Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại

Khổng Tử và môn đệ

Chương 17 :

Ngă rẽ giữa Quốc học và Hán học.

Tư tưởng về nguồn dưới thời Edo và quá tŕnh bản địa hóa Phật giáo & Nho giáo
 

Nguyễn Nam Trân (*)

Thời Edo (1603-1867) tuy bế quan tỏa quốc và có cuộc sống thái b́nh êm ả nhưng về mặt tư tưởng, đó là một giai đoạn sôi sục biến động. Suốt gần ba thế kỷ, để định một hướng đi, các học giả Nhật Bản đă dày công nghiên cứu hầu t́m cho ra bản sắc của dân tộc ḿnh, đồng thời rắp tâm bản địa hóa các luồng tư tưởng ngoại lai đă có mặt

Lư do là từ ngày lập quốc cho đến thời điểm đó, tư tưởng bản địa là Thần Đạo chưa được giải thích rành mạch và chưa có một hệ thống qui củ. V́ sự thiếu sót như thế, Nho giáo và Phật giáo[1] vẫn tiếp tục đóng vai tṛ quan trọng trong việc điều hành nhà nước Nhật Bản và hướng dẫn cách suy nghĩ, ứng xử của người Nhật qua nhiều thế kỷ.

TIẾT I: KHÁI LƯỢC VỀ NHỮNG HỌC PHÁI NHO GIÁO:

Sách Luận Ngữ đă được đưa vào đất Nhật từ đời Ôjin Tennô (Ứng Thần Thiên Hoàng, khoảng thế kỷ thứ 5). Việc nghiên cứu tư tưởng Nho Giáo không ngừng phát triển từ ngày ấy. Trước đây, ở Nhật đă có các nhà Huấn hổ học theo kiểu Hán, Đường chỉ chú trọng việc giải thích câu chữ và rất bảo thủ. Sau họ, các thiền tăng Ngũ Sơn từ cuối thời Kamakura (1185-1333) qua suốt thời Nam Bắc Triều (1337-1392) cũng như các nhà Nho Edo như Fujiwara Seika (Đằng Nguyên, Tinh Oa) và Hayashi Razan (Lâm, La Sơn) tiếp tục nghiên cứu Nho Giáo với quan điểm Chu Tử học[2].

Tư tưởng dùng để duy tŕ và cổ vũ Mạc Phủ Tokugawa là tư tưởng phong kiến Nho giáo, đặc biệt Chu Tử học, lư thuyết do Chu Hi (1130-1200), đại nho đời Tống, đề xướng, đặt trọng tâm vào khái niệm danh phận và vai tṛ của qui phạm xă hội trong cách xử thế. Sau đó, qua các đời Minh, Thanh, lư thuyết này đă trở thành ư thức hệ của xă hội phong kiến, được triều Lư ở Triều Tiên[3], Mạc Phủ Tokugawa ở Nhật và nhà Nguyễn của Việt Nam tôn sùng. Ở Nhật, Chu Tử Học lúc đó được xem như “quan học” tức ư thức hệ chính thống của nhà cầm quyền.

Thế nhưng người cùng thời với “quan nho” Hayahi Razan là Nakae Tôjuu (Trung Giang, Đằng Thụ) lại theo thuyết “trí lương tri” của Vương Dương Minh[4], xem Nho Giáo là “thần đạo của thái hư”, phải được thi hành khắp nơi. Vương Dương Minh áp dụng đạo Nho vào thực tế đời Minh, coi nhẹ quyền uy của lư thuyết, cho rằng cái hiểu biết chỉ là điều vô nghĩa nếu không đi đôi với hành động.Thế rồi, sau Nakae Tôjuu có Kumazawa Banzan (Hùng Trạch, Phiên Sơn), người chịu ảnh hưởng của ông, đă xuất hiện, bàn về đạo Nho theo quan điểm cứu đời giúp người (kinh thế tế dân), đồng thời cũng cảnh cáo Nho Giáo có thể bị đạo Ki-Tô trấn áp. Những học giả Nhật theo Dương Minh học như ông c̣n có Ôshio Chuusai (Đại Diêm, Trung Trai), Satô Issai (Tá Đằng, Nhất Trai).

Một khuynh hướng khác bác bỏ đạo Nho của Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh và chủ trương học thẳng Khổng Tử là khuynh hướng “ thánh học ”[5] do Yamaga Sokô (Sơn Lộc, Tố Hành) và Itô Jinsai (Y Đằng, Nhân Trai) đề xướng. Họ không học qua các nhà Nho Trung Quốc mà xem hẳn “Trọng Ni là thầy ta”. Đó là Cổ học phái. Sau đó Ogyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai) cũng bỏ Chu Tử mà theo cổ học nhưng lại đối lập với học thuyết của Itô Jinsai, đề xướng Phục cổ học nghĩa là học về Thi Thư Lễ Nhạc, những di thư của tiên vương, c̣n ra đời trước cả Khổng Tử. Phái của ông có các môn đệ xuất sắc như Yamai Konron (Sơn Tỉnh, Côn Luân), Dazai Shundai (Thái Tể, Xuân Đài), Yamagata Shuunan (Sơn Huyện, Chu Nam), Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách).    

Phiên Mito (Thủy Hộ, phía bắc Tôkyô), một trong ba chi chính của nhà Tokugawa, vốn chú trọng về văn giáo, đă lập ra một trường phái riêng mang tên Mitogaku (Thủy Hộ học)[6], nghiên cứu quốc học, quốc sử và thần đạo, có đặc điểm là có ư thức quốc gia dân tộc. Các nhân vật ưu tú của loại h́nh Nho Giáo Nhật Bản này là Fujita Yuukoku (Đằng Điền, U Cốc), Fujita Tôko (Đằng Điền, Đông Hồ), Aizawa Shôshisai (Hội Tân, Chính Chí Trai).

Ngoài ra c̣n có những học giả khó xếp vào trường phái nào nhưng sự nghiệp rất đáng kể như Kaibara Ekiken (Bối Nguyên, Ích Hiên), Miura Baien (Tam Phố, Mai Viên), Yoshida Shôin (Cát Điền, Tùng Âm). Họ đều có thơ văn chữ Hán nhưng nổi bật trong lănh vực văn chương th́ phải nhắc đến Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách), Emura Hokkai (Giang Thôn, Bắc Hải), Rai Sanyô (Lại, Sơn Dương), Hirose Kyokusô (Quảng Lại, Húc Trang).

Trong thời gian gần ba thế kỷ của giai đoạn Edo ḥa b́nh và an định, vai tṛ của nhà nho (trí thức) bị xuống thấp. Họ chỉ mạnh mẽ trở lại vào cuối thời Mạc Phủ khi cái học Tây Dương (y học, thiên văn, binh pháp, số học, địa lư) với tinh thần hợp lư đă tràn vào. Tuy tinh thần thực tiễn của Nho học không mâu thuẫn với (Tây) Dương học nhưng ấn tượng gây ra bởi khoa học Tây Phương lúc đó đă làm cho các nhà nho choáng váng.

Đúng lúc đó ở Nhật, Quốc học (đă nhắc đến trong đoạn trên) do Keichuu (Khế Trùng), Kada no Azumarro (Hà Điền, Xuân Măn), Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên), Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường), Hirata Atsutane (B́nh Điền, Đốc Dận) đă đặt được nền móng. Thật ra, từ đầu đời Edo khi “nho quan” Hayashi Razan chủ trương “Thần Nho nhất trí”và các nhà nho khác như Yamazaki Ansai (Sơn Kỳ, Ám Trai) và Miwa Shissai (Tam Luân, Chấp Trai) chuyển qua nghiên cứu Thần Đạo th́ sự đối lập giữa Thần Nho thật ra không có lư do tồn tại. Chỉ v́ cuối đời Edo, tư tưởng quốc học đă trở thành “cái học của hoàng quốc” nên tiếp theo sự bài xích Phật giáo, nó c̣n kéo thêm sự bài xích Nho học v́ đạo Nho cũng là yếu tố đến từ bên ngoài (Hán ư = karagokoro mà kara là nước ngoài).

Quốc học không nghiêm khắc đối với (Tây) Dương học, bản thân nhà quốc học Motoori Norinaga trong tập tùy bút của ông cũng xem cái học Ḥa Lan là có lợi hơn đạo Nho. Sự tranh chấp giữa Nho giáo và Thần Đạo là đề tài thảo luận của các trí thức thời đó chung quanh các trước tác của Norinaga.Thế nhưng đến cuối đời Mạc Phủ th́ Quốc học không c̣n đóng khung trong việc nghiên cứu quốc văn mà biến thành hệ thống tư tưởng quốc túy, tôn quân phục cổ, bài xích ngoại quốc. Trong ít lâu nữa, nó sẽ thành mồi lửa châm ng̣i cho cuộc Duy Tân nhưng lại là nguồn gốc xa xôi của chủ nghĩa quốc gia cực đoan và bành trướng sau này.

 

Khổng Tử và môn đệ

TIẾT II : CHUYỂN BIẾN CỦA HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG NHO HỌC VÀ QUỐC HỌC NHẬT BẢN THỜI EDO[7]

Xin trở lại với quá tŕnh chuyển biến của Nho học trong ba thế kỷ 17, 18 và 19[8] kể từ đầu thời Edo khi các Tướng Quân đổi chiều từ chính trị “ vũ đoán ” qua chính trị “ văn trị ” cho đến khi Mạc Phủ thoái trào và nhà chúa bắt buộc trả chính quyền cho nhà vua..

THẾ KỶ 17: Chu Tử Học của các “nho quan” hưng thịnh nhưng đă thấy lố dạng mầm mống của Dương Minh Học và Quốc Học.

A)    Chu Tử Học (Kinh Học)[9]: 1-Fujiwara Seika (Đằng Nguyên, Tinh Oa), 2a-Hayahi Razan (Lâm, La Sơn) , 2b- Ishikawa Jôzan (Thạch Xuyên, Trượng Sơn), 2c- Matsunaga Sekigo, 3a- Hayashi Gahô, 3c- Kinoshita Jun.an (Mộc Hạ, Thuận Am) (học phái Bokumon tức Mộc môn).

B)     Chu Tử Học (Nam Học)[10]: 1-Minamimura Baiken (Nam Thôn, Mai Hiên) , 2a- Tani Jichuu, 3a- Nonaka Kenzan, 3b-Yamazaki Anzai (Sơn Kỳ, Ám Trai) (học phái Kimon tức Kỳ môn).

C)    Dương Minh Học: 1-Nakae Tôjuu (Trung Giang, Đằng Thụ),  2-Kumazawa Banzan (Hùng Trạch, Phiên Sơn).

D)    Cổ Học Phái: 2a-Yamaga Sokô (Sơn Lộc, Tố Hành) (học phái Seigaku), 2b-Itô Jinsai (Y Đằng, Nhân Trai) (học phái Horikawa).

E)     Quốc Học: 1a-Keichuu (Khế Trùng) , 2a- Toda Mosui (Hộ Điền, Mậu Thụy).

 

Quang cảnh nhà học giảng nghĩa triết lư Chu Tử 

 

THẾ KỶ 18: Dù Chu Tử Học c̣n nắm vai tṛ chủ đạo nhưng tư tưởng t́m về nguồn của Cổ Học Phái và Quốc Học phát triển mạnh.

A) Chu Tử Học (Kinh Học): 1a-Hayashi Nobuatsu (học tṛ Gahô), và 3 học tṛ phái Mộc môn :1b-Arai Hakuseki (Tân Tỉnh, Bạch Thạch), 1c-Amenomori Hôshuu, 1d-Muro Kyuusô (Thất, Cưu Sào). (Học tṛ xa của Mộc môn là) 2e1-Bitô Nishuu, (Hai học tṛ xa phái Hayashi Razan là) 2a2- Hayashi Juutsai và 2b-Shibano Ritsuzan, 2d-Miura Baien (Tam Phố, Mai Viên).

B)     Chu Tử Học (Nam Học): 3 người học tṛ phái Kỳ môn:1a-Satô Nakakata, 1b-Asami Keisai, 1c-Miyake Shôsai. Phái của Satô sau có Okada Kansen, phái Asami sau có Koga Seiri.

C)    Dương Minh Học: 1-1-Miyake Sekian, 2-Nakai Shuuan, 3a-Nakai Chikuzan, 3b- Nakai Riken.

D)    Cổ Học Phái: 1a- Itô Tôgai (Y Đằng, Đông Nhai), 1b-Inô Jakusui (là hai học tṛ của Jinsai), 2a-Aoki Kon.yô, 2c- Ogyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai) (phái Cổ Văn Từ) , 3c1- Dazai Shundai (Thái Tể, Xuân Đài), 3c2-Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách).

E)     Quốc Học: 1-Kada no Azumaru (Hà Điền, Xuân Măn), 2a- Kada no Arimaru (Hà Điền, Tại Măn), 2b- Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên), 3c1-Katô Chikage, 3c2-Murata Harumi, 3c3-Motoori Norinaga (Cư Bản, Tuyên Trường), 3c4-Hanawaho Sa.ichi.

F)     Các học phái khác: Học phái Chiết Trung chủ trương trung ḥa tất cả các phái (các ông Katayama Kenzan, Inoue Randai, Inoue Kinga, Ôta Kinjô)

 

THẾ KỶ 19: Các nhà tư tưởng Dương Minh Học bước từ tư tưởng qua hành động.Cái học thực chứng được coi trọng.

