự t́nh cờ nhưng đó chỉ là thâm ư trong lối hành văn. Thực ra, đi với một người tùy tùng vốn am hiểu đường đất như Sora, đó là việc không thể có. 

Dù sao, Bashô có vẻ cố ư xóa đi dấu vết những chi tiết tốt đẹp của Ishinomaki. Tại sao? Giữa hai đỉnh cao của tác phẩm là Matsushima và Hiraizumi, ông không muốn “nói tốt” và “nói nhiều” cho địa điểm trung gian là Ishinomaki. Làm như thế, Matsushima và Hiraizumi sẽ bị ch́m đi. Có thể đây là nét đặc biệt trong cách cấu tứ và dàn dựng của Bashô. 

Tuy không được nói đến nhiều, Ishinomaki cũng có công dụng của nó. Như trong tuồng Nô, có những tuồng Waki-Nô mà vai phụ (waki) lại đóng vai tṛ quan trọng hơn vai chính.Ví dụ tuồng Funa Benkei 船弁慶 (Benkei trên thuyền) th́ người hầu cận của Yoshitsune là Benkei đóng vai chính chứ không phải ông. 

Về những gối thơ, xin lần lượt giới thiệu: 

Aneha no matsu (Cây tùng Aneha) là “gối thơ” liên hệ đến đoạn thứ 14 trong truyện thơ Ise Monogatari. Ane c̣n có nghĩa lả “người chị”: 

栗原の姉歯の松の人ならば都のつとにいざと言わましを 

Kurihara no
Aneha no matsu no
Hitonaraba
Miyako no tsuto ni
Izato iwamashi o 

Cây tùng Aneha
Đồng Kurihara
Nếu biết đi như người,
Sẽ dắt theo ta cùng
Về đến tận kinh đô. 

Odae no hashi (Cầu Odae) đă tạo nên nguồn cảm hứng cho một bài thơ t́nh trong Goshuui Wakashuu (Hậu thập di Ḥa ca tập). Theo tự dạng, Odae 緒絶là “đứt dây” hay “tuyệt mệnh”. 

みちのくの緒絶の橋やこれならむ踏みみ踏まずみ心惑わす 

Michinoku no
Odae no hashi no
Hashi ya kore naramu (naran)
Fumi mi fumazu mi
Kokoro madowasu 

Cầu tên Odae
Vùng Michinoku
Cầu đứt dây, tuyệt mệnh
Nên bước qua hay không,
Ḷng c̣n đang do dự. 

Sode no watari (Bến đ̣ Sode) cũng là nguồn cảm hứng cho một bài thơ t́nh khác trong Shin-Goshuui Wakashuu (Tân-Hậu thập di Ḥa ca tập). Sode có nghĩa là “ống tay áo” thường để chấm nước mắt: 

みちのくの袖の渡りの涙川心の中に流れてぞすむ 

.Michinoku no
Sode no watari no
Namidagawa
Kokoro no uchi ni
Nagarete zo sumu 

Bến đ̣ tên Sode
Vùng Michinoku
Đưa qua sông nước mắt
Đang chảy trong ḷng ta,
Lặng lẽ không thành tiếng. 

Obuchi no maki (Đồng cỏ thả ngựa Obuchi) liên quan đến một bài tạp thi trong Gosen Wakashuu (Hậu tuyển Ḥa ca tập). Theo tự dạng chữ Hán, o là “cái đuôi”: 

みちのくの尾ぶちの駒も野飼うには荒れこそまされなつくものかは 

Michinoku no
Obuchi no koma mo
Nogau ni wa
Are koso masare
Natsuku mono ka wa 

Thả ngựa con cho ăn,
Trên đồng Obuchi,
Vùng Michinoku,
Theo đuôi, chúng hoang dại,
Đâu biết nhớ hơi nguời. 

Mano no kayahara (Đồng cỏ tranh Mano) đă gợi nên tứ thơ cho một bài trong Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập, quyển 3) như sau: 

みちのくの真野の萱原遠けどもおもかげにして見湯ゆというものを 

Michinoku no
Mano no kayahara
Tôkedomo
Omokage ni shite
Miyu to iu mono wo 

Đồng cỏ tranh Mano
Vùng Michinoku
Khiến ta mơ h́nh bóng.
Nhưng nay em bên cạnh
Việc ǵ phải ngóng xa. 

Kinkazan (Kim Hoa Sơn) liên quan đến một bài thơ trong Man.yôshuu, chương 18. Đây là bài thơ chúc mừng Thiên Hoàng nặng tính chất cung đ́nh của Ôtomo Yakamochi, được biết như nhà biên tập thi tuyển ấy: 

すめろきの御代栄えむとあづまなるみちのく山に黄金華咲く 

Sumeroki no
Miyo sakaemu (en) to
Adzuma naru
Michinoku yama ni
Kogane hana saku 

Như điềm lành trời báo,
Thời thịnh trị thánh quân.
Núi non ở miền Đông,
Vùng Michinoku,
Hoa cũng nở hoàng kim.
 

 

Đoạn 30: Tiểu quốc Hiraizumi (Hiraizumi,平泉), dấu tích Takadachi và điện Hikaridô. 

Vinh hoa của ba đời ḍng họ Fujiwara[95] chỉ là một quăng thời gian, tàn đi như giấc chiêm bao[96]. Ngày nay khu vực Hiraizumi trở thành hoang phế, dấu tích của đại môn phủ thành ngày xưa chỉ c̣n cách ta mỗi một “ri” (4 km). Phủ đệ nơi ngài Fujiwara Hidehira (người cha, thời toàn thịnh) từng ở nay trở thành ruộng nương, c̣n lưu lại chăng là h́nh bóng Kinkeizan (Kim Kê Sơn) nghe là ngọn đồi ông cho đắp nên.  

Trước tiên ta lên Takadachi (phủ thành trên cao)[97] nơi ngài Yoshitsune[98] từng cư ngụ, nh́n xuống thấy ḍng Kitakami. Sông này bắt nguồn từ vùng Nanbu (phiên Nanbu và nay là trung tâm thành phố Morioka) và là một đại giang. C̣n sông Koromo th́ chảy quanh phủ thành Izumi, nơi xưa là nơi Izumi no Saburô “Chàng Ba” Tadahira (em trai Yasuhira) đă sống. Dưới chân thành Izumi, ḍng Koromo đi ṿng qua và hợp lưu với ḍng Kitakami ở khoảng phủ thành Takadachi . 

Dấu phủ cũ của “Cậu Hai” Yasuhira và dinh thự cả một họ Fujiwara th́ ở bên kia bờ Koromo, ngăn cách với Kita no seki (cửa quan phía Bắc), được dựng ra như muốn bảo vệ chặt chẽ lối ra phía nam (Nanbu) của nó, pḥng kẻ man di (Ezo) xâm nhập.  

Yoshitsune với những nghĩa binh kiêu dũng do ông tuyển mộ đă bị vây trong thành Takadachi này. Dù chiến đấu một cách anh hùng, tử thủ ở đấy, nhưng rồi công danh của họ cũng tiêu tan như một giấc mơ ngắn ngủi. Ngày nay dấu tích đó đă bị vùi trong đám cỏ mùa hạ mọc tràn lan. Nước mất núi sông c̣n, thành xuân cây cỏ rậm”[99], bồi hồi nhớ lại thơ xưa, ta bèn cởi nón, ngồi xuống nghỉ chân, và cứ thế, nhỏ giọt lệ ngậm ngùi cho tấn bi kịch ấy [100]

夏草や兵どもが夢の跡 

Natsukusa ya
Tsuwamonodomo ga
Yume no ato 

Lớp cỏ dày mùa hạ,
Đă chôn vùi tất cả
Giấc mộng đoàn quân xưa. 

(Sora có thơ): 

卯の花に兼房見ゆる白毛かな 

U no hana ni
Kanefusa miyuru
Shiraga kana 

Trắng một màu hoa “măo”,
Nhớ Kanefusa
[101]
Tóc bạc rối chinh bào.
 

Từ trước, ta đă nghe đồn về sự lộng lẫy hoa lệ của hai ṭa (nhị đường) tức là Kinh Đường và Quang Đường của chùa Chuusonji (Trung Tôn Tự) và không khỏi ngạc nhiên. Nhờ được mở ra cho xem, ta c̣n được biết Kinh Đường (Kyôdô)[102]có đặt tượng của ba đời (tam đại) tướng quân (tam tướng) Fujiwara trấn thủ vùng này, c̣n Quang Đường (Hikaridô) là nơi để quan quách của họ và an vị tượng tam tôn tức A Di Đà Như Lai, Thế Chí Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát.   

Nhưng nay thất bảo dùng để trang trí bên trong điện đường nay phai tàn, châu ngọc trang trí những cánh cửa cũng bị gió mưa hũy hoại,các trụ dát vàng lâu năm nhuốm sương tuyết màu đă phôi pha, thế nào điện cũng sẽ sụp nát giống như g̣ hoang và tất nhiên cỏ dại mọc um tùm. Người ta đă lập nên một điện tạm bao bọc bốn bên (tứ phương) điện cũ, lợp ngói trên mái, che mưa dầm (ngũ nguyệt vũ) và chắn gió bảo vệ cho nó. Không biết chừng nào điện sẽ đổ nát nhưng nhờ phương pháp này mà tạm thời bảo tồn được kỷ vật lịch sử truyền lại tự ngh́n năm (thiên niên).   

五月雨の降り残してや光堂 

Samidare no
Furi nokoshite ya
Hikaridô 

Bao năm, mưa tháng hạ,
Như thương, tránh làm ướt,
Điện Hikaridô 

Lời B́nh: 

Trước đây, khi nói đến Hiraizumi, Bashô đă đặc biệt dùng nó như nơi truy điệu cuộc chiến đấu và bi kịch của thầy tṛ Yoshitsune. Đến đây, ông lái qua chuyện vinh quang và suy vong của ba đời hào tộc Fujiwara mà giấc mộng là muốn ǵn giữ nền độc lập của tiểu quốc xa xôi và trù phú này.  

Mục đích của chuyến di về miền bắc sâu thẳm của Bashô cũng là để chiêu hồn những kẻ đă chết trong tấn bi kịch lịch sử. Đoạn văn này giống như một bài điếu văn Bashô muốn gửi đến họ. 

Kinkazan là ngọn đồi mượn h́nh dáng Fujisan, được xây lên để bảo vệ tiểu quốc. Trên đó có chôn một con gà mái bằng vàng. 

Takadachi (Cao Quán) là ngôi phủ thành trên đồi cao mà Hidehira ban tặng Yoshitsune. Nơi đây Yoshitsune đă tự sát. Nay hăy c̣n có dấu tích Gikeidô (Nghĩa Kinh Đường), điện thờ mang tên ông. “Chàng Ba” Izumi no Saburô là người con thứ ba của Hidehira đă tuân theo lời cha, bảo vệ Yoshitsune đến hơi thở cuối cùng (xin xem lại đoạn nói về đền thần Shiogama). Thành Izumi, nơi ông pḥng thủ, và ḍng sông Koromo lại là sợi giây kết nối nó với thành Takadachi của Yoshitsune cũng như kết nối t́nh chiến hữu giữa hai người. 

Trong đoạn văn, Bashô có ư đặt một tương quan đối nghịch giữa ư chí con người và sự vô t́nh, sức hủy diệt của thiên nhiên. Theo đó th́ con người muốn bảo tồn trong khi thiên nhiên chỉ tàn phá. Con người đă “đặt” tượng, “để” quan quách, “an vị” tượng Phật, “lợp” mái chắn gió che mưa trong khi thiên nhiên làm “phôi pha” màu sắc các trụ đền, làm “phai nhạt” mọi trang trí, làm “sập nát” những bức tường, để cho “cỏ dại mọc tràn lan”... Cuối cùng thiên nhiên đă thắng. 

Trong bài thơ thứ nhất, Bashô cho thấy thiên nhiên rất vô t́nh (cỏ dại mùa hạ xanh tốt ḅ lan trước mắt ông trên cổ chiến trường) trước những tấn kịch đời người, chôn vùi từ giấc mộng tồn sinh của Yoshitsune, giấc mộng giữ ǵn độc lập của hào tộc Fujiwara ở Hiraizumi cho đến giấc mộng công danh của đoàn chiến sĩ. Để ư “tsuwamono domo兵ども” không những dùng để chỉ các samurai mà c̣n để chỉ những nghĩa binh chân đất vác giáo theo hầu họ nữa. 

Bài thơ thứ hai nhắc đến nhân vật Masuo Juurô Kanefusa, một lăo thần của Yoshitsune,  từng dưỡng dục bà Kita no Kata, chính thất của chủ. Sau khi chứng kiến cái chết của vợ chồng chủ quân, Kanefusa đă phóng hỏa ngôi thành và dũng cảm lao vào lửa. Hoa “măo” màu trắng nở đầy trước mắt và rung rinh trong gió đă làm Sora nhớ đến mái tóc bạc rối bời, khăn bịt đầu và áo khoác cũng toàn màu trắng của Kanefusa tỏ rơ quyết tâm phấn đấu trong cuộc chiến cuối cùng. 

Bashô tự hỏi có phải quan quách của ba đời hào tộc Fujiwara (Kiyohira, Motohira, Hidehira) nằm trong điện Hikaridô không bị tiêu hủy với thời gian là nhờ những trận mưa dầm mùa hạ qua mấy trăm năm đă biết tỏ ḷng thương tiếc mà tránh rơi trên mái điện hay không. Để ư đến lối chơi chữ số trong suốt đoạn văn: “nhị đường”, “tam tôn”, “tam tướng”, “ngũ nguyệt vũ”, “tứ điện”, “thất bảo”, “thiên niên” ... được nhắc khéo trong nguyên văn để tăng phần trang trọng khi kể chuyện. 

Kigo 2 bài thơ của Bashô là natsukusa (cỏ mùa hạ) chỉ mùa hạ, samidare (mưa tháng 5) cũng vậy. C̣n kigo bài thơ của Sora là hoa u no hana (hoa “măo”) chỉ mùa hạ.

Mùa thu ở Hiraizumi 

 

Đoạn 31: Cửa quan Shitomae (Shitomae no seki尿前の関). Người ngựa chung nhà. 

Nh́n con đường dài dằng dặc đưa lên miền bắc về hướng Nanbu, chúng tôi bèn đổi hướng về phía Tây Nam và đêm đó ngủ lại Iwate no Sato (Iwatayama thuộc thị trấn Ôsaki tỉnh Miyagi).Từ nơi đó, sau khi qua những địa điểm như Ogurozaki, Mizu no Kojima, chúng tôi đến được suối nước nóng Narugo.  

Từ suối nước nóng Narugo, qua trạm gác Shitomae rồi, chúng tôi định vượt núi để vào đất Dewa (tỉnh Yamagata và Akita). 

Con đường vượt núi này hầu như chẳng có bộ hành nào đi cho nên người gác cửa quan dọ hỏi rất kỹ pḥng kẻ gian, măi mới cho phép chúng tôi đi tiếp. 

Trên đường, khi đang lên một ngọn núi lớn th́ mặt trời sắp lặn, chúng tôi t́m được nhà ông thôn trưởng có nhiệm vụ canh pḥng biên giới hai vùng và xin ngủ đỡ một đêm. Thế nhưng v́ mưa to gió lớn vẫn kéo dài, chúng tôi đành bó gối chèo queo trong núi này suốt ba hôm. 

のみ虱馬の尿する枕もと 

Nomi shirami
Uma no bari suru
Makura moto 

Chấy rận có đủ cả,
Thêm ngựa đái xè xè,
Trên đầu nằm lữ khách.

Chúng tôi định vượt núi để vào đất Dewa 

Lời B́nh: 

Rời khu vực Hiraizumi, thầy tṛ Bashô hướng vế phía Nam để vào tiến vào đất Dewa. Hết nhỏ lệ cho tấn bi kịch của những chiến sĩ thời xưa, nay phải nếm trải gian lao đường đất. Trong ngôi nhà lạnh lẽo giữa núi non, họ bị vây bọc bởi chấy rận và mưa to gió lớn. Nói được sự chuyển tiếp đột ngột giữa hai hoàn cảnh tương phản này là cái xảo diệu của nghệ thuật haikai vậy!  

Truyền thuyết cho rằng vợ cả Yoshitsune đă sinh con ngay trạm gác Shitomae và đứa hài nhi đă đái ở đó cho nên trạm mới có cái hỗn danh như thế (shito = niệu 尿= nước đái). 

Nơi thầy tṛ Bashô ngủ trọ là một gia đ́nh nhà nông. Nông dân thường nuôi súc vật ngay cả trong gian chính. Như thế, người và ngựa sống chung (có khi là để chia sẻ hơi ấm vào mùa đông ở một vùng lạnh lẽo như miền Đông Bắc này). Nếu Bashô có nghe tiếng ngựa đái trong đêm th́ cũng là chuyện b́nh thường. Để ư là nước đái trẻ con gọi là “shito”, nước đái ngựa gọi là “bari”. Bản thủ bút của Bashô viết là “bari suru” (ngựa đái), một động từ, nên xin dể nguyên văn như thế. 

Chuyện “ngựa đái” (shito, bari suru) ở đây cũng có hiệu quả hô ứng với Shitomae (Niệu Tiền), tên trạm gác nơi thầy tṛ đi qua. 

Kigo của bài thơ là nomi (con rận) chỉ mùa hè. 

Ogurozaki nói đến trong đoạn văn được biết như là một mũi đá nổi tiếng v́ ở đó, mùa thu lá đỏ rất đẹp. Mizu no Kojima là một ḥn đảo như hạt đậu (mizu = mỹ đậu) nằm giữa ḍng sông. Về chúng, có bài thơ sau đây trong phần Azumauta (Đông ca) dân dă  của Kokin Wakashuu (Cổ kim Ḥa ca tập): 

小黒崎美豆の小島の人ならば都のつといざと言わましを 

Ogurosaki
Mizu no Kojima no
Hito naraba
Miyako no tsuto ni
Iza to iwamashi wo 

Hỡi ghềnh Oguro
Đảo Mizu xinh đẹp,
Nếu hai ngươi biết đi,
Ta muốn đưa tất cả,
Về biếu khách kinh đô. 

 

Đoạn 32: Chuyến vượt đèo Natagiri (Natagiri-tôge山刀伐峠

Theo lời ông chủ nhà trọ th́ từ nơi đây để vào đất Dewa giữa đường phải vượt một ngọn núi mà lối đi không được vạch rơ ràng, tốt hơn phải có người hướng đạo theo cùng. Ta bèn nhờ người giúp cho th́ được một thanh niên lực lưỡng, hông đeo cây đao to bản, tay nắm gậy gỗ sồi, tiến trước chúng tôi để dẫn đường. Đi sau lưng anh mà ḷng bọn ta cứ nơm nớp không biết hôm nay có sự nguy hiểm nào xảy ra chăng. 

Đúng như lời ông chủ trọ, ở đây núi th́ cao và cây mọc rất dày, không lấy một tiếng chim kêu. Dưới thân cây, cành lá lại mọc đan vào nhau chằng chịt, chúng tôi đi như giữa đêm đen. Trời đất tối tăm giống như cảnh tượng Đỗ Phủ đă nói đến trong câu thơ: “Vân đoan sa hỗn phong xuy há”[103] (Bên trời, gió thổi cát bay xuống). Bao lần đạp lá tre lùn vẹt lối tiến lên, băng qua những ḍng suối, vấp phải đá, toát cả mồ hôi lạnh, không biết làm thế nào mà cuối cùng chúng tôi cũng ra được địa phận Mogami (tức vùng Obanazawa tỉnh Yamagata) 

Người thanh niên hướng đạo bảo: “Đoạn đường này lúc nào cũng xảy ra chuyện rắc rối[104], hôm nay đưa các thầy tới đây b́nh yên vô sự, em thực là mừng!” Nói xong anh vui vẻ quay về. Đă qua hết đoạn đường núi mà c̣n nghe nói như vậy, trống ngực chúng tôi đập th́nh th́nh không thôi. 

Lời B́nh: 

Cái chờ đón Bashô ở đây là ngọn đèo (tôge) hiểm trở, đúng như cái tên của nó: Natagiri (Sơn Đao Phạt) nghĩa là vẹt lối trên núi bằng dao đi rừng. Nhờ có người hướng đạo giỏi giang mà hai thấy tṛ đi qua b́nh yên nhưng qua rồi hăy c̣n toát mồ hôi lạnh. 

 

Đoạn 33: Đến Obanezawa (Obanezawa尾花沢), nghề chăn tằm và nhuộm vải. 

