Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

Bạn ta ngày biệt mái trường
Tung bay bốn hướng t́m đường công danh 
Tám năm trôi, chẳng ai thành. 
Tomo wa mina 
Aruhi shihô ni chiriyukinu
Sono nochi yatose
Naage shimo nashi

( thơ Ishikawa Takuboku, 1908

Chương 27 :

Tanka và hiện đại.

Thơ Waka giữa ḷng thế kỷ 20

Nguyễn Nam Trân

 

Đây là bài viết thứ tư về thơ waka, tiếp theo Man.yô-shuu và ca dao cổ đại (bài 1), Kokin waka-shu, tập thơ xác định vị trí thơ quốc âm (bài 2) và Shin Kokin waka-shuu, tập thơ đánh dấu thời hoàng kim của thơ waka Nhật Bản (bài 3).

TIẾT I: WAKA CUỐI THỜI EDO:

A) Waka và Quốc Học (Waka & Kokugaku):

Khuynh hướng của thi đàn waka thời trung cận đại là tiếp nối truyền thống thi ca thời trung cổ nghĩa là lấy thơ của tầng lớp quí tộc, công khanh làm trung tâm. Nhà thơ và tướng lănh thời Sengoku (Chiến Quốc, 1467-1568) là Hosokawa Yuusai[1] (Tế Xuyên, U Trai, 1534-1610) sau khi thụ giáo bí truyền của thơ Kokin từ Sanjônishi Saneki (Tam Điều Tây, Thực Chi) đă trở thành người dẫn đường cho thơ waka lúc ấy và đào tạo được rất nhiều môn đệ như Nakanoin Michikatsu (Trung Viện, Thông Thắng, 1556-1610), Karasumaru Mitsuhiro (Ô Hoàn, Quang Quảng, 1579-1638), Matsunaga Teitoku (Tùng Vĩnh, Trinh Đức, 1571-1653). Riêng Teitoku là người mà chúng ta đă đánh giá được tầm quan trọng trong lịch sử thơ haiku. C̣n thi nhân được xem có ca phong phóng túng khác thường của thời này là Kinoshita Chôshôshi [2](Mộc Hạ, Trường Tiêu Tử, 1569-1649). Thơ waka của ông đặc biệt mới mẽ và không chịu sự ràng buộc câu thúc.

B) Cuộc cải cách waka thời Genroku và phong trào nghiên cứu tác phẩm cổ điển:

Đời Genroku (1688-1704), trong đám các thi nhân waka xuất thân kém cỏi không quan tước, địa vị (gọi là giới jige = địa hạ) bộc lộ khuynh hướng muốn thoát khỏi ṿng ảnh hưởng của quyền lực waka truyền thống[3]. Đó là nguồn gốc của cuộc vận động đổi mới thơ waka. Cùng lúc, thời ấy lại có phong trào nghiên cứu lại các tác phẩm cổ điển với cái nh́n tự do, tra vấn và thực chứng. Một vũ sĩ đang sống đời không chủ ở Edo tên gọi Toda Mosui [4](Hộ Điền, Mậu Thụy, 1629-1708) đă viết tập b́nh luận thơ “Dưới gốc lê” (Nashinomoto-shuu = Lê bản tập, 1700). Bằng nhiều dẫn chứng, ông đă tŕnh bày những giới hạn của waka truyền thống kiểu bí truyền thầy hé lộ cho tṛ và đả kích mạnh mẽ cái gọi là “phép làm thơ nhà quan” (dôjôkagaku = đường thượng ca học)[5]. Lại thêm Shimokôbe Chôryuu[6] (Hạ Hà Biên, Trường Lưu, 1627-1686) viết “Ư kiến mọn về Man.yô-shuu” (Man.yô Kanken = Vạn diệp quản Kiến) để đánh giá Man.yôshuu, và như thế, đă mở đường cho một loạt những nghiên cứu tự do về các tác phẩm cổ điển.