A)    Chu Tử Học (Kinh Học): 1-Rai Sanyô (Lại, Sơn Dương).

B)     Chu Tử Học (Nam Học):không có ai quan trọng

C)    Dương Minh Học: (hai học tṛ Chikuzan là) 1a-Satô Issai, 1b-Katayama Bantô (Phiến Sơn, Bàn Đào), 2a1-Sakuma Shôzan (Tá Cửu Ma, Tượng Sơn), 2a2-Yoshida Shôin (Cát Điền, Tùng Âm). Một nhà tư tưởng (và hành động bạo động) đứng ngoài: Ôshio Heihachirô (Đại Diêm, B́nh Bát Lang).

D)    Cổ Học Phái: không có ai quan trọng

E)     Quốc Học: (Hai học tṛ của Norinaga là) 1a-Ban Nobutomo (Bạn, Tín Hữu), 1b-Hirata Atsutane (B́nh Điền, Đốc Dận).

F)     Các học phái khác: Học phái Khảo Chứng (chịu ảnh hưởng Cố Viêm Vũ, Tải Vân, Nguyễn Nguyên… đời Thanh, chuộng thực chứng, khách quan) (các ông Inoue Kinga, Ôta Kinjô, Shibue Chuusai, Minagawa Kien)

Mạc Phủ Tokugawa coi Nho giáo không giống như đạo Ki-Tô v́ nó củng cố chính quyền hơn là có hại cho họ. Từ khi đạo Ki-Tô bị cấm (Kinkyôrei, Cấm Giáo Lệnh, 1612) , mối lo ngại của các nhà trí thức khuynh hướng dân tộc Nhật Bản đă bớt đi về phía đó nhưng để xây dựng một tư tưởng bản địa cần thiết cho một quốc gia thống nhất, họ phải nghiên cứu lại Khổng Giáo mà họ đă tiếp thu từ xưa.

Một nhà trí thức trước kia đă theo Phật Giáo rồi bỏ Phật để theo Khổng và phục vụ Tướng Quân Tokugawa Ieyasu bên cạnh hai thiền tăng Ishin Suuden ( Dĩ Tâm, Tông Truyền, 1569-1633) và Tenkai (Thiên Hải, 1536?- 1643) là Fujiwara Seika (Đằng Nguyên Tinh Oa, 1561-1619). Ba người nầy được gọi là “ngự dụng học giả” tức học giả của chính quyền nhưng hai nhà sư kia mới là thực sự cố vấn chính trị. Seika trước kia đă là tăng phái Lâm Tế ở chùa Tướng Quốc. Ông chủ trương một thứ Tân Khổng Giáo mà trong đó cái “Tâm” (Kokoro) mới là nguyên tố chung chứ cái đạo Nghiêu Thuấn của Trung Quốc và Thần Đạo Nhật Bản chỉ là hai cái tên để gọi chung một vật. Một nhà chính trị nếu có tấm ḷng chính đáng th́ sẽ thi hành một chính sách đúng đắn. Tuy nhiên những người ảnh hưởng thực sự đến chính trị đời Tokugawa lại không phải Fujiwara Seika mà là những người đi sau, trong đó có Hayashi Razan, học tṛ ông, và nhất là ba nhà trí thức khuynh hướng dân tộc khác.

1) “ Nho quan ” Hayashi Razan ( Lâm, La Sơn, 1583-1657) đem đạo Nho phục vụ chính quyền :

Hayashi Razan (1583-1657) có đạo hiệu Phật giáo là Trường Xuân, từ khi ra làm quan (1607) phục vụ ba đời Tướng Quân kể từ Ieyasu nhưng bổng lộc của ông ít ỏi v́ chỉ đóng vai tṛ bàn luận chuyện học vấn. Tuy nhiên Mạc Phủ nâng đỡ công việc giáo dục của gia đ́nh Hayashi (cả Razan và con cháu ông, gọi chung là Rinke hay Lâm gia) trong việc cổ xúy Tống Nho với mục đích đưa nó thành tư tưởng chính thức (quan học) của nhà nước. Ông từng lập Kôbunkan (Hoằng Văn Quán) ở Ueno (nay thuộc Tôkyô) làm trường dạy đạo nho. Năm 1690, trường và miếu Khổng Tử được dời về khu Yushima gần đó. Ông triệt để thực thi giáo dục tôn quân trọng đạo. Để lại Hayashi Razan sensei shuu (Lâm La Sơn tiên sinh tập).

Kể từ đời Tướng Quân thứ 5 Tsunayoshi (Cương Cát, tại vị 1680-1709) chính trị “ vũ đoán ” từ đời Ieyasu (tại vị 1603-05) cho đến Iemitsu (tại vị 1623-51) đă nhường bước cho chính trị “ văn trị ”. Do đó tư tưởng tận trung với chủ, hiếu kính với cha mẹ và người bề trên, tôn trọng trật tự giai cấp, của đạo Nho mà Hayashi và các môn đệ ông cổ xúy rất được Mạc Phủ tán thưởng. Điển h́nh cho việc Mạc Phủ ủng hộ luồng tư tưởng của phái ông là lệnh mà đại thần Matsudaira Sadanobu (Tùng B́nh, Định Tín, 1758-1829) ban hành trong cuộc cải cách năm Kansei (1790) cấm các loại “dị học” Chu Tử Học khác.

Bên cạnh phái Kinh Học của Fujiwara Seika và Hayashi Razan mà một nhánh mang tên Mộc Môn có những đại biểu xuất sắc như Arai Hakuseki (vừa kể) và Muro Kyuusô (sẽ nói đến), c̣n có phái Nam Học của Minamimura Baiken (Nam Thôn, Mai Hiên), sau sẽ có một nhánh quan trọng tách ra ra gọi là Kỳ Môn, mang tên Yamazaki Ansai (Sơn Kỳ, Ám Trai), người cầm đầu nó.

2) Ba nhà nho khuynh hướng dân tộc: Banzan (Hùng Trạch, Phiên Sơn, 1619-91) học phái Vương Dương Minh , Yamaga Sokô (Sơn Lộc, Tố Hành, 1622-85), Cổ học phái và Yamazaki Ansai (Sơn Kỳ, Ám Trai, 1618-82), Chu Tử học Nam phái.

Có ba nhà tư tưởng Nhật Bản cùng sinh ra vào năm 1620 và hoạt động trong phần hậu bán của thế kỷ 17, đều muốn “Nhật Bản Hóa” Tống Nho (Tân Khổng Giáo), lúc ấy đă bám rễ sâu vào chính trị và học thuật hai triều Minh (1368-1644), Thanh (1616-1912). Đấy là Kumazawa Banzan , Yamaga Sokô và Yamazaki Ansai. Họ đều muốn đề cao bản sắc đặc biệt của Nhật Bản trong sự hấp thụ tư tưởng Trung Hoa và đă đưa ra một số quan niệm cơ sở để chứng minh điều đó. Đối với Banzan, nó là Kokoro (Tâm, tấm ḷng), với Sokô, nó là Chuuchô (Trung triều, nghĩa là xem Nhật Bản như một quốc gia trung tâm), với Ansai, nó là tính thần bí của cộng đồng Nhật Bản trong lư luận Suika Shintô (Thùy gia thần đạo)[11] xem Thần –Nho là một.

Trong ba người có lẽ Sokô đi xa hơn cả khi ông phủ nhận tư tưởng Tống Nho vốn muốn phân chia con người thành hai phần: bản tính thiên nhiên và khí chất. Bản tính (honrai no sei, tính bản lai ) thuộc về Lư là điều thiện v́ nó là một phần của nguyên tắc phổ quát, trong khi khí chất (kishitsu no sei, tính khí chất ) thuộc về Khí là động cơ gây ra điều ác ở mỗi người.Trong Seikyô Yôroku (Thánh giáo yếu lục, 1666), ông cho biết tiên nho (trước đời Tống) không hề lập luận như thế, tốt hơn nên t́m về nghiên cứu các tác phẩm Nho giáo buổi đầu. Tư tưởng của ông tương tự với lập luận của những người đến sau như Kaibara Ekiken (Bối Nguyên, Ích Hiên), Itô Jinsai (Y Đằng, Nhân Trai) và ngay cả Ogyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai) nhưng ông không đề ra một chủ trương rơ rệt. Trong Chuuchô Jijitsu (Trung triều sự thực, 1669), ông xem Nhật Bản như là…trung tâm của thế giới, không quốc gia nào bằng, và so sánh sự nghiệp các thiên hoàng với các hoàng đế nổi tiếng ở Trung Quốc.

Banzan có lẽ cụ thể và có đầu có đuôi hơn Ansai và Sokô. Ông không muốn từ chối Tống Nho và thiên trọng về tư tưởng Nhật Bản như họ, không ngờ vực Tống Nho như Ekiken, không bài xích nó như Jinsai hay chỉ trích như Sorai. Ông cho rằng đạo Nho mất ḍng liên tục v́ chính sách của nhà Tần nên cần phải có Nho học đời Hán để thích nghĩa. Nếu không có Nho học đời Hán th́ làm ǵ có Tống Nho v́ Tống Nho chỉ sửa đổi cho hợp lư các học thuyết sai lầm của đời Hán. Nhờ Tống Nho chỉnh đốn nên về sau mới có Tâm Học của Vương Dương Minh mà ông kế thừa. Đối với ông, đạo là một ḍng liên tục, chỉ có cái học là khác nhau thôi. Ông không chú trọng vấn đề siêu h́nh mà chỉ gắn bó với “ḷng thành” hay “sự thực chủ quan” (makoto) v́ con người có khi bên ngoài hành động sai lầm trong khi cái tâm bên trong vẫn tốt.Trong Shuugiwasho (Tập nghĩa ḥa thư, 16 quyển, 1676, in lần thứ 2), tuy ông lư luận Nhật Bản là thần quốc nhưng không đặt vấn đề Nhật Bản là trung tâm. Chủ trương ninjô (nhân t́nh, tức t́nh người) của ông phù hợp với “hai giá trị” giri-ninjô (nghĩa lư-nhân t́nh) của văn hóa đại chúng thời Edo.

3) Saibara Ekiken (Bối Nguyên, Ích Hiên, 1630-1714), nhà bản thảo học, và Itô Jinsai (Y Đằng Nhân Trai, 1627-1705), học giả học phái cổ nghĩa.

Qua thế kỷ 18, quá tŕnh Nhật Bản hóa Khổng giáo được tiếp tục thực hiện với Saibara Ekiken . Ông sinh ở Fukuoka năm 1630 trong một gia đ́nh phiên thần. Là học giả về thực vật và dưỡng sinh học, lại là nhà du hành không mỏi mệt, ông đă để lại nhiều tác phẩm chuyên môn như Yamato Honsô[12] (Đại Ḥa bản thảo, 25 quyển, phụ lục 2 quyển, 1705), Yojôkun (Dưỡng sinh huấn, 1713) và 18 quyển du kư. Về nghiên cứu Nho học, ông viết nhiều về Chu Tử Học, trong đó có Kinshiroku Bikô (Cận tư lục bị khảo, 1668), Gojôkun (Ngũ thường huấn, 1711) và Taigiroku (Đại nghi lục, 1714). Ông e rằng Tống Nho, v́ bị sức ép của Phật Giáo, đă cho thêm vào lư luận Khổng Giáo những yếu tố siêu h́nh có tính chất Phật Giáo (mà ông gọi là những lời trống rỗng, “vô dụng không ngôn” ). Đối với ông, cái chính yếu trong Khổng Giáo là đạo trị nước và tu thân. Ông đồng ư với thuyết tính thiện của Mạnh Tử và điều đó làm ông nghi ngờ Tống Nho, vốn bi quan hơn về bản chất con người, dẫu rằng trước sau ông vẫn xem ḿnh như môn đệ Chu Tử học. 

C̣n Itô Jinsai sinh ra trong một gia đ́nh thương nhân ở Ôsaka, suốt đời chỉ dạy học tư chứ chưa từng ra làm quan. Ông là một trong những người đầu tiên bác bỏ quan điểm Tống Nho. Quan điểm ông giống Ekiken[13] nhưng làm việc cách khác nghĩa là tra cứu Luận Ngữ và Mạnh Tử chỉ để rút ra những điểm ông không đồng ư. Tác phẩm của ông có Rongo Kogi (Luận Ngữ cổ nghĩa), Môshi Kogi (Mạnh Tử cổ nghĩa) . Ngoài ra c̣n có Gomô Jigi (Ngữ Mạnh tự nghĩa), Dôjimon (Đồng tử vấn, dưới dạng vấn đáp, ra đời 1693 sau khi ông mất) do con trai ông, Itô Tôgai (Y Đằng, Đông Nhai, 1670-1738) cho in, c̣n bao gồm cả những tư tưởng độc đáo của ông chứ không chỉ là chú thích hoặc vay mượn. Ví dụ ông bảo đạo lư phải liên hệ chặt chẽ với con người (“nhân ngoại vô đạo, đạo ngoại vô nhân”), cách trị nước hay tu thân thay đổi theo mỗi thời và không thể dạy dỗ cho con người những điều không thích hợp với họ và với điều kiện của thời đại họ sống. Ông khước từ nhị nguyên luận (Lư / Khí) và đưa ra học thuyết nhất nguyên Nhân Luân lấy con người làm trung tâm, trong đó hai yếu tố Nhân bên trong và Nghĩa bên ngoài bổ túc cho nhau. Theo ông, Phật Giáo thiếu cái Nghĩa và Tống Nho lại thiếu điều Nhân nên chưa được gọi là hoàn chỉnh. Học phái của ông đă có nhiều nhân tài lỗi lạc ví dụ như nhà thơ và nhà lư luận Kada no Azumamaro (Hà Điền, Xuân Măn, 1669-1736), một người đi tiên phong trong phong trào “quốc học” (kokugaku) phục cổ.