Đến Obanezawa (thị trấn Obanazawa tỉnh Yamagata ngày nay), chúng tôi ghé thăm Seifuu (Thanh Phong), nhà thơ haikai. Ông là một người buôn sỉ hoa benibana (hồng hoa) làm thuốc nhuộm, đồng thời là kẻ có nhân cách thanh cao. V́ công chuyện mua bán, nhiều lần ông đi lại Kyôto và hiểu được tâm t́nh của lữ khách nên đă giữ chúng ta ở chơi nhiều hôm để quên đi nỗi lao khổ đường trường, xử sự rất là chu đáo. Để đền đáp thịnh t́nh của Seifuu, chúng ta bèn có mấy vần sau như lời chào gửi đến chủ nhân: 

涼しさをわが宿にしてねまるなり 

Suzushisa wo
Wa ga yado ni shite
Nemaru nari 

Nhờ ông, hưởng hơi mát
Được ngồi duỗi thẳng chân,
Thong thả tựa nhà ḿnh
 

這い出でよ飼やが下のひきの声 

Haide ide yo
Kaiya ga shita no
Hiki no koe 

Tiếng cóc đâu dưới sàn,
Bóng tối gian nuôi tằm,
Sao không ra chơi với! 

眉掃きを俤にして紅粉の花 

Mayuhaki wo
Omokage ni shite
Beni no hana 

Nh́n hoa nhuộm nở khắp,
Ta nhớ cái bút con,
Người đẹp kẻ lông mày[105].
 

(Sora cũng có câu) 

蚕飼いする人は古代の姿かな 

Kogai suru
Hito wa kodai no
Sugata kana
 

Người chăn tằm hôm nay,
Dáng thấy vẫn đơn sơ,
Tựa người muôn năm cũ.
 

Lời B́nh

Qua khỏi cơn khiếp sợ trên con đường hiểm nghèo, nay thầy tṛ được hưởng cái ung dung thong thả mà người chủ nhà tốt bụng dành cho. Thêm một bằng chứng của sự chuyển tiếp dứt khoát giữa hai cảnh ngộ đối nghịch, thủ pháp của haikai.  

Ở Obanezawa (nay đọc là Obanazawa), Bashô được người bạn thân Seifuu 清風(Thanh Phong), một nhà thơ phái Danrin, ân cần đón tiếp. Ông đă ngừng ở đấy khoảng 10 hôm cho sạch cát bụi đường trường và cũng để tham dự vào một hội thơ do chủ nhân tổ chức. 

Nemaru trong bài thơ đầu là từ ngữ địa phương để chỉ việc ngồi xuống thong thả thoải mái (raku ni suwaru). Bài thứ ba nói về hoa beni để nhuộm màu hồng hoàng trên vải, trên lụa, là lời chào gửi đến Seifuu, người làm nghề buôn sản phẩm này. Bài thứ hai (của Bashô) và bài thứ tư (của Sora) muốn ca tụng công nghệ nuôi tằm của địa phương. Truyền thống nuôi tằm dệt lụa ở Nhật vốn có lâu đời, từng được nói đến trong cuốn cổ sử Nihon Shoki. Nuôi tằm dệt lụa thường đi đôi với nghề nhuộm. Nhật Bản có bước nhảy vọt về kinh tế thời Meiji cũng là nhờ nghề nuôi tằm và dệt. 

Kigo của 4 bài là suzushi (hơi mát), hiki (cóc), benihana (hoa thuốc nhuộm màu hồng hoàng) và kogai (chăn tằm) đều chỉ mùa hạ. Không khí bài thứ 3 gợi nhớ cảnh nông tang mộc mạc từng thấy trong thơ Vạn Diệp đời xưa, gợi được niềm hoài cổ. Hiki là gọi tắt hikigaeru 蟇蛙 (cóc, toad). Tác giả tưởng tượng như một con cóc ấy vẫn nấp dưới sàn làm bạn với người chăn tằm tự bao đời. 

 

Đoạn 34: Chùa Ryuushaku (Ryuushakuji立石寺). Tiếng ve thấm vào thớ đá. 

Trong vùng Yamagata có ngôi chùa núi tên Ryuushakuji (Lập Thạch Tự). H́nh như  đây là nơi xưa ngài Jikaku daishi (Từ Giác đại sư)[106] khai sơn, một chốn thanh nhàn[107] không đâu sánh được. Theo lời khuyên của mọi người, ta ra khỏi Obanezawa và đi ngược về phía trên, nhắm hướng ngôi chùa núi Ryuushakuji. Đoạn đường dài độ bảy “ri” (30 km). V́ hăy c̣n thời giờ trước khi mặt trời khuất bóng, giữ chỗ ở nhà trọ dành cho người chiêm bái ở trong xóm dưới chân núi xong, ta leo lên thăm tăng đường trên đỉnh. 

Địa h́nh nơi đó có những tảng đá lớn xếp chồng lên nhau, qua nhiều năm tháng, tùng và sồi cổ mọc um tùm. Đất và đá đă nhuốm màu rêu phong, mười hai cái điện con xây trên nền đá đều đóng cửa im ĺm, không có lấy một tiếng động. 

Khi th́ đi ṿng theo mặt ghềnh, khi th́ ḅ trên đá, ta tới được chánh điện để chiêm bái. Cảnh sắc chung quanh vô cùng đẹp đẽ và thanh tĩnh làm ta không khỏi ngạc nhiên. Lạ thay, mọi thứ vướng bận ḷng trần đều như giũ sạch.   

静かさや岩に浸み入る蝉の声 

Shizukasa ya
Iwa ni shimiiru
[108]
Semi no koe 

Tịch mịch quạnh hiu sao,
Rền rĩ tiếng ve sầu.
Như thấm vào thớ đá
 

Lời B́nh: 

Sở dĩ Bashô đến thăm Ryushakuji (nay đọc lả Risshakuji) v́ nghe theo lời khuyên của Seifuu.Lên đến trên núi, ông cảm thấy ḷng lắng dịu, cả tiếng ve ran như làm tăng thêm sự thanh tĩnh của nơi đó[109].Chính ra lúc Bashô đặt chân đến chùa này, chỉ mới đầu mùa ve (sơ thiền) nhưng ông đă cường điệu như thế để tăng thêm hiệu quả sự tịch mịch của cảnh vật. 

Jikaku Daishi (Từ Giác đại sư, 794-864) vốn người đầu đời Heian, là một cao tăng phái Tendai (Thiên Thai), pháp danh Ennin 円仁(Viên Nhân). Đệ tử của khai tổ Saichô最澄(Tối Trừng), ông từng đi qua nhà Đường vào thời pháp nạn bên đó và để lại cuốn du kư nổi tiếng “Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành kư”. Đại sư đă tạo nên cơ sở cho sự phồn vinh của Hieizan, ngôi chùa có thực lực chính trị nhất đương thời. Con số chùa ông xây trên toàn quốc rất nhiều. 

Trong phiên bản đầu tiên, Bashô đă viết là shimitsuku (tiếng ve thấm tới đá) nhưng  sau ông sửa thành shimiiru (đi vào trong đá), như khoan cả đá, ngữ khí mạnh hơn. Tuy không phản ánh sự thực nhưng đă tạo nên một không khí nhuốm màu Thiền. 

 

Đoạn 35: Mưa tháng năm. Ḍng Mogami最上川 (Mogamigawa最上川) nước xiết. 

Định xuôi ḍng Mogami (Tối Thượng Xuyên)[110] xuống tận một nơi tên là Ôishida để chơi thuyền, chúng tôi đợi cho trời tạnh. Ở địa phương này, mầm giống của thơ haikai đă được gieo rắc, ngày nay người ta vẫn chưa quên thuở bắt đầu vàng son xưa. Những thú vui mộc mạc địa phương như nghe sáo lau và tù và (lô giác nhất thanh) [111] nhờ có haikai mà thanh nhă hơn lên.    

Người ở đây bảo “Bọn chúng tôi ṃ mẫm măi trên con đường làm thơ haikai nhưng bối rối không biết theo lối mới hay phải giữ lối cũ. V́ thiếu người chỉ dẫn thích đáng nên rất khổ tâm. Xin thầy giúp một lần!”. Thấy họ khẩn khoản, ta không nỡ từ chối, bèn soạn một quyển liên ngâm (renku) để lại. Chẳng ngờ chuyến lữ hành với mục đích tôi luyện thơ ḿnh lại thành ra chuyến đi để chỉ dẫn cách làm thơ cho người khác.  

Ḍng sông Mogami vốn bắt nguồn từ vùng Ôshuu (Áo châu)[112], thượng lưu của nó nằm trong địa phận Yamagata. Ở trung lưu có những ngọn thác kinh hoàng như Goten và Hayabusa (thị trấn Murakami).Sau khi ṿng qua phía bắc ngọn núi Itajiki, cuối cùng Mogami đổ ra biển ở Sakata. 

Hai bên bờ sông, núi đồi như trùm lên và đuổi theo nhau. Thuyền chúng tôi xuôi ḍng giữa những tàng cây xum xuê. Có những con thuyền như thế này ngày xưa chất đầy thóc lúa nên thơ xưa mới có chữ inabune (thuyền lúa, đạo thuyền)   

Ngọn thác Shiraito (Bạch Ti) đổ xuống giữa ngàn lá xanh bờ phía bắc, Sennindô (Tiên Nhân Đường, tức đền thần Tôgawa) cũng được xây hướng về kè sông. Nước sông đầy ắp như lũ, thuyền về xuôi đi rất nhanh, cực kỳ nguy hiểm. 

五月雨をあつめて早し最上川 

Samidare wo
Atsumete hayashi
Mogamigawa 

Mogami chảy mạnh,
Tụ hết mưa mùa hạ,
Ḍng nước lại thêm nhanh.

 

Ḍng nước lại thêm nhanh 

Lời B́nh: 

Trong khi đợi một ngày nắng lên để xuôi ḍng Mogami chơi thuyền, Bashô được người dân địa phương mời chỉ dẫn cho họ về cách làm thơ. Dĩ nhiên ḷng ông rất vui v́ có dịp truyền bá phong cách thơ ḿnh đến tận nơi xa xôi này. 

Con sông Mogami, nếu chỉ nh́n th́ không nói ǵ chứ đi thuyền th́ lại là một chuyện khác.Thường ngày nó đă chảy xiết (một trong “tam đại cấp lưu” của Nhật Bản), nay lại tụ hết nước mưa mùa hạ th́ việc xuôi ḍng sông là nguy hiểm biết chừng nào! Goten (Vây điểm) ư nói đây đó trên ḍng sông có những tảng đá sắp như quân cờ vây (go). Hayabusa là tên một loại chim ưng, ư nói nước chảy nhanh như chim ưng chim cắt bay hay như tên bắn. Chúng là hai trong nhiều địa điểm nguy hiểm trên sông Mogami. 

Sennindô (Tiên Nhân Đường) tức đền thần Tôgawa (Ngoại Xuyên thần xă), nơi thờ phượng Hitachibô Kaison, một gia thần củaYoshitsune. Mới biết ḷng Bashô như không lúc nào quên h́nh ảnh những trung thần nghĩa sĩ.  

Lúc đầu, trong bài thơ, Bashô đă dùng chữ suzushi (mát) nhưng sau ông đă chữa thành hayashi (nhanh) cho hợp với bản chất của sông Mogami. Kigo của bài thơ là sumidare (mưa tháng năm, mưa dầm mùa hạ) chỉ mùa hạ. Atsumete đến từ động từ atsumeru là “gom, tụ họp” nhưng ẩn ư “nóng” (atsui). 

Xin giới thiệu 3 bài thơ xưa liên hệ đến 3 địa danh: 

Về núi Itajiki (Itajikiyama):, trong Fuboku Wakashuu[113] có bài: 

みちのくに近き出羽の板敷の山に年ふる我ぞわびしき 

Michinoku ni
Chikaki Idewa no
Itajiki no
Yama ni toshi furu
Ware zo wabishiki 

Ở xứ Idewa,
Gần Michinoku,
Nơi núi giăng trùng điệp
Già lần theo tuổi tác,
Hỏi ai buồn hơn ta. 

Itajiki (ita- = tấm ván, shiki = lót, trải ra) ám chỉ núi giăng ra trùng điệp. 

Thuyền tải thóc (Inabune) được nói đến trong một bài Azumauta chép ở Kokin Wakashuu: 

最上川のぼればくだる稲舟の稲にはあらずこの月ばかり 

Mogamigawa
Noboreba kudaru
Inabune no
Ina ni wa arazu
Kono tsuki bakari 

Ḍng Mogami nước xiết,
Thuyền thóc phải lùi về.
Đâu v́ ta từ chối,
Gạo tải lên cho ḿnh,
Riêng tháng này hăy đợi. 

Tác giả chơi chữ ở đây v́ ina (thóc lúa) c̣n có nghĩa khác là ina (không nhận). 

Thác Bạch Ti (Shiraito no taki), một trong 18 thác hiểm của ḍng Mogami, liên quan đến bài thơ sau đây ghi lại trong Fuboku Wakashuu:  

最上川滝の白糸くる人のここによらぬはあらじとぞ思う 

Mogamigawa
Taki no shiraito
Kuru hito no
Koko ni yoranu wa
Araji to zo omou
 

Shiraito cao,
Thác như tơ cuộn trắng.
Ai người đi qua đây
Mà không dừng bước lại,
Khi ḷng đă vương tơ.  

 

Đoạn 36: Dewa tam sơn: ngọn Haguroyama (Dewa sanzan, Haguroyama (出羽三山:羽黒山

Ngày 3 tháng 6 (19 tháng 7 âm lịch) chúng tôi trèo lên ngọn Haguro. Khi đến thăm Zushi Sakichi (bút hiệu haikai là Rogan tức Lă Hoàn), qua lời giới thiệu của anh, được gặp người giữ đền Haguro Gongen (tức đền thần đạo Dewa) là Egaku Ajari. Thầy Egaku cho chúng ta trú tại biệt viện Minamidani (Nam Cốc), tiếp đăi chúng ta nồng hậu, chân t́nh. 

Qua hôm sau, mùng 4, thầy tổ chức một buổi hội thơ liên ngâm (renku) khu tăng pḥng chính ngay nơi thầy ở. Vào dịp này, ta đóng góp một câu hokku (thơ mào đầu) như sau: 

ありがたや雪をかおらす南谷 

Arigata ya
Yuki wo kaorazu
Minamidani 

Viện Nam, trong lũng sâu,
Thanh tĩnh, quí làm sao,
Gió hè hương tuyết đượm[114]

Đến ngày mùng năm chúng tôi chiêm bái đền Haguro Gongen. Vị tổ sư đă khai sơn ngọn Haguro là ngài Nôjo Daishi (Năng Dư đại sư, tức Hachiko no Miko, hoàng tử con thứ ba của thiên hoàng Sushun), không rơ là người thuộc thời đại nào[115]. Quyển sách ghi chép pháp lệnh cách thức đời Heian tên là Engishiki (延喜式Diên Hỷ thức) có nhắc đến đền thần Ushuu Satoyama 羽洲里山 (Vũ châu Lư sơn),và có lẽ đă nhầm khi viết chữ Hắc thành chữ Lư. Hoặc họ đă lược bớt mất chữ Châu nên chỉ c̣n lại Vũ Hắc Sơn羽黒山! Nhân đây nói thêm là theo sách Fudoki (風土記Phong Thổ Kư), tên đất Dewa 出羽Xuất Vũđến từ việc người vùng này dùng lông chim như là hiện vật để đem cống cho triều đ́nh. 

Ngọn Haguroyama họp với Gassan và Yudonoyama thành ra tam sơn của đất Dewa. C̣n đền Haguro Gongen này th́ phụ thuộc vào chùa Tô-Hieizan Kaneiji (Đông Tỉ Duệ Sơn Khoan Vĩnh Tự)[116]

Lời giáo huấn về sự giác ngộ của tông Thiên Thai (Thiên Thai chỉ quán) trong trẻo như ánh trăng vằng vặc. Giống những ngọn đèn được trăng kia góp thêm ánh sáng, chư Phật pháp khi được đất này chiếu rọi đều trở thành viên măn (viên đốn dung thông). Khu nhà dành cho khách hành hương ở được dựng san sát bên nhau là một sự khuyến khích đối với họ. Lợi ích của chốn linh sơn linh địa này thực cao vời. Đứng trước nó, người ta vừa tôn quí vừa kính sợ. Ta nghĩ cảnh phốn vinh của ba ngọn núi thiêng đất Dewa sẽ măi măi bất diệt. Có thể nói là một cảnh núi thiêng không nơi đâu hơn. 

Lời B́nh: 

Zushi Sakichi là môn sinh của Bashô, biệt hiệu Rogan (Lă Hoàn, có nơi viết Lộ Hoàn), vốn làm nghề thợ nhuộm.  

Bashô đă dẫn các sách cổ như Engishiki và Fudoki nhưng khi tra cứu, người ta không t́m ra các chi tiết ông đă nêu trong đó. Có lẽ ông nhớ nhầm hay người ta đă truyền lại cho ông một cách không chính xác. 

Về tên ba ḥn núi, có ngọn đọc là yama (Haguroyama, Yudonoyama), có ngọn đọc là san (Gassan) không thống nhất. Trong haikai, người ta thường đọc là yama uyển chuyển hơn nhưng cả ba ngọn núi, trên thực tế, đều được đọc là san. 

Nhân đây xin cho biết là Haguroyama chỉ cao 410m. Hai quả núi kia lớn hơn (Gassan 1984m và Yudonoyama 1500m). Do đó, trong văn bản, Basho mới nói rằng ông từ Gassan đi xuống Yudonoyama. 

Bashô đáp lễ Egaku Ajari một cách nồng nhiệt. Lời văn tán tụng quá mức nhưng chúng ta hiểu phải cho ông v́ vào thời ấy, sự kết hợp Thần đạo và Phật giáo c̣n rất chặt chẽ và là yếu tố an định tâm linh và xă hội Nhật Bản, không như từ Meiji về sau khi nhà nước cổ vơ phong trào bài báng Phật giáo và nâng cao Thần đạo cho mục đích chính trị. 

Minamidani là một biệt viện nằm sâu trong núi nên có thể là nơi tuyết tàn c̣n đọng dù đă sang hè. Kigo của bài thơ là kaze kaoru (gió mát đưa hương tuyết) chỉ mùa hè. 

 

Đoạn 37: Dewa tam sơn: Gassan và Yudonoyama (Gatsan, Yudonoyama 出羽三山:月山、湯殿山) 

Mùng 8 tháng 6, chúng tôi lên ngọn Gassan. Quấn trên cổ chiếc ṿng bằng vỏ cây dâu làm giấy (kôzo = paper mulberry) làm vật trừ tà, đầu bịt khăn hôkan (khăn của nhà tu bằng vải trắng), nhờ một anh hướng đạo tên Gôriki (Cường Lực) dẫn đường, cả đoàn nhắm đỉnh núi tiến lên. V́ mây che sương phủ nên chúng tôi phải đạp lên băng tuyết đi mất hơn 8 “ri” (30 km). Càng đi càng thấy nơi đây giống cái ải mây được đặt ra kiểm soát đường qua lại của mặt trời mặt trăng. Hơi thở như muốn đứt, thân thể lạnh cóng, măi mới đến được tới đỉnh. Mặt trời lặn dần và vầng trăng nhú lên.Trong túp lều của người leo núi, chúng tôi trải lá tre lùn làm giường và gộp mấy ông trúc thay gối nằm tạm, chờ cho ngày rạng sáng. Rốt cuộc, mặt trời lên cao, mây tan đi, chúng tôi xuống phía ngọn Yudono bên cạnh.  

Dọc đường, ở một góc núi thấy có một mái nhà nhỏ mang tên Tajikoya (Lều thợ rèn). Nhớ xưa, đất Dewa này có nguời thợ rèn tên gọi Gassan v́ muốn kiếm nước thiêng nên đă lần ṃ đến đây, dùng nó tẩy uế tâm hồn và thân thể để rèn đao kiếm quí .Rốt cuộc người đó đă đúc được thanh bảo kiếm Gassan (Nguyệt Sơn), được đời khen ngợi. Nó làm ta nhớ lại truyện bên Trung Quốc thời cổ, có cặp vợ chồng người đúc kiếm lao khổ dùng nước thiêng ở suối Long Tuyền để làm ra hai thanh Can Tương và Mạc Da[117]. Ḷng ta càng thêm thấm thía sự nỗ lực của con người trên con đường phát triển nghệ thuật.   

Vừa ngồi xuống tảng đá để nghỉ ngơi đôi chút, mắt ta chợt thấy có một cây anh đào nhỏ, cao không hơn 3 “shaku” (1m), hoa đang hé nụ nửa chừng. Dù chôn vùi trong tuyết giá giữa chốn thâm sơn này mà cây anh đào muộn (osozakura) này vẫn bền bĩ làm sao, quyết ra hoa mỗi độ xuân về. Trong ngôn ngữ nhà Thiền có câu “viêm thiên mai hoa” nghĩa là hoa mơ nở thêm giữa mùa hè[118]. Cây anh đào đang nở hoa và tỏa hương trước mắt ta thật có khác chi. 

Ta lại nhớ tâm t́nh của vị cao tăng là ngài Gyôson Sôjô (Hành Tôn tăng chính)[119] vào cuối đời Heian khi bất ngờ bắt gặp cây anh đào ra hoa trên ngọn Ômine (chốn linh địa của các du tăng, thuộc tỉnh Nara) đă có thơ vịnh về nó[120]. Nhân thế mà ta thấy những đóa anh đào đang hé nụ trước mặt ḿnh càng đẹp thêm gấp bội.  

