SANTÔKA, THƠ RƠI VÀO BÁT ĂN XIN

Haiku trên đường tự do hóa

 

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Taneda Santôka (1882-1940)

Nhà thơ Santôka 山頭火 tên thật là Taneda Shôji 種田正字, vốn là một tăng sĩ khất thực sống đời phiêu lăng, tác giả những bài haiku không câu nệ qui luật. Cùng với Ozaki Hôsai 尾崎放哉, ông là một trong hai kiện tướng của những vần haiku phá cách nghĩa là thoát ra ngoài khuôn khổ cổ điển đặt để trước thời Bashô.

Lúc hăy c̣n sống, ông không được biết đến nhiều. Bị người đời quay mặt thờ ơ, c̣n phải nghe nhiều lời chê bai bởi v́ lúc đó chưa ai nh́n nhận là nhà thơ haiku. Măi đến đầu thập niên 1970 nghĩa là hơn 30 năm sau ngày ông mất, mới bắt đầu có phong trào đọc và định lại giá trị của nhà thơ. Cho dù ông tập trung được sự chú ư của độc giả, người ta vẫn chưa đi đến chỗ chấp nhận Santôka một cách vô điều kiện v́ họ nghĩ rằng thơ ông vẫn nằm giữa ranh giới của haiku và thơ tự do.

Bài thơ có tính cách tự trào sau đây được Murakami Mamoru[1] đưa ra để tượng trưng cho thế đứng chênh vênh ấy:

うしろすがたのしぐれてゆくか
Ushiro sugata no / shigurete yuku ka  

Có phải dáng lưng ai,
Đang bước dưới mưa rào.
 

Một bài đoản thi 14 âm tiết với 2 câu 7 / 7, không tuân theo h́nh thức 5/ 7 / 5 để có tất cả 17 âm tiết như một haiku định h́nh. Shigure (trận mưa rào) ở đây không nhằm viết ra để chỉ một mùa nào trong năm đúng như truyền thống kigo季語 (quí ngữ, chữ theo mùa), chỉ có thể xem nó là một từ muki 無季(vô quí, chữ không có mùa), ngày xưa chỉ được đặt vào phần tạp thi. Cấu tưởng lại có tính thơ hiện đại v́ ở đây, tác giả đă đặt vị trí ḿnh như một người thứ hai đi sau lưng đang ngắm cái dáng lướt thướt ướt sủng mưa rào của chính ḿnh phía trước. Hơn nữa shigure (cơn mưa rào) - một danh từ - đă được thay thế bằng một động từ là shigureru ở thể liên tiến thời hiện tại là shigurete. Cách viết này có mục đích trước tiên là biểu lộ tâm trạng không yên ổn của cá nhân ḿnh, sau để ḥa nhập tâm cảnh con người vào với khung cảnh thiên nhiên. 

Kiểu làm thơ “phá cách” (katayaburi, phá h́nh 型破り) như thế của Santôka khiến những nhà thơ haiku cổ phong phải nhíu mày. Thế nhưng hoàn cảnh làm thơ của những người nói trên và của Santôka thực ra rất khác nhau. Santôka chỉ là một ông sư khất thực, “nhất lạp, nhất bát, nhất trượng” với tấm áo chùng đen của nhà tu và cuộc đời ăn xin rày đây mai đó. V́ vậy, nếu những vần thơ phát xuất từ cuộc sinh hoạt này có “vô quí phá cách” đi nữa th́ cũng là chuyện có thể thông cảm chứ không đáng để buộc tội. Chẳng những thế lối viết của ông c̣n có một cái duyên thầm nên lại được yêu chuộng. Những cây viết hiện đại như tiểu thuyết gia Maruyama Zaiichi hay nhà viết kịch Miyamoto Ken đều lấy thơ ông làm tựa đề cho tác phẩm của họ. 

Ngược ḍng quá khứ, chúng ta biết rằng người làm haiku cổ điển phải tôn trọng 2 điều quan trọng về mặt h́nh thức: khuôn khổ 17 âm tiết và qui tắc kidai (季題 quí đề) nghĩa là dùng chữ đúng mùa như các từ điển về từ hoa gọi là Saijiki 歳時記 (Tuế th́ kư) đă hướng dẫn. Bản thân Matsuo Bashô 松尾芭蕉 (1644-1694) có làm một số thơ dôi âm tiết hay thiếu âm tiết và dùng chữ vô quí, chứng tỏ ông có tinh thần phóng khoáng, bao dung, thế nhưng phải đợi đến 200 năm sau mới có một người như Masaoka Shiki 正岡子規 (1867-1902) nh́n nhận hẳn hoi rằng làm haiku không cần phải theo mùa và dù có viết 15, 16, 18, 19 âm tiết, thậm chí 23 đi nữa cũng chẳng sao. Khuynh hướng giải phóng haiku ra khỏi khuôn khổ “hữu quí định h́nh” 有季定型đă được một cao đồ của Shiki là Kawahigashi Hekigotô 河東碧梧桐 (1873-1937) đưa đi xa hơn khi ông này nhấn mạnh thêm tính cách shasei 写生 (tả sinh, sketching, portraying) mà thầy ḿnh đề cao, khuyên người làm thơ phản ánh trung thực cảnh sắc và sự vật trong dáng vẻ tự nhiên của nó. Haiku làm theo phong cách Hekigotô thường là dễ hiểu, gần gũi với đại chúng. Đệ tử của ông, Seisensui 井泉水, cũng là thầy của Santôka, đă đi theo con đường đó. Duy có trường phái của Takahama Kyoshi 高浜虚子 (1874-1959), một cao đồ khác của Shiki, muốn đi ngược lại. Thực vậy, Kyoshi chẳng những chủ trương haiku “hữu quí định h́nh” 有季定型 và c̣n gắn thêm vào đó một hạn chế mới là sự tôn trọng ư nghĩa của hokku tức bài haiku mào đầu cho những haiku đến sau[2].

http://blogs.c.yimg.jp/res/blog-39-74/tansioremon2/folder/984333/79/54264079/img_3?1379582082                                     http://www.library.pref.tottori.jp/ct/image000002400/kyoshi.jpg

Kawahigashi Hekigotô (1873-1937)               Takahama Kyoshi (1874-1959)

 

Nhắc lại diễn tiến của haiku từ 100 năm qua như vậy cũng gọi là tạm đủ. Nay chúng ta thử t́m hiểu quan niệm haiku của Santôka. Ông có lần phát biểu: 

“Haiku được đánh giá xuất sắc - ngoại trừ một số cực kỳ ít ỏi trong nhóm đó – là những bài haiku mà người đọc nếu không biết về hoàn cảnh sinh sống hay tâm trạng của tác giả th́ khó ḷng thưởng thức được một cách trọn vẹn. Không có bài haiku nào mà không có những lời giải thích đặt đằng trước (maegaki 前書) nhưng trong trường hợp này, lời giải thích về nó là chính cuộc đời của tác giả vậy. Nếu không có lời giải thích bằng cuộc sống th́ sẽ không có haiku”.  

Dĩ nhiên, có những bài haiku làm ra một cách tự nhiên như để giải trí và không dính líu ǵ với cuộc đới người viết ra nó cả, nhưng nh́n chung, trong trường hợp Santôka, th́ đúng như ông phát biểu, những ai không biết ông sống ra sao th́ đừng ḥng thưởng thức tác phẩm của ông. Cuộc sống ấy khá đặc thù, kỳ dị so với người b́nh thường trong xă hội nên điều đó càng được thể hiện ra một cách minh bạch. 

Santôka đă chọn cửa Phật, đời ông gắn liền với việc đi t́m lẽ đạo. Thế nhưng ông lại thoát khỏi con đường b́nh thường, hiện thực (chính đạo) làm cho thơ ông phản ánh cái nh́n ngoài khuôn khổ (ngoại đạo外道 gedô) về cuộc đời và đó là một đặc điểm khác nữa. Để hiểu tại sao ông khác người, phải nh́n lại những chặng đường ông đă đi qua. 

