SÂN KHẤU NÔ ( I )

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

 

 

 

Dẫn Nhập

Sân khấu Nô là một sản phẩm văn hóa đặc thù và ưu tú của Nhật Bản. Theo lời nhà nghiên cứu Arthur Waley (1), trong khi sân khấu Tây phương - ít nhất cho đến cuối thế kỷ 19 - được xem như là thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực th́ từ thế kỷ 14, Nô đă chứng tỏ nó là một loại h́nh văn nghệ đạt đến một tŕnh độ trừu tượng và phổ quát cao. Năm 2008, cơ quan UNESCO ghi Nô và Kyôgen vào danh sách di sản văn hóa phi vật chất của nhân loại. Mà thực thế, Nô xứng đáng được chúng ta xem như một di sản tinh thần quí giá cỡ  bi kịch Hy Lạp, thơ Đường và sử thi Ấn Độ... V́ tầm quan trọng của nó, khi có dịp nghiên cứu văn hóa Nhật Bản, thiết tưởng cũng nên dành một vài trang giấy để t́m hiểu các loại h́nh sân khấu của họ mà đặc biệt hơn cả là Nô.  

Tóm tắt lịch sử của Nô và Kyôgen

Một số tác giả điển h́nh là Zeami chủ trương Nô là một sản phẩm thuần Nhật và có gốc gác bản địa từ đời chư thần (thần đại). Theo truyền thuyết chép lại trong Kojiki (Cổ Sự Kư, 712), Nữ thần Thái Dương (Amaterasu) v́ giận đứa em trai ngỗ nghịch là Susano o no Mikoto đă dấu mặt trong động đá làm thế giới ch́m trong tăm tối. May nhờ có nữ thần nghệ thuật là Ame no Uzume để lộ vú và âm hộ mà múa hát Kagura (Thần nhạc) trên đỉnh núi Kagu làm mọi vị thần có mặt cười ngặt nghẽo, đến độ nữ thần Thái Dương cũng ṭ ṃ mở cửa động đá ra xem (và liền bị các thần khác lầp lối sau lưng) nên thế giới mới chan ḥa ánh sáng trở lại. Tuy nhiên,với câu chuyện chỉ có ư nghĩa ẩn dụ này, không thể nào xem nữ thần Ame no Uzume là thủy tổ của tuồng Nô. Nếu nh́n theo quan điểm khoa học chỉ có thể đoán định Nô cùng lắm đă có nguồn gốc xa xưa vào thời kỳ Thái tử Shôtoku (574-622) nhiếp chính. Ông được biết là nhà chính trị cách tân đă tích cực du nhập văn hóa nước ngoài. Nói lên điều này không nhằm phủ nhận sự có mặt của một số h́nh thức văn nghệ dính líu tới Thần đạo nhưng chắc chắn lúc đó hăy c̣n rời rạc và sơ sài. Truyền thuyết nói trên thường được người Nhật đem ra giải thích cho sự xuất hiện cho mọi loại h́nh văn nghệ tŕnh diễn trên đất nước họ chứ không riêng ǵ Nô.

Thời Nara cho đến cuối thời Kamakura (từ giữa thế kỷ thứ 8 đến đầu thế kỷ 14):

Cho đến thời Edo th́ cả Nô và Kyôgen đều được đặt trong khuôn khổ của một loại h́nh sân khấu gọi là Sarugaku 猿楽 (Viên nhạc). Người ta gọi Nô là “Nô của Sarugaku” (Sarugaku no Nô 猿楽の能tức Nghệ năng tŕnh diễn Sarugaku). C̣n như Sarugaku không thôi th́ nó là một biến thể của h́nh thức sân khấu gọi là Sangaku 散楽 (Tán nhạc, Tản nhạc), loại tạp nghệ kết hợp bởi Gagaku 雅楽 (Nhă nhạc) cung đ́nh và Bugaku 舞楽 (Vũ nhạc) trong dân gian, phát xuất từ bên nhà Đường và được truyền sang Nhật Bản vào đầu thời Nara (thế kỷ thứ 8). Bên trong cấu tạo của Sangaku có sự tham gia của các bộ phận như tṛ nhanh tay (tejina手品) / ảo thuật (huyễn thuật, genjutsu幻術), xiếc (karuwaza軽業), múa may (loạn vũ = ranbu, rappu乱舞), diễu cợt (kokkei滑稽), nhại tiếng và điệu bộ (monomane物真似)... tức các kiểu diễn xuất để giải trí vốn đến từ văn hóa dân gian. Chính những bộ phận này về sau sẽ là cơ sở của Kyôgen狂言 (Cuồng ngôn).

Khoảng năm 782, v́ một lư do, cơ sở giáo dục và luyện tập của các tṛ đó ở trong cung - gọi là Sangakuko (Tán nhạc hộ) - bị băi bỏ. Từ ấy, Sangaku phải phát triển ra bên ngoài. Nó thường được tŕnh diễn trong các lễ hội chùa chiền hay trước đám đông ngoài đường phố. Khoảng giữa thời Heian (cuối thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12) trở đi th́ các h́nh thức kịch ngắn (thốn kịch = kịch một tấc) như kể chuyện tiếu lâm, diễu cợt nhanh trí (karukuchi), nhại động tác (monomane) đă trở thành cốt lơi của hoạt động văn nghệ tŕnh diễn.

Vào thời đại Viện chính (cuối thế kỷ 11) khi các Thái thượng hoàng về hưu thi hành chính trị giật giây để làm đối trọng với thế lực quân nhân của Mạc Phủ th́ lại  thấy xuất hiện một loại h́nh tŕnh diễn gọi là Ennen 延年 (Diên niên, nguyên nghĩa là cầu chúc sống lâu) ở các chùa lớn nhằm mua vui cho tín hữu vào lúc pháp hội kết thúc. Các du tăng và Viên nhạc sư (thầy tuồng Sarugaku) thuộc về các ngôi chùa lớn này phụ trách phần tŕnh diễn.Trong loại h́nh Ennen, có hai bộ phận gọi là Furyuu 風流 (Phong lưu) và Renji連事 (Liên sự). Chúng là yếu tố chuẩn bị cho những vở kịch đầu tiên tuy hăy c̣n thô sơ nhưng đă sớm ra đời vào giữa thời Kamakura (khoảng thế kỷ 13). Đến giai đoạn sau của thời kỳ này (thế kỷ 14), loại âm nhạc ở nông thôn dùng vào các dịp lễ hội liên quan đến mùa màng (như gieo mạ hay gặt lúa) đă kết hợp với các tṛ diễu cợt nhanh trí (karukuchi) trong Sangaku để trở thành một h́nh thức nghệ thuật mới gọi là Dengaku (Điền nhạc 田楽). Cùng lúc, mọi người lại thấy có một ḍng nghệ thuật khác gọi là Jushi hay Shushi 呪師 (Chú sư) lấy cảm hứng từ cách tụng niệm kinh văn đà-la-ni ở các tự viện theo truyền thống Mật giáo.