Ta không rơ chuyện trong núi Yudonoyama bởi v́ qui luật của tăng du hành là kín tiếng, kín miệng. Xin dừng bút ở đây, không viết thêm ǵ về nó nữa. 

Thế rồi, khi về đến nhà trọ ở Minamidani, thể theo lời yêu cầu của thầy Egaku, ta có viết mấy bài thơ ngắn nói lên cảm tưởng cuộc thăm viếng tam sơn: 

涼しさやほの三日月の羽黒やま 

Suzushisa ya
Hono mikadzuki no
Haguroyama 

Ôi mát mẻ làm sao,
Trăng liềm buông ánh nhạt,
Trên núi Haguro. 

雲の峰いくつ崩れて月の山 

Kumo no mine
Ikutsu kudzurete
Tsuki no yama 

Mây mùa hạ dần tan,
Ánh trăng liềm tỏa nhẹ,
Làm lộ đỉnh Gassan. 

語られぬ湯殿にぬらず袂かな 

Takararenu
Yudono ni nurasu
Tamoto kana 

Được tắm trong huyền bí
Trên núi Yudono,
Lệ cảm đầm tay áo. 

(Sora có thơ): 

湯殿山銭踏む道の涙かな 

Yudono yama
Zeni fumu michi no
Namida kana 

Tiền rơi không người nhặt[121],
Đường lên Yudono,
Cảm động lệ tuôn rắc.  

Lời B́nh: 

Sau khi chiêm bái núi Haguro, Bashô tiếp tục lên Gassan - ngọn cao nhất - và sau cùng đi xuống phía Yudono. Ông như được tắm gội trong bầu không khí linh thiêng và mát mẻ của cả khu vực. Lúc nghỉ chân, ông nhớ lại chuyện người đúc kiếm báu thời xưa và vị tăng vân du gặp cây hoa anh đào nở muộn. Bài thơ ấy cũng đă được tuyển vào phần tạp thi của Kinyô Wakashuu (Kim ḥe Ḥa ca tập) và trong Hyakunin Isshu (Bách nhân nhất thủ). 

Ba bài thơ của Bashô dùng nhiều kakekotoba (chữ đồng âm dị nghĩa). Chẳng hạn mikadzuki (trăng mồng ba, trăng liềm) th́ chữ mi không có nghĩa là “ba” mà c̣n có nghĩa là “thấy” (miyuru, tiếng hiện đại là mieru). Haguro (Vũ Hắc) là tên núi c̣n có nghĩa là đen (kuro). Ông cũng sử dụng kỹ thuật engo (chữ gợi liên tưởng) như ghép Yudono (tên núi, buồng tắm) với nurasu (làm ướt), tamoto (tay áo). Tuy nhiên về nội dung th́ chính thơ Sora mới sâu sắc. Trên đường lên Yudono, việc khách thập phương dẫm chân lên tiền bỏ rơi hay tiền cúng có nghĩa là họ muốn chứng tỏ ḿnh dẹp được bỏ ḷng tham kim ngân vật dục, c̣n lệ là giọt lệ cảm kích trước phong cảnh linh thiêng. 

Suzushi (mát) trong bài thứ nhất, kumo no mine (đỉnh mây) bài thứ hai, Yudono mode (cuộc hành hương núi Yudono) bài thứ ba và thứ tư đều là những kigo dành cho mùa hạ. Hơn nữa, Yudono (Thang điện) không những là tên núi mà c̣n có nghĩa là “buồng tắm”.

Thi tăng Gyôson và bài thơ về cây anh đào núi của ông 

 

Đoạn 38: Tsurugaoka, Sakata. Chiều mát rượi trên phố biển (Tsurugaoka, Sakata鶴ケ岡、坂田

Lên đường từ núi Haguro, chúng tôi tiến về khu phố chợ dưới chân thành Tsurugaoka, được người vũ sĩ của phiên Shônai là Nagayama Juukô[122](Trường Sơn Trọng Hành) tiếp đón. Ta đă soạn một quyển liên ngâm (renku) ở phủ của ông. Anh Zushi Sakichi (nhân vật nói đến trong đoạn 35) cũng đă đến tận đây tiễn chân chúng tôi. 

Từ Tsurugaoka, lấy thuyền theo đường sông ra đến cảng Sakata. Ở Sakata, chúng tôi tạm trú tại nhà một y sư tên En.an Fugyoku (Uyên Am Bất Ngọc). 

あつみ山や吹浦かけて夕涼み 

Atsumi yama ya
Fukuura kakete
Yuu suzumi 

Từ núi Atsumi
Đến suốt băi Fuku
Buổi chiều trời mát rượi 

暑き日を海に入れたり最上川 

Atsuki hi wo,
Umi ni iretari
Mogamigawa 

Mogami đem theo
Oi bức một ngày hè
Trút tất cả vào biển.
 

Lời B́nh: 

Thành phố Tsurugaoka là khu phố chợ của thực ấp được phong cho họ Sakai (lộc 14 vạn thạch thóc). Sau khi hoàn thành quyển liên ngâm 36 đoạn (kasen renku) ở phủ đệ phiên sĩ đất Shônai là Nagayama Juukô, thầy tṛ Bashô lấy thuyền ra cửa biển Sakata và dừng chân mấy hôm ở nhà viên y sư làm việc ở thị trấn là En.an Fugyoku 淵庵不玉(Uyên Am Bất Ngọc, 1648-1697, tên thật là Itô Genjun伊東玄順). Fugyoku là biệt hiệu làm thơ của ông và ông lại là môn nhân phái Bashô. Ở đây, Bashô có tham dự một hội b́nh thơ. 

Trong bài thơ thứ nhất, Bashô đă chơi chữ. V́ Atsumiyama 温海山(Ôn Hải Sơn) là tên núi nằm ở phía nam Sakata c̣n có nghĩa là nóng (暑いatsui) c̣n Fukuura 吹浦(Xuy Phố) là tên băi biển ở phía bắc thị trấn nhưng c̣n hàm ư là thổi (吹くfuku). Như vậy fuku và suzumi có liên hệ engo (chữ làm liên tưởng) với nhau. Do đó ta có thể tưởng tượng là hôm đó có gió thổi đến, xua cái nóng đi để tác giả cảm thấy hơi mát (suzumi) của mùa hè. 

Kigo của 2 bài thơ là yuu suzumi (hơi mát buổi chiều) và atsuki hi (ngày nóng bức) đều chỉ mùa hè.  

Đến Matsushima, Bashô chỉ làm được một bài thơ nhưng đúng trước ḍng sông Mogami, Bashô làm những hai bài. Cái hùng vĩ của thiên nhiên miền Đông Bắc mà điển h́nh là con sông Mogami đă gây ấn tượng lớn cho con người vùng Kansai (nơi hầu như cái ǵ cũng chật hẹp nhỏ nhắn) là Bashô. 

 

Đoạn 39: Đầm cạn Kisagata (Kisagata象潟). Đảo Nôin và cây buồn ngủ. 

Cho đến nay, ta từng được du ngoạn biết bao nhiêu nơi sơn thanh thủy tú nhưng bây giờ phong cảnh đầm cạn Kisagata (thời nay đọc là Kisakata) lại thôi thúc ḷng ḿnh muốn lên đường.Từ cảng Sakata tiến về phía bắc mất 10 “ri” (40km), ta hết vượt núi lại men theo bờ biển nơi có nhiều đụn cát[123]. Khi ta đến một nơi tên Shiogoshi[124], ngày đă ngả bóng chiều, gió triều mặn bắn tung cát lên và mưa rơi mù như khói giăng, che khuất cả ngọn núi Chôkaisan (Điểu Hải Sơn). Như cho tay ṃ mẫm trong bóng tối, ta thử h́nh dung cảnh sắc đẹp đẽ hiện đang vùi trong cơn mưa và có cái thú lạ là phỏng đoán khi mưa tạnh nó sẽ ra thế nào. Vừa hồi tưởng đến những câu thơ trong bài Tây Hồ [125]của Tô Đông Pha, ta lom khom chui vào căn lều thấp lè tè của một người đánh cá, chờ cho mưa tạnh. 

Ngày hôm sau trời bất chợt hửng nắng, vầng dương lại ló dạng, ta mới lên thuyền ở Kisagata. Trước tiên neo lại, ghé Đảo Nôin, thăm vết tích chốn xưa cao tăng Nôin đă 3 năm sống đời ẩn dật (tam niên u cư), thế rồi qua bờ bên kia, leo lên đất liền, nơi có cây anh đào già (Saigyôzakura) mà cao tăng Saigyô cũng từng ngâm câu “Thuyền ai câu cá, Chèo lướt trên hoa”. 

Bây giờ cây anh đào già ấy hăy c̣n đó như thể lưu lại kỷ niệm của vị cao tăng. Bên bờ nước có một ngôi lăng, người ta bảo đó là mộ Hoàng Hậu Jinguu (Thần Công)[126]. Lại biết thêm tên ngôi chùa ở đó là Kanmanchuji (Can Măn Châu Tự) (nay viết là Hàm Măn Tự)[127]

Cuốn rèm lên và ngồi xuống bồ đoàn để ngắm xem sao th́ phong cảnh cả một vùng Kisagata đă ngập đầy đôi mắt. Phía nam, ngọn Chôkaisan như thể chống trời, bóng của nó in xuống ḍng nước nơi cửa sông, phía tây là một cửa quan hiểm trở chắn ngang tầm mắt, phía đông có xây một con đê nối với tuyến đường đi Akita, phiá bắc đối mặt với biển Nhật Bản. Nơi sóng từ trùng khơi đánh vào là cửa sông mang tên Shiogoshi. Vùng cửa sông ấy ngang dọc mỗi bên rộng độ một “ri” (4km), hao hao như Matsushima vậy. Khác chăng là ta cảm thấy cảnh vật Matsushima sáng sủa tươi cười, trong khi Kisagata lạ như đắm ch́m trong tư lự. Có thể nói thêm là cô quạnh bi ai. Không khỏi liên tưởng đến một trang mỹ nhân đang có nỗi thương tâm! 

象潟や雨に西施がねぶの花 

Kisagata ya
Ame ni Saishi ga
Nebu no hana
[128] 

Đầm Kisagata
Hoa hợp hoan mưa trĩu,
Nặng mặt sầu Tây Thi[129]

汐越や鶴脛ぬれて海涼し 

Shiogoshi ya
Tsuru hagi nurete
Umi suzushi 

Băi Shiogoshi
C̣ nhúng chân nước cạn,
Biển chiều mới mát sao! 

象潟や料理何食う神祭り 

Kisagata ya
Ryôri nani kuu
Kami matsuri

(thơ Sora) 

Ở Kisagata
Gặp ngay mùa lễ hội
Biết nấu ǵ để ăn?
[130] 

蜑の家や戸板を敷きて汐涼み 

Ama no ya ya
To ita wo shikite
Yuu suzumi

(thơ Teiji, nhà buôn đất Mino)[131] 

Nơi nhà người đánh cá,
Cửa gỡ trải ngoài ngơ
Buổi chiều mát biết bao!
[132] 

波超えぬ契りありてみさごの巣 

Nami koenu
Chigiri arite ya
Misago no su

(thơ Sora) 

Tổ cheo leo trên đá,
Nơi sóng không tới nổi.
Tin nhau, cặp tu hú. 

Lời B́nh: 

Vùng đất trũng Kisagata, nhiều đầm cạn và đảo con, đuợc xem như một thắng cảnh phía biển Nhật Bản, ngang ngửa với Matsushima bên phía Thái B́nh Dương. Chờ măi mới có dịp đến Kisagata, ta hiểu tâm trạng của Bashô như thế nào! 

Tăng Saigyô đi nhiều, có lần qua vùng Kisagata và đời truyền tụng ông có vịnh cảnh như sau: 

象潟の桜は波に埋もれて花の上に漕ぐあまの釣り船 

Kisagata no
Sakura wa nami ni
Uzumorete
Hana no ue kogu
Ama no tsuribune 

Những đóa anh đào,
Kisagata
Vùi trong sóng nước,
Thuyền ai câu cá,
Chèo lướt trên hoa. 

Có điều là không thấy bài này trong thi tập của Saigyô. 

Đoạn Bashô nói ông vào “tùp lều của ngựi đánh cá” để tránh mưa, có lẽ đă liên tưởng tới áng thơ xưa của tăng Nôin, người từng sống ở Kisagata mấy trăm năm về trưóc. Bài ấy như sau và đă được tuyển vào Go Shuui Wakashuu (Hậu thập di Ḥa Ca tập) phần Lữ hành.: 

世の中はかくても経けり象潟のあまのとま屋我が宿にして 

Yo no naka wa
Kakute mo hekeri
Kisagata no
Ama no tomaya wo
Wa ga yado ni shite 

Đời thế nào đi nữa,
Cũng phải sống cho qua.
Lều của người đánh cá,
Ở Kisagata
Muốn xin làm chỗ trọ. 

Không nói cũng hiểu, h́nh ảnh người đánh cá (ngư phủ) áo tơi nón lá trong cổ văn là kẻ đi ở ẩn, tuy sống cơ cực nhưng phóng túng, không bị ràng buộc. 

“Vũ quá thiên t́nh”, hết mưa trời lại đẹp, đúng như người ta nói. Ở Kisagata, Bashô sau khi được viếng thăm di tích của Tăng Nôin và Tăng Saigô, Hoàng hậu Jinguu...c̣n có dịp so sánh cái đẹp buồn thương của nơi này với cái đẹp rạng rỡ của Matsushima. Năm 1804, hơn một thế kỷ sau khi Bashô mất, một trận động đất lớn thay đổi bộ mặt của vùng Kisagata: nhiều ngọn đồi con đă mọc lên giữa vùng đất bằng. Dù vậy, đảo Nôin và đảo Hatsushima nơi có chùa Kanmanshuuji hăy c̣n tồn tại.               

Nebu trong bài thơ thứ nhất có lẽ đến từ từ “nemu” tức buồn ngủ (hai âm b/m vốn gần nhau). Cây này lá như lông vũ, hoa màu hồng nhạt nở vào đầu mùa hạ, rất đẹp, so sánh với mỹ nhân cũng đáng. Bài thơ cuối của Sora nói lên t́nh yêu vợ chồng đơn sơ mộc mạc của giống chim tu hú (chữ Hán viết là thư cưu雎鳩), từng được nhắc đến trong Kinh Thi như đôi vợ chồng tương đắc (Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu...). Vùng biển bắc nhiều sóng gió nên chúng phải làm tổ trên đá cao vốn cheo leo, đánh cuộc với sự hiểm nghèo. Nó gợi ta nhớ lới thề chung thủy của đôi trai gái trong bài thơ viết về Sue no Matsuyama. 

Kigo của 4 bài thơ từ nebu no hana (hoa cây lụa, cây hợp hoan, cây buồn ngủ), kami matsuri (lễ tế thần), yuu suzumi (hơi mát buổi chiều), misago no su (tổ chim tu hú) đều liên quan đến mùa hạ.

Hoa nebu (hợp hoan) hay hoa cây buồn ngủ (nemu) 

 

Đoạn 40: Đường về Echigo (Echigoji 越後路 ) 

Chưa cạn hết tâm t́nh với những người bạn thơ ở Sakata, ta hăy c̣n luyến tiếc, nhưng tháng ngày chồng chất, đành phải rời chân. Lại cất bước lữ hành, nhắm hướng bầu trời mây giăng [133] của miền Hokuriku đi tới. Cứ nghĩ đến quăng đường trước mặt c̣n xa mà ḷng nặng trĩu. Nghe nói đến được thị trấn Kanazawa xứ Kaga phải c̣n đi những 130 “ri” (520 km) nữa cơ.  

Nếu vượt cửa quan Nezu (thị trấn Tsurugaoka, tỉnh Yamagata) là đạp được chân lên đất Echigo (tỉnh Niigata). Nhưng trong người phấn chấn, chúng tôi lại đổi hướng, tiến về xứ Etchuu (tỉnh Toyama) rồi mới tới ải Ichiburi (thị trấn Itoigawa tỉnh Niigata, Echigo). Trong suốt 9 hôm hành tŕnh đó, v́ nóng bức và mưa nhiều, ta quá mệt mỏi nên bệnh cũ tái phát, không sao cầm lấy bút ghi được một ḍng. 

文月や六日も常の夜には似ず 

Fumizuki ya
Muika mo tsune no
Yo ni wa nizu 

Tháng bảy tháng mưa Ngâu,
Nên cái đêm mùng sáu,
Cũng thấy khác đêm thường[134].
 

荒海や佐渡に横たう天の河 

Araumi ya
Sado ni yokotau
Amanogawa 

Bên biển gầm sóng dữ,
Giải Ngân Hà bắc ngang,
Đến tận đảo Sado
[135]

 

Lời B́nh: 

Vùng Hokuriku (Bắc Lục) gồm bảy xứ (Wakasa, Echizen, Kaga, Noto, Etchuu, Echigo, Sado) có Hokurikudô (Bắc Lục Đạo) tức tuyến đường chính chạy dọc Biển Nhật Bản, ngày nay vùng này tương ứng với 4 tỉnh Fukui, Ishikawa, Toyama và Niigata. Tuyến đường này c̣n có tên là Echiji (Việt Lộ). 

Bài thơ về giải Ngân Hà có thể xem như một tiếng kêu thống thiết (tuyệt xướng) duy nhất trong Oku no hosomichi, vừa hùng tráng vừa sầu thương. Sado có nhiều mỏ quí kim nên những người phiêu bạt c̣n ra đấy khai mỏ. Sado c̣n nổi tiếng là nơi lưu đày tội đồ, trong đó có những thi nhân, cao tăng, nhà nghệ thuật và danh tướng, kể cả Thiên hoàng nữa. Họ đều là những người sống cuộc đời sôi nổi nhưng thiếu may mắn. Trong đêm Thất Tịch, Bashô như Khiên Ngưu ngóng về Sado, ḥn đảo tượng trưng cho Chức Nữ. Bashô không thể đến đảo Sado được, phải chăng chỉ có giải Ngân Hà lặng lẽ nhưng rộng lớn mới bắc được nhịp cầu cho những người đang chịu cái số ngăn chia! 

Fumigetsu (tháng 7 âm lịch) trong bài thứ nhất và Amanogawa (giải Ngân Hà) trong bài thứ hai đều là kigo của mùa thu. 

 

Đoạn 41: Cửa quan Ichiburi: du nữ, trăng và hoa hagi (市振:遊女と萩と月) 

V́ mệt lă sau khi vượt qua đoạn đường nổi tiếng hiểm trở, nơi cha con mạnh ai nấy đi, chó ngựa đều phải bỏ chủ tháo lui[136], hôm nay chúng tôi đi ngủ sớm, vừa sập tối đă kéo gối chăn xuống đặt lưng. 

Vừa nằm xong th́ trong gian buồng cách bên và hướng về phía mặt đường có tiếng đàn bà vọng tới. H́nh như là hai người nhưng tiếng của họ lại lẫn thêm một giọng đàn ông đứng tuổi.Nghe câu chuyện ba người th́ mới biết hai cô là gái hát rong xuất thân ở Niigata xứ Echigo. 

Hai cô định đi hành hương Đền Ise[137] cho nên người đàn ông mới hộ tống đến cửa quan Ichiburi. Nhân v́ ngày mai, anh ta sẽ quay về làng cũ ở Niigata, hai cô mới viết một phong thư để nhắn chút tin cho gia đ́nh.  

Ta nghe tiếng các cô than thở là ở con phố biển sóng đánh bạc đầu[138], cái thân hát rong cũng thành luân lạc, chẳng khác nào đứa bé làng chài không một mái nhà. Đêm đêm c̣n phải gửi thân cho khách làm kế mưu sinh mỗi ngày, có phải là để trả báo những lỗi lầm đă tạo ra trong kiếp trước hay không[139], thân phận thật quá bi đát! Nghe đến đấy, v́ quá mệt, không biết ta đă đi vào giấc ngủ tự khi nào. 

Sáng hôm sau, vừa bước ra cửa nhà trọ th́ hai cô gái ấy t́m đến, mếu máo với chúng tôi: “Bọn em không rành đường đất nên hết sức lo buồn. Nếu được, xin các thầy cho phép núp bóng đi theo sau không cho ai thấy, dù có cách nhau một quăng cũng được. Các thầy hăy rũ ḷng bồ tát giúp cho, để bọn em được có cái duyên với cửa Phật”.  

“Tội nghiệp cho các cô quá thể nhưng bọn chúng tôi cũng là kẻ rày đây mai đó, chưa định đi về hướng nào. Nếu kiếm ra người bạn đường không ghé dọc đường mà cùng đi thẳng một lèo về Đền Ise th́ với sự phù hộ của ngài Amaterasu (Thiên Chiếu Đại Thần = Nữ thần Thái Dương), các cô cũng sẽ đến nơi b́nh yên vô sự thôi!” Sau khi từ chối họ thẳng thắn như vậy rồi, chúng tôi bước đi mà trên đường cứ chạnh ḷng thương cảm số phận hai cô măi không thôi. 