 Thân thế

Trước khi đi vào truyện kư, chúng ta hăy biết sơ qua là Santôka sinh năm Meiji 15 (1882), mất năm Shôwa 15 (1940). Ông đă vứt bỏ tất cả (quê hương, gia đ́nh) để sống một cuộc đời phiêu bạt như môt nhà sư hành khất từ năm Taishô 15 (1926) nghĩa là trong ṿng 15 năm cuối cùng của cuộc đời. Ông giải thích về khúc rẽ đó trong một bài thơ làm vào tháng 4 năm 1926, đánh dấu giai đoạn tác giả có một cuộc khủng hoảng tinh thần, một sự bế tắc không lư do: 

分け入つても分け入つても青い山
Wakeitte mo / wakeitte mo / aoi yama 

Vẹt lối đi vào nữa,
Vẹt lối đi vào nữa.
Trùng trùng chỉ núi xanh.

http://terebess.hu/haiku/santoka2.jpg

 

Tuổi thơ bất hạnh (Meiji 15-Meiji 39): 

Santôka sinh ra trong gia đ́nh Taneda, con của gia chủ đời thứ 6 Taneda Takejiro (lúc ấy 27 tuổi) và vợ của ông là bà Fusa (23 tuổi). Takejirô là một nhà điền chủ lớn thôn Sabaryô thuộc thị trấn Hôfu tỉnh Yamaguchi miền nam đảo Honshuu. Yamaguchi c̣n là nơi có duyên nợ với các nhà văn, nhà thơ khác như Kaneko Misuzu (1903-1929), Nakahara Chuuya (1907-1937) và Uno Chiyo (1897-1996). Cậu bé Taneda Masaichi –sau này sẽ trở thành Santôka - là trưởng nam của gia đ́nh. Dinh cơ của cha mẹ cậu nằm bên ḍng nước trong xanh và đầy ắp của con sông Sabagawa. Nhà thơ đă mô tả: 

ふるさとは遠くして木の芽
Furusato wa / Tôku shite / Ki no me 

Quê hương tôi,
Đă xa xôi,
Những chồi cây.
 

Dinh cơ nhà Taneda rộng bao la (854 tsubo hay 2.823m2), đủ cả nhà kho, vựa chứa, giếng sâu. Đất đai cũng rộng, từ nhà họ ra đến nhà ga xe lửa, xa đến 800m mà vẫn không phải đi trên đất người ngoài. Ông có một người chị, một cô em gái và cậu em trai. 

Cha của Santôka có một chức vụ trong thôn, được coi như người có bề thế của vùng. Mẹ ông cũng xuất thân con nhà địa chủ, vốn là người đồng châu đồng quận. Ông ngoại của ông lại là người thích văn thơ.

Santoka

“Không t́m đâu dấu vết. Nhà cũ ta ra đời”

Từ nhà ông đến đền Tenmanguu天満宮thờ vị thần văn học Sugawara Michizane 菅原道真 (845-903) không xa. Trước đền có xóm buôn bán và ăn chơi, từ nơi đấy vẳng lại tiếng ca hát, đàn phách không hề dứt. Cha ông, Takejirô, là khách hàng thường xuyên của một cái quán tên là Gounkaku五雲閣 (Ngũ Vân Các) và chẳng bao lâu ch́m đắm trong ṿng nữ sắc, có đến mấy người t́ thiếp. Đó chính là cái cớ để gia đ́nh ông tan vỡ và đưa tới tuổi thơ bất hạnh. Năm Meiji 25, mẹ ông gieo ḿnh tự sát ở cái giếng trong nhà. Cảnh tượng người ta vớt xác bà lên trước mặt Santôka, lúc ấy mới khoảng 9 tuổi, sẽ là một kỷ niệm đau thương hằn sâu trong tâm trí mà sau này, nhà thơ nhắc lại trong một tùy bút: 

“Nếu phải viết một thiên tự truyện th́ tôi sẽ phải bắt đầu bằng cái chết của mẹ tôi. Ôi, việc bà tự sát là nguyên nhân của mọi bất hạnh trong gia đ́nh”.  

Nỗi khổ đau của gia đ́nh Taneda sau đó vẫn tiếp diễn. Người cha mất uy tín xă hội sa lầy sâu hơn trong việc ăn chơi. Ngoài ra, ở một vùng nông thôn như thế, dĩ nhiên cḥm xóm rất khắt khe với một gia đ́nh có người tự sát. 

Về việc học hành của Santôka th́ sau khi xong cấp tiểu học và trung học tỉnh nhà, ông lên Tôkyô và vào trường Waseda, lúc ấy mới thành lập khoa Văn (Meiji 35, 1902). Trên ghế trung học, Santôka đă tỏ ra có khiếu văn chương. Vào Waseda, ông có dịp quen biết với các bạn đồng song như Ogawa Mimei (nhà văn viết truyện nhi đồng), Yoshie Takamatsu (nhà thơ và giáo sư Waseda rồi viện trưởng đại học), Muraoka Tsunetsugu (giáo sư Đại học Tôhoku, học giả ngành quốc văn và lịch sử tư tưởng Nhật Bản). Trong số những vị thầy lúc đó có văn hào Tsubouchi Shôyô, (tiểu thuyết gia kiêm nhà lư luận văn học). Nơi đây, ông đă làm quen với những trào lưu tư tưởng đương thời trong đó có chủ nghĩa Marx được giới thiệu bởi Katayama Sen và Kôtoku Shuusui.   

Địa ngục gia đ́nh (Meiji 40-Taishô 14): 

Năm Meiji 36 (1903), Santôka bị xóa tên khỏi danh sách sinh viên năm thứ nhất v́ thành tích kém và có triệu chứng suy nhược thần kinh. Sang năm sau, chiến tranh Nhật Nga bùng nổ, mượn cớ bệnh tật, Santôka xin thôi học, lui về quê nhà. Để tái tạo cơ nghiệp, cha con ông bán một phần dinh cơ cũ để lấy vốn mở ḷ rượu. Ông kết hôn với bà Satô Sakino (Meiji 42, 1909) năm ông 27 tuổi và bà 20. Đó là một cuộc hôn nhân do gia đ́nh dàn xếp. Bà xuất thân con nhà danh giá trong vùng. Một năm sau, trưởng nam là cậu Ken (Tsuyoshi) ra đời. Ông bắt đầu viết những bài tiểu luận trong tạp chí chuyền tay Rokai 炉開 (Lô Khai). 

Cha con Santôka chỉ là những tay mơ trong lănh vực kinh doanh. Cha th́ sa đọa, con lại nghiện ngập, chẳng mấy lúc họ lâm vào cảnh khánh tận. Dù có một cậu con trai với bà Sakino, Santôka vẫn bị con sâu rượu hành hạ và không bao giờ chịu ở yên một chỗ, lúc nào cũng ngứa chân ngứa cẳng muốn sống cuộc đời rày đây mai đó 

“ Thiên hạ thường bị cảm mạo, riêng tôi, cái tật xấu không sao bỏ được là thích phiêu lưu, muốn đi khắp nơi khắp chốn trên thế giới, hay ít nhất là trong nước Nhật, như mây bay, như gió thổi, như nước chảy, để được ngắm nhiều cảnh trí, gặp gỡ mọi hạng người và uống đủ loại rượu”.  

Ông có lần bào chữa: 

“Tuy gia đ́nh không phải là tù ngục nhưng phải nói nó giống như một băi sa mạc”. 

Từng bước đến với thơ (Taishô 15-Shôwa 7): 

Năm Meiji thứ 44 (1911), ông bắt đầu đăng trên nguyệt san Seinen 青年(Thanh niên) của địa phương Shuuhô vài bản dịch Guy de Maupassant và Ivan Tourgueniev dưới bút hiệu Santôka山頭火 (Lửa trên đỉnh núi) và có những bài tiểu luận, tùy bút, thơ waka và haiku trong tạp chí chuyền tay giữa bạn bè ra hằng tháng dưới cái tên Tarakô 田螺公 (Điền Loa Công hay Ốc Ruộng). Tháng 8 năm cùng năm, ông bắt đầu chủ trương tạp chí Kyôdo 郷土(Hương thổ hay Quê nhà), lần hồi chính thức bước vào con đường văn chương.

http://terebess.hu/haiku/santoka5.jpg

 Tạp chí Sôun

Sau đó một thời gian nghĩa là Kể từ năm Taishô 2, vẫn dùng bút hiệu Tarakô, ông cộng tác với tạp chí Sôun層雲 (Tằng Vân hay Mây Tầng) vốn đă ra mắt ở Tôkyô từ năm Meiji 44. Tạp chí này do nhà thơ Ogiwara Seisensui 荻原井泉水(1884-1976) đứng đầu. Seisensui nhỏ thua Santôka hai tuổi nhưng được ông suốt đời tôn kính như một người thầy. Seisensui c̣n là người đứng đầu phong trào vận động cho một h́nh thức haiku tự do. Chính Seisensui đă sáng tác những bài thơ có thể tiêu biểu cho phong cách nầy: 

空を歩む朗々と月ひとり
Sora wo ayumu rôrô to tsuki hitori 

Trên ṿm trời. Vằng vặc,
Trăng vẫn một ḿnh trôi.
 