 

4) Cổ văn từ học và con đường thực chứng của của Ogyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai, 1666-1728):

 

Ogyuu Sorai xem Nho Học như con đường kinh thế tế dân

Ogyuu Sorai là bút hiệu của Ogyuu Nabematsu (Địch Sinh, Song Tùng), con trai Ogyuu Hôan (Phương Am), một ngự y của tướng quân Tokugawa Tsunayoshi lúc c̣n là thế tử. Sorai là ngọn núi Tồ Lai bên Trung Quốc, nổi tiếng nhiều tùng, biệt hiệu nầy đi đôi với tên ông (Song Tùng). Từ bé, Ogyuu đă lừng danh thần đồng. V́ cha bị biếm ra vùng Kazusa (nay thuộc Chiba), ông sống nhiều năm ở đó. Sau về Edo, ông mở trường dạy học, viết Yakubun sentei (Dịch văn thuyên đề), một h́nh thức từ điển Hán Nhật. Ông từng làm gia sư cho gia đ́nh Yanagisawa Yoshiyasu (Liễu Trạch, Cát Bảo), một nhân vật quan trọng trong chính quyền Mạc Phủ, có liên lạc mật thiết với đại lục nên học được tiếng Hoa. Qua sách vở nhập vào, ông biết về các thi văn tập do các học giả đời Minh như Lư Phàn Long và Vương Thế Trinh soạn. Nhân đó ông noi theo chủ nghĩa cổ điển của họ mà chỉ giới hạn việc sưu tập văn chương cho đến đời Tống mà thôi. Ông thường viết sách bằng chữ Hán, trong đó có Bendô (Biện đạo), Benmei (Biện danh), Gakusoku (Học tắc), ra đời khoảng 1717. Sau đó c̣n có Sorai sensei mondôsho (Tồ Lai tiên sinh vấn đáp thư, 1727), c̣n thư tín và các loại khác như nghị luận về chính trị kinh tế, ví dụ Taiheisaku (Thái b́nh sách, 1719-23) và Seidan (Chính đàm, 1727?) chỉ ra đời sau khi ông mất (1728). Trên lănh vực triết học, ông có ảnh hưởng đối với Dazai Shundai (Thái Tể, Xuân Đài, 1680-1747), và về thi ca đối với Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách, 1683-1759). Nếu không có những phát kiến về mặt phương pháp luận trong học vấn của ông, sẽ không có quan điểm xem triết học như lịch sử của các ḍng tư tưởng do Tominaga Nakamoto (Phú Vĩnh, Trọng Cơ, 1830-1901) đề xướng vào cuối thế kỷ, mà cũng sẽ không có tư tưởng thực chứng trong văn bản học của Motoori Norinaga (1730-1801). Ngay cả học phái Mito khi lên tiếng chê trách mục đích chính trị của Nho Giáo, cũng chịu ảnh hưởng của ông.

Phát kiến căn bản của Sorai là sự trở về với cổ học tức tự ḿnh t́m hiểu một cách chính xác “tiên vương chi đạo” v́ theo ông Chu, Tŕnh và ngay cả Mạnh cũng chưa chắc đă hiểu đúng lời người xưa cho nên việc theo học “cổ văn từ” là điều cần thiết. Sorai nhấn mạnh đến phương pháp tiếp cận lịch sử và ông tin vào đường lối “kinh thế tế dân” của người xưa (“cổ hữu thánh nhân , kim vô thánh nhân”) được bày tỏ ra trong Lục Kinh[14]. Muốn trị nước an dân th́ phải hiểu sáu bộ sách nầy, chứ không có cách nào khác ( “phi học cổ văn từ, bất năng dă”).

Nói tóm lại, đặc điểm của Sorai là hầu như không đả động tới yếu tố “lư” và ”khí” của Chu Tử học”. Ông đă thành công trong quá tŕnh “phi” h́nh nhi thượng “hóa” Tống Nho.

Sorai gặp nhiều sự chống đối từ phía những nhà Chu Tử học. Một số môn đệ của ông cũng chuyển sang hướng nghiên cứu khác nhưng nhờ những cuộc đụng chạm như thế mà Nho học Nhật Bản đă phát triển trong thời cận đại. Đồng thời, chịu ảnh hưởng của khoa khảo chứng học dưới triều Thanh với mục đích nghiên cứu kỹ lưỡng về thời cổ nên  thư chí học và văn bản học Nhật Bản cũng thành ra phổ cập. Những nhân vật như Kariya Ekisai (Thú Cốc, Dịch Trai) và Matsuzaki Kôdô (Tùng Kỳ, Khiếp Đường) là những học giả tiêu biểu. Truyền thống này sẽ kéo đến tận thời Meiji, và qua những cuộc trao đổi với học giả Trung Quốc, đă ảnh hưởng cả đến bên ấy.

5)      Nhà giáo dục Kinoshita Jun.an (Mộc Hạ, Thuận Am, 1621-1698), Chu Tử Học, Kinh phái.

Trong số những cao đệ của Seika (Tinh Oa) có Kinoshita Jun.an. Tên thật của ông là Sadamasa (Trinh Cán), hiệu là Kinri (Cẩm Lư), xuất thân từ Kyôto. Ông từng theo học Matsunaga Sekigo (Tùng Vĩnh, Xích Ngũ, 1592-1657), con trai của nhà thơ haiku bậc thầy là Matsunaga Teitoku (Tùng Vĩnh, Trinh Đức). Ông được lănh chúa phiên Kaga là Maeda Tsunenori mời đến và nhờ đó trở thành mạc thần, được tướng quân đời thứ năm là Tsunayoshi (Cương Cát) tín nhiệm bổ làm thị giảng. Sau ông mở tư thục ở Edo. Học tṛ ở cửa ông (Bokumon =Mộc môn v́ Kinoshita nguyên viết là Mộc Hạ) nhiều người giỏi trong đó có Arai Hakuseki, Muro Kyuusô, Amenomori Hôshuu, mà sự nghiệp sẽ nhắc đến trong những trang tới. Kinoshita có để lại Kinri Sensei-shuu (Cẩm Lư tiên sinh tập). Đào tạo nhiều môn sinh, mười người giỏi nhất được gọi là Mộc Môn Thập Triết.

 

6)      Nhà chính trị Arai Hakuseki (Tân Tỉnh, Bạch Thạch, 1657-1725), học tṛ của Jun.an (Chu Tử Học, Kinh phái) :

Arai Hakuseki, con người uyên bác và năng động

Một nhà tư tưởng Chu Tử Học quan trọng ảnh hưởng đến chính trị mạc phủ là Arai Hakuseki Ông con một vũ sĩ vô chủ nhưng bản thân phụng sự Tokugawa Tsunatoyo, thuộc chi Tokugawa tỉnh Kôfu. Sau đó, chủ ông trở thành Shôgun đời thứ 6 Ienobu. Không như Sorai, ông viết nhiều bằng quốc âm hơn là Hán văn và phạm vi học hỏi vượt hẳn ngoài ṿng tác phẩm cổ điển. Ông ham học, thích t́m hiểu, giao lưu với người ngoại quốc. Ông chủ tŕ chính trị mạc phủ từ 1709-16 dưới hai đời Shôgun Ienobu (Gia Tuyên, tại vị 1709-12) và Ietsugu (Gia Kế, tại vị 1712-16), có công băi bỏ những chính lệnh bất công của đời trước[15], cấm hối lộ, tiết giảm chi tiêu của đoàn sứ thần sang Triều Tiên, giải quyết tốt đẹp những cuộc nổi loạn của nông dân hay sự cố ngoại giao lúc tiếp đón sứ thần ngoại quốc, bảo vệ số vàng bạc dự trữ của nhà nước khỏi bị các thương nhân Trung Quốc và Ḥa Lan đem ra khỏi Nhật Bản, xử trí với người ngoại quốc vi phạm luật cấm đạo vv…Cũng chính trong thời này, giáo dục Nho Học đă được phổ biến sâu rộng với sự thành lập các trường của chư phiên (Hankô = Phiên hiệu và Kyôgaku = Hương học) để dạy con cháu sĩ tộc và Terakoya (Tự tử ốc) và các tư thục để dạy con cái tăng lữ đền chùa (Tự tử = con nhà chùa) cũng như con cái thầy thuốc, vũ sĩ và thường dân.

Lúc Shôgun mới là Yoshimune (Cát Tông, 1684-1751, trị v́ 1716-45) lên kế vị Ietsugu, Arai Hakuseki bị băi miễn, trở về quê (1716), nhường chỗ cho Muro Kyuusô (Thất, Cưu Sào, 1658-1734).

Tư tưởng Tống Nho của Hakuseki được ghi lại trong tác phẩm  kishinron “Quỉ thần luận”, giải thích sự sống và cái chết theo quan niệm âm dương. Ông chịu khó giao lưu với sứ bộ Triều Tiên, thương nhân Ḥa Lan khi họ ghé Edo và nhà truyền đạo người Ư Sidotti. Ông đă viết Sairan igen, (Thái lăm dị ngôn, 1713, chỉnh lư lại năm 1725) quyển địa lư Nhật Bản đầu tiên có năm quyển nói về Âu, Á, Phi và Nam, Bắc Mỹ. Ông gom góp tin tức khi hỏi cung Sidotti trong Seiyô Kibun (Tây Dương kỷ văn, 1715), viết Ezoshi (Hà Di chí, 1720) t́m hiểu người Ainu ở miền bắc Nhật, Nantôshi (Nam đảo chí, 1719) về người quần đảo Okinawa, và Tôga (Đông nhă, 1719) tác phẩm nói về ngôn ngữ, chia tiếng chuyên môn làm 20 loại khác nhau. Ông nghiên cứu lịch sử Nhật Bản khá tường tận, đă để lại Koshitsuu (Cổ sử thông) và Koshi Tsuuwakumon (Cổ sử thông hoặc vấn, cả hai vào năm 1716) và nhất là Tokushi Yoron (Độc sử dư luận, 1712, chỉnh lư và gia bút năm 1724).Về văn xuôi, ông theo lệnh trên soạn Hankanfu (Phiên hàn phổ, 1702) gồm 12 tập, ghi lại gia phả và sự tích, chiến công của các lănh chúa có lương trên một vạn hộc thóc, một tài liệu lịch sử quí giá về giai đoạn 1600-80. Đó là chưa kể Oritaku shiba no ki “Nhật Kư Củi Chụm” mà ông ghi chép lại kinh nghiệm bản thân từ những ngày đi học và suốt thời gian vào phục vụ dưới trướng Shôgun, để gửi lại cho những thế hệ đi sau.Vào thời đại của ông, việc viết một tác phẩm văn xuôi có tính cách tự truyện như thế quả là một điều mới lạ và hiếm hoi, trước đó, chắc chỉ có Yamaga Sokô (Sơn Lộc, Tố Hành, 1622-1685) , một nhà tư tưởng và chiến lược gia, tác giả Haisho Zanpitsu (Phối sở tàn bút) “Chép trên bước lưu đày”, viết khi bị phát phối v́ tội chống Nho gia.

Arai Hakuseki c̣n chủ trương kẻ thức giả cần phải hiểu biết về thi ca nên đă soạn Hakuseki Shisô (Bạch Thạch thi tưởng) nghiên cứu thơ Đường, tác phẩm của ông đă được biết tiếng tận Hàn Quốc và Trung Quốc v́ sự chính xác và tính cách tao nhă của nó. Tokushi yoron của ông đă soạn theo Tư Trị Thông Giám Cương Mục, sách phê b́nh lịch sử gồm 59 quyển do đại nho Chu Hi (1130-1200) đời Tống dựa vào Tư Trị Thông Giám (1084) của Tư Mă Quang (1019-86) để bàn luận, khen chê (“khí dự bao biếm”) về tính chính thống và phi chính thống của các triều đại, làm tấm gương cho người trị nước soi vào. Cuốn  Kojitsuu t́m cách giải nghĩa nhưng sự tích cổ xưa có tính thần thoại theo quan điểm đạo đức Tống Nho và luân lư của vũ sĩ. Hai quyển sách ông viết nay đă bị thất truyền là Keihô tenrei (Kinh bang điển lệ) có tham vọng tŕnh bày thuật trị nước qua thí dụ về hành động của các chính trị gia thời cổ, c̣n Shigi (Sử Nghi) tập trung vào việc bài xích Phật giáo.