一つ家に遊女も寝たり萩と月 

Hitotsuya ni
Yuujo mo netari
Hagi to tsuki 

Qua đêm ḿnh chung nhà,
Cùng hai cô hát rong,
Như trăng, hoa hagi.
 

Lời B́nh: 

Ở cửa quan Ichiburi, t́nh cờ thầy tṛ Bashô gặp hai người con gái hát rong. Sáng hôm sau, được họ xin đồng hành, ông đă thẳng thắn từ chối dù biết như thế sẽ làm tổn thương t́nh cảm hai cô. 

Đường đi đến ải Ichiburi rất hiểm trở, biển sóng dữ, ghềnh đá cheo leo, địa danh thật lạ lùng. Bộ hành “không biết cha, không biết con”, mạnh ai lo lấy thân. Chó ngựa là những con vật trung thành mà cũng thây kệ chủ, không theo chân được, phải quay về. 

Câu chuyện gặp hai cô gái hát rong chỉ có trong Oku no hosomichi nhưng không thấy ghi lại trong Nhật kư tùy tùng của Sora dù ông có lần nhắc đến việc gặp gỡ này ở một chỗ khác. Phải chăng đây là “mộng tưởng” của Bashô trong một đêm ghé Ichiburi? Có thể ông đă kết hợp đoạn này với sự tích ngày xưa tăng Saigyô gặp bồ tát Phổ Hiền hiện xuống qua thân du nữ trên bến Eguchi để giác ngộ cho ḿnh. 

Thường thường, người ta cho rằng Bashô dùng thủ pháp mitate ví ḿnh với trăng và các cô hát rong với hoa hagi. Thế nhưng có kẻ lại đặt câu hỏi: “Chẳng lẽ Bashô ngạo mạn đến thế sao?”. Điều đó đi ngược với bản chất khiêm cung của ông. Hay là Bashô chỉ đơn thuần kết hợp cái đẹp của trăng trên trời và hoa hagi dưói đất là hai vật lẽ ra hoàn toàn cách biệt. Chỉ tả trăng cao như đang gửi ánh sáng đến cho hoa dưới đất th́ đấy đă đủ là một phong cảnh đẹp. Hoa hagi xưa nay chỉ đi đôi với nai (shika) chứ không với trăng (tsuki). Trong truyền thống thơ waka, nó lại được xem là nhỏ nhắn, khả ái chứ chưa bao giờ bị đánh giá như thấp hèn. Nếu đem hoa hagi để so sánh với hai cô gái hát rong đi nữa th́ phải xem như ánh trăng cao đă soi chiếu hai cô vời cả tấm ḷng yêu thương, nhân ái. 

Kigo của bài thơ là hagi (hoa thưu, tử đinh hương) chỉ mùa hè.

 

Phong thư nhờ chuyển về quê 

 

Đoạn 42: Đường Etchuuji: Sông Kurobe, Băi Nago (Etchuuji: Kurobe gawa, Nago no ura 越中路:黒部川、那古の浦) 

Nhắc đến sông Kurobe là phải nhắc đến “Kurobe shijuuhachi no se” tức 48 con lạch của nó, ư nói đó là một ḍng sông nhiều chi lưu. Ngoài chúng ra, c̣n phải vượt qua nhiều ḍng sông khác nhiều không đếm được chúng tôi mới ra vùng ven biển Nago (thị trấn Shin-Minato tỉnh Toyama). 

Phía trước mặt là Tago (thị trấn Himi tỉnh Toyama), nơi có những buồng hoa tử đằng buông rủ mà thơ xưa từng nhắc tới.Nghĩ rằng tuy không phải giữa mùa xuân mà đang ở vào tiết sơ thu, phong cảnh nơi đây cũng nhiều thi vị, đáng ngắm, nên chúng tôi mới hỏi người địa phương đường đến đó. Thế nhưng họ bảo: “Muốn đi Tago th́ từ đây phải dọc theo bờ biển mất 5 “ri” (20km). Nó nằm ở chỗ có đường đi vào bóng núi. Nơi ấy chỉ có vài túp lều xập xệ của dân đánh cá, chắc không ai có thể cho các ông trọ qua đêm đâu!”. Nghe lời bàn ra kiểu đó, chúng tôi đành bỏ ư định đi Tago mà hướng về vùng Kaga (Tỉnh Ishikawa). 

早稲の香や分け入る右は有磯海 

Wase no ka ya
Wake iru migi wa
Ariso umi 

Ngậm sữa lúa đưa hương
Vẹt lối, nh́n bên mặt
Ḱa, biển Ariso!
 

Lời B́nh: 

Bashô vượt sông Kurobe đến băi biển Nago. Ông định tiến thêm một chút để đến Tago xem nơi có những buồng hoa tử đằng lăn tăn như sóng lượn (fujinami) mà ngựi xưa ngâm vịnh. V́ lo tối đến ở đó không t́m ra chỗ qua đêm nên đoàn đă đổi hướng để vào đất Kaga. Nói đến cánh đồng lúa bạt ngàn đang chín tới và sự hùng tráng của biển Ariso, tác giả như muốn gửi lời chào đến xứ Kaga, vùng đất ông sắp vào, nơi nổi tiếng trù phú, vựa thóc của Nhật Bản. 

Kigo bài thơ là wase (lúa non, lúa lên đ̣ng đ̣ng) chỉ mùa thu.  

Xin giới thiệu 3 bài thơ xưa liên quan đến 3 địa danh trong đoạn văn: 

Nago: Chương 17 của Man.yôshuu có bài nói về cảng này: 

港風寒く吹くらし那古の江につま呼びかは鶴さわに鳴く 

Minato kaze
Samuku fuku rashi
Nago no e ni
Tsuma yobi ka wa
Tazu sawa ni naku 

Dường như cảng Nago
V́ cửa sông gió lạnh
Hạc tụ nhau về đây,
Vang vang tiếng gọi bầy  

Tago: Chương 19 của Man.yôshuu lại có bài như sau: 

担籠の浦の底さえにほう藤波をかざして行かむ見ぬ人のため 

Tago no ura no
Ura no soko sae ni
Hô fujinami wo
Kazashite yukamu (yukan)
Minu hito no tame 

Trên bến Tago kia
Cḥm tử đằng buông lơi,
Đáy nước in bóng đẹp.
Ta cài hoa trên đầu,
T́m người chưa quen biết. 

Ariso: Một “gối thơ xưa” từng được Ôtomo no Yakamochi ngâm vịnh. Chương 17 của Man.yôshuu có bài: 

かからむとかねて知りせば越の海の有磯の波もみせましものを 

Kakaramu (ran) to
Kanete shiriseba
Koshi no umi no
Ariso no nami mo
Misemashi mono wo 

Nếu biết trước sự t́nh,
Sẽ ra nông nỗi này,
Ít nhất cho người thấy,
Sóng ghềnh Ariso,
Trên biển Echigo. 

 

Đoạn 43: Kanazawa, học tṛ yêu yểu mệnh (Kanazawa, aideshi no sôsei金沢、愛弟子の早世) 

Vượt được núi U no hanayama (Măo Hoa Sơn, c̣n gọi là Núi Genji tức Nguyên Thị Sơn) và ngọn đèo Kurikara[140], chúng tôi đến được Kanazawa th́ đă là ngày 15 tháng 7 (29 tháng 8 dương lịch)) Lúc đó được dịp ở chung quán trọ với nhà buôn ở Ôsaka là Kasho (Hà Xứ, môn đệ của Bashô) đang có công việc phải qua đây. 

Nhân vật vùng Kanazawa tên là Isshô (Nhất Tiếu) nổi tiếng là người có nhiệt t́nh với haikai. Chẳng bao lâu, tiếng lành đồn ra và ai cũng biết anh là một haijin (thi nhân haikai). Thế nhưng mùa đông năm rồi anh qua đời giữa khi c̣n trẻ.Trong dịp ta đến viếng, ngựi anh của Isshô bèn mở một hội b́nh thơ để truy điệu vong linh. Trước mộ người đă khuất, ta có mấy vần như sau; 

塚も動けわが泣く声は秋の風 

Tsuka mo ugoke
Wa ga naku koe wa
Aki no kaze 

Mồ ơi, dậy nghe cho!
Đă mượn gió thu gào.
Thay ḷng ta thổn thức. 

秋涼し手ごとにむけや瓜茄子 

Aki suzushi
Tegoto ni muke ya
Uri nasubi 

Trong hơi mát ngày thu,
Hăy cùng gọt dưa, cà,
Đang giữa mùa quả ngọt[141].  

あかあかと日はつれなくも秋の風 

Akaaka to
Hi wa tsure naku mo
Aki no kaze 

Vô t́nh, trời chói nắng,
V́ không biết trái mùa,
Gió vẫn mát ngày thu. 

しおらしき名や小松吹く萩薄 

Shio rashiki
Na ya Komatsu fuku
Hagisusuki 

Gió thu qua Komatsu,
Vùng đất mang tên đẹp,
Bẹp hagi, lau bạc.
 

Lời B́nh

Người học tṛ yêu của Bashô quê ở Kanazawa là Kosugi Isshô 小杉一笑(Tiểu Sam Nhất Tiếu, 1653-1688), làm nghề buôn trà nên c̣n có tên là Chaya Shinshichi 茶屋真七, cả đời ngưỡng mộ nhưng chưa một lần được gặp mặt thầy. Ông vốn là một nhà thơ ưu tú trong vùng. Không đợi được thầy đến thăm, đă qua đời sớm ở tuổi 36. Trước cái chết của người học tṛ, Bashô đă có một bài thơ dọng điệu thống thiết nhưng nh́n kỹ th́ chúng ta không thấy ông cường điệu chút nào. 

Kể cả bài thơ ai điếu, 4 bài thơ nói trên đều có liên quan đến mùa thu. Trong waka, gió thu thường được dùng để nói lên một trạng thái “tĩnh”, riêng ở đây, Bashô đă dùng theo nghĩa “động”. Đó là một điều hiếm có. 

Về núi U no hanayama, nó c̣n có tên là núi Genji, một nơi nổi tiếng về trăng và tuyết, từng là đối tượng của thơ Man.yôshuu. Đèo Kurikala (Câu Lợi Già La), một cái tên nghe như trong kinh Phật lại là nơi từng xảy ra trận đánh quyết liệt giữa hai nhà Genji và Heike. Ở thung lũng ḥn núi, năm 1183, tướng Genji là Kiso Yoshinaka đă dùng hỏa công (buộc đuốc vào sùng ḅ) để phá tan 7 vạn quân Heike của tướng Taira no Koremori. 

Komatsu (Tiểu Tùng) là một địa danh gần Kanazawa, vừa có nghĩa là “cây tùng con”, vừa là tên của loại rau cải komatsu (komatsusai). Không hiểu ở đây Bashô có nhân đó mà nói đến cái chết của Kosugi (Tiểu Sam, cây tuyết tùng con) Isshô hay không? 

Akikaze (gió thu, bài 1 và bài 3), akisuzushi (hơi mát mùa thu, bài 2) và hagi susuki (hoa hagi và cây lau, bài 4) đều là kigo của mùa thu.  

 

Đoạn 44: Đền thần đạo Tada (Tada Jinja多太神社). Mũ trụ của Sanemori : 

Chúng tôi đến viếng đền Tada ở vùng này, nhân đó nh́n thấy khôi giáp của chiến tướng Heike là Sanemori [142] và tàn dư manh chiến bào ông mặc dưới lần áo giáp. 

Theo truyền thuyết, đó là những vật báu mà chủ quân thời trẻ của ông, đại tướng Minamoto no Yoshitomo, đă ban cho (v́ lúc đó ông pḥ họ Genji). Thực vậy, chúng không giống đồ dùng của một chiến binh b́nh thường. Hoa văn h́nh hoa cúc trên mũ trụ được nạm vàng từ bộ phận che trán đến bộ phận che hai tai, tô điểm thêm bằng một cái đầu rồng với hai chiếc sừng cong.  

Truyền thuyết về việc sau khi Sanemori bị giết chết, đại tướng phe địch Kiso (Minamoto no) Yoshinaka[143] đă gửi cận thần của ḿnh là phó tướng Higuchi Jirô[144] đến đền này để dâng một bài văn cầu xin chiến thắng và cúng cho đền những di vật ấy. Kư lục của đền chép lại câu chuyện trên làm ta thấy cảnh tượng thời ấy như hiện ra trước mắt.     

むざんやな甲の下のきりぎりす 

Muzan ya na
Kabuto no shita no
Kirigirisu 

Ôi thảm thiết làm sao
Bên dưới chiếc mũ trụ
Rả rích dế mùa thu.
 

Lời B́nh: 

Ghé đền thần Tada, Bashô cảm động khi nh́n di vật của Saitô no Sanemori, một chiến tướng thời Kamakura. Trước Sanemori phụng sự nhà Genji và có thời dưỡng dục đại tướng phe địch là Kiso Yoshinaka, lúc đó mồ côi bố. Khi chủ tướng của Sanemori là Minamoto no Yoshitomo chết trong cuộc biến loạn năm Heiji, ông phải đầu quân dưới trướng Taira no Munemori cánh Heike. Vào năm 1183, lúc quân Heike kết hợp để đánh quân Genji của Yoshinaka ở vùng Hokuriku, ông đă 73 tuổi nhưng vẫn nhuộm tóc ngụy trang để được giao đấu với các chiến sĩ trẻ và kết cục đă bị giết chết. Hành động của Yoshinaka đối với ông là để cảm tạ ân t́nh nuôi dạy ấy.  

“Muzan ya na” tương truyền là câu nói của Higuchi Jirô khi nh́n thủ cấp Sanemori lộ mái tóc bạc sau khi đem rửa dưới ao, được nhắc đến nhiều lần trong ca từ các bản tuồng Nô. C̣n chữ (giáp) ở đây đọc là kabuto như chữ trụ (), hiểu là mũ trụ chứ không phải áo giáp (yoroi). 

Kigo của bài thơ là Kirigirisu (nay là Kôrogi, con dế) chỉ mùa thu.

Bên dưới chiếc mũ trụ. Rả rích dế mùa thu 

 

Đoạn 45: Nata, gió thu trắng (Nata: Hakushu no kaze那谷:白秋の風

Chúng tôi vừa ngắm mặt sau của núi Shiranegaoka (c̣n gọi là Hakusan, Bạch Sơn) vừa tiến về suối nước nóng Yamanaka (thị trấn Kaga tỉnh Ishikawa).Bên vùng đất trũng tay trái ngọn núi có Kan.nondô (Quan Âm Đường) (tức Natadera, Na Cốc Tự, thuộc khu vực Komatsu tỉnh Ishikawa). Xưa Thiên hoàng Kazan (Hoa Sơn)[145] sau khi hoàn thành cuộc chiêm bái 33 Quan Âm Đường của miền Tây đă an vị tượng Đức Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm ở đây và đặt tên nó là Natadera. Tương truyền ngài lấy tên của hai linh địa Nachi (Na Trí) và Tanigumi (Cốc Cấp) gộp lại mà thành.    

Trong khuôn viên nhà chùa có nhiều tảng đá kỳ h́nh dị trạng. Trên Núi Đá (Ishiyama), những cây tùng cổ mọc mọc dàn hàng. Dựa vào chúng, người ta cất ở đấy những điện đường nhỏ nhắn lợp tranh. Cảnh sắc thật tuyệt vời, xứng đáng là chốn để hành hương. 

石山の石より白し秋の風 

Ishiyama no
Ishi yori shiroshi
Aki no kaze
 

Trên núi tên Núi Đá,
Nhưng trắng hơn cả đá,
Là ngọn gió mùa thu.
 

Lời B́nh: 

Núi Đá trong bài thơ ám chỉ ngọn Ishiyama (Thạch Sơn) nơi có Natadera (Na Cốc Tự). Gọi gió mùa thu “trắng” (tố thu, bạch đế) là nói theo cách mệnh danh các mùa thời xưa bên Trung Quốc: xuân xanh, hạ đỏ, thu trắng, đông đen. C̣n núi Ishiyama trắng là v́ màu trắng của chất đá vôi tạo ra nó. Có một Ishiyama ở Shiga, nơi quê nhà của Bashô và có lẽ đứng trước ngọn núi này, ông đă liên tưởng đến ngọn núi ở quê hương. 

Tuy vậy, bảo rằng gió mùa thu có màu trắng c̣n trắng hơn cả núi đá và cảnh chùa, phải chăng Bashô muốn giải thích v́ trắng như thế, nó mới xóa sạch được tội lỗi hay đau thương của con người?   

Kigo của bài thơ là gió thu (aki no kaze) chỉ mùa thu.

 

Đoạn 46: Yamanaka (Yamanaka onsen山中温泉). Kể lại giai thoại ở suối nước nóng. 

Chúng tôi tắm nước suối Yamanaka. Đây là suối nước nóng về mặt hiệu năng, chỉ đứng sau con suối Arima (tỉnh Hyôgo) nổi tiếng. 

山中や菊はたおらぬ湯の匂い 

Yamanaka ya
Kiku wa taoranu
Yu no nioi 

Suối Yamanaka
Thưởng thức hương ḍng nước,

Cần chi ngắt cúc hoa. 

Người chủ nhà trọ (quán Izumiya) tên là Kume no suke[146], tuổi hăy c̣n niên thiếu. Cha (chính ra là ông nội) của cậu lúc sinh tiền, rất thích thơ haikai. Có lần người làm thơ haikai đất Kyôto tên Yasuhara Teishitsu [147](An Nguyên Trinh Thất, một nhà thơ trú danh phái Teitoku), lúc đó hẳn trẻ, đến viếng vùng này, hỗ thẹn v́ thi phong thiếu tao nhă của ḿnh, khi về lại kinh đô mới xin nhập môn Matsunaga Teitoku (Tùng Vĩnh Trinh Đức, người đứng đầu phái Teitoku) và hết ḷng dùi mài học tập nên sau này thành danh. V́ cớ sự như thế mà Teishitsu, dù đă là bậc thầy rồi, vẫn không dám nhận thù lao khi thêm bớt sửa chữa cho những bài thơ người vùng Yamanaka làm ra. Điều đó nay đă thành câu chuyện cũ.

Suối nước nóng Yamanaka 

Lời B́nh: 

Khi ghé suối nước nóng Yamanaka, Bashô trọ ở quán Izumiya (Quán Ḥa Tuyền). Chủ nhân là cậu Kume no suke, lúc ấy mới 14 tuổi. Nghe giai thoại xảy ra giữa ngựi cha (Bashô lầm chứ chính ra phải là ông nội cậu) và nhà thơ Teishitsu, Bashô rất cảm kích, nhân đó, ông đă đặt bút hiệu là Tôyô桃妖 (Đào Yêu) cho cậu bé. 

Ông ca tụng hiệu năng của suối Yamanaka và viết một bài thơ như gửi lời chào đến vùng đất này. 

Hoa cúc dưọc truyền vào đất Nhật thời Nara và rất được trọng vọng, nhất là vào thời Edo. Hoàng thất đă chọn hoa cúc 16 cánh làm hoa văn. Cúc có dược tính nên ở Trung Quốc, vào tiết Trùng Dương (mùng 9 tháng 9), người ta thường ngắt cành hoa cúc giắt lên đầu. Người Nhật c̣n có phong tục chưng hoa cúc để ngắm, ủ sương với hoa cúc dùng để ǵn giữ sắc đẹp các cô các bà, ngâm cúc vào rượu uống, chép kinh trên lá cúc, điếu người chết bằng hoa cúc. Tuồng Nô có các vở Kiku Jidô (Cúc Từ Đồng), Makura Jidô (Chẩm Từ Đồng) nói về liên hệ giữa nguời tiên ở huyện Lịch sống đến 800 tuổi là Jidô (Từ Đồng), một vị hoàng đế và hoa cúc, cũng đến từ điển cố Trung Quốc.  

Kigo của bài thơ là aki no kaze (gió thu) chỉ mùa thu. 

 

Đoạn 47: Giă biệt Sora ngă bệnh (Sora no byôki to betsuri曽良の病気と別離) 

Sora mắc chứng đau bụng. Nhân v́ có bà con sống ở Nagashima phiên Ise (nay là thị trấn Kuwana tỉnh Mie) nên muốn đi trước đến đấy nghỉ dưỡng sức. Anh để lại cho ta bài thơ: 

行き行きて倒れ伏すとも萩の原 

Yukiyukite
Taorefusu to mo
Hagi no hara 

Thân bệnh đi đi măi,
Gục ngă cũng cam đành,
Miễn trên đồng hagi 

Kẻ ra đi về phía trước u sầu, người ở lại đằng sau cay đắng. Tâm trạng nào có khác chi đôi chim keri (cưu) đang cùng bay nay lại phải chia ĺa, lạc lối trong mây.Ta cũng ngâm: 

今日よりや書き付け消さん笠の露 

Kyô yori ya
Kaki tsuke kesan
Kasa no tsuyu  

Kể từ buổi hôm nay
Xin xóa điều đă viết
Trên nón bằng sương thu.
 