自分の茶碗がある家にもどっている
Jibun no chawan ga aru ie ni modotte iru 

T́m v ngôi nhà cũ,
Nơi ta có bát riêng.
 

全てを焼いた人たちに空が青いばかり
Subete wo yaita hitotachi ni sora ga aoi bakari 

Bầu trời vẫn trong xanh,
Cả cho bọn người đốt sạch.
 

Đánh giá tài năng của Santôka, Seisensui đă mời ông vào ban tuyển thơ cho tạp chí. Danh tiếng Santôka từ đó được làng thơ haiku tự do toàn quốc biết tới. Tuy nhiên cùng lúc, công chuyện kinh doanh ḷ rượu của gia đ́nh Taneda đi vào chỗ suy sụp do công nợ quá nhiều. Cha ông - Takejirô - bỏ nhà ra đi, tuyệt vô âm tín và làm cho chính Santôka buộc ḷng đưa vợ con xuống Kumamoto (cuối mỏm đảo Kyuushuu) sinh sống mà kỳ thực là đi trốn nợ. 

 

http://www.library.pref.tottori.jp/ct/image000002400/seisensui.jpg

Ogiwara Seisensui (1884-1976)

 

燕とびかう空しみじみと家出かな
Tsubame tobikau sora / shimijimi to / iede kana 

Nh́n chim én bay về,
Ḷng càng buồn thấm thía,
Cảnh trốn làng ra đi.
 

Chim én từ phương nam c̣n được quay về nhưng Santôka phải ĺa bỏ quê hương để đi xuống miền Nam. Cảnh ngộ trái ngược ấy làm ḷng ông càng thêm chạnh mối cảm hoài. Ở Kumamoto, h́nh như nhờ người quen biết là nhà thơ Kanezakichi Tôson, đứng đầu một tạp chí văn nghệ ở đây lo liệu, ông đă mở được một hiệu bán sách cũ, tranh ảnh, bưu thiếp có tên là Garakuta雅楽多(Tạp hóa) cho vợ buôn bán. Ông cũng phải gánh tranh ảnh đi bán dạo. Dĩ nhiên, bản tâm ông không mấy sốt sắng làm ăn mà chỉ chuyên chú vào thi ca. Lúc đó, tạp chí Sôun càng ngày càng nổi tiếng, gây được sự chú ư trong giới trí thức và thanh niên. 

Cuộc đời của Santôka bỗng dưng bị chấn động mạnh từ sau khi Taneda Jirô, em trai ông, tự sát. Ông em từ bé đă đi làm con nuôi nhà khác. Lúc nhà Taneda bị phá sản, gia đ́nh nhận ông làm con nuôi cũng bị liên lụy và bắt buộc phải từ ông. Jirô bèn sống lang thang cho đến ngày người ta khám phá ra xác ông treo cổ tự vẫn. 

Santôka bỏ vợ con lại Kumamoto, một ḿnh lên Tôkyô năm ông 37 tuổi (Taishô 8, 1919). Nhờ một bạn văn được nhận vào làm nhân viên thư viện nhưng không lâu mắc chứng trầm cảm đành bỏ việc. Không thể về Kumamoto gặp vợ con trong hoàn cảnh này, ông tiếp tục sống rày đây mai đó ở Tôkyô với nghề bán dạo tranh ảnh. 

Lúc ấy, quá mệt mỏi, ông không có ḷng nào làm thơ viết văn. Trận động đất kinh hoàng năm 1923 ở vùng Kantô lại xảy ra như một tai họa khác cho đời ông. Trong lúc đi tị nạn, người ta t́nh nghi ông là thành phần theo xă hội chủ nghĩa có thể thừa lúc hỗn loạn để phá hoại nên bắt giam vào ngục Sugamo. Ra tù, tinh thần ông suy sụp và phải quay về Kumamoto , sống cạnh bà Sakino, lúc ấy trên danh nghĩa đă ly hôn với ông.   

Santôka từ ấy có nhiều hành vi khó hiểu như uống say túy lúy rồi đứng giữa đường chận tàu điện (tramway) như thể muốn tự sát bằng cách cho xe chẹt (Taishô 13, 1924). Nhờ có người quen biết nhận ra ông và can thiệp, ông được đưa thẳng vào chùa để tĩnh dưỡng và nhân đó, có duyên với cửa Thiền. Trụ tŕ chùa Hôonji 報恩寺(Báo Ân Tự) thuộc tông Tào Động là Mochidzuki Gian 望月義庵đă tiếp nhận ông. Sau đó ông xuất gia (Taishô 14, 1925) trở thành học tṛ của Gian, lấy pháp danh là Kôho耕畝 (Canh Mẫu) rồi nhận trông coi một cái am tên Mitori Kannondô 未取観音堂(Vị Thủ Quan Âm Đường) ở vùng Higo. Cuộc sống lúc ấy là những ngày yên tĩnh nhưng buồn bă: 

松はみな枝垂れて南無観世音
Matsu wa mina eda tarete / Nanmu Kanseon 

Những nhánh tùng đều cúi,
Nam Mô Quan Thế Âm.

 

Thảo am và lữ hành

Bài thơ trên, mào đầu cho thi tập Sômokutô 草木塔 (Thảo mộc tháp)[3] có thể xem như tác phẩm ưng ư nhất của Santôka, ra đời vào năm Shôwa 15. Theo lời ông giải thích trong phần giới thiệu (maegaki) th́ lúc đó, ông ở trong hoàn cảnh “một thân sống giữa rừng (sơn lâm độc trú). Thế nhưng sau đó, không phải sự buồn bă và cô độc đă khiến ông chỉ sau 1 năm 2 tháng đă bỏ cái am Quan Âm ấy mà đi. H́nh như lư do là sự phiền năo gây ra bởi một quan hệ với phái nữ. V́ am Quan Âm hết c̣n có thể giúp ông t́m được sự yên tĩnh trong tâm hồn, ông lại ra đi và lần này, với tư thế một nhà sư hành khất. Chuyến đi có thể đă bắt đầu từ năm Shôwa thứ 5. Ông viết trong một bài tùy bút những câu sau: 

“Tôi lại lên đường. Trước sau chỉ có hành trang của ông sư khất thực, ngoài ra trên người không mang theo vật ǵ, làm một lữ khách ngu ngơ, cả đời không biết cách dừng chân một chỗ. Như cánh bèo trôi từ ghềnh này đến ghềnh khác, ta vừa buồn mà lại vừa vui. Trong cuộc sống thê thảm vẫn có cái ǵ thoải mái an nhiên. Nước chảy, mây bay, có ai giữ được! Gió thổi lá lại rụng vèo theo. Cá lội mới là cá, chim bay mới là chim. Hỡi hai bàn chân của ta ơi, cứ bước đi thôi. Được đến đâu hay đến đấy.” 

Thời đó, ông có những câu thơ: 

生死の中の雪ふりしきり
Seishi no naka no / yuki furishikiru  

Tuyết vẫn rơi không ngừng,
Giữa ngày sinh ngày tử.
 

しぐれるや死なないでいる
Shigureru ya shinanaide iru 

Mưa đông lạnh măi rơi,
Nhưng thân này chưa chết.
 

生き残ったからだ掻いている
Ikinokotta karada / kaite iru 

Găi ngứa cái xác phàm,
C̣n bám vào cuộc sống.

http://www.library.pref.tottori.jp/kyodo/hosai_shouzou.JPG

Ozaki Hôsai (1885-1926)

 

Sau khi bỏ chùa ra đi, Santôka đă lang thang trên những nẽo đường các vùng Kyuushuu, San.in, Sanyô, Shikoku. Trong khoảng thời gian đó, ông có ư định ghé thăm Ozaki Hôsai 尾崎放哉 (1885-1926), một nhà thơ “haiku phá cách” khác đă có tên tuổi. Rủi thay, khi đến nơi th́ con người tài hoa nhưng vắn số đă qua đời, cuộc viếng thăm rốt cuộc trở thành chuyến đi tảo mộ.  

Santôka chưa hề gặp Hôsai nhưng biết nhiều về ông lúc làm việc chung qua trung gian Tạp chí Sôun. Trước ngôi mộ của Hôsai, giữa cơn mưa và tiếng quạ kêu, ông đă viết thay lời ai điếu: 

お墓したしさの雨となった
Ohaka shitashisa no ame to natta 

Biến ḿnh thành giọt mưa,
Dịu dàng trên phần mộ

 

烏啼いて私も一人
Karasu naite watashi mo hitori 

Quạ cất tiếng kêu,
Ta chỉ một ḿnh
 

Riêng với bài thơ th hai, Santôka muốn bày tỏ sự kính trọng và đồng điệu của ông với người nằm đó, tác giả của bài thơ nói về sự cô độc như sau: 

咳をしても一人
Seki wo shite mo hitori 

Ngay khi đang ho,
Ta vẫn một ḿnh.
 