7)      Lư thuyết gia về Vũ Sĩ Đạo Yamamoto Jôchô (Sơn Bản Thường Triều, 1659-1719) và Hagakure (Diệp Ẩn):

Nói đến quá tŕnh Nhật Bản hoá Khổng Giáo không thể bỏ qua việc định chế hóa vũ sĩ đạo. Vũ sĩ đạo (Bushidô) được xem như một qui phạm đạo đức của giới quân nhân h́nh thành từ cuộc chiến tranh giữa hai họ Taira và Minamoto (cuối thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 12) thời trung cổ Nhật Bản, phát triển với mạc phủ Kamakura (1185-1333). Đến thời Tokugawa nó kết hợp với tư tưởng Nho Giáo và trở thành một định chế chặt chẽ nhằm phục vụ cho chế độ phong kiến. Trung thành, hy sinh, tín nghĩa, liêm sỉ, lễ nghĩa, kiệm ước, đơn sơ, trong sạch, trọng danh dự, yêu vũ nghệ, không sợ chết… là những đức tính cần thiết của người vũ sĩ được nhắc trong Hagakure, Diệp Ẩn[16], 1716), tác phẩm có tính cách kinh điển do Yamamoto Jôchô tŕnh bày và một samurai cùng phiên với ông, Tashirô Tsuramoto (Điền Đại Hựu Tả Vệ Môn Trận Cơ) ghi chép lại trong khoảng năm 1710-16 nhưng chỉ lưu hành chứ không xuất bản. Kể từ thời điểm đó, dù đúng hay sai, vũ sĩ đạo đă được nhiều người coi như đồng nghĩa với lối sống Nhật Bản.

Jôchô, samurai tập sự, từ năm mới lên 8 đă là tiểu đồng của lănh chúa Nabeshima Mitsuhige. Ông tự hận ḿnh không chết được theo chủ khi ông nầy mất năm 1700 (bởi v́ h́nh thức junshi = tuẫn tử đă bị phiên Saga cấm từ 1661 và bởi Mạc Phủ từ 1663). Do đó, ông đă dành những tháng ngày c̣n lại của đời ḿnh để triển khai lư luận về việc phụng sự chủ nhân của một người samurai. Jôchô không biết chiến đấu như kiếm khách Miyamoto Musashi nên không bàn về binh pháp cũng như về cái chết của người samurai trên chiến trường, ông chỉ bàn về cách chết bằng nghi thức seppuku (thiết phúc), nôm na là harakiri (mổ bụng). Jôchô cho rằng ông không có bổn phận ǵ với Nữ Thần Thái Dương, Thích Ca Mâu Ni Phật hay Khổng Tử hay bất cứ ai ai cả mà chỉ có bổn phận với chủ ông là Nabeshima, lănh chúa phiên trấn Saga, mà thôi (ông bỏ qua không nhắc tới Thiên Hoàng hay Tướng Quân Tokugawa chắc v́ tế nhị). Cơ sở lư luận của Hagakure là chủ nghĩa tập đoàn (nhất vị đồng tâm), sự xóa bỏ cá nhân và siêu việt khỏi tôn giáo dù là Nho, Phật giáo hay Thần đạo. Trung thành với chủ là giúp chủ sửa đổi điều sai lầm nếu có, nhưng phải để mạng sống ḿnh cho chủ định đoạt. Đó là t́nh cảm trung thành tuyệt đối và cái chết là đỉnh cao của sự trung thành. Bushidô hiểu theo Jôchô ( sự trung thành với chủ phiên) khác với cách hiểu của Mạc Phủ, muốn hướng ḷng trung thành ấy về phía ḿnh như thấy trong sắc lệnh Chuukôrei (Trung Hiếu Lễ) gồm 7 điều mà họ ban hành năm1682.

Jôchô chỉ trích 47 người hiệp sĩ vô chủ[17] đă mất nhiều thời giờ để chuẩn bị cuộc báo thù (v́ nhỡ kẻ thù chết trước th́ làm sao báo thù được nữa) và sau khi trả được thù rồi lại không biết chết ngay. Hagakure đă ảnh hưởng lớn đến lối suy nghĩ của những phần tử cực đoan như Mishima Yukio về sau. H́nh thức chết ngoài chiến trường, chết theo chủ và chết chung v́ t́nh (shinjuu) là đặc điểm của xă hội Nhật, xem sự hủy diệt bản thân như cực điểm của t́nh yêu và ḷng phục vụ.

Văn hóa Trung Hoa truyền vào Nhật Bản từ thời Nara như thế đến giai đoạn nầy đă biến thể rất nhiều và mang màu sắc bản xứ.

 

8) Muro Kyuusô (Thất, Cưu Sào, 1658-1734), Chu Tử Học, Kinh phái.

 

Nho quan Muro Kyuusô, người thay thế Arai Hakuseki

Tầng lớp trí thức vũ sĩ trong buổi đầu thế kỷ 18 có 3 loại: loại tôn sùng Khổng Học, loại kỹ thuật gia và các văn nhân.

Đại diện cho lớp tôn sùng Khổng học có Muro Kyuusô. Ông xuất thân gia đ́nh thầy thuốc, là học tṛ của Ôgyuu Sorai, được Arai Hakuseki giới thiệu vào làm gia thần cho nhà chúa từ 1711. Đến năm 1722, trở thành thị giảng cho Tướng Quân. Người học tṛ khác của Ogyuu Sôrai là Dazai Shundai (Thái Tể, Xuân Đài, 1680-1747) và Itô Tôgai (Y Đằng, Đông Nhai, 1670-1736) con trai Jinsai, đều thuộc nhóm nầy.

Ngoài ra, phải kể đến Ishida Baigan (Thạch Điền, Mai Nham, 1685-1744) cũng chịu ảnh hưởng Khổng giáo và mở ra môn phái tâm học của ḿnh. Ông là tổ của Sekimon shingaku (Thạch môn tâm học). Xuất thân nông dân xứ Tanba, ông làm công trong cửa hàng tơ lụa, đă tự học để trở thành học giả. Sau ông mở trường ở Kyôto, môn đệ có cả những người buôn bán, giai cấp thấp kém nhất trong xă hội tứ dân (sĩ, nông, công, thương) thời đó. Ông dạy họ triết lư sống siêng năng, chân thật, kiệm ước bằng một ngôn ngữ giản dị, không cao xa, qua những mẩu chuyện đối đáp và dẫn chứng bằng kinh nghiệm sống của chính ḿnh. Tác phẩm có Tohi mondo (Đô bỉ vấn đáp) hay đối thoại giữa người tỉnh thành (Đô) và người quê mùa thô lậu (Bỉ) , Seikaron (Tề gia luận) bàn về cách xử sự trong nhà,

Nhóm thứ hai gồm các kỹ thuật gia như chuyên gia về toán pháp Nhật Bản, lịch và thuốc như Aoki Kon.yô (Thanh Mộc, Côn Dương, 1698-1769, học tṛ Tôgai),Yamawaki Tôyô (Sơn Hiếp, Đông Dương, 1705-1762) và các học giả (Ḥa) Lan học đă nói ở trên. Cũng có thể xếp các các thiền gia như Hakuin (Bạch Ẩn, 1685-1768), Jiunsionja Onkô (Từ Vân Tôn Giả, Ẩm Quang, 1718-1804), thần học giả và ngôn ngữ học giả như Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên, 1697-1769) vào nhóm nầy.

Trong quăng sau thế kỷ 18, các nhà nho đă chuyên môn hóa. Đại biểu có Kaiho Seiryô (Hải Bảo, Thanh Lăng, 1755-1817) trong lănh vực kinh tế chính trị, Sugita Genpaku (Sam Điền, Huyền Bạch, 1733-1817) chuyên về cái học Ḥa Lan và Yosa Buson (Dữ Tạ, Vu Thôn, 1716-1783) nổi tiếng trong thi và họa.

Nhóm thứ ba là các bunjin (văn nhân). Họ cũng chịu ảnh hưởng Trung Hoa như nhóm thứ nhất nhưng chỉ về thi và họa thôi chứ không chú ư đến khía cạnh kinh tế hay chính trị. Tiêu biểu cho các bunjin có Yanagisawa Ki.en (Liễu Trạch, Kỳ Viên, 1704-1758) con trai của lănh chúa và đại thần mạc phủ là Yanagisawa Yoshiyasu. Ông giỏi thi, phú, tiếng Hoa và rành về triết lư Khổng giáo.Tài nghệ của ông nằm trong lănh vực thư đạo và hội họa và được xem là một ông tổ của bunjin-ga (hội họa của văn nhân) bên cạnh Gion Nankai (Kỳ Viên, Nam Hải, 1667-1751). Ki.en c̣n thạo về âm nhạc (trống, samisen), thơ (haiku), hương đạo (nghệ thuật sử dụng hương thơm) và vũ thuật. Ông để lại hai tác phẩm lớn là Kinsei kijinden (Cận thế kỳ nhân truyện, 1790, 5 quyển) sưu tập truyện kư về các nhân vật đương thời, và Hitorine (Ngủ một ḿnh, 1724-25) nói về thế giới lầu xanh. Hirtorine ca tụng các cuộc hành lạc kể cả đá cầu, bắn cung, vũ, kịch câm…những thú vui mà ông cho là tao nhă. Trongcác bunjin đương thời, thiết tưởng cũng không nên quên Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách, 1683-1759) và Ike no Taiga (Tŕ, Đại Nhă, 1723-1776). Về cơ bản, Nankaku là một nhà thơ, người đă soạn Tôshisen Kokujikai (Đường Thi Tuyển Quốc Tự Giải), và Taiga, một nhà hội họa giỏi sơn thủy, tuy chịu ảnh hưởng các trường phái Tống, Nguyên nhưng có cá tính, vẽ tranh với những nét gọn, nhẹ, hầu như hí họa, khác hẳn loại tranh trang trí của trường phái Kanô (Thú Dă)[18].

Về sau, trung tâm của nhóm bunjin là Kimura Kenkadô (Mộc Thôn, Kiêm Gia Đường, 1736-1802), con trai một chủ vựa sake ở Ôsaka. Ông là người giàu kiến thức, đi lại với hai nhà tiểu thuyết Takebe Ayatari (Kiến Bộ, Lăng Túc,1719-1774), Ueda Akinari (Thượng Điền, Thu Thành, 1734-1809), họa sĩ Shiba Kôkan (Tư Mă, Giang Hán, 1738-1809) và nhà thơ kyôka Ôta Shokusanjin (Đại Điền, Thục Sơn Nhân, 1749-1823).

TIẾT III : QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NHO ĐỐI VỚI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT :

A)    Thi văn và hội họa :

Chữ viết kana, văn học wabun và họa yamato-e của Nhật đă h́nh thành vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10 nhưng việc kết hợp thi văn và hội họa là một phương thức sáng tạo tiếp nhận từ Trung Quốc.Các tập thơ waka của Nhật thường kèm theo tranh vẽ. Ngoài ra văn nhân Nhật Bản thường viết chữ vào các mảnh giấy gọi là shikishi (sắc chỉ, giấy dày h́nh vuông mỗi bề khoảng 20cm, nhiều màu, có rắc kim nhủ và ngân nhủ) để trang trí trên b́nh phong. Đến đời Kanpyô (Khoan B́nh, 889—898) thi-họa được phát triển mạnh với sự ra đời của các loại tranh shiki-e (tứ quí hội) ghi lại phong cảnh bốn mùa hay tsukinami no e (nguyệt thứ hội) vẽ công việc làm ăn 12 tháng trong năm. Thế rồi liên hệ giữa văn chương và hội họa được củng cố thêm với sự hệ thống hóa các meisho (danh sở), tức là các thắng cảnh được các nhà thơ dùng làm chủ đề.Ví dụ như cảnh “anh đào núi Yoshino” phải có trong các tập thơ mùa xuân, cảnh “lá đỏ trên sông Tatsuta” phải có trong các tập thơ về mùa thu v́ hai nơi đó là hai uta-makura (ca chẩm) tức “gối thơ” được các tập b́nh luận thơ đề cập và tiến cử. Đến khi các tập truyện monogatari ra đời th́ tranh vẽ cũng đă đi vào các cuốn truyện ấy như Truyện Ise hay Truyện Genji. Nó được gọi là tsukuri-e (tranh bịa đặt) v́ monogatari là một thứ truyện bịa đặt  (tsukuri-banashi) hay onna-e (tranh đàn bà) v́ tiểu thuyết thời ấy thường do phụ nữ viết. Đến thế kỷ 17 th́ sự kết hợp của văn chương và hội họa theo truyền thống Trung Quốc đă đến chỗ cực thịnh với các họa gia như Sôtatsu (Tông Đạt, ?-?), Kôetsu (Quang Duyệt, 1558-1637) và họa sĩ phái Kôrin (Quang Lâm) với các tác phẩm makie (th́ hội) nghĩa là tranh (hội) sơn rắc (th́) kim ngân nhủ, tranh thủy mặc, tranh shitae (hạ hội) tức tranh vẽ (hội) bên dưới (hạ) b́nh phong, lá quạt… của họ.

Như đă nói, Tướng Quân Tokugawa đời thứ nhất, Ieyasu, hồi mới xây dựng Mạc Phủ, đă dùng nhà tư tưởng phái Chu Tử tên Hayashi Razan (Lâm, La Sơn) làm gia thần. Đối với Chu Tử học th́ đạo đức mới quan trọng chứ việc làm thơ viết văn chữ Hán chẳng qua là một tài nghệ phụ thuộc của người theo đạo Nho và chỉ có tính cách bề ngoài.