Lời B́nh: 

Ḷng Bashô đau khổ v́ từ nay phải tiếp tục cuộc hành tŕnh một ḿnh sau khi Sora ngă bệnh, muốn đi trước để về nhà bà con dưỡng bệnh. 

Trong Nhật kư đi đường của Sora, từ hồi c̣n ở Kanazawa, ông đă cho biết ḿnh đang lâm bệnh. Từ giă Bashô, Sora đi về Nagashima, nơi ông có người bác là nhà sư Shusei (Tú Tinh) để xin nghỉ dưỡng sức độ nửa tháng. Người bác này là một ông sư trụ tŕ, khi Sora mới lên 12, mất cha mẹ, đă đem về nuôi dạy. 

Khi Sora đi rồi, Bashô không tiếp tục cuộc hành tŕnh một ḿnh dù mất đi người bí thư tin cậy. Một người học tṛ mới nhập môn tên là Hokushi (Bắc Chi) đă nhập đoàn từ Kanazawa và sẽ tháp tùng ông. 

Chim keri (cưu) là một giống chim di, sống vùng băi sông. Mùa đông, chúng bay từ bắc xuống nam, khổ người cỡ chim hato (bồ câu nhà) vậy.Tiếng nó kêu kerikeri nên người ta mới đặt tên như thế! H́nh như Bashô nói đến giống chim này v́ nó có mặt trong giai thoại về cuộc chia ly giữa hai người bạn Tô Vũ - Lư Lăng bên Trung Quốc. Khi Tô Vũ được tha, từ đất Hung Nô về Nam có để lại cho bạn bài thơ chữ Hán: Song cưu câu Bắc phi, Nhất câu độc Nam tường. Tử đương lưu kỳ quán. Ngă đương qui cố hương (Đôi chim lên ải Bắc. Một cánh liệng về Nam. Nơi đây, anh chọn đây ở. Tôi t́m lại quê làng (theo sách Mông Cầu). 

C̣n câu thơ của Sora là mượn ư một bài của Saigyô trong Sankashuu (Sơn gia tập, quyển trung, phần tạp thi), trong đó, nhà thơ nói đến cuộc sống phiêu linh của ḿnh, có ngày sẽ phải ngă gục như hạt sương trên bờ cỏ bên đường. Ngựi ta cảm thấy trong câu thơ của Sora nỗi khổ tâm đă bỏ thầy đi trước một ḿnh, nên ḿnh có chết dọc đường cũng đáng. Tuy nhiên, là con người tao nhă, nếu phải chết ông xin được chết trên cảnh đồng đầy hoa hagi trổ bông. 

Về bài của Bashô, nó dựa trên một phong tục của người hành hương thời ấy là viết lên trên nón lá câu “càn khôn vô trú đồng hành nhị nhân” 乾坤無住同行二人(hai người cùng đi giữa đất trời không chốn trọ) nhưng “hai người” c̣n có nghĩa là “cùng đi với Phật” (桑門同行二人Tang môn đồng hành nhị nhân). 

Sương thu (tsuyu) rơi trên nón Bashô thác ngụ ḍng lệ hoài cảm của Bashô, chúng đă xoá hộ mấy chữ “đồng hành nhị nhân” tâm nịệm đó v́ từ đây, ông đă mất Sora, người bạn đường thân thiết. Kigo bài này là tsuyu (hạt móc mùa thu) chỉ mùa thu. Kigo bài thơ của Sora là hagi no hara (đồng hoa hagi) cũng chỉ mùa thu.

Xin xóa điều đă viết. Trên nón bằng sương thu 

 

Đoạn 48: Chia tay Ichiya ở Zenshôji (Zenshôji: Ichiya no hedate全昌寺: 一夜の隔て) 

Chúng tôi ngủ trọ ở ngôi chùa thiền tên là Zenshôji (Toàn Xương Tự) nằm bên ngoài thị trấn Daishôjimachi[148]. Đây hăy c̣n ở trong địa phận vùng Kaga. Đêm hôm trước, Sora cũng qua đêm trong chùa này và anh có để lại bài thơ như sau:.  

よもすがら秋風聞くや裏の山 

Yo mo sugara
Aki kaze kiku ya
Ura no yama 

Trằn trọc nằm đến sáng,
Nghe gió mùa thu dậy,
Thổi hoài núi sau lưng.
 

Nỗi buồn chợt dậy lên trong ḷng, chỉ có một đêm vắng Sora mà ta tưởng như đă xa cách anh vạn dặm[149]. Cả ta lẫn Sora đều cùng nghe một tiếng gió thu khi qua đêm trong hậu liêu dành do những nhà sư hành cước. Khi trời về sáng, ta nghe âm hưởng tiếng tụng kinh trong trẻo vọng tới rồi sau đó là tiếng khánh gỗ báo hiệu giờ ăn, bèn cùng các nhà sư đi xuống nhà trai. 

Hôm nay định rời vùng Kaga (tỉnh Ishikawa) để đi vào xứ Echizen (tỉnh Fukui), giữa khi ḷng dạ c̣n đang bồn chồn lo âu th́ khi ta bước xuống điện bỗng thấy mấy nhà sư trẻ cắp nghiên và giấy đuổi theo măi tận chân thang. Nhân lúc đó, ta thấy cảnh cây liễu rụng lá ngoài sân nên tức hứng vịnh ngay một câu:.  

庭掃きて出でばや寺に散る柳 

Niwa hakite
Ideba ya tera ni
Chiru yanagi 

Ra đi, muốn quét sân
Ơn chùa đêm ngủ trọ

Liễu
úa rơi đầy ngơ. 

Vẫn mang trên chân đôi dép cỏ, ta hí hoáy viết xong rồi cất bước, bỏ cảnh chùa lại sau lưng. 

Lời B́nh: 

Đoạn này tả nỗi buồn của Bashô sau khi chia tay với Sora. Sáng hôm từ giă chùa để lên đường, ông không khỏi lo lắng bồn chồn v́ thiếu người thân tín đă đỡ đần cho ḿnh bao công việc. H́nh ảnh có phần chậm chạp của ông tương phản với h́nh ảnh nhanh nhẹn của các nhà sư trẻ đă đem đến cho đoạn văn một thi vị đặc biệt 

Trong bài thơ Sora có chữ “ura no yama” (núi sau lưng) ám chỉ Bashô, người đi sau ông một ngày đường. Sora nghĩ đến nỗi buồn và lo lắng của thầy (như làn gió thu) nên không ngủ được. Trong bài thơ Bashô, việc quét lá liễu rụng (chiru yanagi) ngầm ư ông là nhà sư nghèo chỉ mong được làm công quả trả ơn nhà chùa đă cho ăn cho ngủ một đêm. 

Kigo của hai bài thơ là akikaze (gió thu) và chiru yanagi (liễu rụng lá) đều chỉ mùa thu. 

 

Đoạn 49: Cây tùng trên bến Shiogoshi (Shiogoshi no matsu汐越の松) 

Chúng tôi lấy thuyền vuợt vàm sông nằm ở Yoshizaki (thị trấn Awara tỉnh Fukui), biên giới hai vùng Kaga và Echizen, để đến viếng Cây tùng Shiogoshi. Nhớ xưa cao tăng Saigyô đă có bài thơ nói về cây tùng ấy như sau: 

よもすがら嵐に波を運ばせて月を垂れたる汐越の松 

Yo mo sugara
Arashi ni nami wo
Hakobasete
Tsuki wo taretaru
Shiogoshi no matsu 

Tùng Shiogoshi,
Suốt đêm nhờ băo tố,
Mang ngọn sóng xô bờ,
Để có giọt trăng in
Trên những cành buông rũ. 

Ở đất này cảnh đẹp không thiếu nhưng riêng một bài thơ này đă nói lên đủ tất cả. Nếu thêm một hai lời, e rằng sẽ làm một việc thừa thăi như gắn một ngón tay thứ sáu vào bàn tay đă có đủ năm ngón[150]. 

Lời B́nh: 

Bài thơ của Saigyô (1118-1190) mà Bashô trích dẫn trên đây được nhiều người khác cho là thơ Rennyo蓮如 (Liên Như, 1415-1499, vị tổ trung hưng phái Tịnh Độ Chân Tông). Bài thơ này không đặc biệt xuất sắc nên việc tán thưởng nó là hoàn hảo như Bashô đă làm th́ chỉ có thể giải thích bằng ḷng kính yêu tột độ của Bashô đối với tiền bối Saigyô mà thôi. 

Việc nhầm lẫn thơ Rennyo với thơ Saigyô cũng không phải không có lư. Rennyo là một giáo chủ uy danh lừng lẫy, đă từng đến truyền giáo ở vùng Hokuriku và lập chùa ở Yoshizaki. Đời gọi ông là Yoshizakibô hay “ông thầy Yoshizaki” Đưa thơ Rennyô lên cùng đẳng cấp với thơ Saigyô, các giáo đồ Tịnh Độ Chân Tông có chủ ư muốn tôn vinh thầy ḿnh vậy. Và Bashô có tin theo mà nhầm cũng không đến nỗi đáng trách. 

 

Đoạn 50: Chùa Tenryuu, chùa Eihei: chia tay với Hokushi (Tenryuji, Eiheiji: Hokushi to no wakare天龍寺、永平寺:北枝との別れ

Trưởng lăo chùa Tenryuuji (Thiên Long Tự)[151] ở Maruoka (tức Matsuoka, quận Yoshida tỉnh Fukui) là người quen biết tự ngày xưa nên ta đă ghé thăm ông. Ngoài ra, môn sinh ở Kanazawa tên Hokushi (Bắc Chi) truớc chỉ định tiễn chân ta một đoạn đường chẳng ngờ đi với ta măi đến đây. Suốt dọc đường, anh Hokushi chẳng bỏ sót một cảnh đẹp nào mà không vịnh thơ, đôi khi cho ta nghe được những câu rất thông minh. Nay anh lại sắp chia tay với ta. 

物書きて扇引さくなごりかな 

Mono kakite
Ôgi hiki saku
Nagori kana 

Xưa viết chữ lên quạt,
Nay hết mùa xé nát,
C̣n chăng là t́nh xưa! 

Đi thêm hơn 50 chô (5 km) nữa vào trong núi, chúng ta đến chiêm bái Eiheiji (Vĩnh B́nh Tự, quận Yoshida, tỉnh Fukui).Chùa này do Thiền sư Dôgen (Đạo Nguyên) sáng lập.Việc xa lánh chốn đế đô để lập chùa một nơi xa xăm như ở đây đă chứng tỏ cái chí cao vời của ngài.  

Lời B́nh: 

Bashô viết một câu thơ tặng Hokushi, người bạn đồng hành tiễn chân ông đến đây, như món quà chia tay. Ông yêu con người chân phương, thành thực trong phong cách làm thơ này. Hokushi tên thật là Tachibana Genshirô, làm nghề mài kiếm và là một nhà thơ ở Kanazawa.  

Chính ra, cách diễn tả “xé bỏ quạt” (ôgi hikisaku) th́ ngữ khí có hơi mạnh và người ta hỏi tại sao? Có nhiều lối giải thích nhưng có lẽ ở đây Bashô chỉ muốn nhấn mạnh đến t́nh thâm cũng như nỗi buồn ly biệt giữa hai thầy tṛ mà thôi.  

Đến Eiheiji 永平寺(Vĩnh B́nh Tự), Bashô có một câu bày tỏ sự kính trọng của ông đối với Thiền sư Dôgen 道元(Đạo Nguyên, 1200-1253), khai tổ của phái Tào Động Nhật Bản. Dôgen xuất thân gia đ́nh quí tộc Fujiwara[152] nhưng đă xa lánh kinh đô, t́m đến nơi xa xôi để lập chùa, chứng tỏ tấm ḷng chuyên chú vào việc tu hành của ḿnh. 

Kigo của bài thơ là akiôgi, suteôgi (quạt mùa thu, quạt vứt bỏ) chỉ mùa thu. 

         

Đoạn 51: Đến Fukui. Một ẩn sĩ tên Tôsai (Fukui, Tôsai to iu inshi 福井:等栽という隠士)  

V́ thị trấn Fukui cách Eiheiji chỉ có 3 “ri” (12km), cơm chiều ở chùa xong ta mới lên đường. Lúc đó trời đang sụp tối, đường sá nhá nhem nên lao khổ không ít.  

Số là ở Fukui này, ta có người quen vào bậc đàn anh, một nhà ẩn sĩ tên gọi Tôsai (Đẳng Tài). Không nhớ độ nào nhưng ông đă có dịp đến Edo thăm ta. Chuyện cũ cũng phải  mười năm về trước. Bây giờ không hiểu ông già yếu ra sao hay mất rồi cũng nên. Ta bèn dọ hỏi người địa phương và mới biết Tôsai hăy c̣n sống. Họ cũng chỉ đường cho ta đến nhà ông. 

Theo lời chỉ dẫn, ta mới đến được một ngôi nhà nhỏ, đơn sơ nằm giữa đám giây bầu và hoa b́m b́m (yuugao) ở một nơi yên tĩnh, xa chốn phồn hoa đô hội. Ngơ vào nhà bị những bụi hoa đầu gà (keitô) và kim tước chi (hahakigi) che khuất. 

Nghĩ đúng là ngôi nhà này, ta mới gơ cửa th́ có một người đàn bà dáng điệu thanh cảnh bước ra hỏi: “Dám thưa, thầy là vị sư ở đâu đến ạ! Ông nhà tôi vừa đi khỏi để thăm viếng một người quen họ Mỗ gần đây thôi”. Ta đoán biết ngay bà này chính là vợ của Tôsai và có cảm tưởng ḿnh đứng trước một quang cảnh y như trong cuốn truyện xưa[153]. Ḷng cảm kích, ta mới hỏi thăm chỗ Tôsai đang viếng thăm. 

Thế rồi ta ở lại nhà Tôsai hai đêm. Sau đó, v́ muốn xem trăng rằm tháng tám trên cảng Tsuruga, ta mới từ giă Fukui.Tôsai lúc ấy bảo hăy để tôi tiễn bác đi và vén ống tay áo, thắt lại giải lưng trên bộ quần áo thật thanh lịch rồi cặp tấm bản đồ chỉ đường, thoăn thoắt tiến lên trước.     

Lời B́nh: 

Oku no hosomichi có nhiều đoạn đầy chất thơ như đoạn này. Tôsai là bạn cũ trên 10 năm không gặp nhưng khi tái ngộ với Bashô, t́nh ư vẫn như xưa. 

Tôsai là mẫu mực nhà thơ haikai siêu tục mà Bashô yêu thích. Vợ ông lại đơn sơ, cổ phong như thấy trong một bức tranh truyện thời xưa. Cảnh Bashô đến thăm nhà Tôsai gợi cho độc giả một trang của chương Yuugao (Hoa tịch nhan) trong Truyện Genji (h́nh ảnh ngôi nhà trong lùm bụi của nàng Yuugao, một người t́nh nhân u sầu, bệnh năo của Genji).Yuugao cũng là tên một loại hoa giây leo (bottle gourd). H́nh ảnh vợ chồng Tôsai tự nó là một bài thơ. Ở đây, Bashô đă biết mô phỏng cổ nhân để đem cái nhă của văn học vương triều là thể truyện kể kết nối vào cái tục của văn nghệ dân gian là thơ haikai.

Hoa đầu gà và hoa nhánh chổi (kim tước chi) 

 

Đoạn 52: Tsuruga: Thần cung Kehi và các Du hành thượng nhân (Tsuruga: Kehi Jinguu to Yugyô Shônin 敦賀:気比神宮と遊行上人) 

Theo bước chân đi, bóng núi Shiranegadake (Hakusan, Bạch Sơn) khuất dần và thay vào đó,Hinagadake (Hinosan, Nhật Dă Sơn, thị trấn Takeu tỉnh Fukui) đă ở trong tầm mắt. Qua chiếc cầu Asamudzu (thị trấn Fukui), chúng tôi đến Tamae (thị trấn Fukui) th́ những cḥm hoa lau nói đến trong thơ xưa đă hiện ra rồi.Thế rồi, vượt được cửa quan Uguisu và ngọn đèo Yuno-o, chúng tôi đến bên thành Hinouchi. Trên ngọn Kaeruyama (Quy Sơn, c̣n gọi là Kairosan, Hải Lộ Sơn, xóm Minami-Echizen tỉnh Fukui), ta nghe tiếng nhạn đầu thu, chiều ngày 14 th́ đặt chân lên bến Tsuruga, bèn lấy nhà trọ..  

Trời trong nên vầng trăng đêm hôm đó thật mỹ miều.”Ta hỏi ông chủ nhà trọ: “Đêm mai 15 chắc cũng đẹp như thế này nhỉ?” th́ ông bảo: “Thời tiết miền Hokuriku thay đổi bất thường, đêm mai trời trong hay có mây th́ khó lường lắm!” Ta cứ thế ngồi uống rượu do ông mời, sau đó đi chiêm bái thần cung Kehi. 

Thần cung này là ngôi miếu thờ Thiên hoàng Chuuai (Trọng Ai[154]). Trong sân đền, ánh trăng chiếu len qua những cây tùng mọc sừng sững. Quang cảnh đó làm ta thấy vùng cát trắng trước đền như được phủ lên một lớp sương[155].  

Ông chủ nhà trọ giải thích: “Ngày xưa, ngài Du hành thượng nhân đời thứ hai, để hoàn thành lời đại nguyện, đă tự tay phát cỏ, bê đất đá, hốt bùn và nước đọng để tu bổ lối vào chùa. Làm như thế là để khách thập phương đi lại dễ dàng. Từ ấy, công quả này trở thành một nghi thức truyền thống, các đời thượng nhân nối tiếp đều có lệ khuâng cát di chuyển trước mặt thần. Tục đó này gọi là Yugyô Shônin sunamochi (Du Hành thượng nhân khiêng cát)”. 

月清し遊行の持てる砂の上 

Tsuki kiyoshi
Yugyô no moteru
Suna no ue 

Ánh trăng đêm trong vắt
Chiếu lên trên sân cát,
Các thầy bao đời khuân. 

Quả như lời ông chủ nhà trọ đoán không sai, qua hôm 15, trời lại mưa.  

明月や北国日和定めなき 

Meigetsu ya
Hokkoku biyori
Sadame naki 

Uổng cho ánh trăng rằm,
Đất Bắc mưa hay tạnh,
Nào ai biết trước đâu!         

Lời B́nh: 

Cây cầu Asamudzu đă xuất hiện trong tác phẩm cổ điển Makura no Sôshi (Ghi nhanh bên gối, ra đời khoảng năm 1000) của nữ học sĩ Sei Shônagon (tên thật, năm sinh và mất đều không rơ) khi bà đánh giá: “Nói về cầu th́ phải nói đến cầu Asamadzu!”. Hai địa danh Đèo Yuno-o và Thành Hiuchi đều là di tích băi chiến trường của đại tướng Minamoto (Kiso) no Yoshinaka (1154-1184) trong cuộc tranh phong giữa hai binh đoàn Genji với Heikei. Điều ấy cho thấy ḷng kính mến Kiso Yoshinaka nơi Bashô là một t́nh cảm rất đặc biệt (khi chết, ông đă được chôn trong khuôn viên chùa Gichuuji (Nghĩa Trọng Tự), nơi thờ Yoshinaka.

Nàng Tomoe Gozen, mănh tướng và ái thiếp của Yoshinaka 

 

Đền Kehi là thần cung nổi tiếng số một vùng Việt châu (bao gồm 3 xứ Việt là Echizen, Etchyuu và Echigo). Trước đền có một băi cát trắng mà ánh trăng thanh chiếu lên trên đó như đă làm cho nó gột sạch bụi trần. Băi cát này dính liền với sự tích Ta-a Shônin (Tha A thượng nhân, 1237-1319) vị tổ thứ hai của Th́ Tông (Jishuu) phái Jôdo (Tịnh Độ) mà giáo chủ thứ nhất là tăng Ippen (Nhất Biến, 1239-1289), tục gọi là Du Hành thượng nhân v́ ông đi rât nhiều nơi. Khi nói đến việc Ta-a Shônin từng khiêng cát phủ sân đền, Bashô muốn tỏ ḷng tôn kính đối với cái đại chí của mười mấy đời cao tăng du hành phái Tịnh Độ Th́ Tông. 

Kigo của bài thứ nhất là tsuki (trăng), kigo bài thứ hai là meigetsu (trăng rằm), đều chỉ mùa thu. 

Xin giới thiệu 3 bài thơ xưa liên quan đến các địa danh vùng này: 

Tamae: Hoa lau và trăng trên ḍng sông này rất nổi tiếng. Có bài thơ trong Kokin Wakashuu (Cổ kim Ḥa ca tập, phần thơ lữ hành) nói đến nó.  

夏刈りの葦の仮寝もあわれなり玉江の月の明け方の空 

Natsu kari no
Ashi no karine mo
Aware nari
Tamae no tsuki no
Akegata no sora 

Gốc lau cắt hồi hè,
C̣n trơ, ḷng thêm thương.

Trăng
sông Tamae,
Khi trời đêm về sáng,
Chiếu người ngủ dọc đường. 