Mặt khác, trong các chùa và đền Thần đạo, nghệ thuật cầu đảo và tụng niệm cho quốc thái dân an và thiên hạ thái b́nh có tên là Okina Sarugaku 翁猿楽 (Ông Viên Nhạc) (2) đă được phát sinh từ các địa phương như Yamato, Ômi, Kawachi, Tamba, Settsu (nói chung là vùng phụ cận Kyôtô). Cùng với thời gian, nó đă trở thành một tṛ giúp vui tín hữu sau khi pháp sự đă xong xuôi nên c̣n gọi là Yokyô (Dư hứng余興). Các bộ phận trong loại h́nh sân khấu này (như hoạt kê và ca vũ) sau đó đă đến độ chín muồi và trở thành nghệ thuật tiêu biểu cho sân khấu Sarugaku (3).

Thời Nam Bắc Triều cho đến giai đoạn đầu thời Muromachi (giữa và cuối thế kỷ 14) 

Từ cuối đời Kamakura sang đầu đời Muromachi th́ thấy xuất hiện  các rạp (hay gánh hát, za ) (4) chuyên môn tổ chức Kanjin Dengaku (Khuyến tiến Điền nhạc) 勧進田楽  tức các cuộc tŕnh diễn Dengaku để quyên tiền trùng tu chùa chiền. Dengaku có hai rạp (gánh hát, za) chính: một ở Kyôto (gọi là Honza = Bản ṭa) và một ở Nara (gọi là Shinza = Tân ṭa). Bên cạnh đó lại có 4 rạp khác gọi là Shiza (Tứ ṭa) chủ yếu dựa trên tṛ nhại (monomane). Tên chung của chúng là Yamato Sarugaku大和猿楽 (Đại Ḥa Viên Nhạc). Bốn rạp (gánh hát, za) này là Tobi (nay là Hôshô), Yuusaki (nay là Kanze), Sakado (nay là Kongô) và Enmai (nay mang tên Komparu). Nặng về phần ca vũ th́ có h́nh thức Ômi Sarugaku với 3 rạp đứng hàng đầu là Yamashina, Shimozaka và Hiei (đều lấy tên từ 3 địa danh vùng Ômi, gần Kyôto). Dù vậy, cần lưu ư là Kan.nami Kiyotsugu (Quán A Di, Thanh Thứ, 1333-1384) 観阿弥清次, nhà cải cách lớn của sân khấu Sarugaku, đă xuất thân từ gánh Yuusaki 結崎thuộc phái Yamato Sarugaku.

Kan.nami từng theo học Kusemai (Khúc vũ曲舞) - một loại ca vũ kịch lưu hành vào thời Nam Bắc Triều (1336-1392) – với một nghệ nhân bậc thầy về các tuồng có điệu múa phụ nữ (nữ khúc vũ = onna kusemai) là Otozuru (Ất Hạc乙鶴). Do đó, Zeami đă đưa thêm vào các vở tuồng của ḿnh cấu trúc âm nhạc (âm khúc) của Kusemai với các yếu tố “ Shidai, Kuri, Sashi, Nidan no kuse, Shidai” (5) tiếp nối theo tŕnh tự thời gian, một điều chưa từng thấy trong Sarugaku. Cải cách này đă được nhiều người hoan nghênh.

Vào khoảng năm 1374 hoặc chừng một năm trước hay sau đó, ở đền Thần đạo Imagumano ở Kyôto, Kan.ami đă cùng cậu con trai mới 12 tuổi của ḿnh là Zeami tŕnh diễn Sarugaku no Nô trước mặt nhà lănh đạo đương thời là Shôgun Ashikaga Yoshimitsu (Túc Lợi, Nghĩa Măn, 1358-1408). Yoshimitsu yêu mến tài nghệ và dung mạo của hai bố con cũng như h́nh thức văn nghệ mới mẻ này, đă tức khắc chi viện cho họ và tiếp tục như thế cho đến ngày qua đời (1408). Không chỉ có bộ môn Sarugaku no Nô mà toàn thể Sarugaku đều được ông nâng lên một tầm cao chưa từng thấy, giúp nó áp đảo cả Dengaku.

Sau đó, ở rạp (gánh hát) Yuusaki xuất hiện thêm một soạn giả tài ba khác là Inuô 犬王 (Khuyển Vương) tức Dô.ami 道阿弥 (Đạo A Di,  ? – 1413). Shôgun Yoshimitsu cũng trân trọng tài năng của ông này. Nhưng dù sao, nhà cải cách Nô là Zeami Motokiyo mới là người đáng để chúng ta lưu ư hơn hết v́ chính ông đă mở ra một thời đại mới cho sân khấu Nô. Ông đạt đến phẩm vị Nôdayu (Năng đại phu) tức trưởng rạp (gánh) vào năm 1384 trong lúc đem đoàn Yuukiza đi lưu diễn ở vùng Suruga. Thứ bậc trong nghề của ông c̣n đứng trên cả cha ḿnh là Kan.ami. Ông không những đă tự tay cải biên các tuồng xưa như Takasago, Aoi no Ue, Tôru... (6) mà c̣n nhúng tay vào việc biên soạn các vở tuồng mới nhưng ngày nay đă trở thành cổ điển như Yumiyawata, Oimatsu, Tadanori, Kiyonori, Yorimasa, Sanemori, Itsutsu, Higaki, Hanjô, Koi no omoni, Taima, Kinuta (6).  Tuy các vở tuồng vừa kể không giống với các vở chủ yếu dựa trên tṛ nhại điệu bộ (monomane) soạn theo phong cách của người cha (Kan.ami) như Jizen Koji, Sotoba Komachi...thế nhưng cả hai loại lại có một điểm chung: Nô của họ là Nô mộng huyễn (Mugennô夢幻能) (7). Kiểu diễn xuất này xoay quanh một trục chính là sự bộc lộ tính cách u huyền (yuugen幽玄) và mục đích của nó là để lại được những t́nh cảm man mác (dư t́nh 余情 = yojô) trong ḷng người xem (8).