Cũng vậy, những bài sau đây của Santôka:

 

鉄鉢の中へも霰
Tetsubachi
[4] no naka e mo arare 

Mưa đá rơi cả vào,
Cái bát sắt xin ăn.

 

黙って今日の草草鞋履く
Damatte kyô no kusa waraji haku 

Hôm nay lại lặng thinh,
Xỏ chân vào dép cỏ.

 

まっすぐな道で淋しい
Massugu na michi de samishii 

Trước con đường thẳng tắp,
Buồn lẻ loi.
 

đều khiến ta nhớ lại vài bài thơ khác trên cùng một cung bậc của Hôsai: 

入れ物がない両手を受ける
Iremono ga nai ryôte wo ukeru 

Không có ǵ để đựng,
Nên chắp hai tay nhận
 

 

障子締め切って淋しさをみたす
Shôji shimekitte samishisa wo mitasu 

Đóng chặt cửa giấy bồi,
Chất cho nỗi buồn đầy.
 

 

一日言わず蝶のかげさす
Ichinichi iwazu chô no kage sasu 

Suốt ngày không nói năng,
Cánh bướm đến đỗ bóng.
 

 

墓の裏辺回す
Haka no urabe mawasu 

Ṿng quanh lối,
Sau lưng nấm mộ.
 

 

鳥はだまって飛んでいた
Tori wa damatte tonde itta. 

Không hót một tiếng,
Chim bay đi mất.

 

来る舟来る舟に一つの島
Kuru fune kuru fune ni hitotsu no shima  

Thuyền đến, thuyền lại đến,
Đảo một ḿnh.

 

淋しいからだから爪がのびだし
Samishii karada kara tsume ga nobidasu 

Móng mọc dài ra,
Từ thân thể buồn bă.

 

蟻が出ぬようになった蟻の穴
Ari ga denu yô ni natta ari no hana 

Lỗ vào cái tổ kiến,
Không c̣n bóng con nào.

 

底がぬけた柄杓で水を飲もうとした
Soko ga nuketa hishaku de mizu wo nomô to shita 

Định hớp miếng nước,
Từ cái gáo thủng.

 

淋しいぞ一人五本の指を開いて見る
Samishii zo hitori gohon no yubi wo hiraite miru 

Buồn làm sao
Người một ḿnh ch́a năm ngón tay nh́n

 

更けてひそかに水汲めば月の影ある
Fukete hisokani mizu kumeba tsuki no kage aru 

Lặng lẽ múc nước khuya,
Có bóng trăng in.
 

Trước khi đến Shôdoshima, ḥn đảo nằm giữa Shikoku và Honshuu trong biển nội địa Nhật Bản nơi nhà thơ đồng liêu bất hạnh có một thời sinh sống, Santôka đă hành hương 88 nơi thánh địa thần phật trên đảo Shikoku (Taishô 15-Shôwa 4). Sau đó, ông lại có ư định chiêm bái 33 thánh địa ở miền Tây (Shôwa 4-6) trên đảo Kyuushuu. Thế rồi bàn chân đă đưa đẩy ông xuống phía nam và cuối cùng đem ông trở về với vợ con ở Kumomoto và cửa hàng bán sách cũ của gia đ́nh. 

Sau đây là những bài thơ làm ra trong chuyến hành cước đầu (Taishô 15 - Shôwa 4, vùng Shikoku, tây Honshuu và bắc Kyuushuu)): 

旅ごろも吹きまくる風に任す
Tabigoromo fukimakuru kaze ni makasu 

Ta để mặc gió quấn,
Tấm áo mặc đi đường

 

踏み分ける萩よ薄よ
Fumiwakeru hagi yo susuki yo 

Vẹt lối đồng hagi,
Vẹt lối đồng cỏ lau.

 

へうへうとして水を味わう
Hyohyo to shite mizu wo ajiwau
[5] 

Sùm sụp húp,
Ta thưởng thức miếng nước

haiga

“Cơm trắng, mơ muối đỏ. Giờ mới được thấy lại!

 

Và trong chuyến đi thứ hai thăm 33 thánh địa thờ Quan Âm (Shôwa 4-6, phía bắc và miền trung Kyuushuu)): 

疲れた足へ蜻蛉とまった
Tsukareta ashi e tombo tomatta 

Con chuồn chuồn đậu lại,
Trên bàn chân đă mỏi.

 

雨だれの音も年取った
Amedare no oto mo toshi totta 

Dường như tiếng mưa rơi,
Cũng đă già theo ta.

 

法衣こんなに破れて草の実
Hôe konna ni yaburete kusa no mi 

Tơi tả thế này ư,
Tấm áo chùng dính đầy hạt cỏ.

 

しみじみ食べる飯ばかりの飯である
Shimijimi taberu han bakari no han de aru 

Chí thú ta ăn,
Bữa cơm suông không lấy một món.

 

まったく雲がない笠を脱ぎ
Mattaku kumo ga nai kasa wo nugi 

Trời quang không gợn mây,
Ta bèn tháo nón lá.

 http://terebess.hu/haiku/taneda3.jpg

Thủ bút Santôka: “Wakeitte mo wakehitte mo aoi yama”

 

ある日は乞うことをやめ山を見ている
Aru hi wa kou koto wo yame yama wo mite iru, 

Có hôm ngừng xin cơm,
Ta đứng ngắm dáng núi.

 

笠も漏り出したか
Kasa mo moridashita ka 

H́nh như có nước dột,
Từ chiếc nón đi đường

 

酔っ払ってこおろぎと寝ていたよ
Yopparoute kôrogi to nete ita yo 

Có một lần say mèm,
Ta nằm ngủ với dế.

 

投げて下さった一銭銅貨の冷たい音だった
Nagete kudasatta issen dôka no tsumetai oto datta 

Đồng tiền ném cho ta,
Tiếng nghe sao mà lạnh!

 

一日われと我が足音を聞きつつ歩き
Ichinichi ware to wa ga ashioto wo kikitsutsu aruki 

Suốt một ngày, vừa đi,
Vừa nghe tiếng chân ḿnh.

 

振り返らない道を急ぐ
Furikaeranai michi wo isogu 

Ta rảo bước,
Trên đường. Không quay đầu lại.

http://terebess.hu/english/haiku/santoka23.jpg

Về Kumamoto sống, Santôka giao lưu với các nhà thơ địa phương. Năm Shôwa thứ tư, nhân dịp Seisensui xuống chơi, ông có t́m gặp. Nhật kư đời hành cước khất thực của ông hiện c̣n lưu lại chỉ bắt đầu vào tháng 9 năm Shôwa thứ 5 c̣n những ǵ ông ghi chép về các chuyến đi hành hương cầu đạo trước đó đă bị đốt bỏ: 

焼き捨て日記の灰のこれだけか
Yakisute / nikki no hai no kore dake ka 

Tro nhật kư đốt bỏ,
Được ngần ấy thôi sao?

 

日記焼き捨てる火であたたまる
Nikki yakisuteru hi de atatamaru 

T́m chút hơi ấm từ,
Lửa đốt bỏ nhật kư.

 

焼いてしまえばこれだけの灰が半生の記録
Yaite shimaeba kore dake no hai ga hansei no kiroku 

Đốt đi tro c̣n lại
Nửa đời chuyện bấy nhiêu.
 

Như vậy, Santôka thất vọng, muốn phủ nhận quăng đời cũ và bắt đầu một cuộc sống mới. Trong những trang nhật kư về sau, có những đoạn: 

“Ngày nào không đi th́ buồn. Ngày nào không uống (rượu) cũng buồn. Không viết được câu ǵ lại thêm buồn. Có thể buồn v́ cuộc sống đơn độc nhưng khi được đi, được uống, được viết th́ dẫu một ḿnh cũng không biết buồn là ǵ”.    

Ba cái quan trọng lúc đó đối với Santôka là đi, uống rượu và làm thơ. Thiếu một trong ba yếu tố đó là không xong. Ông không chỉ lên đường cầu đạo như trước mà phong cách sống kể từ ngày ấy c̣n nhuốm mùi trụy lạc, một điều cửa Phật ngăn cấm. 