Tác giả chơi chữ: Karine có hai nghĩa “gốc lau bị cắt” và “ngủ gật” ư nói “ngủ tạm trên bước hành tŕnh”.[156] 

Uguisu no seki: Ngày Bashô qua đây, trạm gác đă bị hủy bỏ. Nó là đối tượng của một bài thơ thấy trong tập giới thiệu các thắng cảnh nhan đề Meisho Hôgakushô (Danh sở phương giác sao) của nhà thơ Sôgi (Tông Kỳ):  

鶯の鳴きつる声にしきられて行きもやられぬ関の原かな 

Uguisu no
Nakitsurukoe ni
Shikirarete
Yuki mo yararenu
Seki no hara kana 

Tuy chẳng phải người canh.
Cửa Uguisu
Con oanh kia khéo hót,
Trên cánh đồng bên ải,
Đủ cản bước người đi 

Kaeruyama: Kokin Wakashuu, phần thơ Biệt ly có bài nói về ngọn núi này: 

かえる山ありとは聞けど春霞たち別れなば恋しかるべし 

Kaeruyama
Ari to wa kikedo
Harugasumi
Tachi wakarenaba
Koishikaru beshi  

Ta nghe có ngọn núi
Kaeruyama.
Nên sương xuân vừa dậy,
Ḷng của kẻ đi xa,
Ai chẳng nhớ quê nhà! 

Kaeruyama (Quy Sơn) hàm ư “quy cố hương” nói lên nỗi buồn xa quê.  

 

Đoạn 53: Băi Iro no hama (Iro no hama色の浜, 種の浜) và những vỏ ṣ masuo. 

Ngày 16 tháng 8 ( nhằm 29 tháng 9 dương lịch), trời thu quang đảng, cho nên ta định đi nhặt masuo, loại ốc con từng được pháp sư Saigyô nhắc đến trong một bài waka xưa, nên mới lấy thuyền ra băi Iro. Băi này cách Tsuruga độ 7 “ri2 (28 km) bằng đường biển.  

Có người họ Mỗ tên Tenya đă cho sửa soạn cơm nắm (cơm hộp, warigo) và ống trúc đựng rượu, thức ăn thức uống tử tế. Cả đoàn đông đảo lên thuyền bắt đầu đi. 

Nhờ gió thuận chiều, chẳng bao lâu thuyền đă đến nơi.Trên băi Iro chỉ loáng thoáng mấy túp lều ọp ẹp của ngư phủ nằm bên cạnh một mái chùa tông Pháp Hoa  (Honryuuji, Bản Long Tự, phái Nichiren) tịch mịch. Đến chùa, nhấp ngụm trà, hâm bầu rượu uống, nhưng cảnh chiều về thật cô liêu của cả vùng thấm đậm vào người làm ta se sắt con tim.   

寂しさや須磨に勝ちたる浜の秋 

Sabishisa ya
Suma ni kachitaru
Hama no aki 

Ở đây buồn cô quạnh,
C̣n hơn cả Suma
[157]
Khi thu về băi vắng.  

波の間や子貝にまじる萩の塵 

Nami no ma ya
Kogai ni majiru
Hagi no hana 

Giữa một vùng sóng biếc,
Chen vào cùng ṣ ốc,
Tơi tả cánh hagi.

Hagi, hoa của mùa thu

 

Lời B́nh: 

“Họ mỗ tên Tenya” thật ra là Tenya Gorô Uemon, một người làm nghề cho mướn thuyền đ̣ ở Tsuruga và cũng là thi nhân haikai, bút hiệu Genryuushi (Huyền Lưu Tử). Ông giàu có nên bữa cơm ông thết Bashô chưa hẳn là cơm nắm (cơm hộp) và rượu đựng trong ống trúc như Bashô kể. Trong haikai, thực ra người ta có qui luật là cấm nói chuyện ăn uống. Tuy nhiên Bashô cũng phá lệ đôi lần. 

Trong bài thơ đầu, khi so sánh Iro no hama với Suma, nhà thơ đă có ư tôn xưng băi biển đẹp đẽ của địa phương là c̣n trội hơn Suma - một nơi nổi tiếng trong cổ văn - và dùng nó làm món quà gửi đến nhà mạnh thường quân Tenya. Là người thích văn học, nếu ai đọc Truyện Genji đều biết đến nét đẹp u buồn của băi Suma. 

Con “ốc masuo” thấy trong bài thứ hai là một loại ṣ ốc nhỏ vỏ màu hồng như cánh hoa anh đào. Khi đặt nó bên cạnh những cánh hagi cuối mùa màu đỏ bầm dập và tơi tả (hagi no chiri), Bashô đă nâng cái không khí u buồn của mùa thu lên thêm một nấc. 

Kigo của bài thứ nhất là aki (thu), của bài thứ hai là hagi (hoa thưu, tử đinh hương) đều chỉ mùa thu. 

 

Đoạn 54: Ôgaki, chặng đường cuối (Ôgaki, aratanaru tabiji no shyuchaku大垣:新たなる旅路の終着) và điểm khởi hành mới. 

Anh Rotsuu (Lộ Thông)[158] cũng đến tận cảng Tsuruga nghênh tiếp ta và chúng ta làm bạn đường đi về hướng vùng Mino (tỉnh Gifu).Vừa cưỡi ngựa vào đến thị trấn Ôgaki th́ đă có Sora từ chỗ nghỉ dưỡng bệnh ở Ise (tỉnh Mie) quay trở lại. Etsujin (Việt Nhân)[159] cũng phóng ngựa bôn bả tới. Cả bọn tụ tập tại nhà của Jokô [160](Như Hành).Có cả ông Zensenji (Tiền Xuyên Tử)[161] và cha con ông Keikô (Kinh Khẩu) [162]. Ngoài họ c̣n những thân hữu khác, hết ngày đến đêm rủ nhau tới thăm ta. Làm như gặp được kẻ trở về từ cơi chết, thấy ta b́nh yên vô sự, không ai là không vui mừng và khen ngợi. 

Tuy vậy, dù mệt nhọc đường dài vẫn chưa vơi bớt, v́ chưa chi đă đến ngày mùng 6 tháng 9 (ngày 18 tháng 10 dương lịch), ta định bụng đi chiêm bái ngôi đền tạm của Thần cung Ise[163] nên lại leo lên thuyền ra đi. 

蛤のふたみに別れ行く秋ぞ 

Hamaguri no
Futami ni wakare
Yuku aki zo 

Trên bến chia tay bạn,
Đời vỏ ṣ chẻ đôi,
Ta đi cùng thu tàn.
 

Lời B́nh: 

Bashô lại nghe tiếng gọi của những phương trời khác khi chưa nghỉ ngơi hồi sức và đấy là định mệnh của ông. Do đó, trong đoạn cuối này, Oku no hosomichi đă cho ta thấy h́nh bóng Bashô, người lữ khách vĩnh viễn. 

Hamaguri (clam) là một đặc sản của vùng biển Futamigaura, nơi có cát trắng tùng xanh, phong cảnh rất đẹp. Về nó, Bashô đă chơi chữ một cách ư nhị và công phu.  

-          Futa là vỏ, nắp đậy, mi là thân, chỉ thịt (ṣ), ṣ hamaguri là đặc sản địa phương..

-          Futaminoura 二見の浦lại là địa danh sản xuất ṣ và cũng là cái bến nơi Bashô từ giă bạn bè.

-          Futa là hai, mi là gặp, như lời ước mơ ngày tái ngộ. 

Bashô dùng Yuku aki zo (mùa thu lên đường, ngày lên đường vào lúc cuối thu) trong câu thơ cuối để gợi sự liên tưởng nơi độc giả tới Yuku haru ya (mùa xuân lên đường, ngày lên đường vào lúc cuối xuân). Nếu mùa xuân đă mở màn cho chuyến đi lên miền Bắc đi th́ mùa thu đă khép màn cho nó, đồng thời dự báo một chuyến đi mới về phía Tây (Đền tạm của Thần cung Ise). Nên để ư sự khác nhau giữa động từ “yuku” (đi, lên đường) mạnh mẽ và động từ “kakemawaru (đi luẩn quẩn) bi quan hơn trong bài thơ tuyệt mệnh nói về cánh đồng khô (kareno). 

Kigo của bài này là yuku aki (thu tàn), dĩ nhiên liên quan đến mùa thu.

Như vỏ ṣ tách biệt. Bao giờ gặp lại nhau! 

 

Đoạn 55: Lời bạt của Soryuu (Soryuu no batsubun素龍の跋文) 

Cái vị khô khan đạm bạc cũng như sự thanh nhă mỹ miều, chỗ th́ mạnh, chỗ th́ yếu, tất cả đều tụ lại trong áng văn này. Càng đọc Oku no hosomichi càng thấm, có lúc bất giác ta đứng dậy vỗ tay, có lúc nằm khềnh ra cho câu văn đi sâu vào lục phủ ngũ tạng. Nhiều khi định bụng khoác áo tơi cỏ lau thử làm một chuyến đi như Tiêu ông vậy. Lại có lúc ngồi khoanh trong nhà, mặc trí tưởng tượng dẫn lối để h́nh ảnh những danh lam thắng cảnh hiện ra trước mắt ḿnh cũng đủ. Cứ thế mà ta nhỏ ḍng lệ cảm khái như tác giả khi đứng trước những phong cảnh trên đường ḿnh đi qua. Phải nói là tác giả đă khéo dùng văn chương để tạo nên sự cảm động giống như người ta kết nối thành chuỗi những viên ngọc đẹp từ giọt lệ người Giao. Áng văn này chính là thành quả của chuyến lữ hành. Lại nữa, nó kết tinh tất cả tài năng lỗi lạc của tác giả. Có điều ta phải than tiếc là con người kỳ tài đó thể chất nay ngày càng suy yếu, lông mi lông mày đă bạc đi nhiều.

Tháng 4 năm Genroku thứ 7 (1694)

Soryuu đề  

Lời B́nh: 

“Khô khan đạm bạc” (karabiからび = 枯淡khô đạm) là tiêu chuẩn thẫm mỹ có tự thời trung cổ (Kamakura đến Muromachi) và “thanh nhă diễm lệ” (en = diễm) là điều kiện tất yếu của văn học thời vương triều (Heian) trước đó. Như vậy, ngay câu đầu bài Bạt, Soryuu muốn ca ngợi Bashô đă biết kết hợp tất cả cái hay cũ và mới của người đời trước. 

“Chỗ mạnh” Soryuu muốn nói là sự hùng hồn, “chỗ yếu” là tinh tế, cũng không hề hàm ư chê bai, nếu không phải là muốn nói ngược lại.                      

“Ngọc của người Giao” đến từ một điển cố Trung Quốc. Họ tưởng tượng ở vùng Nam Hải có một loại nhân ngư (mermaid) mà nước mắt của chúng khi ứa ra sẽ biến thành những viên ngọc đẹp. Điển này có chép trong Thuật Dị Kư và đă gợi nguồn cảm hứng cho vở tuồng Nô nhan đề Gappo (Hợp Phố). Ở đây, Soryuu có ư tán thưởng văn chương Bashô đă kết tụ được những ǵ quí hiếm như châu ngọc vậy. 

Riêng người đề bạt, Soryuu 素龍 (Tố Long) th́ tên thật của ông là Kashiwagi Gisaemon 柏木儀左衛門 (Bá Mộc Nghi Tả Vệ Môn), hiệu Soryuusai 素龍斎(Tố Long Trai), có hiệu khác là Takemoto (Zenko, Toàn Cố). Ông sống ở vùng Ôsaka, là một rônin (vũ sĩ vô chủ) của phiên Awa., vốn quen biết với Bashô từ lâu năm. Mùa đông năm Genroku thứ 5 (1692), ông xuống Edo và được Bashô ủy thác việc chép lại Đường Ṃn Miền Bắc (Oku no hosomichi) cho chu đáo. Năm Genroku thứ 7, ông c̣n viết tựa cho Bị Đựng Than (Sumidawara) nữa. Soryuu là người thân cận nhưng không phải là môn sinh của Bashô. Thơ phú của ông không nhiều, duy để lại bút tích về thư pháp và được biết như nhà lư luận thi ca, nghiên cứu văn học cổ điển và b́nh luận văn chương.

Bashô ngưng tụ trong kư ức 

IV)           Kết từ: 

Trong haiku của Bashô có hai yếu tố quan trọng là thuyết “bất dịch lưu hành” (不易流行nghĩa là ở đời, có cái chuyển đổi và có cái bất biến) và thuyết “phong nhă chi thành”風雅の誠 (sự thành thực trong thơ).  

Hai khái niệm “bất biến” và “lưu hành” mới nh́n bề ngoài th́ như đối lập nhưng trên thực tế không hề như vậy. Nếu thực sự có chuyện đó th́ đă không có thơ haiku. Bởi v́ h́nh tướng của thời đại mà người làm thơ bắt gặp là cái “lưu hành” trong khi c̣n có những yêu tố siêu thời đại, vĩnh viễn bền chặt với thời gian. 

Sự tao nhă (phong nhă = fuuga) cũng vậy. Thơ hay không phải v́ diêm dúa hoa hoè hoa sói. Nó phải được sinh ra từ những t́nh cảm mộc mạc chân thực. Tao nhă dĩ nhiên là lư tưởng của thơ haikai nhưng “ḷng thành” (makoto) lại được xem như cốt lơi của nó.  

Bashô như đă bắt đầu lập thuyết “bất dịch lưu hành luận” vào năm mùa đông năm Genroku thứ 2 (1689) sau khi chấm dứt chuyến đi về miền Bắc. Như vậy đoạn đường dài Oku no hosomichi đă hoài thai lư thuyết của ông vậy.

Reginald Horace Blyth (1898-1964) 

R.H.Blyth có lần viết: “Văn học Nhật Bản chỉ bắt đầu từ năm 1644”. Như một sự ngẫu nhiên, đó là năm Bashô ra đời! Câu nói nghịch lư trên nhằm đánh giá cao vai tṛ của Bashô đối với văn học Nhật Bản. Dù kính trọng và yêu mến giáo sư Blyth về sự hiểu biết trác tuyệt và nhiệt t́nh vô bờ bến của ông đối với Haiku cũng như đất nước Nhật Bản, nơi ông chọn gửi nắm xương tàn, chúng ta cũng không thể chấp nhận một quan điểm cực đoan như thế trừ phi đó là lời phát biểu nhằm mục đích đánh mạnh vào tâm thức người đọc. Cùng lắm chỉ có thế xem Bashô như kẻ đă có công khai thông kinh mạch, điểm nhăn cho con rồng văn học Nhật Bản vốn tù túng bay được ra ngoài phạm vi đảo quốc. Thực vậy, trong haibun của Bashô, ngoài bóng dáng thi ca cổ điển Đường Tống, ta c̣n thấy triết lư Nho Thích Lăo, nhất là Thiền Tông, đứng bên cạnh tư tưởng Thần Đạo, dân ca miền Đông tự thời Vạn Diệp xen lẫn truyện thơ thời vương triều, Waka cung đ́nh trong 18 tuyển tập soạn theo sắc chiếu, bút kư lữ hành, thơ renga, dao khúc tuồng Nô cũng như sân khấu Jôruri ... vốn là những yếu tố bản địa. Bashô c̣n biết sử dụng khéo léo các nghệ thuật tu từ truyền thống như kakekotoba (chữ đồng âm dị nghĩa), engo (chữ gợi ư) mitate (h́nh ảnh ví von) .... Do đó, Oku no hosomichi là nơi tụ họp biết bao tinh hoa của văn chương Nhật Bản. Nó không chỉ là một du kư đường trường trong đó những yếu tố hiện thực và hư cấu ḥa quyện vào nhau, nơi con người hiện tại bắt gặp người ngàn xưa, mà c̣n là một bản trường ca đậm chất trữ t́nh, một tuyên ngôn về nhân sinh quan có tính triết học.   

***

Đi xa hơn một chút ra ngoài phạm vi nội dung tác phẩm đang đọc, chúng tôi muốn nhắc đến công lao của những nhà dịch thuật đă phổ cập Oku no hosomichi nói riêng và thể thơ haiku nói chung đến độc giả nước ngoài. Áng văn này đă được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có Anh, Pháp, Việt ...với các dịch giả như Donald Keene, Alain Walter, Vĩnh Sính ... và không chỉ với các vị đó mà thôi. Tính sơ qua cũng đă có trên 10 bản dịch ra Anh ngữ[164]. Mỗi người một vẻ, dịch bao nhiêu lần cũng chưa đủ.

         

Donald Keene, Alain Walter Vĩnh Sính đă dịch Oku no hosomichi qua tiếng mẹ đẻ 

Nhờ sự đóng góp của những dịch giả giới thiệu haibun và haiku như thế mà ngày nay, cả bên Trung Quốc, đă có Hán thi làm theo thể haiku ( 5 /7 / 5) và có khi nó cô đọng lại thành những bài thơ cực ngắn với 10 chữ mà thôi. Ví dụ bài haiku danh tiếng “Con ếch nhảy xuống ao” của Bashô đă biến dạng như sau: 

古池塘
青蛙跳入
発清響
 

Cổ tŕ đường,
Thanh oa khiêu nhập
Phát thanh hưởng.
 

Bài thơ nói về “Giải Ngân Hà bắc qua đảo Sado” và bài “Cỏ mùa hạ trên cổ chiến trường” đều do Bashô viết lại được học giả trứ danh người Mỹ Donald Keene chuyển qua tiếng Anh, hầu như đúng theo thể 5 / 7/ 5 của nguyên tác:  

Turbulent the sea
Across to Sado stretches
The Milky Way 

The summer grasses
Of brave soldiers’ dreams
The aftermath.
 

Năm 1999, một Hiệp hội quốc tế về Haiku đă được thành lập. Điều đó cho ta thấy thế giới nay đă công nhận haiku như một h́nh thức văn học chung cho nhân loại. Thế nhưng, điều quan trọng hơn cả là trên thực tế, các nhà thơ haiku từ đây sẽ làm thơ với tất cả dam mê và với tinh thần haiku bằng tiếng nước ḿnh.

Viết xong ở Inoue Memorial Hospital, Chiba (Nhật Bản), 8/11/2014

Cập nhật 6/12/2014                                 

 

Tư Liệu Tham Khảo   

1) Akatsuka Tadashi và 49 biên tập viên, Nihon koten bungaku meichô no sôkaisetsu (B́nh giảng chung về những trứ tác văn học cổ điển nổi tiếng) Nhà xuất bản Jiyuu kokuminsha, Tokyo.

2) Ebara Taizô (1894-1948), 1952, Ogata Tsutomu, 2003 Oku no hosomichi – Sora Zuikô Nikki, Kagokawa Bunko, ấn bản lần thứ 15 (2013).

3) Hisatomi Tetsuo (1926-2007), 1980, Oku no hosomichi, Kôdansha, Tokyô, ấn bản lần thứ 46 ( 2012).

4) Hori, Nobuo, Zuchinban Bashô Zenku, 2004, Shôgakukukan, Tokyo.

5) Takeda Tomohiro (1943), 2001, Oku no hosomichi, Kadogawa Classic Beginners, Kadogawa, Tôkyô, ấn bản lần thư 30 năm 2013. ,

 


[1] Nguyên văn là nhật nguyệt, đáng lẽ phải dịch “mặt trời và mặt trăng” là những vật cụ thể và chuyển động (như cách hiểu di chuyển từ Đông sang Tây... của người xưa) nhưng như thế th́ vướng chữ niên (năm) theo sau bởi v́ niên chỉ là một khái niệm lịch học. Thơ Tào Tử Kiến đời Tam Quốc từng có câu: Nhật nguyệt bất hằng xứ. Nhân sinh hốt nhược ngụ.

[2] Có lẽ mượn ư của Lư Bạch, nhà thơ du hành lớn Trung Quốc, trong Xuân dạ yến đào lư viên tự (Bài tựa vể việc đêm xuân bày tiệc vườn đào lư): Quang âm giả, bách đại chi quá khách.

[3] Ám chỉ những nhà thơ. Fuuga (phong nhă).

[4] Không thấy trong nguyên tác. Tuy nhiên các người “thông dịch” Bashô sang kim văn đều “minh họa” như vậy. Xin để ư bốn nhân vật này đều chết trên đất khách (khách tử). Lư Bạch chết đuối v́ say rượu bên sông Thái Thạch huyện Đang Đồ tỉnh An Huy (năm 762) trên đường về sau khi được ân xá tội lưu, Đỗ Phủ ốm chết trong một khoang thuyền ở Nhạc Dương trên Động Đ́nh Hồ cuối cuộc đời phóng lăng (770), Saigô chết trong một ngôi chùa ở Kawachi (1190), Sôgi chết ở Hakone Yumoto (1502), đều đang trên bước lữ hành. Tất cả không hề thấy lại cố hương.

[5] Chỉ các băi biển Wakanoura, Suma và Akashi trong chuyến đi từ Edo về miền Tây hạ tuần tháng 10 năm 1687

[6] Phá ốc破屋, tiếng khiêm xưng nói về căn nhà của ḿnh (Am Bashô II) ở khu Onakigawa bên bờ sông Sumida (Edo) nhưng có phong vị thơ Đỗ Phủ khi vịnh ngôi nhà tranh của ḿnh trong đất Thục bị gió băo làm tróc mái (Mao ốc thu phong phá sở ca).