Thế nhưng, cùng với thời gian, đă thấy một số nhà học giả Chu Tử học đẩy mạnh khía cạnh văn chương. Trong số đó có một nhóm đệ tử của Kinoshita Jun-an (Mộc Hạ, Thuận Am) như Arai Hakuseki (Tân Tỉnh, Bạch Thạch), Muro Kyuusô (Thất, Cưu Sào), Gion Nankai (Kỳ Viên, Nam Hải) là những cây bút lỗi lạc. Riêng Hakuseki có viết thiên tự truyện rất thú vị tên là “Chép Về Những Nhánh Củi Chụm”(Oritakushiba no Ki) mượn câu thơ waka của thiên hoàng Go-Toba xem kỷ niệm giống như khói đốt từ củi chụm. Sách gồm ba quyển, viết vào năm 1716, kể lại gia thế từ đời ông cho đến đời ḿnh với lối hành văn bằng kana xen lẫn chữ Hán. Đây là một tư liệu quí giá để biết về nội bộ chính trị Mạc Phủ và c̣n là tác phẩm tiêu biểu trong ḍng văn học hồi kư cận đại. Ngoài ra , thời ấy c̣n có những văn nhân làm thơ viết văn bằng chữ Hán nhưng không bắt buộc theo Nho học. Họ có thể là con nhà vũ sĩ nhưng đă lánh đời như Ishikawa Jôsan (Thạch Xuyên, Trượng Sơn) hay đi tu như tăng Gensei (Nguyên Chính). 

B) Phong trào Kogaku (cổ học) đối với nho sĩ và văn nhân:

Trong năm Genroku, ở Kyôto, học giả gốc người kẻ chợ tên là Itô Jinsai (Y Đằng, Nhân Trai) đề xướng “cổ nghĩa học”, môn học thuyết việc coi trọng chữ Nhân (yêu người đời) trong sinh hoạt hàng ngày. Sau đó ít lâu, Ogyuu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai) ở Edo chủ trương Nho học không phải môn học dạy đạo đức mà là môn học t́m hiểu chính trị và chế độ. Do đó, ông bảo cần phải sửa chữa lối học theo chiều hướng đó bằng cách dùng Soraigaku (Tồ Lai Học) tức là môn học nghiên cứu từ cổ, văn cổ. Theo ông, việc t́m về ư nghĩa uyên nguyên của văn từ trong các cổ điển như Luận Ngữ chẳng hạn mới là mục đích của sự học. Do đó, môn học này c̣n được mệnh danh là kogaku (cổ học). Nó đă lôi cuốn được thiên hạ thời ấy và ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời của kokugaku (quốc học)

Trường phái kogaku coi trọng t́nh người và xem văn học không dính líu ǵ đến chuyện bảo vệ đạo đức. Môn phái nầy đă tạo nên phong cách yêu chuộng văn học. Những văn nhân theo đ̣i kogaku không phải là những người trọng đạo Nho mà chỉ thuần túy yêu văn thơ chữ Hán. Hattori Nankaku (Phục Bộ, Nam Quách), đồ đệ của Sorai, tượng trưng cho khuynh hướng ấy. Thi nhân thời này có khuynh hướng mô phỏng lối cách điệu của Thịnh Đường thi nghĩa là loại thơ có thanh điệu cao vời khác thường như chủ trương của Thẩm Đức Tiềm[19] đời Thanh. Người  theo phương pháp sáng tác nầy được gọi là theo phái cách điệu (Kakuchô-ha).

Khoảng hậu bán thế kỷ 18, người viết Hán thi không c̣n bằng ḷng với việc mô phỏng thơ Đường mà muốn t́m cách biểu hiện một cách rơ ràng và thẳng thắn t́nh cảm của ḿnh. Phái Tính Linh (Seirei-ha) đă mở đường cho lối sáng tác nầy. Trường phái đó đến đời Bunka và Bunsei (Hóa Chính, 1804-1830) đă tạo được cơ sở vững chắc, không giới hạn ở mức độ đô thị mà c̣n lan ra khắp các địa phương. Số người làm thơ chữ Hán chưa bao giờ đông đảo như vậy và số thi tập chữ Hán được phát hành ra cũng rất nhiều.

Thời kỳ Hóa Chính (Bunka+Bunsei= Kasei tức kết hợp Văn Hóa và Văn Chính) nói trên, các nhà thơ thuộc nhóm Kôko Shisha (Giang Hồ Thi Xă) do Ichikawa Kansai (Thị Hà, Khoan Trai, 1749-1820) dẫn đầu,  hoạt động mạnh mẽ nhất. Có thể nêu ra những tên tuổi trong nhóm như Kashiwagi Jotei (Bá Mộc, Như Đ́nh), Ôkubo Shibutsu (Đại Oa, Thi Phật), Kikuchi Gozan (Cúc Tŕ, Ngũ Sơn). Các nhà thơ nầy trên đường du hành đă mở rộng ảnh hưởng của thi phong mới mẽ đó đến tận các địa phương.Vùng Bingo (thuộc Hiroshima bây giờ) có Kan Chazan (Quản, Trà Sơn, 1748-1827), vùng Bungo (thuộc tỉnh Oita bây giờ) có Hirose Dansô (Quảng Lại, Đạm Song, 1782-1856) vừa mở tư thục dạy học tṛ, vừa ngâm vịnh cuộc sống ở nhà quê và để lại nhiều tác phẩm có giá trị cao.

1) Kan Chazan (Quản, Trà Sơn, 1748-1827):

Kan Chazan, c̣n đọc là Sazan, có tên là Kan Shinsui hay Kan Tokinori (Tấn Súy), một nhà thơ và Hán học tên tuổi, quê ở Kannabe gần Hiroshima.Ông lên Kyôto học thuốc và Chu Tử Học rồi lui về quê nhà là làng Kannabe mở trường dạy học, Tuy xa lánh trung tâm văn hóa là kinh đô nhưng ảnh hưởng của ông rất rộng lớn đối với người đương thời.Ông chuộng thơ đời Tống nên không theo thi phong của Ogyu Sorai vốn coi việc mô phỏng Đường thi như một lư tưởng. Thơ chữ Hán của ông thường giản dị, không tu sức mà hiện thực và trực tiếp. Ông viết nhiều lư luận về Chu Tử Học nhưng cũng để lại lắm thơ chữ Hán. Tác phẩm c̣n được nhắc nhở nhiều là các tập “Thơ ở nhà trong thôn chiều tàn lá đỏ” Kôyô Sekiyô Sonja-shi (Hồng diệp tịch dương thôn xá thi) và nhật kư nhan đề Fude no susabi (Mặc cho ng̣i bút).

Có một thời, trong đám đệ tử lui tới tư thục của Kan Chazan có Rai Sanyô[20] (Lại, Sơn Dương, 1780-1832), vốn là con trai nhà học giả Chu Tử Học ở phiên Hiroshima là Rai Shunsui (Lại, Xuân Thủy, 1746-1816).

2) Rai San.yô (Lại, Sơn Dương, 1780-1832):

Rai San.yô tên thật là Rai Noboru, sử gia và thi nhân, sinh trong một gia đ́nh văn học.Từ bé ông gặp cảnh khổ năo v́ áp bức của gia đ́nh và tỏ ra có vấn đề tâm thần. Lên Kyôto sống bằng nghề thơ, theo học tư tưởng Tống Nho nhưng không chịu nổi kỷ luật nhà trường và xung khắc với bạn bè nên bị quản thúc tại gia và nhờ đó có dịp viết Nippon Gaishi (Nhật Bản ngoại sử, 1827), quyển sách miêu tả sống động lịch sử của truyền thống vũ sĩ và đóng góp rất nhiều trong việc cổ vũ các chí sĩ trong giai đoạn chuyển tiếp Mạc Phủ-Duy Tân. Ông c̣n thiện về Hán thi. Phong cách thơ ông lâm ly, hào hùng, có lẽ do cảm hứng đến từ lịch sử bi tráng của Nhật Bản mà với tư cách sử gia, ông có cơ hội học hỏi tường tận.

Nhật Bản Ngoại Sử của Rai San.yô là động lực của cuộc Duy Tân

 

3) Những văn nhân, thi nhân khác:

Một thi nhân tên Yanagawa Seikan (Lương Sơn, Tinh Nghiêm, 1789-1858), trong năm Tenpô đă mở Gyokuchi Ginsha (Ngọc Tŕ Ngâm Xă) ở Edo, đào tạo rất nhiều nhà thơ lỗi lạc, sau đó lại dời nhà đến Kyôto và tham gia các cuộc vận động lật đổ Mạc Phủ. Vợ của Seigan tên gọi Kôran (Hồng Lan, 1804-1879) cũng như môn đệ của Sanyô là bà Ema Saikô (Giang Mă, Tế Hương, 1787-1861) đều là những nhà thơ Hán thi phái nữ hoạt động mạnh cuối đời Mạc Phủ.

Giống như kyôka đối với waka, senryuu đối với haikai, Hán thi cũng đẻ ra một thể loại phụ thuộc mang tính chất hài hước và phúng thích, được gọi là kyôshi (cuồng thi), phát triển song song với Hán thi. Ôta Nanpo (Thái Điền, Nam Mẩu, 1749-1823) ở Edo viết Ông Thầy Khật Khừ (Nebôke Sensei) và Hakakenaka Kansai (“Điền” Trung, Quan Trai) viết Taihei Gafu (Thái b́nh nhạc phủ) là những tác phẩm nổi tiếng của loại thơ nầy.

TIẾT IV : PHONG TRÀO NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC :

Quan giữ đền thần Fushimi Inari ở Kyôto tên là Kada no Azumamaro[21] (Hà Điền, Xuân Măn) chịu ảnh hưởng học vấn của Keichuu (Khế Trùng)[22], muốn thông qua sách vở để lại, rắp tâm chứng minh rằng trước khi Phật giáo và Nho giáo được truyền bá đến Nhật th́ vào thời cổ, đă có sẵn một đời sống tinh thần đặc thù của người trên quần đảo rồi. Đó là nền tảng của kokugaku vậy. Nền tảng đó đă được môn đệ của Azumamaro là Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên) tài bồi.

1) Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên, 1697-1769):

Xuất thân vùng Tôtômi (Shizuoka bây giờ), sau lên Edo hoạt động. Ông thờ họ Tayasu, một trong ba chi của Mạc Phủ Tokugawa. Có để lại tập thơ Kamo-ô Kashuu (Hạ Mậu Ông Gia Tập). Mabuchi đặc biệt đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu Man.yô-shuu (ra đời khoảng sau năm 759) và h́nh thức norito[23] của Thần đạo. Ngoài việc biên soạn tác phẩm Man.yô-kô[24] (Vạn Diệp khảo, 1687), ông c̣n đề xướng masuraoburi, một phong cách làm thơ waka với cung cách đơn sơ của người đàn ông (masurao = trượng phu) thấy trong Man.yôshuu mà ông cho là lư tưởng. Theo Mabuchi, muốn t́m về dân tộc tính Nhật Bản, trở về với cái hồn của người xưa th́ chỉ có cách thông qua thi ca. Việc nghiên cứu ngôn ngữ, h́nh thức diễn tả như h́nh ảnh, âm luật mà tổ tiên người Nhật sử dụng… sẽ giúp người đời sau t́m hiểu được nội tâm của người xưa. Mabuchi thường bị chê trách v́ ông chỉ dựa vào ngôn ngữ và văn bản nên không được khoa học cho lắm nên c̣n nhiều sai sót trong việc nghiên cứu. Thế nhưng công tŕnh về Man.yôshuu của ông được xem như có một giá trị đặc biệt. Về già, ông c̣n định t́m hiểu thêm về Kojiki(712), một tác phẩm xa xưa hơn, nhưng mộng ước này, phải đợi đến hậu bối của ông là Motoori Norinaga th́ mới thực hiện được.

Thời Vạn Diệp của Kakimoto no Hitomaro c̣n chưa nhuốm màu sắc Nho giáo

Môn phái mang tên Kenmon (Huyện Môn)[25] của Kamo no Mabuchi đă đào tạo ra được những nhà thơ waka như Tayasu Munetake (Điền An, Tôn Vũ, 1715-71), Akatori Nahiko (Tiếp Thủ, Ngư Ngạn), Katô Chikage (Gia Đằng, Thiên Âm, 1735-1808), Murata Harumi (Thôn Điền, Xuân Hải, 1746-1808). Tayasu Munetake là con thứ của tướng quân Tokugawa đời thứ 8 Yoshimune (Cát Tông). Có để lại tập Amorigoto (Thiên giáng ngôn) “Lời Trời Ban Xuống”.

Katô Chikage làm việc cho mạc phủ, nổi tiếng cả về hội hoạ lẫn thư pháp, có tập “Hoa Ukera[26]” (Ukeragahana) thu thập nhiều loại thơ waka, lại viết “Khảo sát về Man.yô-shuu” (Manyôshu ryakuge, 1796-1812). C̣n Murata Harumi là một nhà buôn giàu có ở Edo nhưng sau khi bị phá sản, mới để hết tâm trí vào việc làm thơ.Có tập Đuôi đàn cầm (Kotojiri-shuu = Cầm hậu tập).