Keichuu (Khế Trùng , 1640-1701):

Một người bạn thân của Chôryuu tức nhà sư Keichuu (Khế Trùng) tiếp tục công tŕnh nghiên cứu của ông. Keichuu xuất gia năm 11 tuổi, làm tăng phái Chân Ngôn nhưng vốn con nhà vũ sĩ. Ông ba lần rời nhà chùa hoặc để du hành khắp nước Nhật (1664-1667), hoặc để nghiên cứu kinh điển của Nhật Bản, Trung Quốc và tiếng Sankrit (1670-79) hay để viết sách (1690). Ông đă hoàn thành công tŕnh tên gọi “Ghi chép thay về Man.yôshuu” (Man.yô daishôki = Vạn Diệp Đại Tượng Kư) theo đó, ông cho ḿnh chỉ làm ông việc “viết thay cho một học giả lớn” (đại tượng) là Chôryuu hay cho một người đỡ đầu lớn là Tokugawa Mitsukuni, phiên chủ phiên Mito. Với tác phẩm này vốn là một công tŕnh nghiên cứu đối chiếu kiên nhẫn từ các thủ bản khác nhau, Keichuu với vốn học uyên bác, đă đưa ra một phương pháp luận cho khoa văn bản học thực chứng ở Nhật Bản và xây đắp nền tảng cho một môn học gọi là kokugaku (quốc học) tức môn học nghiên cứu về văn hoá nước nhà. Keichuu c̣n để lại ” Biên chép về những cái đúng (chính) sai (lạm) trong cách dùng chữ Nhật” Waji shôranshô (Hoà tự chính lạm Ssao) bàn về lịch sử diễn tiến của cách dùng văn tự kana ở Nhật. Đây cũng là một tác phẩm đáng ghi nhớ. Về già, Keichuu ẩn cư trong am Enshuu (Viên Châu) ở Kôzu gần Ôsaka và chú tâm vào việc nghiên cứu. Ông c̣n để lại “ Ngâm nga” ( Mangin-shuu = Mạn ngâm tập).

C) Ozawa Roan (Tiểu Trạch, Lô Am, 1723-1801) ) và Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1843):

Vào hậu bán của thời cận đại, ngay ở Kyôto là nơi waka truyền thống vững mạnh, đă có mầm mống của cuộc đổi mới. Ozawa Roan[7] (Tiểu Trạch, Lô Am) đă dựa trên Kokin-shuu để đề xướng loại “thơ với lời b́nh thường” (tadagoto uta), nghĩa là những bài ca vịnh giản dị và mới mẽ. Sau đó có Kawaga Kageki [8](Hương Xuyên, Cảnh Thụ) chủ trương thuyết “nhạc điệu“ (shirabe no setsu), cho rằng làm thơ phải ḥa hợp với nhịp điệu tự nhiên của đất trời. Đối với ông, thi ca là một cái ǵ tự phát, không nên dựa quá vào tri thức. Để diễn đạt, ông chủ trương phải dùng ngôn ngữ đương thời. Trong ư nghĩa đó, ông đứng trên lập trường chống đối thi phái cổ điển ở Kyôto cũng như ở Edo v́ họ muốn trở lại thi phong thời Heian. Ông đă viết nhiều văn bút chiến về vấn đề này. Ḷ Keienha (Quế Viên Phái) của Kageki đào tạo được những nhân vật như Kinoshita Takabumi (Mộc Hạ, Hạnh Văn, 1779-1821), Hatta Tomonori (Bát Điền, Tri Kỷ, 1799-1873), sau đă trở thành một thế lực lớn mạnh của buổi giao thời từ cuối Mạc Phủ sang đầu Duy Tân.

D) Ryôkan (Lương Khoan, 1757-1831) và các nhà thơ waka cuối thời Mạc Phủ:

Tăng Ryôkan và lũ trẻ con

Ngoài trường phái Kenmon (Huyện Môn)[9] và Keien (Quế Viên), hai ḷ hun đúc nhân tài cho thơ waka cuối đời mạc phủ Tokugawa, khắp nơi trong nước cũng hăy c̣n những nhà thơ lỗi lạc không thuộc vào hai nhóm nầy. Trước hết phải kể tới thi tăng Ryôkan (Lương Khoan với phong cách tự nhiên, thành thực, rồi đến nhà thơ người Echizen (tỉnh Fukui bây giờ) tên gọi Tachibana Akemi (Quất, Thự Mỹ, 1812-68) hay ca ngợi cuộc sống thanh bần đạm bạc, nhà thơ đất Bizen (tỉnh Okayama) tên Hiraga Motoyoshi (B́nh Hạ, Nguyên Nghĩa, 1800-65) với những bài thơ t́nh phóng túng buông thả. Có thi nhân đất Chikuzen (tỉnh Fukuoka) là Ôkuma Kotomichi (Đại Ôi, Ngôn Đạo, 1798-1868), người khai triển đề tài thơ của ḿnh trong một phạm vi rất rộng răi, vịnh tới bất cứ khía cạnh nào về sinh hoạt của thời ấy.