[7] Shirakawa no seki白河の関, một trong 3 cửa quan vùng Michinoku, nay nằm ở thị trấn Shirakawa tỉnh Fukushima, nổi tiếng v́ bài waka của Pháp sư Nôin能因 (988-1050, 1051?) nói về gió thu trên cửa quan, bắt đầu với câu: Miyako wo ba...Cửa ải này để pḥng chống người thiểu số Ezo nhưng vào thời Bashô th́ đă hoang phế. Đây là một “gối thơ nổi tiếng”. Quan hà 関霞, 関河đều là những từ hoa trong Hán thi.

[8] Michinoku 陸奥tức “miền Bắc sâu thẳm” trong tâm thức Bashô, nhưng đơn vị hành chánh thời xưa (thế kỷ thứ 7) của nó gọi là Mutsu no kuni陸奥の国 ngày nay bao gồm các tỉnh Fukushima, Miyagi, Iwate, Aomori và một phần của Akita. Đương thời được xem như là vùng cực bắc v́ lúc đó Hokkaidô c̣n là đất của người Ezo, chưa thuộc vào lănh thổ Nhật Bản. Vẻ đẹp thanh u của vùng này đă được các thi nhân đời Heian ca tụng. Vị vương hầu là Quan tả đại thần Minamoto no Tôru (822 - 895), con trai thiên hoàng Saga, đă mô phỏng cảnh vườn trong phủ đệ Kawara của ḿnh theo h́nh ảnh Michinoku.

[9] Một ông thần xui giục du hành, giống như vị thần có tên là “Bộ thần” (Arukigami歩き神) làm người ta ngứa chân muốn đi, thấy trong tín ngưỡng dân gian. Có nơi giải thích là ông thần tượng trưng cho hồn thi ca của cổ nhân và không rơ h́nh dạng.

[10] Thần bảo vệ người đi đường. Xem thêm thơ Kanke (Sugawara no Michizane) bài số 24 trong Hyakunin Isshu (Bách nhân nhất thủ, NNT dịch thành Thơ Waka trăm nhà, có đăng trên mạng).

[11] Tam Lư三里 là huyệt có ở tay và chân. Người ta cho rằng châm cứu các huyệt đạo này có thể trừ bá bệnh.

[12] Chùm đảo hơn 260 đảo nhỏ, giống như Vịnh Hạ Long của ta, nằm ở Sendai (tỉnh Miyagi bây giờ). Cùng với Amanohashidate (Miyazu) và Itsukushima (Hiroshima) là một trong “Nhật Bản tam cảnh”. Bashô có vẻ áy náy nếu thời tiết xấu, ông sẽ không tận hưởng được ánh trăng.

[13] Có thể là Saicha-an (Thái trà am) ở Fukagawa, một trong những biệt thự của Sanpuu, học tṛ lâu đời và mạnh thường quân của Bashô. Sanpuu làm nghề buôn cá, lui tới với Mạc Phủ, rất giàu có.

[14] Yo ở đây tuy viết tà (thay thế) nhưng âm yo c̣n có thể viết là (đời, thế hệ).

[15] Cho biết trong gia đ́nh người chủ mới đến ở có con hay cháu gái, xinh như búp bê (hina), khác với lăo già khó coi là nhà thơ. Hina c̣n ám chỉ Hinamatsuri (Lễ chưng con nộm và hoa quả mừng các em bé gái nhằm ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch), một quí ngữ để chỉ tháng ba. Như thế căn nhà từ đây sẽ có dịp trang trí những con nộm xinh đẹp. Có sách c̣n chú giải người chủ nhân mới của ngôi nhà chuyên nghề buôn bán con nộm hina nữa.

[16] Đây là một hokku mở đầu cho chùm thơ 8 ku (cú) làm ra để chào đón người chủ mới ấy.

[17] Về tác giả Hải Đạo Kư, có nhiều thuyết: Kamo no Chômei, Minamoto Mitsuyuki hay Fujiwara Hideyoshi. Sách gồm 3 phần, trước kể chuyến hành tŕnh của tác giả từ Kyôto lên Kamakura rồi trở lại Kyôto, sau là việc ư định qui y mà ḿnh có đă ăn sâu thêm từ sau cuộc hành tŕnh.Nội dung có nhiều từ chữ Hán và Phật giáo.

[18] Đông Quan Kỷ Hành gồm 1 quyển. Kể chuyện chuyến từ Kyôto đến Kamakura rồi trở về của tác giả v́ Đông Quan ám chỉ miền Đông so với Kyôto. Văn thể pha lẫn Ḥa Hán, nhiều đối cú. Tác giả có thể là Kamo no Chômei, Minamoto Mitsuyuki hay Minamoto Chikayuki. Một bản cổ có tựa đề “Ghi chép về chuyến đi của Chômei”, (Chômei michi no ki).

[19] Dĩ nhiên ngày nay là khu trung tâm Tôkyô với phố xá sầm uất và những ṭa nhà cao tầng.

[20] Cháu Nữ thần Thái Dương (Amaterasu), c̣n gọi là Thiên Tôn, được bà cử giáng xuống cơi trần để trị v́ nước Nhật.

[21] Cá konoshiro (dotted gizzard shad) lưng bạc da đốm đen, dài khoảng 25 cm, chỉ dùng để ăn sống lúc nó là cá con khoảng 10cm (trong các món sushi, tên là kohada)

[22] Bài số 49: Kakutodani / E yaha ibuki no / Sashi mogusa / Sashimo shiraji na / Moyuru omoi wo (Thương nhớ mà nghẹn lời/ Có biết cho t́nh tôi? / Dẫu bùng thua ngải núi / T́nh vẫn cháy không thôi).

[23] Sách Luận Ngữ, đoạn Tử Lộ 12: Cương nghị bất nột, cận nhân dă.

[24] Hoang có thể hiểu là trơ trụi hoang vu, có thể hiểu là băo tố.

[25] Nguyên văn “phi lưu bách xích” đến từ bài thơ nhan đề Lư Sơn bộc bố ca của Lư Bạch: Phi lưu trực há tam thiên xích. Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

[26] Ám chỉ các nhà thơ Tôsetsu (Đào Tuyết) và Tôsui (Đào Thúy) sẽ xuất hiện trong các đoạn sau.

[27] Nasuno tức Nasunogahara, 那須野が原, phía bắc tỉnh Tochigi, một vùng đồng bằng nằm ở hướng nam rặng Nasugatake.

[28] Ngựa này cũng dùng để chở cỏ đă cắt về nhà.

[29] Kasane hay có nghĩa là kép, nhiều tầng, chồng lên nhau. C̣n Yae八重 cũng là nhiều tầng. Nadeshiko 撫子là tên gọi là hoa nữ lang女郎花hay hoa kiết cánh 桔梗 (tiếng Anh: pink, bellflower, thoroughwort...), hoa cẩm chướng... nói chung là một loại hoa đồng cỏ nội, tượng trưng cho vẻ đẹp thô sơ của thiên nhiên vào mùa thu. Trong thi ca, nadeshiko thường được hiểu bóng bẩy là con cưng 愛撫する子 nữa.

[30] Nguyên tác là karô (gia lăo) như thủ tướng một tiểu quốc..

[31] Dĩ nhiên với tên đụt, đầu không bịt nhọn, chỉ dùng vào việc thao luyện.

[32] Cao Phong Nguyên Diệu (1238-1295), một thiền tăng Nam Tống, chuyên chú tọa thiền suốt 15 năm không ra khỏi “Tử Quan”, một cái hang ở động Trương Công, núi Thiên Mục (Hàng Châu).

[33] Tức Trung Phong Minh Bản ( 1263-1323), học tṛ chân truyền của Cao Phong Nguyên Diệu. Cất am tu bên cạnh hang Tử Quan. Sau khi chết, đưọc chôn trong tháp Pháp Vân.

[34] Suzuki Daisetsu (Thiền và văn hóa Nhật Bản), Akidzuki Ryômin (Công Án)

[35] Bài waka của danh tăng Saigyô西行 (1118-1190), nhà thơ du hành và nhà văn hóa lớn của Nhật Bản sống vào thời Kamakura. Được tuyển vào Shin Kokin Wakashuu (Tân Cổ Kim Ḥa Ca tập) phần nói về mùa hạ. Cũng là đề tài vở tuồng Nô của Kanze Nobumitsu観世信光 (1435-1516) nói về cao tăng Ippen一遍 (1239-1289), người được mệnh danh là Du hành thượng nhân 遊行上人 (đời thứ nhất), từng siêu độ linh hồn cho con tinh cây liễu già, nên cây liễu có tên là Du hành liễu.

[36] Bashô kín đáo muốn dấu tên nghân vật này nhưng đó là một quan chức lương 3.000 hộc thóc và là học tṛ của ông, biệt hiệu Tôsui桃酔 (Đào Túy).

[37] Cửa ải quan trọng đánh dấu cơi biên thùy, cửa ngỏ vùng Oku, được dựng nên pḥng việc người Ezo xâm nhập.

[38] Taira no Kanemori 平兼盛 ( ? – 990), vũ tướng có tài thơ, được xem như một trong Tam thập lục ca tiên thời Heian, chức tổng trấn vùng Tsuruga. Thơ rằng: Tayori araba / Ikade miyako e / Tsuge yaramu / Kyô Shirakawa no / Seki wa koenu to ( Shuui Wakashuu, Thập Di Ḥa Ca Tập. Thơ Ly biệt) Tạm dịch: Nếu có kẻ đưa tin. Xin nhắn giúp gia đ́nh. C̣n ở lại kinh đô. An toàn ta đă vượt. Ải Shirakawa. (Việc vượt qua ải này là một cái mốc tâm lư hơn là địa lư đối với Kanemori). 

[39] Tăng Nôin 能因( 988- ? ) (xem thêm chú bên trên) là nhà thơ waka đă làm cuộc lữ hành về miền Oku trước Bashô những bảy thế kỷ. Khi đi qua cửa quan Shirakawa, ông đă để lại bài thơ nói về thu phong được đời truyền tụng. Thơ như sau: Miyako wo ba / Kasumi to tomo ni / Tachi shikado / Aki kaze zo fuku / Shirakawa no seki (Go Shuui Wakashuu, Hậu Thập Di Ḥa Ca Tập, thơ Lữ hành). Tạm dịch: Ra đi khi sương lam. C̣n phủ trời kinh đô. Giờ Shirakawa. Nghe gió mùa thu nổi.   

[40] Vũ tướng Minamoto no Yorimasa 源頼政 (1104-1180), biệt hiệu Gensanmi 源三位, giỏi thơ waka (xem thêm chú bên trên), có lần xuống tóc qui y. Sau nhận lệnh hoàng tử Mochihito chống lại họ Taira nhưng thất trận trên cầu Uji, phải tự sát. Bài thơ của ông như sau: Miyako ni wa / Mada aoba nite / Mishikadomo / Momiji chirishiku / Shirakawa no seki  (Senzai Wakashuu, Thiên Tải Ḥa Ca tập, thơ Thu phần hạ). Tạm dịch: Khi ta rời kinh đô. Lá xuân xanh đầy cành. Đến Shirakawa. Mùa thu đà nhuộm đỏ. Rơi rụng biết bao nơi.  

[41] Hoa “u” (hoa măo) 卯の花, một loại hoa nhỏ màu trắng nở vào mùa hạ. Người Nhật thời cổ đă viết nhiều về nó nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là bài thơ của Nữ thiên hoàng Jitô 持統天皇 về cảnh hoa ấy nở trắng ngọn núi thiêng Kaguyama 香具山 (bài thứ 2 trong Hyakunin Isshu 百人一首, có thể đọc bản dịch của NNT trên mạng).

[42] Nhân vật chưa rơ là ai nhưng là phải là một đại thần.

[43] Fujiwara no Kiyosuke 藤原清輔(1104-1177, đại thần và nhà lư luận waka, đối thủ trên thi đàn của Fujiwara no Shunzei藤原俊成. Tác giả tập thi thoại và ca luận Fukuro sôshi袋草紙 (1157)

[44] Có hai lối đọc khác là ubara và mubara. Thân leo.

[45] Việc cài hoa cúc lên tóc ngày Tết Trùng Dương để trừ tà đă thấy trong thơ Đường (Cúc hoa tu sáp măn đầu qui).

[46] Shôen (trang viên), đơn vị kinh tế nông nghiệp thời phong kiến, khởi đầu cho chế độ lănh địa, lănh chúa về sau.

[47] Thực ra numa là ao chuôm hay đầm nước.

[48] Tôgyuu tức Đẳng Cùng (等窮1638-1715), họ là Sagara, tên là Izaemon. Ông xuất thân từ thi phái Teitoku và là đàn anh của Bashô trong làng thơ. Lúc đó khoảng 52 tuổi.

[49] Đặc sắc của ḥ cấy lúa xứ Oku nằm ở chỗ thô lậu, chất phác mộc mạc của chốn đồng quê miền biên ải, gọi là hinabi (bỉ 鄙び), khác với cái đẹp tao nhă sang trọng là nhă ( miyabi ) của thi ca cung đ́nh.

[50] Gyôki行基 (hay Hành Cơ, 668-749), sống vào thời Nara, một trong những tăng sĩ Nhật Bản buổi đầu. Được kính trọng nhiều nhất v́ đă kêu gọi làm những công tác thổ mộc giúp đời như dựng chùa chiền, xây cầu, đắp đường và biết sống gần gũi với đại chúng b́nh dân. Ông cũng là người đi rất nhiều.

[51] Katsumi かつみđầu là tên cây lau nhưng Katsumi thứ hai có nghĩa là “từng (katsu) một lần đă thấy (mi)”..

[52] Về tục lệ này xin xem trong Tsurezuregusa của Yoshida Kenkô (NNT dịch là Buồn buồn phóng bút và có đăng toàn văn trên mạng.)

[53] Yama no i là Giếng trên núi. Dĩ nhiênlàm ǵ có giếng trong núi sâu. Phải hiểu giếng đây là vũng dưới khe nước, một thứ giếng thiên nhiên. Cách gọi này đă từng thấy trong thơ Vạn Diệp (Man.yôshuu).

[54] Asakayama (Thiển Hương Sơn = Núi Hương Nhạt).

[55] Con trai Thiên hoàng Saga, hoàng tử Minamoto no Tôru (822-895) làm đến chức Tả Đại Thần và suưt nữa đă thành Thiên hoàng. Ông yêu cảnh trí vùng Đông Bắc nên đă kiến tạo ở Kyôto phủ đệ Kawara-in rập theo khuôn mẫu đó. Nỏi tiếng là người hào hoa phong nhă. 

[56] Satô Tadanobu ( ? – 1189), samurai thời Heian, xuất thân vùng Shinobu. Trước là bộ hạ họ Fujiwara ở Hiraizumi, sau theo hầu Yoshitsune, có lần giả dạng chủ ở lại kháng chiến trong vùng núi non Yoshino . Sau khi Yoshitsune chết, vào ẩn nấp ở Kyôto, bị địch phát giác, phải tự sát.

[57] Theo sách Mông Cầu, đó là tấm bia kỷ niệm Thái thú đất Tương Dương là Dương Hổ ở Nghiễn Sơn, nơi ông hay lên chơi. Là người có ân đức với dân nên sau khi ông chết, ai qua đấy thấy tấm bia cũng nhỏ lệ thương tiếc. Trụy Lệ Bi là tên do Đỗ Dự đặt ra.

[58] Bashô mắc chứng sạn trong túi mật, khi trời trở lạnh th́ đau đớn.

[59] Chữ trong Luận Ngữ:” Dư túng bất đắc đại táng. Dư tử ư đạo lộ hồ”..

[60] Samidare (五月雨mưa dầm đầu tháng năm âm lịch). Áo tơi (mino), nón lá (kasa) có hiệu quả hô ứng với nó.

[61] Họ Date 伊達 tự xưng là một nhánh quí tộc Fujiwara, tổ tiên thời Kamakura có công b́nh định miền Đông Bắc nên đưọc ban thưởng thực ấp ở Date, từ đó lấy tên đất làm họ. Đến đời Date Masamune 伊達正宗 (1567-1636) nhờ đồng minh với Tokugawa Ieyasu nên sau khi mạc phủ thành lập, trở thành một lănh chúa quan trọng vùng Sendai.

[62] Cây tùng sống một ngh́n năm (thiên niên thọ). Sở dĩ Nôin nói thế v́ có lẽ một ngh́n năm trước cây tùng chưa có, c̣n lúc ông đến nếu không thấy nên tự hỏi nó đă chết rồi chăng?

[63] Miền Đông Bắc lạnh hơn Kyôto nên tính theo lịch th́ hoa anh đào nở chậm.

[64] Ngoài ra Kaemon c̣n tặng Bashô một đăy cơm khô kiểu Sendai và rong biển phơi khô làm thức ăn đi đường. Tất cả đều là sản vật nổi tiếng của vùng.

[65] Đây chính là một Oku no hosomichi thứ hai, cần phân biệt với con đường lớn Ôshuu kaidô (Áo châu nhai đạo).

[66] Asemi c̣n dọc là Asebi (Mă Túy Mộc), loại hoa độc làm cho ngựa say.

[67] Lư Bạch: Địa băng sơn tồi, tráng sĩ tử (Thục đạo nan)

[68] Hàn Thoái Chi có Thạch Cổ Ca, Tô Đông Pha có Hậu Thạch Cổ Ca, đều than tiếc không đọc đưọc mặt chữ trên trống đá đời xưa.

[69] Hàn Thoái Chi: Đối chi thê lệ song bàng đà.(Thạch cổ ca). Bàng đà có nghĩa là lai láng.

[70] Bạch Cư Dị: Tỉ dực điểu, liên lư chi. Lời thề của Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi trong đêm Thất Tịch (Trường Hận Ca). Sau đă đi vào Truyện Genji của Nhật.

[71] Khu mộ địa ở Shiogama là trong Tùng Đảo (Matsushima) bát cảnh.

[72] Cách diễn tả từng thấy trong Man.yôshuu và sau đó là Hyakunin Isshu (thơ Minamoto no Sanetomo).

[73] Nijôin Sanuki 二条院讃岐, một nữ thi nhân cung đ́nh. Bài này của bà cũng đă được tuyển vào Hyakunin Isshu (bài số 92, xem bản dịch NNT có in trong Thơ Waka trăm nhà. Đă được in lên mạng).

[74] Oki c̣n có nghĩa là “ngoài khơi xa”.

[75] Xem thêm bài số 90 trong Hyakunin Isshu của bà con gái Taifu Inpumon (NNT dịch và đă cho lên mạng)

[76] Xem thêm bài số 42 trong Hyakunin Isshu cùng đề tài của Kiyohara Motosuke (NNT dịch và đă cho lên mạng.

[77] Xin xem thêm bài 93 của Minamoto no Sanemoto (có câu Tsunaide kanashi mo để hiểu kỹ thuật kẻ kéo người giật để đưa thuyền về bến) trong Hyakunin Isshu (NNT đă dịch và đưa lên mạng).

[78] Izumi no Saburô Tadahira i和泉三郎忠衡tức “Chàng Ba” nối chí của cha, không như các anh v́ muốn thỏa hiệp (đă phản bội và tập kích Yoshitsune ḥng giữ Hiraizumi độc lập nhưng rốt cuộc mắc mưu phản gián, bị đối phương là Mạc phủ Kamakura tiêu diệt). Saburô đă tự sát cùng với Yoshitsune.

[79] Ojima (雄島Hùng đảo) là một đảo lớn trong cḥm đảo Matsushima.

[80] Lạc Tân Vương: Môn thính Chiết giang triều (Linh Ẩn Tự).

[81] Đỗ Phủ: Tây Nhạc lăng tằng sơ xứ tôn. Chư phong la lập tự nhi tôn (Vọng nhạc).Lăng tằng là núi chập chùng.

[82] Tô Đông Pha: Nhược bả Tây Hồ tỉ Tây Tử. Đạm trang nồng mạt lưỡng tương nghi (Tây Hồ)

[83] Thần Sơn Nhạc, bố vợ của Thiên tôn Ninigi. Đă nói đến trong đoạn 4 Muro no Yashima.

[84] Đỗ Phủ: Tạo Hóa chung thần tú (Vọng nhạc)

[85] Thiền sư Ungo (雲居Vân Cư, 1582-1659) là người trung hưng Zuiganji (Thụy Nham Tự) , vai thầy của Ḥa thượng Butchô (Phật Đính). Người sau lại là thầy của Bashô.

[86] Ngủ trên bến nước là một cái thú. Cổ thi có câu: Kim dạ cố nhân giang thượng túc (Giang vũ)

[87] Hạc là một loài chim cao quí và trường thọ như tùng nên mới có thể xứng đôi với tùng.

[88] Biệt hiệu của Yamaguchi Shinshô (山口信章Sơn Khẩu Tín Chương, 1642-1716), bạn của Bashô, giao du từ thời cả hai c̣n theo trường phái Danrin.