2)  Nhà quốc học Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường, 1730-1801):

 Học giả quốc học Motoori Norinaga

Được kể là một trong tứ trụ của quốc học, Motoori Norinaga (1730-1801), hành nghề thầy thuốc ở Matsuzaka xứ Ise, nhập môn Mabuchi hồi 34 tuổi (1763) sau khi đă học Chu Tử Học với Hori Keizan và chịu ảnh hưởng của Ogyu Sorai và Keichuu về văn bản học. Ông có công đào sâu tinh thần quốc học của Kamo no Mabuchi, thầy ḿnh. Ông đặc biệt nghiên cứu Kojiki (Cổ sự kư) và sau 30 năm tận tụy làm việc, đă hoàn thành Kojikiden (Cổ sự kư truyện, 1764-1798). Đây là một sự nghiệp vĩ đại v́ hầu như Norinaga đă bỏ gần hết cuộc đời để nghiên cứu và chú thích nó. Tác phẩm nầy được giới nghiên cứu quốc học cận đại xem như là tiêu biểu và sáng giá nhất đối với một tác phẩm đă bị bỏ quên từ nhiều thế kỷ để nhường vị trí độc tôn cho Nihon shoki và những tác phẩm theo sau cùng chiều hướng được coi là chính thống. Qua việc nghiên cứu Kojiki, ông muốn t́m về cái đơn sơ, chất phác và linh thiêng của Nhật Bản trước khi ảnh hưởng Nho Phật từ bên ngoài du nhập vào (bài Nho bài Phật, t́m về cổ đạo). Tuy ông cũng vận dụng không ít trí tưởng tượng trong quá tŕnh nghiên cứu nhưng cũng phải nhận là đến 80% chú dẫn của ông có giá trị khách quan.

Là người say mê văn học vương triều, Norinaga lại viết Kokin-shuu enkyô (Cổ kim tập viễn kính) cũng như Genji monogatari tama no ogushi (Nguyên Thị vật ngữ ngọc tiểu trất, 1796) tức là “Cái lược nhỏ để suốt ra những hạt ngọc của Truyện Genji”. Ông cho rằng bản chất của Truyện Genji nằm trong cái đáng yêu, đáng thương (mono no aware) được thể hiện ra. Ông không nh́n tác phẩm trên quan điểm đạo đức như những nhà b́nh luận trước đó mà đă lư luận từ một quan điểm hoàn toàn chưa có ai khai thác.

Ngoài hai tác phẩm kể trên, ông c̣n có tập tùy bút Tamakatsuma (Ngọc thắng gian) “Chiếc Lồng Tre Đẹp” và tập thơ cá nhân “Nhà chuông” (Suzunoya-shuu = Linh ốc tập). Tamakatsuma cho ta thấy kiến thức sâu rộng của Norinaga về mọi lănh vực từ học vấn, tư tưởng, những điều tai nghe mắt thấy, cổ thư, cổ ca…Ông khá đặc biệt v́ tuy là động lực đă thúc đẩy phong trào quốc học đi quá đà trong việc bảo vệ ư thức hệ dân tộc, nhưng cá nhân ông chủ trương việc nghiên cứu học thuật phải được tách khỏi ảnh hưởng của chính trị và tôn giáo. Hơn nữa, ông cho rằng học vấn phải được phổ biến đến mọi người chứ không được truyền thụ một cách bí mật giữa một nhóm người nào đó.

Một chi của học phái Suzunoya[27] (Linh ốc phái) của ông, sau khi thầy chết, nối tiếp công việc nghiên cứu văn bản theo phương pháp thực chứng. Motonori Haruniwa (Bản Cư, Xuân Đ́nh, 1763-1828), Ban Nobutomo (Bạn, Tín Hữu, 1773-1846) là những người thuộc hệ phái nầy. Một chi khác với Hirata Atsutane (B́nh Điền, Đốc Dận, 1776-1843) chẳng hạn, tiếp tục theo hướng đi của thầy để t́m hiểu thế nào là tinh thần Nhật Bản của thời cổ đại.

Trong trường phái Quốc Học, vào giai đoạn cuối đời Edo c̣n có Hanawa Hokinoichi (Qua Bảo, Kỷ Nhất, 1746-1821), một học giả mù từ năm lên 7, trí nhớ cực tốt, tinh thông Ḥa Hán, từng theo học và giúp thầy là Kamo no Mabuchi soạn quyển Dai Nihon-Shi (Đại Nhật Bản sử). Năm 1793, ông thành lập Wagaku kôdansho (Ḥa học giảng đàm sở) , được Mạc Phủ bảo trợ. Cùng với các đệ tử, ông đă ra công biên tập ba bộ sách lớn mà đáng kể hơn cả là Gunsho Ruijuu (Quần thư loại tùng), gồm 530 tập, qui tụ 1270 tác phẩm từ thế kỷ thứ 7 đến 17 với 25 thể loại văn chương. Công tŕnh đồ sộ này chỉ hoàn thành vào năm 1819. Ngoài ra, phải kể đến các công tŕnh biên tập đặc sắc khác của ông như Buke myômoku-shô (Vũ gia danh mục sao) gồm 351 tập tài liệu nói về giới vũ sĩ và tập Shiryô (Sử liệu) nguồn thông tin quí giá đóng góp cho cuốn Dainihon shiryô (Đại Nhật Bản sử liệu) của người đời sau (được biên tập kể từ 1901).

TIẾT V: TƯ TƯỞNG BUỔI GIAO THỜI:

Chuyển biến kinh tế và chính trị cuối thế kỷ 19 đă đưa đến sự suy vi của Mạc Phủ và sự tàn lụi của Hán học. Nhật Bản thoát khỏi chủ nghĩa cô lập và trở thành một bộ phận của thị trường tư bản chủ nghĩa từ năm 1858 sau hiệp ước thượng mại kư với Mỹ. Cuộc trung hưng của thể chế thiên hoàng từ năm 1868, được biết đến với cái tên Minh Trị Duy Tân, đă gia tốc sự giải thể của Hán học vốn đă tàn lụi dần từ giữa thế kỷ 18.

Chiến thắng của người Anh trong trận chiến tranh chiến tranh Nha Phiến (1840) và việc người Pháp chiếm đóng Bắc Kinh (1860) đă làm cho Nhật Bản hết c̣n trọng vọng Trung Quốc và nghi ngờ đến cả những yếu tố từng là cơ sở cho cách sống của chính họ trong một thời gian dài.

Học giả Khổng Giáo phái Mito[28] sử dụng một vài khái niệm cũ để phục vụ cho một mục đích mới. Quan điểm về danh phận (meibun) và trung hiếu (chuukô) từ đây sẽ dùng để phục vụ cho chủ trương tôn quân bài ngoại ( sonnô jôi = tôn vương nhương di) như trong Shinron (Tân Luận), tác phẩm của Aizawa Seishisai (Hội Trạch, Chính Chí Trai, 1782-1863). Một học giả tiêu biểu khác của phái này là Fujita Tôko (Đằng Điền, Đông Hồ, 1806-55) trong Kôdôkanki (Hoằng Đạo Quán kí, 1847) cố gắng đưa cả Mạc Phủ vào bên cạnh Thiên Hoàng trong nỗ lực đuổi giặc nước ngoài. Nói chung, đó là những cố gắng cuối cùng để sử dụng tư tưởng Hán học cho những mục đích có tính duy lợi (utilitarism). Ninomiya Sontoku (Nhị Cung, Tôn Đức, 1787-1856) và Satô Nobuhiro (Tá Đằng, Tín Uyên, 1760-1850) mỗi người một vẻ, cũng nghĩ theo cách này.

Một số nhà tư tưởng khác như Watanabe Kazan (Độ Biên, Hoa Sơn, 1793-1841) và Sakuma Shôzan (Tá Cửu Ma, Tượng Sơn, 1811-64) chấp nhận việc chống giặc ngoại xâm giữ nước nhưng kêu gọi mở của để học hỏi khoa học kỹ thuật Tây Phương. Trong khi đó, nhóm Hirata Atsutane (B́nh Điền, Đốc Dận, 1776-1843), và sau đó là Okuni Takamasa (Đại Quốc, Long Chính, 1780-1850), Kurozumi Munetada (Hắc Chủ, Tông Trung, 1780-1850) đă lợi dụng sự suy thoái của Hàn học để cổ vơ việc học hỏi Tây Phương nhưng lại muốn chấn hưng Thần đạo nhằm xây dựng một ư thức hệ dân tộc có tính cực đoan.

1) Hirata Atsutane (B́nh Điền, Đốc Dận, 1776-1843) và tư tưởng bài ngoại:

Ông được xem như môn đệ của phái quốc học Motoori Norinaga nhưng không nghiên cứu thần thoại Nhật Bản theo quan điểm văn bản học mà nghiên cứu tận thế luận (eschatology) của Thiên Chúa Giáo để xây dựng cơ sở triết thuyết quốc gia chủ nghĩa có tính bài ngoại của ông. Thường bị xem là chủ trương một thứ thần đạo phục cổ nhưng tạp nhạp.

Xuất thân từ một gia đ́nh gốc samurai miền Bắc (tỉnh Akita) ông đến Edo năm 1795 và sau đó được một gia đ́nh samurai nhận làm con nuôi. Nhiều lần ông t́m đường công danh nhưng bất thành. Tác phẩm ông để lại có Honkyô Gaihen “(Bản giáo khái biên) “Sơ lược về tôn giáo nước ta” (1806), Koshichô (Cổ sử trưng) “Tŕnh bày về sử cổ”, Kodô Taii (Cổ đạo đại ư) “Đạo lư người xưa”, Koshiki-den “Cổ sự kư Truyện” “Truyện sử cũ” (1812), Tama no Mihashira (Linh năng chân trụ) “Trụ cột của linh hồn”(1813).

 Ông mượn những khái niệm trời, đất, thiên đàng, địa ngục của đạo Thiên Chúa để xây đắp cho thế giới quan Nhật Bản của ḿnh. Ông chê đạo Phật tẻ nhạt và cảnh cực lạc nhàm chán. Ông chê dân Ḥa Lan là quá táo bạo, không biết mắc cỡ là ǵ nhưng phục họ ở cái tinh thần suy xét cái ǵ cũng đến nơi đến chốn.

Chính ông đă đưa tư tưởng Kokutai (Quốc thể) “Thể thống nước nhà” của các học giả phái Mito[29] lên hàng ư thức hệ nghĩa là từ một khái niệm trừu tượng không dính đến chính trị, nó đă trở thành điểm tựa của lư thuyết tôn quân bài ngoại (Sonnô Jôi, tôn vương nhương di, gọi tắt là Sonjô, tôn nhương).Và như ta biết, Kokutai nằm trong từ ngữ thông dụng của chủ nghĩa quân phiệt trong niên đại 1930, tiêu biểu cho tinh thần quốc gia cực đoan.

2) Aizawa Seishisai (Hội Trạch, Chính Chí Trai, 1782-1863) bảo thủ nhưng thức thời:

Nhà nho thuộc học phái Mito. Học tṛ của Fujita Yuukoku (Đằng Điền U Cốc)[30]. Tác phẩm có Shinron (Tân luận, 1825) trong đó ông đ̣i đuổi người ngoại quốc đến xin thông thương và Jimusaku (Thời vụ sách, 1862), ra đời 37 năm sau lại chủ trương kư hiệp ước hữu nghị và phát triển mậu dịch quốc tế. Ư tưởng này cho thấy ông có tiến bộ ra trong khoảng thời gian đó và trở thành người thức thời.

Riêng việc ông đề xướng tôn quân bài ngoại đă để lại ảnh hưởng to lớn đối với các cuộc vận động chính trị cuối đời Mạc Phủ. Đặc biệt chương đầu của Shinron bàn về Kokutai, đi từ việc thuật lại truyền thuyết lập quốc để đưa đến kết luận nhấn mạnh chủ trương đoàn kết sau lưng nhà vua để làm sao cho “nước giàu quân mạnh” (phú quốc cường binh).

3) Fujita Tôko (Đằng Điền, Đông Hồ, 1806-1855) chủ trương ḥa hợp dân tộc:

Con trai của Yuukoku (U Cốc), làm phụ tá cho phiên chủ Tokugawa Nariaki (Đức Xuyên, Tề Chiêu) để thực hiện cải cách năm Tenpô (Thiên Bảo). Được biết là một người cực lực chủ trương tôn quân bài ngoại. Sau khi Nariaki bị Mạc Phủ bắt phải từ chức, ông đành về vườn, mang tâm sự u uất. Tác phẩm có tập thơ thất ngôn Kaiten Shishi (Hồi thiên thi sử) “Thi sử chuyển đất trời” (1844), Seiki no Uta (Chính khí ca, 1845)[31] “Bài ca chính khí” và Kôdôkan[32] jutsugi (Hoằng Đạo Quán thuật nghĩa, 1846-47) “Ư nghĩa của trường Hoằng Đạo”. Là một phiên thần, ông chủ trương thiên hoàng và mạc phủ không nên đối lập mà phải cộng tác với nhau th́ triều đại mới vững bền, thể thống quốc gia (đại nghĩa) mới chói lọi và dân chúng mới yên ổn.