Sau khi quan sát thái độ chuyển hướng sang trọng thị Inuô (Dô.ami) và Ômi Sarugaku của Shôgun Yoshimitsu (Nghĩa Măn, tại vị 1368-1394) lúc cuối đời cũng như người kế nghiệp ông là Yoshimochi (Nghĩa Tŕ, tại vị 1394-1423) – một nhân vật đặc biệt bị thu hút bởi ca vũ Dengaku của Zôami 増阿弥 (Tăng A Di) – Zeami bèn tích cực đưa những yếu tố (ca vũ) thấy trong các bản tuồng của các địch thủ vào Yamato Sarugaku của ḿnh với ư định làm vừa ḷng hai nhà lănh đạo và cũng là người trực tiếp chi viện cho Nô. Lư do của hành động đó là đề văn hồi uy thế của môn phái v́ ông là một thủ lănh có trách nhiệm nhưng phải nói ông rất khổ tâm về lựa chọn này. 

Khi Yoshimochi (Nghĩa Tŕ) cầm quyền, Dengaku rất hưng thịnh. Trong khoảng thời gian ấy, Zeami đă viết tác phẩm lư luận diễn xuất Fuushi kaden 風資花伝 (Phong tư hoa truyền) (9) và cũng là lúc mà cách dùng chữ Nô để gọi chung cả Dengaku lẫn Sarugaku trở thành phổ biến. Sau đó Zeami đă viết thêm nhiều tác phẩm khác như Shikadôsho (Chí hoa đạo thư), Nikyoku santainin Keizô (Nhị khúc tam thể nhân hệ đồ), Sandô (Tam đạo), Fushizuki Shidai (Khúc phụ thứ đệ = Điệu nhạc giáo đầu vở kịch), HanakagamiHoa kính), Shuugyoku tokuka (Thập ngọc đắc hoa) vv...để triển khai quan niệm nghệ thuật của ḿnh rồi truyền lại cho em trai, con trai và em rể (tức soạn giả nổi tiếng Komparu Zenchiku).

Đến thời Shôgun Yoshinori (Nghĩa Giáo, tại vị 1429-1441), trong khi người cháu (gọi Zeami bằng bác) là On.ami Motoshige 音阿弥 (Âm A Di, Nguyên Trọng, 1398-1468 ) được yêu chuộng th́ nhà ông lại gặp toàn cảnh khốn khổ. Con trai thứ của ông là Motoyoshi (Nguyên Năng) bị bắt phải vào chùa tu trong khi con cả của ông là Motomasa (Nguyên Nhă), một soạn giả kiêm diễn viên tiềm tàng tài năng, đă chết đột ngột khi hăy c̣n rất trẻ. Hơn thế nữa, đến năm 1434 chính bản thân Zeami lại bị chính quyền lưu đày ra đảo Sado, lúc ấy là một vùng c̣n hoang vu với khí hậu khắc nghiệt.

Từ thời Muromachi đến hết thời Sengoku (Chiến Quốc Nhật Bản) (thế kỷ 15 và 16)

Zeami qua đời dưới thời Shôgun Yoshimasa (Nghĩa Chính) tại chức (1449-1473), trong hoàn cảnh và thời điểm nào th́ không ai biết một cách chính xác. Từ đó cho đến suốt thời gian người kế vị Yoshimasa là Yoshinori (Nghĩa Giáo) cai trị, rạp (gánh) Kanze dưới sự chủ tŕ của người cháu Zeami là On.ami (c̣n đọc là Onnami) tức Âm A Di trở nên thịnh vượng ở Kyôto. Hoạt động của rạp (gánh) Komparu do Zenchiku (tên thật là Ujinobu = Thị Tín) ở Nara cũng đáng kể. Trong tác phẩm Hitorigoto (Nói một ḿnh), thầy thơ Renga là Shinkei (Tâm Kính) đă xem On.ami như một nhân vật xuất sắc của sân khấu đương thời nhưng đồng thời nh́n nhận Zenchiku là một tài năng đặc dị khác. Cả hai đều là những diễn viên bậc thầy. Dù vậy, trong hai ông, người kế thừa được cái sâu sắc của Zeami về mặt sáng tác và lư luận chính là Zenchiku.

Tháng 4 năm 1464 dưới thời Shôgun Yoshimasa (Nghĩa Chính) có tổ chức Kanjin Sarugaku (diễn Sarugaku để quyên tiền giúp nhà chùa) do On.ami và con trai ông là Masamori (Chính Thịnh) chủ tŕ. Theo kư sự ghi lại th́ trong đợt lễ hội kéo dài 3 hôm này, người ta đă tŕnh diễn 26 lớp tuồng Nô và giữa những lớp Nô lại cho chen tất cả là 23 màn Kyôgen (Cuồng ngôn) với những nhan đề ví dụ như Kakuremino, Hachitataki, Hachiman no mae, Hae, Asaina, Ningengawa vv...Nhân đó, tên tuổi của kép Kyôgen là Usagi-dayuu cũng được nhắc đến. Trước khi ấy, vào thời của Zeami, người ta cũng đă biết về sự tồn tại của một ông thầy Kyôgen (Kyôgenshi) có tên là Tsuchi-dayuu. Điều này có nghĩa là vào giai đoạn này, h́nh thức kết hợp giữa Nô và Kyôgen đă được thành lập và qui định theo cùng một kiểu với thời đại của chúng ta.