“Ư nghĩa chính của Phật pháp là “bộ bộ đáo trước” (phải bước từng bước cho chu đáo). Khi ḿnh đang bước phải quên đi bước trước và không nghĩ đến bước sau. Mỗi một bước không lư đến cổ kim đông tây, nhưng phải là một bước rạch ṛi (nhất bộ tức nhất thiết). Biết như thế là h́ểu được phương pháp hành thiền bằng “đồ bộ thiền” (thiền bằng đi bộ) vậy”.

http://terebess.hu/haiku/taneda2.jpg

Thủ bút Santôka: “Kasa e pottori tsubaki datta”

 

Hành thiền bằng đi bộ

Như thấy ở trên, Santôka xem hành thiền bằng cách đi bộ là lư tưởng. Ông đồng thời cũng ngưỡng mộ cuộc sống của một nhà thơ haiku ẩn ḿnh nơi đô hội. Nhưng đă là người không thuộc vào tăng đường nào, nghĩa là trong tư thế kẻ xuất gia đă vứt bỏ tất cả, không nơi nương tựa, việc thực hiện điều nói trên, đối với ông, cũng không phải dễ.  

Thời gian ở Kumamoto, ông thuê một căn buồng khoảng nửa năm, sống một ḿnh và định xuất bản tạp chí Sanpaku 三八九(Tam Bát Cửu) nhưng chỉ ra được ba số. Cuộc sống ở ẩn nơi đô hội xem chừng thất bại, ông lại khoác tấm áo chùng đen, đội nón lá, cầm bát sắt lên đường viễn du: 

“Đời hành cước phải như mây bay, như nước chảy. Dừng lại dù chỉ một chốc là đă rối loạn ngay. Được cho ăn đến đâu sống đến đấy. Như lá rơi, như gió cuốn, gặp nơi xanh tốt th́ dừng gót, hễ thiếu màu xanh lại bỏ đi. Nếu không đạt được điều đó th́ chả phải hành cước làm ǵ. Mỗi bước chân phải bước sao cho trọn vẹn”.                      

Theo lối suy nghĩ đó, trừ Kagoshima, ông đă đi suốt một vùng Kyuushuu rồi ngược theo đường biển eo Shimonoseki về lại cố hương Yamaguchi trên đảo Honshuu. Lúc đó Nhật Bản đang lâm vào cảnh kinh tế khó khăn do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng thế giới năm 1929 của Thị trường chứng khoán Wall Street. Santôka vẫn kéo dài cuộc sống lang thang với thơ và rượu.        

Sau đây một số thơ Santôka sáng tác trong giai đoạn ấy, nghĩa là từ năm Shôwa thứ 6: 

いつまで旅することの爪を切る
Itsu made tabi suru koto no tsume wo kiru 

Cắt mấy cái móng chân,
Đă đi măi đường dài.

 

笠へほっとり椿だった
Kasa e pottori tsubaki datta 

Rơi bộp trên nón lá,
Ôi, một đóa hoa trà!

 

やっぱり一人がよろしい雑草
Yappari hitori ga yoroshii zassô 

Cỏ dại đúng là thích,
Sống một đời lẻ loi.

 

日盛りのお地蔵さまの顔にこにこ
Hizakari no o Jizô sama no kao nikoniko 

Tượng Địa Tạng tươi cười,
Trong ngày nắng lên cao.

 アジサイの献花を載せたお盆を抱えて胡坐する地蔵菩薩像

“Khi huệ nở. Có hoa huệ nơi ngài Địa Tạng”

蜘蛛は網張る私は私を肯定する
Kumo wa amibaru watashi wa watashi wo kôtei suru 

Nhện giăng tơ làm mạng,
Ta khẳng định cái ta.

 

いつでも死ねる草が咲いたり見つかり
Itsu de mo shineru kusa ga saitari mitsukari 

T́m ra được ngọn cỏ
Sắp chết lại đơm hoa.

 

百合咲けばお地蔵様にも百合の花
Yuri sakeba o Jizô sama ni mo yuri no hana 

Khi huệ nở,
Có hoa huệ nơi ngài Địa Tạng.

 

別れてきた道がまっすぐ
Wakarete kita michi ga massugu 

Con đường từ chia tay
Thẳng đuột.

 

昼寝覚めてどちらを見ても山
Hirune samete dochira wo mite mo yama 

Giấc trưa, dậy mở mắt,
Nh́n quanh, chỉ núi non.

 

旅の法衣が乾くまで雑草の風
Tabi no hôe ga kawaku made zassô no kaze 

Gió cỏ dại c̣n thổi,
Đến khô tấm áo chùng
[6].

 

朝露しっとり行きたい方へ行く
Asatsuyu shittori ikitai hô e iku. 

Sương mai rơi lặng lẽ,
Đi về hướng muốn đi.

 

笠を脱ぎししみじみと濡れ
Kasa wo nugishi shimijimi to nure 

Ta cởi chiếc nón lá,
Để nước đẫm toàn thân.

haiga

“Mưa đá rơi cả vào. Cái bát sắt ăn xin” 

萩が薄が今日の道
Hagi ga susuki ga kefu no michi  

Hoa hagi, lau bạc,
Là đoạn đường hôm nay.

 

木が倒れている腰をかける
Ki ga taorete iru koshi wo kakeru 

Ta ngồi ghé lên trên,
Một thân cây đă đổ.

 

日影いつか月影となり木の影
Hikage itsuka tsukikage to nari ki no kage 

Bóng cây nhờ bóng mặt trời
Bỗng chốc thành bóng trăng

 

ころり寝ころべば青空
Korori nekorobeba aosora 

Ngả lăn cù trên đất,
Thấy được bầu trời xanh.

 

青葉の奥へなお道雅あって墓
Aoba no oku e nao michi ga atte haka 

Đằng sau rặng lá xanh,
Lại có một con đường. Ngôi mộ.

 

立ち止まると水音のする方へ道
Tachidomaru to mizuoto no suru hô e michi 

Ta dừng chân,
Chọn con đường phía tiếng nước chảy.

 

道に沿って一日黙って行く
Michi ni sotte ichinichi damatte yuku 

Không nói một câu,
Men theo đường, chân bước.

 

どうしようもない私が歩いている
Dô shiyô mo nai watashi ga aruite iru. 

Không biết phải làm ǵ,
Ta dấn bước.

 

寝るところが見付からないふるさとの空
Neru tokoro ga mitsukaranai furusato no sora 

Không đâu là chỗ trọ,
Dưới khung trời quê hương.

 

雨降る故郷は裸足で歩く
Ame furu furusato wa hadashi de aruku
 

Chân đất ta đi qua quê cũ,
Giữa trời mưa

 

町はずれは墓地となる波音
Machihazure wa bochi to naru namioto
 

Ngoại ô thành phố biến thành nghĩa trang,
Tiếng sóng vỗ.

 

笠に蜻蛉をとまらせて歩く
Kasa ni tombo wo tomarasete aruku 

Cho chuồn chuồn đậu trên nón đi theo
Ta tiến bước.

 

山の奥から繭負うて来た
Yama no oku kara mayu oute kita 

Trên lưng người địu theo,
Những con tằm đến từ núi sâu.

 

泊めてくれない村のしぐれを歩く
Tomete kurenai mura no shigure wo aruku 

Bước đi dưới mưa rào,
Qua ngôi làng không cho phép ḿnh ngủ lại.

 

だれも通らない道の電信柱
Dare mo tôranai michi no denshinbashira 

Cột điện thoại,
Trên con đường không một bóng người qua.

haiga

“Suốt ngày không nói năng. Chỉ lặng nghe sóng vỗ”

 

石に腰掛けると墓だった
Ishi ni koshikakeru to haka deatta. 

Ngồi nghỉ chân tảng đá,
Dè đâu bia mộ ai!

 

或る日は乞うことをやめ山をみている
Aru hi wa kou koto wo yame yama wo mite iru 

Có ngày ngừng xin ăn
Để được ngắm núi non.

 

分け入れば水音
Wakeireba mizuoto 

Vẹt lối ta vào xem,
Th́ ra tiếng nước chảy.

 

水音が眠らせない思い出がそれからそれへ
Mizuoto ga nemurasenai omoide ga sore kara sore e
 

Chuyện cũ nhớ lan man,
Tiếng nước chảy nên không sao ngủ.

 

寝ても覚めても夜が長い瀬の音
Nete mo samete mo yoru ga nagai se no oto. 

Ngủ hay thức, đêm vẫn dài.
Nghe nước khe róc rách.

 

水に雲影も落ち着かないものがある
Mizu ni kumokage mo ochitsukanai mono ga aru 

Bóng mây trên mặt nước,
Như thể đang bồn chồn.
 

Thế rồi, có lẽ tinh thần và thể xác quá mệt mỏi với cuộc hành tŕnh, Santôka đă ngừng lại để dựng am. Đối với ông, lữ hành và dừng chân sống trong am chỉ là hai mặt của một dạng thức sinh hoạt. Xuất gia, phiêu bạt, cô độc, tịch liêu, chết lẻ loi... Đó là cách sống Đông Phương nhưng cũng là con đường mà người Nhật thường chọn lựa. Những Saigyô hay Bashô trước đó dều như thế. 