4) Sakuma Shôzan (Tá Cữu Ma, Tượng Sơn, 1811-64) và tư tưởng “Ḥa hồn Dương tài”.

Tư tưởng gia và nhà quân sự cuối đời Mạc Phủ.Tên c̣n đọc là Zôzan. Ông là samurai phiên Matsushiro ( thuộc Shinshuu). Ông bỏ cái học nhà Nho để chuyên chú về Âu Tây. Rành khoa học Ḥa Lan và nghề súng. Chủ trương phải gấp rút pḥng thủ bờ biển. Có viết Kaibô Hassaku (Hải pḥng bát sách) “Tám kế sách để pḥng thủ bờ biển”.

Năm 1854, liên lụy vào việc học tṛ ông là Yoshida Shôin định trốn ra nước ngoài (để du học) , hai thầy tṛ đều bị bắt giam. Họ quản thúc ông ở quê nhà từ 1854 đến 1862. Năm 1854, trong Seikenroku (Tỉnh khiên lục) “Ghi về những lỗi lầm của ḿnh”, ông cho biết “lỗi” của ông là đă nói lên những ư kiến như sau “Năm 40 tuổi, biết rằng thế giới là một tập hợp của nhiều nước”, “Nếu Nhật Bản muốn giỏi quân sự, trước hết phải học toán v́ toán học là cơ sở của mọi khoa học”, “Phải có đồng thời đạo đức Á Đông và kỹ thuật Tây Phương” v.v…Bốn chữ Wakon.yôsai “Ḥa hồn dương tài”, khẩu hiệu suốt thời Minh Trị là chữ do ông đề ra. Trong sách đó, ông c̣n tâm sự: “Tuy thân thể đang bị giam cầm nhưng ḷng tôi không mảy may hổ thẹn, bao giờ cũng trong sáng”.

Năm 1864, được gọi lên Kyôto theo lệnh Mạc Phủ nhưng bị người phái tôn quân bài ngoại ám sát. Tuy Shôzan mất sớm nhưng ông đă có những học tṛ thật đáng kể. Khi ông dạy học về pháo thuật của người Tây Phương ở Edo năm 1850 th́ tuy Mạc Phủ bịt tai không muốn biết, đă có nhiều người đến nghe ông giảng như Katsu Yasuyoshi, Sakamoto Ryôma và Yoshida Shôin. Katsu Yasuyoshi sẽ trở thành Katsu Kaishuu, cha đẻ của hải quân Nhật Bản. Ryôma và Shôin là hai thánh tử đạo của cuộc Duy Tân mà tên tuổi đă đi vào lịch sử.

5) Watanabe Kazan (Độ Biên, Hoa Sơn, 1793-1841) muốn giao lưu với nước ngoài:

Sinh ở Edo trong một gia đ́nh samurai cấp thấp thuộc phiên Mikawa nay gần Nagoya. Thời nhỏ nghèo khổ nhưng có chí lớn.Học tiếng Ḥa Lan khi gần 40 tuổi. Là văn nhân, họa gia và học giả về Tây Phương. Cùng với hai bạn y sĩ Takano Chôei (Cao Dă, Trường Anh, 1804-1850) và Ozeki San.ei (Tiểu Quan, Tam Anh, 1787-1839) lập Shôshikai (Thướng xĩ hội) “Hội kính lăo” . Trong Shinkiron (Thận cơ luận) “Thận trọng về thời cuộc” (1838) , tác phẩm trên năm ngh́n chữ, ông phê phán thái độ tôn quân bài ngoại, chính sách bế quan tỏa quốc, lại chủ trương thận trọng trong ứng xử để khỏi mất nước v́ Anh lúc đó đă vào Trung Quốc và đang nḥm ngó Nhật Bản

Ông cho biết học vẽ để thoát cảnh nghèo. Tranh ông chịu ảnh hưởng nét bút manga của Hokusai, đại sư Ukiyoe, trong tác phẩm xuất bản trước đó 4 năm, cũng như họa phái Ḥa Lan. Tuy vậy nét bút cũng bộc lộ cá tính hiện thực của ông. Về tư tưởng, năm 1854, ông từng viết: “Để giao dịch với bọn man di (tức người phương Tây), không cách nào hơn là t́m hiểu về lịch sử của chúng, và muốn hiểu lịch sử th́ bắt buộc phải hiểu ngôn ngữ của chúng”.

Việc ông và các bạn chỉ trích Mạc Phủ là lũ “công chức sống sung sướng trong sự tham nhũng” đă làm cho chính quyền thời đó nóng mặt. Một số t́m cách loại ông bằng cách gán tội danh câu kết với Tây Phương. Năm 1828-29, người bạn Ḥa Lan của ông là bác sĩ von Siebold bị trục xuất, một số sinh viên Nhật lui tới với ông ta cũng bị câu lưu. Năm 1839, vụ bansha no goku (Man xă ngục) “cái án họp đảng với bọn man di” được tung ra. Ozeki San.ei tự tử, Takano Chôei trốn đến Nagasaki nhưng cũng không thoát, giải về Edo rồi cuối cùng cũng tự sát (1850). Kazan bị đuổi về quê quản thúc và tự sát hai năm sau vụ án (1841).

6) Yoshida Shôin (Cát Điền, Tùng Âm, 1830-1859), cha đẻ của phái hành động duy tân.

Chí sĩ thời Meiji, người phiên Chôshuu. Học binh pháp, lên Edo theo Sakuma Shôzan để t́m hiểu về Tây Phương. Ông nhiều lần t́m cách ra nước ngoài nhưng đều thất bại. Năm 1854 khi tàu Mỹ đến Shimoda định trốn theo tàu định xuất dương nhưng bị bắt bỏ ngục v́ vi phạm lệnh “tỏa quốc”. Sau đó về làng Hagi, nối nghiệp nhà mở Shôka Sonjuku (Tùng Hạ Thôn Thục) “Trường Thôn Dưới Bóng Tùng” đào tạo học tṛ. Trong vụ biến loạn năm Ansei[33], bị bắt giam và lần này lănh án tử. Trong ngục Noyama, ông viết Noyama goku bunko (1855) “Viết trong ngục Noyama” bàn về thời thế và Kaikoroku (Hồi Cố Lục) ghi chép lại sự cố những lần vượt biên bất thành. Chết lúc mới có 29 tuổi nhưng học tṛ ông trong số đó có Itô Hirobumi (Y Đằng, Bác Văn), Takasugi Shinnsaku (Cao Sam, Tấn Tác), Kusaka Gensui (Cửu Phản, Huyền Thụy), Yamagata Aritomo (Sơn Huyện, Hữu Bằng), Shinagawa Yajirô (Phẩm Xuyên, Di Nhị Lang)… Họ sẽ là những nhân vật chủ chốt của thời Duy Tân. Tác phẩm để lại có Saiyuu Nikki “Tây Du Nhật Kư”, Kômô Yowa “Giảng Mạnh Dư Thoại”, Ryuukonroku “Lưu Hồn Lục”.

TIẾT VI: MẠC PHỦ SUY VI VÀ NGÀY TÀN CỦA HÁN HỌC :

Việc bỏ rơi Hán học, việc chuyển đổi nó hướng về thực dụng, hay theo Thần đạo, theo Tây Phương đều là các dạng thức tư duy khác nhau của trí thức Nhật Bản khi đứng trước hiểm họa mất c̣n của dân tộc họ.

Cuộc đấu tranh tư tưởng sẽ quyết liệt và đưa đến thanh toán đổ máu. Trong thế hệ thanh niên Minh Trị của thập niên 1830 đă khơi mào cho cuộc Duy Tân có nhiều người đă ngă xuống giữa thời trẻ trung dưới đường gươm hay lằn đạn của những người mang một tư duy khác. Những kẻ hy sinh là Yoshida Shôin (Cát Điền, Tùng Âm, 1830-1859) Hashimoto Sanai (Kiều Bản, Tả Nội, 1834-1859), Sakamoto Ryôma (Phản Bản, Long Mă, 1835-67) và Takasugi Shinsaku (Cao Sam, Tấn Tác (1839-67). Cùng lúc, từ trong bọn họ đă có những người không những sống c̣n và sống mạnh, để trở thành Ôkubo Toshimichi (Đại Cửu Bảo, Đạo Thông, 1830-1878), Saigô Takamori (Tây Hương Long Thịnh, 1827-1877), Itô Hirobumi (Y Đằng Bác Văn, 1841-1909) hay Inoue Kowashi (Tỉnh Thượng, Nghị, 1843-1895), các nguyên huân của thời mở nước. Về lĩnh vực tư tưởng, thế hệ này cũng đẻ ra những nhà văn hóa lớn nhưng với thế đứng khác nhau như Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch, Dụ Cát, 1835-1901) và Nakae Chômin (Trung Giang, Triệu Dân, 1847-1901).

                         *

Cùng với cái chết của những trí thức nhiệt huyết và thức thời, những tiếng nói cho lẽ phải cuối cùng đă bị dập tắt. Năm 1864, hai tháng sau ngày Shôzan ngă xuống dưới lưỡi dao sát nhân, 17 chiến hạm của liên quân bốn nước Pháp, Ḥa Lan, Mỹ và Anh) đă nă 288 phát thần công vào doanh trại Nhật ở Shimonoseki, thức tỉnh cả nước.

Một điều cần nói thêm là không chỉ giới samurai trí thức và người chônin mới nhạy cảm trước thời thế. Nông dân Nhật Bản đă bắt đầu có những hành động tập đoàn vượt ra khỏi ṿng kiểm soát của nhà cầm quyền. Khởi đầu bằng những cuộc hành hương về đền thần đạo Ise mà sử gọi là okagemairi hay nukemairi, phong trào ấy đă biến thành những cuộc bạo động nông dân, nhất là sau trận đói trong năm Tenpô (1830-44). Mùa thu năm 1836, lại có cuộc nổi dậy của năm vạn nông dân tấn công thành Kôfu. Năm sau, ở Ôsaka, Ôshio Heihachirô (Đại Diêm, B́nh Bát Lang, 1793-1837), một nhà nho phái Vương Dương Minh và cũng là cựu quan lại, đă dẫn đầu một lực lượng 300 người đánh chiếm thành phố và phóng hỏa sau khi bị thất thế Cuộc nổi loạn bị dẹp, Ôshio tự sát, nhưng tiếng vang rất lớn. Ngay cả Yoshida Shôin cũng đă có lần đọc “Ghi chép vụn vặt ở Senshindô” Senshindô Sakki (Thiên Tâm Động cháp kư, in năm 1831), trước tác lư luận Dương Minh học của Ôshio về “trí lương tri” và “tri hành hợp nhất”. Nông dân đă nổi dây để chống cả Mạc Phủ lẫn thương nhân, những kẻ đă v́ lợi ích riêng làm cho cuộc sống của họ đi vào chỗ khốn cùng. Tất cả những biến cố này (chỉ trong năm 1866 thôi đă có trên 100 cuộc bạo động xảy ra) đă là ng̣i thuốc nổ điểm hỏa cho cuộc Minh Trị Duy Tân.

Thế hệ trí thức Nhật Bản sinh khoảng năm 1830 và sống suốt thời trẻ trong bầu không khí chính trị của trân Nha Phiến Chiến Tranh (1840-42) và Hiệp Ước Hữu Nghị Nhật Mỹ (1854) và đáng lẽ ra chín muồi trong chính trị lúc thời Minh Trị mở màn (1868) đă có những người không may ngă gục trước đó nhưng đó là cái giá phải trả cho lịch sử. Tuy thế, vẫn c̣n có 4 hạng người sau đây hăy c̣n tồn tại để đưa nước Nhật tiến lên:

1)      Những chí sĩ sau trở thành chính trị gia lănh đạo cuộc Duy Tân: Yamagata Aritomo (Sơn Huyện, Hữu Bằng, 1838-1922), Kido Takayoshi (1833-77, Mộc Hộ, Hiếu Sung), Saigô Takamori (Tây Hương, Long Thịnh, 1827-77) và Ôkubo Toshimichi (Đại Cữu Bảo, Lợi Thông, 1830-78).

2)      Những công chức cao cấp và tài cán: Nishi Amane (Tây, Chu , 1829-97), bộ trưởng Bộ Chiến Tranh, đă cùng với nhà giáo dục Fukuzawa Yukichi lập Meirokusha (Minh Lục Xă, 1873). Thế hệ sinh sau Nishi Amane 10 năm cũng có Inoue Kowashi (Tỉnh Thượng, Nghị, 1843-95), người thảo hiến pháp, Mitsukuni Rinshô (Ky Tác, Lân Tường, 1846-97), người dịch Dân Luật Pháp ra tiếng Nhật, Mori Arinori (Sâm, Hữu Lễ, 1847-89), cha đẻ hệ thống giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị. Nishi đă đi học ở Ḥa Lan, Inoue sống nhiều năm ở Đức và Pháp, Mitsukuni ở Pháp và Mori ở Anh Mỹ.

3)      Những nhà báo, nhà giáo, nhà dịch thuật đă hoạt động trong lănh vực giáo dục và ngôn luận: Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch, Dụ Cát, 1834-1901), Nakae Chômin (Trung Giang, Triệu Dân, 1847-1901), Narushima Ryuuhoku (Thành Đảo, Liễu Bắc, 1832-84) và Fukuchi Ôchi (Phúc Địa, Anh Si, 1841-1906). Có lúc họ phê phán, có lúc họ ủng hộ chính phủ.