Ryôkan, biệt hiệu của Yamamoto Eizô, xuất thân gia đ́nh hương chủ ở Izumozaki (tỉnh Shimane bây giờ). Đi tu từ ngày c̣n trẻ và lên đường du hành khắp nơi. Sau về gần quê nhà cất am Gogô (Ngũ Hợp Am) trên núi Kugami sống đời nhàn tĩnh. Gọi là am “Ngũ Hợp” hay “Năm Đấu Gạo” v́ đó là số thóc ông được chùa bên cạnh chia cho để sinh sống. Ông giỏi cả các lĩnh vực thi, thư, họa. C̣n Tachibana Akemi có để lại tập thơ Shinobu no ya ka-shuu (Chí Nùng Phu Năi Xá ca tập) ghi chép thơ đủ mọi thể tài bằng ngôn ngữ thường ngày và 512 bài trong “Vui một ḿnh” (Dokurakugin = Độc Lạc Ngâm), tất cả đều bắt đầu bằng câu “Vui là khi …” (Tanoshimi wa…

Ryôkan là một nhân vật cực kỳ thú vị. Ông nuôi rận. Tục truyền, khi trời nắng, ông cởi áo bắt rận cho chúng tắm nắng. Xong, lại trả về trong áo như cũ cho chúng hút máu ḿnh tiếp. Có lúc, ông đốt cả mảng mái nhà để lấy chỗ cho một cành trúc đâm ra được ngoài trời mà khỏi bị vướng. Ông c̣n cởi cả quần áo trên người tặng luôn kẻ trộm. Ông hoan hỉ nhận cái hiệu Đại Ngu thiên hạ gán cho. Cuối đời (1827), lúc đă trên bảy mươi, ông t́m được tâm hồn tri kỷ trong sáng nơi học tṛ ông là ni sư Teishin (Trinh Tâm), một người đàn bà mới 29 tuổi. Đó là điều măn nguyện nhất trong đời ông. Bà ta ở bên cạnh ông khi ông chết (6 /1/1831) vào năm 74 tuổi.[10]

Sau đây xin tŕnh bày chùm thơ Haiku đầy thiền vị và thành thực của Ryôkan. Nhiều khi nó quá táo bạo nhưng không hề thô tục chút nào.

Để nhại thơ Bashô, ông viết:

Ao mới ếch nhảy xuống,
Không cả tiếng nước xao.

(Bài Araike ya)

Khi với tay hái quả thị hay trèo lên sửa mái nhà, ông cảm thấy se lạnh giữa hai chân. Hai ḥn vàng (kintama) có thể có nghĩa là hai quả thị nhưng cũng là chỗ trong thân thể mà ông nhạy cảm nhất.

Trèo lên sửa mái nhà,
Hai ḥn se gió thu.

(Bài Yanabiki no)

Ngoài ra, ông có những bài thơ gần gũi thiên nhiên:

Thuyền chở lúa trôi thẳng,
Về phía mảnh trăng liềm.

(Bài Inabune ya)

Chuyện cũ chùa Suma,
Cứ hỏi cội đào già.

(Bài Suma tera no

Gió hè điểm bát canh,
Dăm cánh mẫu đơn trắng.

(Bài Seiran)

Giúp ta nhen đống lửa,
Gió gửi lá thu vàng.

(Bài Taorure ba)

Ông có phong thái an nhiên tự tại:

Có người đến. Làm ta,
Phải ngả mũ l
ần nữa.

(Bài Hito no kite)

Trộm chôm hết chỉ c̣n,
Vầng trăng cài song cửa.

(Bài Nusubito ni)

Mùa thu đi mất rồi,
Buồn nầy cùng ai tỏ ?