[89] Hara Anteki原安適là một y sư và nhà thơ waka hiếm hoi vào thời ấy, sống ở Edo.

[90] Học tṛ Bashô. Tên thật là Nakagawa Jingobê, một phiên sĩ phiên Ôgaki.

[91] Tục danh của Pháp Thân ḥa thượng (Hôshin Oshô), khi lớn tuổi mới xuất gia. Không nghe nói đến văn chương của ông.

[92] C̣n gọi là Kenbutsu Hijiri (Kiến Phật Thánh見仏聖), người cuối thời Heian, đă lập am tu 12 năm ở Matsushima, chép 6 vạn bộ kinh Pháp Hoa.Rất được Saigyô kính trọng.

[93] Sở dĩ Bashô đặt câu hỏi như vậy là v́ khung cảnh chùa chiền tráng lệ hiện tại của Zuiganji như đối nghịch với phong cách đạm bạc của Kenbutsu Shônin, con người ẩn dật ,từng ở đây.

[94] Kinkazan金華山, ḥn đảo ngoài khơi tỉnh Miyagi, diện tích 9km2, cao khoảng 445 m. Đă được nhắc đến trong một bài thơ khánh hạ của Ôtomo Yakamochi(Đại Bạn Gia Tŕ, 大伴家持, 716?-785) thi nhân thời Vạn Diệp khi các bộ tộc miền Bắc đến dâng vàng cho Thiên hoàng Shômu. Bài thơ nói về “những đóa hoa bằng vàng” nở trên núi Michinoku 陸奥山mà người ta tưởng lầm là Kinkazan.

[95] Ám chỉ hào tộc địa phưong Ôshuu Fujiwara奥州藤原, xuất phát từ một người ḍng Bắc của cánh quyền thần Fujiwara lên Đông Bắc làm quan trấn thủ. Vào cuối thời Heian (thế kỳ 12), họ đă chiếm cứ vùng Mutsu, Dewa, độc lập với triều đ́nh. Đời đầu tiên là Kiyohira清衡 truyền xuống Motohira元衡, sau đó là Hidehira秀衡 (thời toàn thịnh), đến đới thứ 4 là Yasuhira泰衡 th́ bị Minamoto no Yoritomo mượn cớ họ chứa chấp Yoshitsune, em trai nhưng là cừu địch, đem quân lên tận diệt vào năm 1189.

[96] Nguyên văn “栄耀一睡” vinh diệu nhất thụy, theo ư giấc mộng kê vàng của 盧生Lư sinh (邯鄲夢Hàm Đan mộng).

[97] Tachi, c̣n đọc là Tate, là những ngôi thành nhỏ miền Đông Bắc, thiết kế dựa vào g̣ núi và đối mặt với đầm lầy, sông ng̣i, để có địa h́nh tiện việc pḥng thủ, nhưng ở đây Takadachi là danh từ riêng, nơi Yoshitsune lánh nạn.

[98] Minamoto no Yoshitsune 源義経(1159-1189), vơ tướng tài ba đă giúp Yoritomo, anh ḿnh, diệt họ Taira, trả thù nhà và khai sáng Mạc phủ Kamakura. Sau v́ bị anh hiềm nghi, trở thành cừu địch, đành lên miền Bắc lẫn trốn, nương nhờ ḍng họ Fujiwara ở Hiraizumi. Bị con thứ hai của người đồng minh cũ (Hidehira) là Yasuhira công hăm, phải tự sát vào năm 1189. Ông là một người anh hùng hẩm vận được người Nhật đến nay vẫn yêu quí.

[99] Đỗ Phủ: Quốc phá sơn hà tại. Thành xuân thảo mộc thâm (Xuân vọng). Hồ Bá Vũ: Bạch cốt thành biên thảo tự thanh (Vọng hoài).

[100] Đỗ Phủ: Ưu lai, tịch thảo tọa.Hạo ca lệ doanh bả (Hoa Thanh Cung).

[101] Kanefusa 兼房là tên một lăo thần của Yoshitsune, tóc bạc trắng mà vẫn c̣n chiến đấu anh dũng để bảo vệ chủ tướng.

[102] Do Fujiwara no Kiyohira 藤原清衡 xây cất lên để tàng trữ 16.000 quyển kinh quan trọng. Năm 1337, tầng gác đă bị hỏa hoạn cháy mất.

[103] Lấy từ bài Trịnh pḥ mă Tiềm Diệu yến động trung (Con rể nhà vua là pḥ mă Trịnh Tiềm Diệu dăi yến ở động Liên Hoa).

[104] Thời ấy, trên những tuyến đường hẻo lánh c̣n có khả năng gặp trộm cướp nữa.

[105] Hoa thuốc nhuộm (benibana) có màu hồng hoàng vừa có thể nhuộm lụa, vừa có thể để phụ nữ tô môi.

[106] Jikaku daishi慈覚大師, thụy hiệu của tăng Ennin 円仁 (Viên Nhân, 794-864), giáo tổ phái sơn môn tông Thiên Thai.

[107] Thơ Hàn San: Xuất gia yếu thanh nhàn. Thành nhàn tức vi quí (Hàn San thi)

[108] Bản giáo sư Ueda Makoto sử dụng viết là shimikomu浸み込む thay v́ shimiiru浸み入る như bản được sử dụng ở đây. Tuy vậy nghĩa không khác bao nhiêu dù động từ komu mạnh hơn là iru.

[109] Xin tham khảo cổ thi. Thơ Vương Tịch: Thiền táo, lâm du tĩnh. Điểu đề sơn cánh u (Ve ngâm, rừng lại vắng. Chim hót, núi thêm buồn). Đỗ Phủ: Phạt mộc đinh đinh, sơn cánh u (Cây chặt vang vang, núi vắng thêm). Vương An Thạch: Điểu bất đề, sơn cánh u (Không tiếng chim kêu, rừng vắng vẻ). Như vậy, lúc đến Risshakuji, Bashô có nghe được tiếng ve. Tuy nhiên, cái tịch mịch ở đây là chân tướng của thiên nhiên. Nó vượt lên trên sự có mặt hay không của mọi âm thanh.

[110] Mogami là tên ḍng họ cai quản ở đấy nhưng có nghĩa là nơi cao nhất.

[111] Hán Ḥa Lăng Vịnh Tập, phần nói về Ôe Tomotsuna có câu: Hồ giác nhất thanh sương hậu mộng.Hán cung vạn lư nguyệt tiền trường (Vương Chiêu quân). Hồ giác và già địch nói lên không khí hoang dă nơi biên tái, thích hợp với vùng Oku.

[112] Địa danh Nhật Bản ngày xưa thường được gọi một cách bóng bẩy là “châu” như bên Trung Quốc.. Ví dụ vùng Nagano là Tín châu (Shinshuu), Kai thuộc Yamanashi là Kôshuu (Giáp châu), Niigata, Toyama, Fukui là Việt châu (Esshuu)

[113] Thi tuyển thơ waka tư nhân gồm 30 tập 17.350 bài các đời từ Manyô.shuu do Fujiwara no Nagakiyo soạn khoảng năm 1310. Fuboku (Phù Mộc) đồng nghĩa với Phù Tang, chỉ nước Nhật.

[114] Thành ngữ xưa: Huân phong tự nam lai. Hô ứng với Minamidani (Nam Cốc).

[115] Thiên hoàng Sushun (Sùng Tuấn, tại vị 587-592), con trai Thiên hoàng Kinmei (Khâm Minh).nên con ông, đại sư Jikaku có thể là người khoảng cuối thế kỷ thứ 6 đầu thứ 7.

[116] Chùa ở Edo vùng Musashi (tức ngôi chùa tổng bản sơn giáo phái Thiên Thai như Hieizan nhưng nằm ở Ueno khu Taitô thủ đô Tôkyô bây giờ)

[117] Chuyện xảy ra cuối đời nhà Chu, người thợ rèn Can Tương và vợ là Mạc Da đă vào núi Ngô Sơn để đúc cặp thư hùng kiếm cho vua nước Sở (theo Ngô Việt Xuân Thu).

[118] Cổ thi có câu: Tuyết lư ba tiêu Ma Cật họa.Viêm thiên mai nhị Giản Trai thi (theo Thiền Lâm Cú Tập, một tác phẩm nằm ḷng của Bashô). Ma Cật là Vương Duy, Giản Trai th́ người dịch chưa rơ là ai.

[119] Gyôson (1055-1135), tăng vân du Hành Tôn, chức đại tăng chính, tọa chủ phái Thiên Thai.

[120] Thơ trong Kinkaishuu (Kim Hoè Tập). Cũng là bài 66 trong Hyakunin Isshu: Moro tomo ni / Aware to omoe / Yamazakura / Hana yori hoka ni/ Shiru hito mo nashi. NNT đă dịch và cho lên mạng: Hỡi cây anh đào núi, / Có thấu đến t́nh ta? / Gọi nhau bằng tri kỷ, / Ai ngoài đôi ḿnh ra. Thơ Gyôson. 

[121] Lối vào núi Yudono có đặt một cái quán nơi khách hành hương phải để lại kim ngân tiền bạc, ăn mặc thật giản dị rồi mới được đi tiếp.

[122] Một nhà thơ haikai thuộc phái Bashô.

[123] Ư nói đụn cát (sa khâu). Thơ vịnh Tây Hồ có câu: Tây Hồ thập lư ngạn hoành tà. Ổn đạp thanh hài bộ nhuyễn sa (Mông Cầu).

[124] Shiogoshi汐越, nghĩa là “ngọn triều đỗ đến”, một địa danh nơi người ta sống bằng cách lấy nước triều làm muối.

[125] Đây là Tây Hồ bên Trung Quốc, có thập cảnh, ở Hàng Châu. Tô Đông Pha có câu: Thủy quang kiểm lệ t́nh thiên hảo. Sơn sắc mông lung, vũ diệc kỳ.Nhược bả Tây Hồ tỉ Tây Tử. Đạm trang nồng mạt lưỡng tương nghi. Sách Ngạn từng viết: Dư Hàng môn ngoại nhật tương phô. Đa cảnh mông lung, nhất cảnh vô. Ám đắc vũ kỳ, t́nh hảo cú. Ám trung mô sách thức Tây Hồ (Văn quá Tây Hồ). Cả hai đều thấy chép trong tác phẩm gọi là Liên châu thi cách. Có lẽ Bashô mượn ư từ tác phẩm này để nói lên rằng cảnh Kisagata cũng như Tây Hồ lúc tạnh hay mưa đều có vẻ đẹp riêng cũng như nàng Tây Thi dù lúc vui hay buồn.

[126] Jinguu kôgyô神功皇后 (Thần Công Hoàng Hậu), trang nữ lưu vũ dũng thời cổ đại, có tính truyền thuyết, từng thay chồng cử binh đi đánh Tân La (một nước trên bán đảoTriều Tiên).Có nơi chép là đánh Kudara (Bách Tế) cũng trên bán đảo ấy.Nói chung là cuộc viễn chinh đánh 3 nước Hàn (Tam Hàn chinh phạt).

[127] Kanmanshuu Can măn châu 干満洲 (G̣ nổi nơi triều lên triều rút) nay viết là 蚶満珠 (Hàm măn châu) mà “hàm” có nghĩa là con ṣ huyết (akagai). Một ngôi chùa đă được dựng lên trên đó để tưởng nhớ dấu vết hành cung Hoàng hậu Jinguu hồi ở Kisagata đợi nước triều dâng để xuất quân.

[128] Hoa của một loại cây cao, gỗ có thể đem làm dụng cụ. Hoa màu hồng, quí ngữ (kigo) của mùa hạ. Cây này c̣n được gọi là nemu no ki (cây buồn ngủ), tiếng Anh là silk tree (cây lụa), viết âm Hán là hợp hoan mộc合歓木. Cây này gặp mưa th́ lá xếp cánh lại như người buồn ngủ.

[129] Tương truyền Tây Thi mặt càng u sầu càng thêm đẹp, những ai muốn bắt chước đều thất bại.

[130] Trong các buổi tế thần, thức ăn thường chay tịnh, kiêng cá kiêng thịt. V́ lễ hội liên tục nhiều ngày (8 ngày 8 đêm) nên tác giả (người thành phố) tự hỏi phải ăn uống làm sao đây.Tuy nhiên có thuyết cho là lúc ấy, để cúng Hoàng Hậu Jinguu hay những vị thần cổ đại th́ phải nấu thức ǵ cho thích hợp với người xưa.

[131] Teiji (Đê Nhĩ), tên thật là Miyabe Yazaburô, một nhà buôn bán lớn, hay đi lại các địa phương. Theo Nhật kư đi đường của Sora, ông có viết giấy giới thiệu hai thầy tṛ t́m nhà trọ.

[132] Cánh cửa dùng để che mưa nhưng v́ nghèo quá th́ khi trời nóng phải gỡ ra dùng làm chiếu để sinh hoạt ngoài trời, một công đôi chuyện.

[133] Đào Uyên Minh: Dao dao vọng bạch vân (Họa Quách chủ bạ)

[134] Đêm Thất Tịch (mồng 7 tháng 7) Khiên Ngưu sẽ gặp được Chức Nữ (nhị tinh tương phùng). Đêm đợi chờ nôn nả trước đó phải khác những đêm thường là chuyện dĩ nhiên. Điều này đúng cho cả hai ngôi sao trên trời cũng như những người đang chuẩn bị lễ hội.  

[135] Có thuyết cho rằng biển mùa hạ ở Sado không có sóng dữ. Sóng dữ ở đây chỉ nói bóng bẩy về thời thế. Và phải chăng thâm ư của Bashô là sự giao cảm của ông với những kẻ từng bị lưu đày trên đảo ấy và có tiếng tăm trong lịch sử (đại tội triều địch viễn lưu địa) như Thiên hoàng Juntoku, (1221) tăng Nichiren (1271), đại thần Hino Suketomo (1324), và soạn giả kịch Nô Zeami (1434).

[136] Nhưng cũng là địa danh trên thực tế, theo thứ tự Oyashirazu, Koshirazu, Inumodori, Komagaeshi.

[137] Ngày xưa, người Nhật có tục lệ phải hành hương ở Đền Ise một lần trong đời v́ đó là thánh địa số một  của Thần đạo.Năm ấy có lễ “thiên cung” đặt thần cung ra ngoài đền tạm để sửa đền chính nên có nhiều khách đến chiêm bái.

[138] Câu này lấy cảm hứng từ Ḥa Hán lăng vịnh tập.

[139] Tội và nghiệp. Dựa trên đoạn nói về kiếp sống của các nàng du nữ trên bến sông ở Eguchi thấy trong Senjuushô (Soạn Tập Sao), tác phẩm giai thoại Phật giáo có từ đời Kamakura và truyền thuyết Phổ Hiền bồ tát đă hóa thân thành gái làng chơi để khai ngộ cho tăng Saigyô..

[140] Cổ chiến trường, nơi tướng Kiso Yoshinaka, người Bashô quí mến, đại phá quân Heike.

[141] Bài thơ làm nhân khi đến chơi Tùng Huyền Am, thảo am của Issen (Nhất Tuyền), có không khí đạm bạc, thân t́nh và sảng khoái. 

[142] Sanemori 実盛tên thực là Saitô Sanemori斎藤実盛, samurai sống vào cuối đời Heian. Trước đầu quân cho họ Minamoto (Yoshitomo), sau theo tập đoàn Taira (Munemori).Khi cuộc xung đột Genpei giữa hai nhà Minamoto (Genji) và Taira (Heike) xảy ra, theo Taira no Koremori chống nhau với Minamoto (Kiso) no Yoshinaka. Khi bị địch giết chết, cho đem rửa thủ cấp dưới ao, mới thấy đă nhuộm tóc cho đen để có thể chiến đấu giữa hàng ngủ các chiến sĩ trẻ. Truyện tích có ghi lại trong một chương của Heike Monogatari平家物語.

[143] Minamoto no Yoshinaka (源義仲1154-1164), vũ tướng Nhật Bản. Hồi nhỏ tránh kẻ địch lẫn lút trong vùng núi Kiso nên lấy núi làm tên (木曾義仲Kiso no Yoshinaka). Sau ứng nghĩa đem quân dẹp Heike, có nhiều chiến công hiển hách. Tuy nhiên, vào được Kyôto, v́ ngạo mạn và đam mê nữ sắc, bị người đồng minh là Yoshitsune thảo phạt và chết trong cánh rừng tùng Awazu.

[144] Tức Higuchi Kanemitsu 樋口兼光, một trong 4 tướng mạnh (Tứ thiên vương) của Yoshinaka

[145] Kazan Tennô (Hoa Sơn Thiên Hoàng, 968-1008), sau khi hoàng hậu chết, v́ quá thương tiếc bà và chịu không nổi sự đè nén của quyền thần nên đă xuất gia Có thuyết cho rằng bi kịch cuộc đời t́nh ái của ông cũng là một trong những nguồn cảm hứng cho Truyện Genji.

[146] Tên thời niên thiếu của Izumiya Jinsaemon (1676-1751), chủ nhân một trong 12 lữ quán đương thời ở vùng Yamanaka.

[147] An Nguyên Trinh Thất安原貞室 Tên thật là Yasuhara Masaaki (1610-1673),.

[148] Phố dưới chân thành của ấp phong cho MaedaToshiaki, lộc 7 vạn thạch.

[149] Thơ Lư Lăng: Phù vân nhật thiên lư.An tri ngă tâm bi (Mông Cầu).

[150] Lối tỉ dụ trong sách Trang Tử thiên Biền Mẫu.

[151] Chỉ Ḥa thượng Đại Mộng大夢, trước trụ tŕ Thiên Long Tự ở Shinagawa (Edo)

[152] Mẹ Dôgen là một trong những mỹ nhân tuyệt sắc đương thời nhưng hai lần đều bị gả bán v́ âm mưu chính trị. Chồng đầu tiên của bà ngẫu nhiên lại là tướng Minamoto (Kiso) no Yoshinaka, người được nhắc đến nhiều lần trong Oku no hosomichi! Bà mẹ Dôgen chết năm ông lên 3 và bi kịch đời bà đă ảnh hưởng sâu sắc đến chí hướng của vị cao tăng.

[153] Ư nói Truyện Genji.

[154] Thiên hoàng trong thần thoại, chồng của Hoàng hậu Jinguu. Mất ở hành cung vùng Echizen khi định đem quân qua đánh nước Tân La (Shilla) trên đán đảo Triều Tiên.

[155] Thơ Bạch Lạc Thiên: Nguyệt chiếu b́nh sa, hạ dạ sương (Nguyệt dạ, trong Ḥa Hán lăng vịnh tập)

[156] Xin tham khảo bài 88 của bà Betto Kôkamon trong Hyakunin Isshu (NNT đă dịch và đưa lên mạng): Naniwa-e no / Ashi no karine no / Hitoyo yue / Mi wo tsukushite ya / Koiwataru beki/. Tuy không phải là một đốt (一節hitoyo) rễ lau cắt (刈根karine) trên cửa sông Naniwa nhưng v́ lỡ ngủ trọ (仮寝karine) một đêm (一夜hitoyo) cho nên ḿnh phải mất cả thân danh (身を尽くしmi wo tsukushi) để trọn mối t́nh như cọc phao (澪標miotsukushi) cắm ở giữa gịng nước. Tạm dịch: Bến nước ngàn lau xanh / Chỉ một đêm ngủ đỗ / Thế mà trọn đời ḿnh, / Tương tư bao nhiêu khổ .

 

 

[157] Suma須磨là một băi biển nổi tiếng như “gối thơ” (utamakura), gợi đến nỗi buồn của Hikaru Genji 光源氏 (Truyện Genji, chương Suma) trong bước lưu đày của chàng ở đó.

[158]  Rotsuu tên thật là Yasomura Rotsuu (1649-1738), khi c̣n là một tăng khất thực, đă gặp Bashô và trở thành môn đệ.Tài năng phi phàm nhưng tính t́nh buông thả, không hợp với ai, nhiều khi chuốc lấy cơn giận của thầy.

[159] Ochi Etsujin (tức Ochi Juuzô 1656 - ? ), một trong mười học tṛ giỏi của Bashô. Người Nagoya, kinh doanh ngành nhuộm.

[160] Tên thật là Kondô Jokô ( ? -1706), một samurai, nguyên là phiên sĩ phiên Ôgaki.

[161] Zensenshi tên thật là Tsuda Maegawa. Samurai,phiên sĩ có chức vụ quan trọng ở phiên Ôgaki. Bashô gọi là shi (tử) để tỏ ḷng tôn kính.

[162] Keikô tên thật là Miyazaki Keikô ( ? – 1712), phiên sĩ ở Ôgaki, có ba người con.

[163] Cứ 21 năm, đền chính phải sơn phết lại nên nội cung phải dời ra đền tạm.

[164] Yuasa Nobuyuki (1966), Earl Miner (1969), Helen Craig Mc Cullough (1990), Sam Hamill (1991), Kameike Susumu (1968), Satô Hiroaki (1996), Donald Keene (1996), Dorothy Britton (1974), Tim Chilcott (2004) vv...

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com