Nơi Santôka chọn để ở là xóm Ogôri小郡thuộc vùng Yoshishiki tỉnh Yamaguchi mà một người bạn có thế lực đă giới thiệu. Đó là một ngôi nhà bỏ hoang xa ga Ogôri khoảng 20 phút đi bộ, nằm dưới chân núi và khá vắng vẻ. Ông cho sửa sang lại và đặt tên nó là Kichuuan其中庵 (Kỳ Trung Am), “cái am nằm ở chính giữa”, chữ lấy từ kinh Pháp Hoa. Ông đă ở đây suốt 6 năm trời (Shôwa 7- 13, 1930-1936). Am là nơi tiếp đón nhiều thi hữu nhóm Sôun t́m đến chơi với ông. Cảnh nghèo ở Kichuuan, thiếu cái ăn thức uống, đă được ghi lại trong những vần thơ như sau: 

虫も食べるおのがない本を食べたか
Mushi mo taberu mono ga nai hon wo tabeta ka 

Phải chăng không cái ăn,
Sâu bọ gặm cả sách.
 

 

雨を受けて桶いっぱいの美味い水
Ame wo ukete oke ippai no umai mizu 

Ta hứng lấy nước mưa,
Đầy gàu uống ngon lành.

 

こおろぎが私お食べ物食べた
Kôrogi ga watashi no tabemono tabeta 

Mấy con dế khoắng hết,
Phần đồ ăn của ta.
 

Tuy nhiên trong giai đoạn đó (Shôwa 10-11, 1925-26), ông cũng làm một số chuyến đi dài, thăm chùa Entsuuji (Viên Thông Tự) ở Kurashiki nơi có liên hệ sâu xa với thi tăng Ryôkan, chiêm bái chùa Kôsenji (Hoằng Xuyên Tự), chặng cuối trong cuộc đời của pháp sư Saigyô và lên miền Đông Bắc, đi từ Yamagata về hướng Sendai tận Hiraizumi nghĩa là ngược chiều với con đường Oku no hosomichi của Bashô. Trên đường về, Santôka lại ghé Fukui thăm Eiheiji (Vĩnh B́nh Tự), để lại ba bài thơ nổi tiếng về ngôi chùa đó của thiền sư Dôgen. Với những chuyến đi dài như thế, dễ chừng Santôka muốn kết nối ḿnh với những ẩn sĩ tiền bối như Saigyô, Bashô, Issa và Ryôkan.

http://terebess.hu/haiku/santoka6.jpg

Di vật Santôka: Hộp thuốc, ống điếu và b́nh bát       

Chọn nơi để chết

Kinh tế Nhật Bản suy thoái rốt cuộc đă gây khó khăn cho Santôka. Sau một thời gian ngắn chuyển xuống giúp việc cho một hăng bán gỗ ở Shimonoseki, ông lui về ngụ ở vùng suối nước nóng Yuda 湯田, cách Kichuuan cũ khoảng 10km. Chỗ trọ có cái tên đẹp đẽ là Fuuraikyo (Phong Lai Cư風来居) nhưng chỉ là một căn nhà hẹp 4 chiếu rưỡi. Từ nơi đây, ông làm những cuộc hành tŕnh về miền đông, nhắm hướng Hiroshima, Ôsaka, Nagoya, Hamamatsu và Shinshuu (Nagano). Trong chuyến đi này, ông có dịp thăm mộ Inoue Seigetsu, một nhà thơ đă bỏ ḿnh trong bước lăng du. Lại về Furaikyo tiếp tục sống cuộc đời ch́m đắm trong rượu chè, bỏ ăn bỏ uống nhưng t́nh thơ vẫn luôn tuôn tràn. Nhật kư đầy những ư nghĩ bi quan: 

“T́m chỗ chết như một con người thật khó! Ta muốn chết như một con thú (chó mèo), con chim hay côn trùng. Nếu ta có ra đi là muốn t́m một nơi để chết”

haiga

“Mùa thu cuối của ta. Đang dần dần tàn tạ”

 

Ngôi nhà giữa phố xá (xóm suối nước nóng Yuda) như Fuuraikyo vẫn c̣n nhiễm bụi trần, không phải nơi an cư và cũng không phải là nơi để chết. Do đó, ông muốn đi hành cước trên đảo Shikoku thêm một lần thứ hai nhưng với một lộ tŕnh tự do hơn chứ không qua tất cả 88 nơi thánh địa như kỳ trước. 

柳散る急いで宛のない旅へ
Yanagi chiru isoide ate mo nai tabi e 

Khi liễu rụng,
Vội lên đường về nơi chưa định trước.

 

柳散るものの乞食なって歩く
Yanagi chiru mono no kojiki natte aruku 

Khi liễu rụng,
Bước chân ra sống kiếp ăn xin.
 

Trong chuyến đi với tinh thần “vô nhất vật” này, Santôka để lại b́nh bát và cà sa dọc đường cho người khác. Ông ghé qua Azuki no shima và Matsuyama như để nói lời chia tay với Bokusai và Shiki, Nomura Shurindô, những người đi trước trên con đường tự do hóa thơ haiku nhưng nay không c̣n nữa.

http://terebess.hu/haiku/santoka10.jpg

 

Cuối năm Shôwa 14, xong chuyến đi, Santôka về lại Matsuyama, ngụ tại Issôan 一草庵 (Nhất Thảo Am). Am nằm ở phía bắc thành phố, một nơi yên tĩnh gần suối nước nóng Dôgo道後, một trong những khu ôn tuyền tối cổ của Nhật Bản. Khu Dôgo cũng là nơi trú chân một thời của văn hào Natsume Soseki (1867-1916). Santôka sống cuộc đời “nhất dục nhất bôi”, mà thú vui duy nhất là tắm suối và uống rượu. Nơi đây đánh dấu chặng đường cuối cùng của ông:

 

蛙になりきって跳ぶ
Kawazu ni narikitte tobu 

Muốn hóa thành con ếch
Để nhảy phóc một cái.

 

ここに住みたい水を飲んで去る
Koko ni sumitai mizu wo nonde saru. 

Uống miếng nước nơi ḿnh muốn ở lại.
Rồi bỏ đi.
 

Santôka định tuyển 701 bài thơ trong bảy tập thơ của ḿnh (ước lượng có đến 9.000 haiku làm trong 15 năm), gom góp thành một quyển và cho xuất bản ở Tokyo. Tác phẩm đó là tinh hoa thơ một đời ông, nhan đề Sômokutô草木塔 (Tháp thảo mộc). Trong lời tựa, nhà thơ muốn dâng nó lên người mẹ bất hạnh yểu mệnh của ông nhân ngày kỵ lần thứ 49 của bà.

Santoka

“Bồ công anh rụng ră. Nhớ làm sao ngày mẹ ĺa đời”

 

うどん供えて、母よ、わたくしもいただきまする
Udon sonaete / haha yo / watakushi mo itadakimasuru
 

Mẹ ơi, xin cúng bát bánh canh,
Món con cũng đang ăn.

 

タンポポ散るやしきりに思う母の死のこと
Tanpopo chiru ya shikiri ni omou haha no shi no koto
 

Bồ công anh rụng ră,
Nhớ làm sao ngày mẹ ĺa đời!
 

Chính trong Issôan, Santôka v́ chứng trụy tim đă thở hơi thở cuối cùng, hưởng dương

57 năm, đúng như ước nguyện đă sống đời phiêu bạt, cô đơn, ngạo nghễ và chết lẻ loi như con chó, con mèo trong một ngôi nhà chật hẹp, vắng vẻ, đúng như lời ước nguyện.

 Vài nét đặc trưng của haiku tự do

Cô đọng: 

Haiku tự do có ǵ khác với haiku cổ điển nếu không tuân thủ những qui luật của nó? 