Hai tên tuổi lớn là On.ami và Zenchiku đă qua đời khoảng trước hay sau khi cuộc loạn Ônin (Ứng Nhân, 1467-77) bột phát. Cuộc loạn ly kéo dài 10 năm này đă làm lung lay thế lực của Mạc Phủ và uy tín các Shôgun nhà Ashikaga, những Mạnh Thường Quân đă chi viện cho Nô. Các chủ rạp cũng chịu ảnh hưởng kinh tế nặng nề và đều rơi vào cảnh túng quẫn. Sau khi cuộc đại loạn chấm dứt, các vũ tướng từng tham gia cuộc chiến bèn kéo quân từ Kyôto về lănh địa. Trong số đó có những người yêu thích Nô nên đă đem cả Nô về địa phương ḿnh. Các dayuu của Shiza (Tứ Ṭa = 4 gánh hát chính) ) cũng đi theo họ về địa phương và trong đám này, có người con trai thứ 7 của On.ami tức Kanze Kôjirô Nobumitsu (Tín Quang, 1435-1516) và con ông là Nagatoshi (Trường Tuấn). Đó là chưa kể cháu nội của Zenchiku tên Komparu Zenpô Motoyasu (Thiền Phượng Nguyên An) cùng một soạn giả bí ẩn với cái tên Miyamasu (Cung Tăng). Cho đến lúc đó, Nô chỉ có tính u huyền và thiên trọng ca vũ thế nhưng từ bấy giờ nó c̣n nhiều đặc điểm khác. Các vở tuồng Nô kiểu mới (Shinsaku Nô) có thêm sự linh hoạt trong tŕnh diễn, với cấu trúc truyện kể và màu sắc hoa lệ. Như thế, một mô h́nh tân tiến có sức lôi cuốn đông đảo khán giả đă thành h́nh. Chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ. Đó là các tác phẩm của Nobumitsu như Funa Benkei, Momiji Mori, Chôryô (Trương Lương), Ryuuko, Ataka, các tác phẩm của Nagatoshi như Shôzon, Enoshima, các tác phẩm của Zenpô (Thiền Phượng) như  Arashiyama, Tôbôsaku (Đông Phương Sóc), Ikkaku Sennin (Nhất Giác Tiên Nhân) hay các tác phẩm của Miyamasu như Eboshiori, Chôpuku Soga, Nishikido. Nói chung, những vở tuồng này sử dụng nhiều nhân vật trên sân khấu, thêm vào đó, tùy theo tuồng, các vai diễn từ Waki, Tsure và đôi khi cả vai Ai (trong Kyôgen), đều tỏ ra năng động hơn trước đây. Phông cảnh và đạo cụ cũng được thiết kế khéo léo hơn, cốt truyện được triển khai với nhiều chi tiết cho dễ hiểu, thú vị hơn. Có thể xem Nô thời đó bắt đầu lấy khán giả làm đối tượng và đă mang tính chất tiêu khiển của một buổi nhạc hội (show).  Đó là những đặc tính cần lưu ư khi bàn về Nô của giai đoạn này.

Lúc bấy giờ, Dengaku tức loại “Nô nông thôn” đă bắt đầu suy yếu. Thay vào đó, từ cuối đời Muromachi (khoảng niên hiệu Bunmei tức 1469-1487) trở đi, loại Te Sarugaku (Thủ Viên Nhạc) tức một h́nh thức Sarugaku no Nô do các diễn viên bán chuyên nghiệp (semi-professional) xuất thân từ tầng lớp dân kẻ chợ (chônin) đảm đương đă được tŕnh diễn thường xuyên ở Kyôto, trong cung cấm cũng như giữa phố phường. Đồng thời ca từ của các bản tuồng (daihon) Nô tức các bài utai (dao) đă bắt đầu được các gia đ́nh quyền quí và giàu có (công khanh, vũ sĩ, thương nhân) yêu chuộng và phổ biến. Đến cuối đời Muromachi th́ trên sân khấu, đă có sự phân loại các vai tṛ. Chẳng hạn người đóng vai Waki trong các lớp Nô dần dần chuyên môn hóa và chỉ đóng Waki mà thôi. Mặt khác, lối kể chuyện của các vai Ai trong Kyôgen cũng đă được qui định theo một cách thức riêng.

Từ thời Azuchi Momoyama đến thời Edo (cuối thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 19) :

 Các nhà lănh đạo chính trị thời này đều có ḷng ưu ái với Nô. Oda Nobunaga (1534-1582) v́ quá yêu thích Sarugaku của vùng Tamba nên đă đề bạt chủ gánh Umewaka Dayuu vào chức vụ quan trọng. Đến  thời Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) th́ sau khi thống nhất thiên hạ, ông đâm ra hâm mộ Nô một cách cuồng nhiệt, thiếu điều tự ḿnh lên sân khấu diễn tuồng. Không những ông hậu đăi chủ gánh Komparu (chức Dayuu tên Yasuteru tức An Chiếu) mà c̣n thiết lập một chế độ chi viện kinh tế và kiểm soát bằng cách bắt các lănh chúa địa phương phải phụ đảm kinh phí nghĩa là trích ra một phần bổng lộc lúa gạo của họ chia cho các gánh hát trong nhóm Shiza (Tứ Ṭa). Suốt niên hiệu Tenbun (1532-1555), Hideyoshi tiếp tục che chở và giúp đỡ hoạt động tổ chức Sarugaku của chùa Honganji (Bản Nguyện Tự). Con nuôi và là cháu (gọi bằng cậu) của Hideyoshi là đại thần Hidetsugu cũng là người yêu chuộng Nô. Năm 1595, ông này đă nhờ các thiền tăng Ngũ Sơn soạn cho ḿnh Utai no Shô (Dao chi sao), một tác phẩm chú dịch 102 dao khúc Nô.

Mặt khác, thời ấy lại có một tập sách tên là Tenshô Kyôgenbon (Thiên Chính Cuồng Ngôn Bản) được biết là hoàn tất vào năm Tenshô (Thiên Chính) thứ 6 (1595). Sách sao chép mục lục của 150 lớp và tóm lược đại ư của 103 khúc Kyôgen. Điều đó chứng tỏ rằng các bản tuồng Kyôgen tŕnh diễn trên sân khấu vào giai đoạn đó có sắc thái rất đa dạng.

Momoyama (hậu bán thế kỷ 16) là một thời đại xán lạn đă để lại rất nhiều tác phẩm mỹ thuật với phong cách hoa lệ và lộng lẫy. Điều đó đă phản ánh qua y trang diêm dúa của các diễn viên Nô. Trong lănh vực mặt nạ (Men), chúng ta thấy lần lượt xuất hiện những nghệ nhân ưu tú như Sonjirô, Shimotsuma Shôshin, Kawachi Ieshige, Deme Zekan... Họ đă chế ra các kiểu mặt nạ như Ông lăo (Okinamen), Quỷ thần (Kijinmen), Ông già (Úy, Jômen), Nữ (Onnamen), Nam (Otokomen), Oán linh (Onryômen) và các loại mặt nạ đặc thù (Tokushumen) khác nữa (10). Thế nhưng ngày nay, ở những nơi tŕnh diễn Nô (Nôgakudô, Năng nhạc đường) hầu như người ta chỉ giữ lại một số mặt nạ cơ bản.