4)      Những văn nhân nghệ sĩ như nhà văn Kanagaki Robun (Giả Danh Viên, Lỗ Văn, 1829-94), soạn giả truyện rakugo San.yutei Enchô (Tam Du Đ́nh, Viên Triều, 1839-1900) và họa sĩ Tomioka Tessai ((Phú Cương, Thiết Trai, 1836-1924).

 

TẠM KẾT :

Sự suy yếu của nhà Thanh làm cho sĩ phu Nhật Bản không c̣n tin tưởng vai tṛ dẫn đường trong lănh vực tư tưởng của Trung Quốc. Tư tưởng “thoát Á nhập Âu” và “Ḥa hồn Dương tài” sẽ làm họ tiếp cận với Tây Phương Rồi sau hai chiến thắng Nhật Thanh và Nhật Nga, đến lượt các nhà cải lương Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và sau đó là Tôn Văn, Chu Ân Lai, Lỗ Tấn đă t́m nơi Nhật Bản sự ủng hộ cho việc đấu tranh cách mạng ở Trung Quốc. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Nhật Bản từ chính trị đến văn chương có thể thấy lại một lần nữa nhưng dưới một h́nh thức khác từ khi có sự xuất hiện của nhà nước Trung Hoa mới từ sau 1949.

Sự t́m cách trở về nguồn để truy cầu bản sắc dân tộc cũng như rắp tâm bản địa hóa tư tưởng ngoại lai chứng tỏ sức sống mănh liệt của dân tộc Nhật. Nguồn gốc của sức sống ấy không biết có tính cách tiên thiên ( di truyền) hay hậu thiên (xă hội) nhưng đă giúp cho họ trở thành con phượng hoàng tái sinh biết bao lần từ đống tro tàn sau những thảm kịch lịch sử. Cùng một lúc, như một con dao hai lưỡi, nguồn năng lượng ấy nếu không được các nhà lănh đạo khéo dẫn dắt và thăng hoa nó để phục vụ cho mục tiêu cao cả, sẽ có nhiều nguy cơ trở thành đầu mối cho những cuộc mộng du tập đoàn mà hậu quả khó lường trước được.


 

[1] Ảnh hưởng Phật Giáo đă được nói đến trong một bài viết khác (bài số 16).

[2] Cái học của thầy họ Chu tức Chu Hy (1130-1200), học giả đời Nam Tống. Chu Hy gọi chủ thuyết của ḿnh là “đạo học”, “thánh nhân học”, “thực học”. Người đời sau gọi là “Tính lư học”, “Tŕnh Chu học” hay là “Tống học”. Âu Mỹ dịch là Neo Confucianism (Tân Khổng giáo) nhưng chữ này bao gồm cả Dương Minh học. Cơ sở Chu Tử học là “lư khí luận”, về luân lư có thuyết “tính tức lư” và về phương pháp luận có thuyết “cư kính cùng lư”. Nói chung, đó là một triết lư nhị nguyên, phân biệt chủ thể và khách thể, dạy phải trọng nguyên tắc, học hỏi kinh nghiệm quá khứ nơi thánh hiền xưa và chế ngự bản thân, bên trong th́ thường xuyên tập trung tinh thần (cư kính), bên ngoài th́ nhận thức sự vật đến nơi đến chốn (cùng lư) để hành động.Chu Tử học đă vào Nhật Bản nhờ các Thiền tăng phái Lâm Tế thời Kamakura và Nam Bắc Triều

[3] Thực ra Chu Tử học đă do An Hướng truyền từ nhà Nguyên (1271-1368) vào đất Hàn lúc hăy c̣n vương triều Cao Lệ (918-1392). Nó đă được Trịnh Đạo Truyền, Quyền Cận chế độ hóa, sau đó phổ cập trong dân chúng nhờ phái Sĩ Lâm của Trịnh Mộng Chu và đặt cơ sở cho giai cấp quan lại văn vơ yang ban (lưỡng ban).

[4] Vương Dương Minh (1472-1528), nhà chính trị, quân sự và tư tưởng đời Minh, đặt nghi vấn đối với Nho học của Chu Hy và đă giác ngộ trên đường lưu đày. Ông trở về với quan niệm “lương tri” (đạo đức tiên thiên) của Mạnh Tử và đề xương thuyết “trí lương tri” xem“tâm tức lư”, không chấp nhận “đi t́m cái lư bên ngoài cái tâm” như trong “cách vật luận” của Chu Hy. Từ đó ông chủ trương “tri hành hợp nhất”, bác bỏ cách nghĩ phải “tri” trước “hành” sau th́ mới đạt được cái “chân tri” như trong “tri hành luận” của Tŕnh Y Xuyên và Chu Hy. Tác phẩm có Truyền Tập Lục, Văn Lục, Biệt Lục. Sau khi ông mất, cao đồ là Tiền Đức Hồng thu góp tất cả các tác phẩm của ông soạn thành Vương Văn Thành Công toàn thư gồm 38 quyển.

[5] Thánh học (seigaku): học vấn do các thánh nhân dạy. Ư nói Nho giáo.

[6] Tokugawa Mitsukuni (1628-1700), c̣n được quen gọi là Mito Kômon (Thủy Hộ hoàng môn), một nhân vật quan trọng của chính quyền Tokugawa (vai chú của Shôgun đương thời và được xem như một “phó” Shôgun) đă lập Shôkôkan (Chương Khảo Quán, 1657) nay nằm trong khuôn viên Đại Học Tôkyô, để nghiên cứu Nho học và quốc sử. Trong các nhân vật tham gia có di thần nhà Minh người Dư Diêu (Chiết Giang) là Chu Chi Du, hiệu Thuấn Thủy (1600-82), môn đệ phái Vương Dương Minh, sau khi đến Việt Nam nhưng không được các chúa Nguyễn ở Quảng Nam tin dùng. Chính ra thời ấy mỗi phiên trấn đều chú trọng việc học và dùng các nhà tư tưởng làm cố vấn, ví dụ phiên Aizu có Yamazaki Ansai, phiên Okayama có Kumazawa Banzan, phiên Kaga có Mokushita Jun.an… cho nên chính trị khá an định.

[7] Những chỗ in đậm là tên nhân vật đă nhắc đến trong bài. Thứ tự 1,2,3 là liên quan trước sau trong cùng môn phái. Ví dụ Seika là thầy của Sekigo và ông này là thầy của Jun.an.Việc phân chia thế kỷ thật ra chỉ có tính cách tương đối nhưng giúp xác định thời điểm rơ ràng hơn.

[8] Soạn theo Nabigata Nihonshi B “Hướng dẫn đọc sử Nhật B” của Aida Yasunori, quyển 2 về Muromachi-Edo, Nakagawa xuất bản, 2001.

[9] Phái hoạt động trên địa bàn kinh đô Kyôto.

[10] Phái Nam Hải (của những người thuộc phiên Tosa ở vùng biển Nam) coi trọng ư chí và hành động thực tiễn.

[11] C̣n gọi là “ thần đạo kiểu Yamazaki ” nghĩa là ư hướng sáp nhập Nho Giáo và Thần Đạo làm một theo triết lư “ thiên đạo, nhân đạo nhất nguyên ”.

[12] Dựa trên sách Bản thảo cương mục (1590) của học giả đời Minh, Lư Thời Trân (1518-1593) , ông đă điều tra thực địa và nêu lên danh tính, bản chất, cách sử dụng của trên 1300 loại cây cỏ thấy ở Nhật Bản.

[13] Điểm khác nhau khác giữa hai người là Ekiken lấy khoa học tự nhiên làm nền tảng trong khi Jinzai dựa lên đạo đức học.

[14] Chính ra Kinh Nhạc đă thất truyền và Kinh Thư chỉ được biên tu lại vào đời Hán.

[15] Ví dụ Shôrui awaremi no rei của Tướng Quân Tsunayoshi (Cương Cát, cầm quyền từ 1680-1709) cấm đối xử tệ bạc với súc vật nhất là chó v́ ông ta tuổi Tuất làm hơn 9000 người bị giam giữ.

[16] Diệp Ẩn nghĩa “ nấp dưới lá ” có lẽ là những lời giảng của Jôchô lúc đă xuất gia, ẩn cư.

[17] Bốn mươi bảy người vũ sĩ phiên Akô (Xích Tuệ) đă tấn công dinh thự của đại thần Kira Yoshinaka vào đêm 30/01/1703 tức năm Genroku 15, và lấy đầu ông ta tế vong linh chủ, đă bị xử tử oan ức. Tuy ca ngợi sự trung nghĩa của họ nhưng Mạc Phủ v́ muốn giữ trật tự xă hội đă bắt tất cả tự sát. Được gọi là Akô Gishi (nghĩa sĩ Akô). Chúng ta không nên quên rằng họ chỉ là 47 người trong số 308 người vũ sĩ vô chủ. Những kẻ c̣n lại đă chọn lối sống tiêu cực hơn, nghĩa là trở về quê quán làm ăn.

[18] Họa phái thủy mặc do Kanô Masanobu (Thú Dă, Chánh Tín, 1434-1530) thời Muromachi là thủy tổ

[19] Thẩm Đức Tiềm (1673-1769), thi nhân đời Thanh, quê ở Giang Tô, làm quan đến chức Nội Các Học Sĩ, Thái Tử Thái Phó.Trọng trấn thi đàn đời Thanh Càn Long, chủ trương thuyết cách điệu, đối địch với Viên Mai. B́nh giải Cổ Thi Nguyên, Đường Tống Bát Gia Văn.

[20] Rai Sanyô, chủ trương ḍng thiên hoàng Nam triều (tức ḍng thiên hoàng hiện tại) là chính thống, kêu gọi cần vương. Ảnh hưởng đến lớp trẻ thời đó không ít, Để lại Sơn Dương Thi Sao, Sơn Dương Di Cảo.

[21]Kada no Azumamaro (1669-1736) định mở trường dạy quốc học, viết cả sách tuyên ngôn cho việc đó là Sôgaku kôkei (Sáng học hiệu khải) nhưng rồi không thực hiện được. Để lại tập thơ mang tên “ Lá Xuân ” (Shunyôshuu = Xuân Diệp Tập). Cháu họ là Arimaro (Tại Măn) nối nghiệp ông, có ra tập ca luận Kokka Hachiron (Quốc ca bát luận) và tranh căi với Munetake (Tông Vũ) và Mabuchi (Chân Uyên).

[22] Keichuu (1640-1701), pháp danh của một nhà thơ waka và học giả quốc học đầu đời Edo. Ông tu ở chùa Diệu Pháp (Ôsaka), chủ trương phục cổ. Theo lời ủy thác của Tokugawa Mitsukuni, hoàn tất sự nghiệp nghiên cứu thi tập tối cổ Man.yô-shuu, cội nguồn của quốc học .

[23] Norito : chúc từ đọc trong nghi thức thần đạo thời cổ. C̣n chép lại trong Engishiki (Diên Hỷ Thức)

[24] Man.yôkô làm ra theo lời yêu cầu của Mito Mitsukuni, người cầm đầu chi Mito, cũng là một trong 3 chi của nhà Tokugawa, rất am hiểu học vấn. Bản thảo hoàn thành năm Jôkyô 4 (1687) nhưng được sửa chữa lại và dâng lên vào năm Genroku 3 (1690).

[25] Mabuchi lấy liệu là Agatai (Huyện Cư) cho nên môn đệ của ông thường xưng là người thuộc Huyện Môn.

[26] Ukera c̣n đọc là Okera, một loại hoa cùng họ với hoa cúc, vào thu ra hoa trắng hoặc đỏ nhạt.Tên này có xuất xứ từ một ư thơ trong Manyôshuu.

[27] Norinaga lúc sinh tiền đặc biệt thích chơi chuông nhỏ (suzu), do đó mà có tập thơ và học phái mang tên Suzunoya.

[28] Thuộc phiên Mito, phía Bắc Tôkyô, một trong ba chi chính (tam gia = sanke) của ḍng họ Tokugawa.

[29] Điều oái oăm là phái Mito, một chi của họ Tokugawa, đáng lư ra không thể chủ trương tôn quân v́ nó đi ngược lại quyền lợi của gia đ́nh.

[30] Fujita Yuukoku (Đằng Điền U Cốc, 1774-1826), sinh trong gia đ́nh nhà buôn ở Mito, 18 tuổi đă viết Seimeiron “ Chính danh luận ”, được biết như một học giả lỗi lạc phái Mito. Cha của Tôko (Đằng Nguyên, Đông Hồ).

[31] Phỏng theo Chính Khí Ca của Văn Thiên Tường (1236-1282) thời Nam Tống, hô hào chống quân Mông Cổ

[32] Tên ngôi trường của phiên Mito do phiên chủ phiên chủ Tokugawa Naruaki sáng lập năm 1841, nơi cổ xúy tư tưởng tôn quân bài ngoại.

[33] Vụ án năm Ansei thứ 5 (1858) khi đại thần Ii Naosuke (Tỉnh Y, Trực Bật, 1816-60) triệt hạ cánh đối lập. Ông ta sẽ bị những người bất măn ám sát chết 2 năm sau đó.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com