Thực ra, khác với haiku cổ điển 17 âm tiết, haiku tự do có đặc điểm là ngắn gọn, nhiều khi cô đọng quá mức để có thể hiểu được dễ dàng:

 

咳をしても一人
Seki wo shite mo hitori = 9 âm tiết
 

Khi đang ho, ta cũng chỉ một ḿnh (thơ Hôsai)

 

音はしぐれか
Oto wa shigure ka = 7 âm tiết  

Tiếng ấy, phải mưa rào? (thơ Santôka)

 

やっと蕗のとう
Yatto fuki no tô = 7 âm tiết  

T́m măi mới thấy đọt fuki (thơ Santôka)

 

寒い雲が急ぐ
Samui kumo ga isogu = 9 âm tiết  

Mây lạnh bay vội vă (thơ Santôka)

 

日が病
Hi e yamu = 4 âm tiết  

Mặt trời đổ bệnh (thơ Ôhashi Kaboku)

http://thegreenleaf.co.uk/hp/santoka/15santokaflower.jpg

“Ngắt cành hoa không tên. Ta đem cúng Phật”

Tự do trong h́nh thức: 

Haiku tự do hầu như không dùng kigo (chữ theo mùa), hầu như không dùng kareji (chữ ngắt quăng) và độ dài của nó thường là ngắn hơn haiku thông thường. Có thể nh́n thấy điều đó qua những ví dụ từ thơ Santôka như dưới đây (số âm tiết ghi bên cạnh câu): 

渚白い脚出し
Nagisa shiroi ashi dashi = 10 âm tiết (3-7) 

Băi biển trắng,
Duỗi dài chân.

 

墓の裏に回る
Haka no ura ni mawaru = 9 âm tiết (6-3) 

Ṿng quanh lối,
Sau lưng nấm mộ.

 

雨萩に降りて流れ
Ame hagi ni orite nagare = 11 âm tiết (2-3-3-3) 

Mưa,
Hoa hagi rụng, trôi theo.

 

雨の船岸に寄りくる
Ame no funakishi ni yori kuru = 12 âm tiết (3- 7-2)
 

Mưa,
Tấp về bờ đá neo thuyền.

 

水の隔てておなごやの火がまたたきだした
Mizu no hedatete onagoya no hi ga matatakidashita = 21 âm tiết (7-7-7)
 

Bên kia bờ nước,
Xóm chị em ta,
Đă nhấp nháy ánh đèn.

 

Giàu nhạc điệu: 

Chưa bao giờ chúng ta thấy có những vần haiku đầy nhạc điệu như trong thơ Santôka, và chúng đủ gây khó khăn cho người phiên dịch. Ví dụ hiệu quả thanh âm trong hai bài thơ sau: 

死を日しと唐辛子真っ赤な
Shi
wo hi shi to tôgarashi makka na  

Khi ngày chết gần kề,
Màu ớt đỏ thắm dần.

 

風の中からかあかあ烏
Ka
ze no naka kara kaa kaa karasu 

Nghe trong gió,
Tiếng quạ kêu quà quạ.

 

桜桜咲く桜散る桜
Saku
ra sakura saku sakura chiru sakura  

Anh đào,
Hoa anh đào nở
Hoa anh đào rụng.
Cũng anh đào.

 

雨降る故郷は裸足で歩く
Ame furu furusato wa hadashi de aruku 

Mưa rơi rơi
Trên quê hương, tôi bước, chân trần.

 

Mới mẻ trong ngôn ngữ:  

Trăng hoa tuyết nguyệt của thời trước nhường chỗ cho cỏ dại, gốc cây đổ, ḥn đá, trang quảng cáo, răng, trụ điện tín, chuyến tàu tốc hành, nhà bưu điện và cả những khái niệm trừu tượng như ... sự ĺ lợm, mâu thuẫn, cái ta cần được khẳng định.

 

春が来たと新聞広告
Haru ga kita to shinbun kôkoku (Hôsai) 

Trang quảng cáo trên báo,
Cho hay xuân đă về.

 

電線に鳥が並んですっかり春
Densen ni tori ga narande sukkari haru 

Đàn chim dàn hàng trên giây điện,
Đất trời thực sự vào xuân

 

蜘蛛は網張る私は私を肯定する
Kumo wa ami haru watashi wa watashi wo
kôtei suru 

Con nhện giăng tơ làm mạng,
Ta th́ khẳng định cái ta.

 

冬がまた来て歯が抜けることも
Fuyu ga mata kite ha ga nukeru koto mo 

Một mùa đông lại đến,
Răng
cũng sẽ ra đi.

 

急行は停まりません向日葵の花がある駅
Kyuukô
wa tomarimasen hi mawari no hana ga aru eki 

Nơi nhà ga có hoa hướng dương,
Tàu tốc hành
không dừng lại.

 

やっとゆう便が来てそれから熟柿が落ちるだけ
Yatto yubin ga kite
Sorekara jukushi ga ochiru dake
 

Đợi măi bưu điện mới phát thư,
Từ đó chỉ thấy rơi,
Những quả hồng chín nhũn.

 

ぬいてもぬいても草の執着をぬく
Nuite mo nuite mo kusa no shuujaku wo nuku
 

Gỡ tới gỡ lui,
Tôi cố gỡ những bông cỏ ĺ lợm bám.

 

どうすることもない矛盾を風吹く
Dô suru koto mo nai mujun wo kaze fuku 

Mâu thuẫn không sao giải quyết,
Để cho làn gió cuốn đi.

 

Hồn haiku: 

Nếu như thế th́ haiku tự do có khác ǵ với thơ tự do? Thực ra, cái khác đó nằm ở tinh thần haiku. Haiku tự do trong trường hợp của Santôka chẳng hạn, không tô chuốt mà đượm màu triết lư vô thường (mujô), nỗi buồn cô quạnh (sabi), ḥa đồng với thiên nhiên và có cái nh́n đơn sơ nhẹ nhàng về cuộc đời (karumi) như những nhà thơ haiku cổ điển. Phần nhiều nó đă được làm ra trong những chuyến đi: 

秋風の腹立てている蟷螂で
Aki kaze no, hara tatete iru kamakiri
[7] de 

Giữa làn gió mùa thu
Chú bọ ngựa đang cáu.

 

酔い覚めの星が瞬いている
Yoizame no hoshi ga matataite iru 

Ta vừa tỉnh cơn say,
Sao trời lại lấp lánh.

 

向日葵や日盛りの機械休ませてある
Himawari ya hizakari no kikai yasumasete ru 

Máy quay của hướng dương,
Được nghỉ ngơi khi mặt trời đứng bóng.

 

山の一日蟻も歩いている
Yama no ichinichi ari mo aruite iru 

Suốt ngày đi trong núi,
Đàn kiến cũng ḅ theo.

 

皆はたっしゃでかぼちゃの花も
Minna wa tassha de. Kabocha no hana mo 

Tất cả đều mạnh khỏe.
Bông bí rợ cũng thế.

 

日が山に山から月が柿の実たわわ
Hi ga yama ni yama kara tsuki ga kaki no mi tawawa 

Mặt trời gác núi, từ núi trăng lên,
Và cây hồng trĩu quả.

 

蟻の行列を数えたりして待つ身は暑い
Ari no gyôretsu wo kazoetarishite matsu mi wa atsui 

Những lúc đếm đàn kiến diễn hành,
Ta đợi măi trong cái nóng.

 

いつも一人で赤とんぼ
Itsumo hitori de akatonbo 

Con chuồn chuồn đỏ,
Bao giờ bay cũng lẻ.

 

雪の明るさが家いっぱいの静けさ
Yuki no akarusa ga ie ippai no shizukesa 

Màu trắng lóa của tuyết
Làm ngôi nhà ngập đầy yên lặng.

 

蛙おさなく青い葉のまんなかに
Kawazu osanaku aoi ha no manaka ni 

Cái con ếch hẳn trẻ,
Ngồi ch́nh ́nh giữa lá xanh.

 

ふくろはふくろで私は私で眠れない
Fukuro wa fukuro de watashi wa watashi de nemurenai 

Con cú thức, có lư do để thức
Ta không ngủ v́ có lư do không ngủ được

 

落ち着いて柿も熟れてくる
Ochitsuite kaki mo urete kuru 

Ḷng ta lắng dịu lại,
Những quả hồng cũng vừa chín tới.

 

墓が並んでそこまで波が押し寄せて
Haka ga narande soko made nami ga oshiyosete 

Sóng biển kéo vào tận,
Khu mộ xếp thành hàng.

 

雲急いでよい月にする
Kumo isoide yoi tsuki ni suru 

Mây bay gấp rút,
Để giúp trăng trong.

 

月が昇って何を待つでもなく
Tsuki ga nobotte nani wo matsu de mo naku 

Vầng trăng leo lên trời,
Dù chẳng đợi ai.

 

しみじみに静かな机の塵
Shimijini shizukana tsukue no chiri 

Những hạt bụi trên bàn,
Nằm yên trong lặng lẽ.

 

我今ここに海の青さの限りなし
Ware ima koko ni umi no aosa no kagirinashi 

Nơi này tôi đang đứng,
Biển xanh đến vô biên.