Nhà lănh đạo chính trị thứ ba của giai đoạn này, Shôgun Tokugawa Ieyasu (1542-1616), c̣n yêu thích Nô trước cả Hideyoshi. Lúc trẻ khi hăy c̣n mang họ Matsudaira, ông đă che chở cho chức dayuu của gánh Kanze là Mototada và Tadachika, con trai ông ta. Đến khi mở Mạc Phủ ở Edo (1603), Shôgun Ieyasu vẫn duy tŕ chính sách chi viện Nô của Hideyoshi. Ông chọn chức Kanze Dayuu làm người đứng đầu Shiza. Ông bắt các diễn viên của Shiza phải dời nhà từ Ôsaka đến Shumpu (Tuấn Phủ, tên ngôi thành xây riêng cho ông ở Shizuoka, nơi ông sống và điều khiển chính trị tầm xa đối với Shôgun đương nhiệm, con trai ông). Đến khi ông mất th́ những nghệ sĩ ưu tú và ḍng dơi (Iemoto) lại bị bắt phải dời về Edo là trung tâm chính trị mới (thay v́ trở lại miềnTây là nơi tổ tiên họ đă sống và diễn Nô tự bao đời). Kể từ đó, Edo đă trở thành căn cứ địa của Shiza.

Shôgun đời thứ hai của họ Tokugawa là Hidetada (Tú Trung, 1579-1632) đánh giá cao tài nghệ diễn xuất của Kitashichi Dayuu là Nagayoshi (Trường Năng) nên đặc cách cho gánh ông này thành một chi nhánh (nhất lưu) của gia đ́nh Kongô (Kim Cương), đến đời người con trai thứ tư của Shichidayuu là Juudayuu th́ phân phái này được chính quyền công nhận như một chi lưu độc lập (gọi là Kitaryuu = Hỷ Đa Lưu). Cách chuyển chữ Kita từ Thất (số 7) sang Hỷ Đa chỉ có tính cách trang sức cho đẹp.

V́ Nô được xem như phần tiêu khiển chính thức trong các lễ lạc do Mạc Phủ tổ chức nên nó vẫn hưởng sự nâng đỡ của Shôgun đời thứ ba là Iemitsu (Gia Quang, 1604-1651). Lănh chúa chư phiên cũng mời các diễn viên Nô ưu tú về địa phương ḿnh nhưng v́ lư do đó mà qui cách thẩm định chất lượng tài năng và kỹ năng các diễn viên bắt buộc phải trở nên chặt chẽ. Kết quả là nó đă đẻ ra khuynh hướng nghiên cứu những kỹ năng diễn xuất đặc thù có tên là Kogaki (Tiểu thư 小書 = chữ viết nhỏ) tức là lối diễn y theo những lời ghi chú đặc biệt bên dưới ca từ. Kể từ đó, nói chung th́ thời gian diễn xuất và phần tŕnh diễn vũ thuật được kéo dài ra, việc diễn xuất trở nên khẩn trương, trịnh trọng hơn và không có khoảng trống để nghỉ ngơi (sekima).

Từ khi Sarugaku trở thành lối tiêu khiển chính thức trong những buổi lễ lạc của giới vũ sĩ th́ trừ ngoại lệ là các thành phố như Kyôto, Ôsaka, Nara, Nô và Kyôgen nói chung đă xa rời tầng lớp b́nh dân. Ngoài dịp  Kanjin Nô (để quyên góp cho chùa chiền) hay Chôiri Nô (Đinh nhập Năng) tức các buổi diễn Nô tổ chức  trong thành Edo mà người kẻ chợ (đinh dân = chômin) cũng được mời đến tham dự, thực ra thường dân không mấy khi có dịp xem Nô. Riêng đối với Utai (Dao) th́ lại là một chuyện khác. Các Utai đă được in ấn và xuất bản dưới dạng nhạc phổ (Utaibon謡本 = Dao bản), chẳng những thế, hiện tượng này rất phổ thông. Nhờ đó, số người yêu Nô trên toàn quốc đă gia tăng. Đến cuối đời Edo th́ các tiểu khúc của Nô (Koutai 小謡 = Tiểu dao) đă được in thành sách và lưu hành trong dân chúng. Việc luyện tập để hát sao cho ăn khớp tiểu khúc ấy giữa một tiết múa (gọi là Shimai仕舞) cũng trở nên thịnh hành. Nó đă dẫn đến việc người ta ấn hành các quyển sách gọi là “Shimai utai no hon”.

Thời Cận Đại (từ 1868 đến 1945)

Cuộc Duy Tân thời Minh Trị đă khiến cho các diễn viên trong Goza (Ngũ Ṭa = năm gánh hát lớn) không c̣n được hưởng bổng lộc đến từ Mạc phủ nữa v́ chính quyền kéo dài 265 năm này đă hoàn toàn sụp đổ. Nô bị mất điểm tựa kinh tế. Các lưu phái Nô như Shundôryuu (春藤流Xuân Đằng Lưu) chuyên môn thủ các vai Waki hay lưu phái Kyôgen như Sagiryuu (Lộ Lưu鷺流) đều bị dẹp bỏ v́ không có người thừa kế. May thay, các sứ bộ do chính quyền Meiji gửi sang Tây phương giao thiệp và thăm ḍ t́nh h́nh xă hội bên đó khi trở về đă đánh giá lại một cách tích cực vai tṛ “quốc kịch” của Nô và nhận ra rằng sự bảo tồn và chấn hưng nó là cần thiết hơn bao giờ hết. Với sự hiệp lực của các nhà lănh đạo điển h́nh là đại thần quyền lực Iwakura Tomomi (1825-1883) và các cựu lănh chúa cũng như các nhà  tài phiệt mới nổi...Nô đă xây dựng được những cơ sở chuyên tŕnh diễn nó (gọi là Nôgakudô = Năng nhạc đường) và lập ra cơ quan quản lư và yểm trợ (gọi là Nôgakukai = Năng nhạc hội) với chế độ hội viên. Nhờ đó mà Nô mới được truyền bá rộng răi và có được sự chi viện đến từ mọi tầng lớp khán giả.  Các chi lưu cũng có hội viên yểm trợ riêng của họ. Việc phát hành các nhạc phổ (Utaibon) từ đó chịu sự chi phối của đoàn thể những nhà tŕnh diễn Nô trong Goza (Ngũ ṭa) để được giám sát kỷ lưỡng hơn. Chế độ “tông gia” với các “gia đ́nh gốc gác” (iemoto) đời đời nhận bằng sắc chuyên nghiệp dần dần thành h́nh và như thế, sau khi không c̣n nằm dưới sự quản lư của giai cấp vũ sĩ, Nô đă biết tổ chức thành hội đoàn tự chủ và có tính hiện đại để đáp ứng với một vận hội mới.