 

日盛り泣いても笑っても一人
Hizakari naite mo waratte mo hitori 

Giữa ngày trời đứng bóng
Khóc cười cũng một ḿnh

 

心落ち着けば水の音
Kokoro ochitsukeba mizu no oto 

Tiếng nước chảy,
Nghe ḷng ḿnh lắng lại.

 

ちんぽこもおそそもあついて溢れる湯
Chinpoko mo ososo mo atsuite afureruyu 

Những“thằng cu” những “cái bướm”,
Đều nóng lên trong bồn tắm nước tràn.

 

今日のお汁は水ばかり
Kyô no oshiiru wa mizu bakari 

Bát canh hôm nay,
Lỏng bỏng toàn nước.

 

生きていることがうれしい水を汲む
Ikite iru koto ga ureshii mizu wo kumu 

Ḷng đang vui v́ được sống
Bèn đi múc nước.

 

嵐の後静けさ蠅で
Arashi no ato shizukesa hae de 

Sau khi băo đi qua,
Lũ ruồi thôi ồn ào.

.

崩れる家のひそかに崩れひるがし
Kuzureru ie no hisoka ni kuzureru higurashi 

Bên ngôi nhà sập nát,
Tiếng ve chiều khoắc khoải.

Santoka

“Ta vừa nói dối xong. Con trăng lên đơn chiếc”.

 

崖が崩れてそこから蔓草
Gake ga kuzurete soko kara tsukukusa 

Từ chỗ ghềnh đá sụp
Giây leo lại ḅ ra.

 

朝焼け焼け食べるものがない
Asayake yuuake taberu mono ga nai
 

Thức ăn nào có chi
Ngoài nắng sớm ráng chiều

 

何が何やら皆咲いている
Nani ga nani yara minna saite iru 

Không rơ là loài ǵ,
Thảy thảy đều đua nở.

 

山のあなたへお日さま見送りご飯にする
Yama no anata e ohisama miokuri gohan ni suru
 

Tiễn mặt trời về bên kia núi,
Xong mới thổi cơm chiều.

 

人声の近づいてくる木の芽あかるく
Hitogoe no chikadzuite kuru ki no me akaruku
 

Nghe tiếng người đến gần,
Mầm cây như rạng rỡ.

 

しとどに濡れてこれは道標の石
Shitodo ni nurete kore wa michishirube no ishi 

Dưới mưa, thân ướt sủng,
Mốc đá đứng chỉ đường.

 

水音と一緒に里へ下りて来た

Mizu oto to issho ni
Sato e kudarite kita 

Đi theo tiếng nước chảy,
Ta lần xuống tới làng.

 

頂いて足りて一人の箸を置く
Itadaite tarite hitori no hashi wo oku 

Cảm ơn, đủ no ḷng,
Một ḿnh, ta gác đũa.

 

臍が汗溜めている
Heso ga ase tamete iru 

Mồ hôi đọng lại,
Trong lỗ rốn tôi.

 

夕立晴れるより山蟹の出てきて遊ぶ
Yuudachi hareru yori yamanagi no dete kite asobu 

Mưa bóng mây buổi chiều vừa tạnh,
Đàn cua núi ḅ ra ngoài chơi.

 

Toàn tập của Santôka gồm thơ và nhật kư đă được biên tập thành 7 quyển nhan đề Teihon Taneda Santôka Zenshuu do nhà xuất bản Shun.yudô vào năm 1972. Nhiều bài haiku đă được dịch ra Anh ngữ cũng như nhiều thứ tiếng khác. Dịch giả sang Anh ngữ có James Abrams (163 bài), Reginald Horace Blyth (35 bài), James Greene và Miura Hisashi (172 bài), Paul Watsky và Emiko Miyashita (90 bài) ... nhưng nhiều nhất có lẽ là Burton Watson ( 245 bài) và John Stevens (372 bài). Điều đó chứng tỏ phạm vi ảnh hưởng của Santôka nay đă lan rộng và vượt hẳn ra ngoài quần đảo. 

Thơ Santôka dễ bắt chước v́ ngôn ngữ b́nh dị và chủ đề thường có thể bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày. Thế mà ít thấy người nào mô phỏng ông và mô phỏng được ông. Cho dù có mô phỏng được đi nữa, không ai đủ can đảm đi ăn xin để cho những bài thơ có dịp rơi vào trong b́nh bát. 

Những chuyến đi dài về miền Nam trong 15 năm trời làm cho Santôka trở thành một nhà thơ lữ hành không kém Bashô nếu không nói, trên thực tế, ông có thể đi nhiều cây số hơn cả người tiền bối nổi tiếng. Và cũng như Bashô, ông chỉ ngừng lại khi t́m ra chỗ chết: 

こんなに弱ってしまった落葉踏むさえ
Konnani mo yawatte shimatta ochiba fumu sae 

Yếu đến thế này sao,
Dù chân chỉ dẫm lên lá rụng.

 

また見ることもない山が遠ざかる
Mata miru koto mo nai yama ga tôzakaru 

Ngọn núi ḿnh không bao giờ thấy lại,
Đang khuất dần
.

 

この旅果てのない旅もつくつくぼうし
Kono tabi hate mo nai tabi no tsukutsukubôshi 

Cuộc hành tŕnh này,
Là chuyến đi không đích đến,
Của con ve mùa thu.

 

降ったり照ったり死場所をさがす
Futtari tettari shinibasho wo sagasu 

Mưa rồi lại nắng,
Tôi đi t́m một chỗ để chết.

 

死の前に涼しい風
Shi no mae ni suzushii kaze 

Trước khi chết,
Một luồng gió mát.

 

草の青さよ裸足で戻る
Kusa no aosa yo
Hadashi de modoru 

Cỏ sao xanh quá!
Chân đất, tôi quay về.

 

焼いてしまえばこれだけの灰を風吹く
Yaite shimaeba kore dake no hai wo kaze fuku 

Khi cháy hết, sẽ được bấy nhiêu tro,
Cho gió thổi.

 

Tôkyô ngày 30/12/2014

Nguyễn Nam Trân

 

Tư Liệu Tham Khảo 

1-     Motoda Retsu, Hôtai to Santoka, 1996, (Ozaki Hôtai và Taneda Santoka), Tôseisha, Tokyo.

2-     Hakudô Inoue, Kazuya Takaoka, Emiko Miyashita, Susumu Nakanishi, Kôzaburô Arashiyama, Santôka, bản dịch sang Anh ngữ và giới thiệu Santôka.

3-     Yokoyama Ryôichi, 2003, Santôka to Shikoku henro (Santôka và những chặng lữ hành trên đảo Shikoku),Heibonsha, Tokyo.

4-     Ban biên tập Shinchôsha, (Murakami Mamoru chủ biên), 1993, Taneda Santôka Nihonbungaku Arubamu (Tập ảnh các tác gia, quyển nói về Taneda Santoka, Shinchôsha, Tokyo.

5-     Tập tư liệu trên mạng về Santôka của Cung Văn Hóa quận Ogôri tỉnh Yamaguchi.

6-     Tập tư liệu trên mạng bằng Pháp ngữ về Santôka của Nhóm Nekojita.  

7-     Tập tư liệu trên mạng về Santôka của Nhóm TAO (Terebess Asia Online)

8-     Tư liệu mạng về Santôka của Wikipedia.

9-     Tập tư liệu mạng Terebess Asia Online (phần Santôka).

10- Tập tư liệu mạng về Haiga (tranh minh họa Haiku, phần Santôka).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 


[1] Murakami Mamoru, lời b́nh , trong Taneda Santôka, sđd, xem thư mục.

[2] Kyoshi lo ngại haiku quá tự do sẽ đi đến chỗ buông tuồng, cẩu thả và khi được đại chúng hóa nó sẽ mất đi tính nghệ thuật..

[3] Ư nói ngọn tháp dựng lên để cúng kiến linh hồn cây cỏ đă bị đốn chặt đi (theo tư tưởng vạn vật đều có linh hồn).

 

[4] Seisensui đă đề nghị đổi Teppatsu (Tetsubachi) thành Hachi no ko鉢の子, một từ đồng nghĩa, cho có chất thơ hơn là hai từ Hán.

[5] Dịch theo lối Blyth (Buoyantly we go. Like the wind. Tasting water). Có một cách dịch khác (Wobbly on my feet. The good taste of water) của Burton Watson, trong đó, hyôhyô hiểu là “chồn chân, mệt mỏi” .

[6] Có thể hiểu là Santôka chỉ có mỗi một bộ quần áo. Khi giặt áo bên bờ suối, ông phải ở trần để chờ đến khi áo được gió hong khô. Như thế, áo ông mặc có cả hương hoa đồng cỏ nội.

[7] bọ ngựa, ngựa trời (praying mantis)

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com