* * *

 

Vài mốc thời gian quan trọng trong lịch sử tuồng Nô (theo thứ tự năm, sự kiện và nguồn thông tin) 

603: Người họ Hata (11) tên là Kôkatsu (Tần Hà Thắng)  được xem là ông tổ của Sarugaku nhận được từ nhà nước tượng vị Phật hộ tŕ cho Thánh Đức Thái Tử và lập chùa Hôkôji (Phong Cương Tự) để phụng thờ (theo Nhật Bản Thư Kỷ)

752: Cử hành lễ khai nhăn tượng Đại Phật Tôdaiji (Đông Đại Tự) ở Nara có sự tham gia của ban Sangaku từ bên nhà Đường (theo Đông Đại Tự Yếu Lục).

782: Phế bỏ Nhă Nhạc Liêu Tán Nhạc Hộ vốn thành lập năm 701 (theo Tục Nhật Bản Kỷ).

794: Thiên đô về Heian. Lễ cúng dường đầu tiên ở chùa Enryaku (Diên Lịch Tự) với sự góp mặt của 66 nhạc công của họ Hata

851: Tu sửa chùa Tôdaiji. Có tŕnh diễn Sarugaku (Shuushi) Khi Thiên hoàng Seiwa xem đấu vật (Sumô), có tŕnh tấu Sangaku (theo Đông Đại Tự Yếu Lục và Tam Đại Thực Lục).

963: Thiên hoàng Murakami hỏi người họ Fujiwara về ư nghĩa và đối sách với Sangaku.

999: Ở hội Gion (Kỳ Viên) kẻ tŕnh diễn tạp nghệ tên là Mukotsu (Vô Cốt) phạm tội bất kính, sợ bị bắt phải đào vong (theo Bản Triều Thế Kỷ).

1093: Các nhạc nhân ở phủ Cận Vệ diễn Sangaku nhân dịp lễ hội Gion (theo Trung Hữu Kư).

1096: Dengaku phổ biến ở Kyôto. Thường thấy quang cảnh bất kể giàu nghèo quí tiện nhảy múa như điên cuồng giữa tiếng trống tiếng tiêu (theo Trung Hữu Kư).

1201: Tại ngự sở Thái thượng hoàng Go-Toba có biểu diễn Sarugaku với tiết mục Rappu (Loạn vũ).

1283: Ở lễ hội Kasuga, tăng nhân chùa Kôfukuji (Hưng Phúc Tự) diễn Okina Sarugaku (Ông Viên Nhạc) (theo Kư lục về Lễ hội Kasuga).

1333: Người khai sáng Yamato Sarugaku là Kan.ami (Quán A Di) ra đời. Cùng năm đó, Mạc phủ Kamakura bị diệt vong.

1349: Honza (Bản ṭa) và Shinza (Tân ṭa) tŕnh diễn Kanjin Dengaku để quyên tiền cho nhà chùa bên bờ sông Kamo ở Kyôto, có cả Shôgun họ Ashikaga đầu tiên là Takauji dự khán. Cầu ván bị găy làm nhiều người chết và bị thương (theo Sư Thủ Kư).

1363: Zeami ra đời. Có lẽ rạp (gánh) Kanze đă được thành lập vào khoảng này (tính ngược dựa trên thông tin của Bất Tri Kư).

1375: Tài mạo của hai cha con Kan.ami và Zeami lọt vào mắt xanh của Shôgun Yoshimitsu trong một buổi tŕnh diễn ở đền Imakumano vào năm này hay năm trước đó (theo Viên Nhạc Đàm Nghi).

1378: Ở hội Gion, thái độ trọng thị của Shôgun Yoshimitsu đối với cha con Kan.ami gây bức xúc trong đám quí tộc và quan lại thủ cựu.

1384: Sau khi tŕnh diễn Nô cho pháp hội ở đền thần đạo Sengen vùng Suruga, Kan.ami qua đời tại đất này ở tuổi 52 (theo Thường Nhạc Kư).

1394: Yoshimitsu xem Zeami diễn Nô ở Nhất Thừa Viện (Nara).

1399: Zeami diễn Nô diễn Nô 3 hôm liền ở Kyôto, được Shôgun đến dự khán (theo Nghênh Dương Kư).

1400: Zeami viết xong 3 tập của bộ truyền thư đầu tiên là Fuushinkaden (Phong Tư Hoa Truyền).

1405: Soạn giả Komparu Ujinobu tức Zenchiku (Thiền Trúc), em rễ của Zeami, ra đời

1408: Thiên hoàng Go-Komatsu và Shôgun Yoshimitsu xem đối thủ Zeami là Inuo tức Dô.ami diễn Nô ở phủ đệ trên núi Kitayama. Chẳng bao lâu sau đó, Yoshimitsu tạ thế.

1413: Zô.ami (Tăng A Di) của Shinza (Tân ṭa) diễn Kanjin Dengaku hàng năm và được sự chi viện của Shôgun Yoshimochi, người con trưởng kế nghiệp Yoshimasa.  Cùng năm, Inuô Dô.ami (Đạo A Di) qua đời.

1418: Zeami viết các truyền thư Hoa Tập, Âm Khúc Khẩu Truyền, Chí Hoa Đạo vv...

1422: Zeami xuất gia, trưởng nam là Motomasa (Nguyên Nhă) kế nghiệp trông coi rạp (gánh) Kanze.

1423: Zeami truyền 3 bí quyết của Nô là Sandô (Tam Đạo) cho con thứ là Motoyoshi (Nguyên Năng).:

1427: On.ami Motoshige (Âm A Di Nguyên Trọng) cháu gọi Zeami bằng bác, có thời là dưỡng tử của ông, được Yoshimochi nâng đỡ. Riêng cảnh nhà Zeami th́ suy thoái từ đó

1428: Zeami truyền Juugyoku tokuka (Thập Ngọc Đắc Hoa) cho con rễ là Zenchiku Thiền Trúc). Năm này Yoshinori (Nghĩa Giáo, tại vị 1429-41) lên chức Shôgun. Ông là em trai Yoshimochi, một nhà tu hoàn tục để chấp chính sau khi anh chết và tỏ ra có ác cảm với Zeami.

1429: Yoshinori ra lệnh cấm cha con nhà Zeami diễn Nô nơi ngự sở của Thái Thượng Hoàng.

1430: On.ami được vời vào diễn Nô cho Thái Thượng Hoàng xem. C̣n con trai thứ của Zeami là Nguyên Năng (Motoyoshi) th́ bị bắt phải xuất gia.

1432: Motomasa (Nguyên Nhă), con cả và là kẻ nối dơi Zeami, chết nơi đất khách (vùng Ise). Có thuyết cho là ông bị ám sát. Zeami viết Museki Isshi (MộngTích Nhất Chỉ = Mảnh giấy lưu dấu một giấc mơ) thay cho lời ai điếu.

1433: On.ami trở thành người cầm đầu tức chức Dayuu rạp / gánh Kanze. Tổ chức Kanjin Nô long trọng với sự nâng đỡ của Yoshinori.

Zeami viết Kyakuraika (Khước Lai Hoa), truyền thư cuối cùng.

1434: Zeami bị đày ra đảo Sado ở cái tuổi 73 (theo Kim Đảo Thư). Lúc đó, ông có báo cho con rể là Komparu Zenchiku hay. Sau đó th́ không c̣n tin tức. Có lẽ ông đă qua đời khoảng năm 1443.

1441: Shôgun Yoshinori (Nghĩa Giáo) bị ám sát trong lúc đang xem Nô ở phủ đệ của tùy tướng là Akamatsu Mitsusuke, thọ 48 tuổi.

1456: Con rể Zeami là Zenchiku viết hai truyền thư về Nô: Kabu Zuinôki (Ca Vũ Tủy Năo Kư) và Rokurin Ichiro no Kichuu (Lục Luân Nhất Lộ Chi Kư Chú = Sáu ṿng tṛn và một giọt sương).

1464: Chức Kanze Dayuu là Masamori (Chính Thịnh, con trai On.ami) được Shôgun Yoshimasa (Nghĩa Chính) tiếp tục nâng đỡ, cho phép tổ chức các cuộc tŕnh diễn quyên góp.

1465: Shôgun Yoshimasa tuần du Nara, dự khán buổi tŕnh diễn của 4 nhà (Shiza). Trong dịp này cả On.ami và Zenchiku đều tŕnh diễn (theo Âm Lương Hiên Mục Lục).

1467: On.ami qua đời. Zenchiku c̣n sống đến năm sau. Cuộc đại loạn Ônin bộc phát. Các chi lưu Nô hoạt động kém đi.

1505: Chức Dayuu phái Komparu là Motoyasu (Nguyên An) c̣n gọi là Zenbô (Thiền Phượng) – cháu nội Zenchiku - phát triển hoạt động đến Kyôto.

1516: Kanze Dayuu là Kojirô Nobumitsu (Tiểu Thứ Lang Tín Quang, con trai On.ami) mất ở tuổi 82.

1529: Kanze Dayuu là Mototada (Nguyên Trung) diễn Nô quyên góp với sự trợ diễn của của Kanze Yajirô Nagatoshi (Trường Tuấn), em trai Kojirô.

1546: Hợp diễn giữa Mototada (phái Kanze) và Yoshikatsu(phái Komparu) mừng Shôgun Yoshiteru (Nghĩa Huy) lên nắm quyền.

1568: Hợp diễn giữa Motomori (Nguyên Thịnh) phái Kanze và Anshô (An Chiếu tức Thiền Khúc = Zenkyoku) phái Komparu để mừng Shôgun Yoshiaki (Nghĩa Chiêu) lên ngôi.

1573: Mạc Phủ Ashikaga bị diệt vong.

1567: Năm ra đời của Tenshô Kyôgenbon (Thiên Chính Cuồng Ngôn Bản), tập Kyôgen tối cổ hiện c̣n giữ được.

1588: Tăng quan chùa Honganji (Bản Nguyện Tự) là Shimotsuma Shôjin (Hạ Gian Thiếu Tiến) cũng diễn Nô tại nhà riêng và ở chùa Ishiyama Honganji và sau đó, c̣n hoạt động mạnh hơn cả 4 chi lưu chính (Shiza).

1593: Giữa trận doanh, tướng Toyotomi Hideyoshi vời 4 nhà (Shiza) và các nhóm Nô nghiệp dư đến tŕnh diễn. Sau đó, ông cùng Tokugawa Ieyasu và chư tướng diễn Nô trong cung.

1595: Đại thần Hidetsugu, cháu gọi Hideyoshi bằng cậu, ra lệnh cho chư tăng Ngũ Sơn biên tập một tuyển tập tuồng Nô. Sau đó nhiều tuyển tập khác lần lượt ra đời và có quyển đă được tiến dâng lên cả Thiên Hoàng Go-Yôzei (Hậu Dương Thành).

1603: Shôgun Tokugawa Ieyasu khai phủ ở Edo. Để chúc mừng, một buổi diễn Nô đă được tổ chức ở thành Nijô, trú sở của ông ở Kyôto.

1607: Hợp diễn Nô giữa hai nhà Kanze và Komparu trong thành Edo. Nhân dịp này, dân chúng cũng được phép đến xem. Từ đấy, Nô của tầng lớp thị dân bắt đầu phát triển.(theo Đức Xuyên Thực Kư).

1618: Chức Kanze nhà Kongô (Kim Cương) là Kitashichi Nagayoshi (Bắc Thất Trường Năng) được phục vị và sau đó ông được phép thành lập một chi lưu mới gọi là phái Kita (Hỷ Đa). Nên nhớ rằng phái Kongô bất măn v́ cách đánh giá vai vế, hầu như ngưng hoạt động và lùi vào bóng tối khoảng giữa thế kỷ 16 (1544).

1623: Tại cư thành Nijô ở Kyôto, Shôgun Tokugawa đời thứ 3 Iemitsu (Gia Quang) dự khán Nô của các dayuu thuộc “Tứ Ṭa Nhất Lưu”.(12)

1687: Chức Dayuu (Đại phu) phái Hôshô (Bảo Sinh) là Tomoharu (Hữu Xuân) diễn Nô ở Edo được Shôgun đời thứ 5 Tsunayoshi (Cương Cát) yêu mến nên tận t́nh chi viện phái Hôshô.

1767:Phái Kita ấn hành tập nhạc hát trong tuồng (utaibon) của phái ḿnh gồm 150 khúc.

1799: Chức dayuu phái Hôshô được Shôgun thứ 11 Ienari (Gia Tề) nâng đỡ, ấn hành được một tập nhạc khác gồm 210 khúc.

1858: Tŕnh diễn Nô chúc hạ Shôgun nhà Tokugawa thứ 14 Iemochi (Gia Mậu) lên nắm quyền. Đây là lần diễn Nô chúc hạ cuối cùng cho các Shôgun.

1868: Chế độ Mạc Phủ sụp đổ. Các đoàn hát (Tứ Ṭa Nhất Lưu) không c̣n nhận được bổng lộc của nhà nước.

1869: Cựu dayuu phái Kanze là Kiyotoshi (Thanh Hiếu) đi theo gia đ́nh Tokugawa về Shizuoka, 6 năm sau ông mới trở lại kinh đô để hoạt động.

1876: Đại thần Iwakura Tomomi – người quyền lực nhất đương thời -mời Thiên Hoàng Meiji dự khán Nô một buổi diễn có các nghệ nhân phái Hôshô (Bảo Sinh) và Umewaka (Mai Nhược) diễn tại tư dinh của ḿnh.

1878: Bảy nghệ nhân đầu ngành của các phái Hôshô, Kanze, Umewaka, Komparu, Kongô được bổ làm thành viên của trung tâm diễn Nô trực thuộc Hoàng gia. Một sân khấu diễn Nô nhân đó đă được dựng lên trong ngự sở Aoyama.

1881: Đổi tổ chức Nôgakusha (Năng Nhạc Xă) vốn chỉ có tầng lớp quí tộc và hoa tộc (quí tộc mới sau 1868) tham dự thành Nôgakudô (Năng Nhạc Đường), một cơ quan theo chế độ hội viên, mở rộng cho tất cả mọi người. Để cho nó có một cơ sở vật chất riêng, nhà nước đă cho xây một nhà hát trong công viên Shiba ở Tôkyô (Shiba Nôgakudô).

1892: Bắt đầu là việc hai phái Kanze và Kita lập rạp hát riêng, sau đó, chi lưu nào cũng có rạp của ḿnh.

1896: Nôgakukai (Năng Nhạc Hội) ra đời sau một cuộc cải cách của Nôgakudô.

1902: Tạp chí chuyên môn Nôgaku (Năng Nhạc) được phát hành.

1909: Học giả Yoshida Tôgo (1864-1918) hiệu chú Zeami Juurokubu-shuu (Thế A Di Thập Lục Bộ Tập) để giới thiệu các công tŕnh của Zeami với đông đảo đại chúng.

1921: Thành lập hiệp hội các nhà diễn Nô gọi là Nôgaku Kyôkai (Năng Nhạc Hiệp Hội).

1938: Phong trào nhiên cứu Nô bắt đầu với tác phẩm Nôgaku Genryuu-kô (Năng Nhạc Nguyên Lưu Khảo) của Noze Asaji (Năng Thế Triêu Thứ, 1894-1955).

1941: Nhà nghiên cứu Kawase Kazuma phát hiện thêm một số bút tích của chính Zeami từ số thư tín mà gia đ́nh Komparu c̣n giữ lại.

1950: Hồi phục Nô sau chiến tranh mà điển h́nh là việc tái thiết sân khấu Nô ở Suidobashi (Tôkyô).

1952: Đại học Nghệ Thuật Tôkyô mở khoa nghiên cứu Nô. Đại học Hôsei dựng sân khấu Nô trong nhà trường.

1957: Nô được chỉ định là tài sản văn hóa trọng yếu cấp nhà nước.

1972: Đại học nữ Musashino ở Tôkyô mở Trung tâm tàng trữ tư liệu Nô.

1983: Xây dựng Kokuritsu Nôgakudô (Quốc Lập Năng Nhạc Đường) ở Setagaya (Tôkyô).

1987: Các địa phương như Hikone, Toyama, Nara cũng dựng sân khấu Nô. Chẳng bao lâu, đến lượt các thành phố Yokohama (1996), Nagoya (1997), Toyoda và Niigata (1998)...

2001-2008: Các cơ quan quốc tế bắt đầu công nhận Nô như di sản tinh thần của nhân loại.

2004: Lần đầu tiên, các diễn viên nữ được nh́n nhận trên sân khấu Nô, khác với truyền thống nam diễn viên thủ tất cả mọi vai cho đến bấy giờ.

 

Chú thích cho phần này:

 

(1)     Arthur Waley, The Nô Play of Japan, An Anthology, chương mở đầu, trang 17.

(2)     Okina có nghĩa là Ông Già. Nhân vật này thường xuất hiện trong các lớp tuồng chúc thọ, mừng được mùa và con cháu đông đảo...Theo Armen Godel, ông già này là tượng trưng cho Thần Thổ Địa (Túc Thần = Shukushin) của địa phương. Lớp tuồng này xưa thường được diễn đầu tiên để chúc mừng quan khách nên không có kịch tính mấy.

(3)     Về mặt ngữ học, Sarugaku có thể là một biến âm của cách gọi Sangaku (Tán, Tản nhạc). Ư nghĩa là tạp nghệ. Không biết có liên hệ ǵ về mặt ngữ nghĩa với Saru (Viên, khỉ) hay Saru (Thân, khỉ) trong cái nghĩa là “tṛ khỉ” (ư nói tạp nghệ) hay không mà lại thường được viết với hai chữ Hán đó?

(4)     Za (Ṭa, Tọa) là một đơn vị kinh tế trong xă hội trung cổ Nhật Bản. Thế nhưng trong lănh vực sân khấu, phải hiểu theo nghĩa hẹp là một rạp hát hay một gánh hát, có khi là cả hai.

(5)     Xin tham khảo phần sau viết về “Các điệu hát và âm nhạc”

(6)     Nội dung các vở tuồng nhắc đến ở đây sẽ được giải thích thêm trong phần “Các vở tuồng nổi tiếng”.

(7)     Thường mô tả cuộc gặp gỡ giữa thầy tăng vân du và hồn ma, yêu quái hay tinh linh trong thế giới mộng ảo nhân một chuyến du hành vô t́nh hay hữu ư của nhà tu hành về một miền đất lạ.

(8)     Yojô tức dư t́nh cũng là một khái niệm trừu tượng rất khó nắm, bắt nguồn từ lư luận về thơ Waka thời Trung cổ của lư thuyết gia Fujiwara no Kintô (966-1041). Nó là một cảm xúc thẫm mỹ sâu lắng không cần đến sự tô vẽ diễm lệ. Trong Nô, đó là một ấn tượng đọng lại bên ngoài lời nói.

(9)     Xin tham khảo phần đề cập đến “Các truyền thư về Nô”

(10)    Xin tham khảo phần đề cập đến “Các mặt nạ tuồng Nô”

(11)     Hata (Tần) -c̣n đọc là Hada - xưa kia là một họ của người nhập cư, thường là gốc Triều Tiên. Theo văn mạch ở đây, có thể hiểu là Nô nguyên thủy đă qua ngơ Triều Tiên để vào đất Nhật.

(12) Tứ ṭa (Shiza) gồm bốn gánh Kanze (Quan Thế), Hôshô (Bảo Sinh), Komparu (Kim Xuân), Kongô (Kim Cương) c̣n Nhất Lưu (Ichiryuu) ám chỉ chi phái Kita (Hỷ Đa) vốn phát xuất từ Kongô và được vị Shôgun đương thời đặc cách để trở thành độc lập.

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com