(Bài Yuku aki no)

Bờ Suma, nằm ngủ,
Sóng làm gối. Sướng sao!

(Bài Yoshi ya nen)

Ryôkan c̣n là một nhà thư đạo. Ông đă nghiên cứu bút pháp Trung Quốc của Vương Hy Chi (321-379), của tăng Hoài Tố (737-799 ?) và nhà thư pháp học Nhật Bản Ono no Michikaze (Tiểu Dă, Đạo Phong, 894-96) thời ở am Gogô. Với những nét gọn, nhẹ và thoáng, cũng như khi làm thơ, ông đi ngược lại phép viết đương thời. Thơ Ryôkan chỉ ra mắt độc giả sau khi ông mất. Trước tiên là tập “ Sương trên hoa sen ” (Hachinosu no Tsuyu, 1835). Sau đó, măi đến năm 1918 mới có “ Tập thơ tăng Lương Khoan ” (Ryôkan oshô shika-shuu) và tập truyện kư về cuộc đời ông, nhan đề “ Ryôkan, kẻ đại ngu ” (Taigu Ryôkan) do nhà nghiên cứu Sôma Gyofu (Tương Mă, Ngự Phong, 1883-1950) cho in.

 

Ôtagaki Rengetsu ((Đại Điền Viên, Liên Nguyệt, 1791-1875) :

Ngoài các nhân vật nói trên c̣n phải kể đến nữ thi nhân Ôtagaki Rengetsu, sinh ra ở thôn Nishi-Kamo, gần Kyôto. Bà lớn lên trong một gia đ́nh vũ sĩ, giữ được truyền thống waka cổ điển, lại biết múa và sử dụng binh khí. Định mệnh khắt khe cướp đi chồng, hai con gái, một con trai. Sau khi chồng chết, bà xuất gia tu Phật, vứt hết thư, họa, gốm, sứ. Bà có những bài waka viết với phong vị thanh khiết. C̣n để lại “ Thơ Waka của Rengetsu và Shikibu” (Rengetsu Shikibu waka-shuu,1868) viết chung với Takabatake Shikibu và tập “ Thu hoạch của người vớt rong biển ” (Ama no karumo,1871).

Với sự phát triển rầm rộ của haiku, thơ waka quăng cuối đời Edo  như bị đ́nh trệ nếu không nói là lâm nguy. Tuy nhiên Rengetsu đă tỏ ra hết sức hăng hái tranh đấu cho thể thơ này. Bà theo sự chỉ bảo của Ueda Akinari (1734-1809) và suốt đời đeo đuổi tôn chỉ mà Ozawa Roan (1723-1809) đă đề ra, nghĩa là làm thơ phải b́nh dị, thành thực (tadakoto-uta) chứ không theo lư luận chính qui của Kamo no Mabuchi và những người thuộc trường phái (Kenmon) của ông.

TIẾT II: CA DAO (với nghĩa CA KHÚC) CẬN ĐẠI

Khi nói về waka thời Edo, không thể nào bỏ qua việc mở một dấu ngoặc để nhắc nhở về kayô (ca dao) cận đại v́ tính tương cận của chúng.

Vào đầu thời cận đại, trong dân chúng có lưu hành một loại bài hát ngắn truyền từ đời trước tên gọi Ryuutatsu Ko-uta[11] (Long Đạt Tiểu Ca), khi hát có đệm bằng âm nhạc của một loại ống sáo lớn tên gọi Hitoyogiri (Nhất tiết thiết). Tuy nhiên về sau, loại bài hát ngắn nầy được đệm bằng đàn ba giây Shamisen và được phát triển rộng răi nhờ có mối liên hệ mật thiết với các xóm ăn chơi hay các rạp Jôruri và Kabuki.

Như đă tŕnh bày, kayô khác waka ở chỗ nó được dùng để hát, tự do phóng túng hơn waka trong h́nh thức, nhưng vẫn không phải là văn xuôi. Nó có từ xa xưa. Người ta đă thu lượm được cỡ 200 bài từ Kojiki Nihon shoki rồi. Thời Trung Cổ đă có các h́nh thức kagura-uta, saibara, azuma-uta rồi đến imayô,. Có 600 bài kayô gồm cả imayô tức kayô xưa làm theo lối “bây giờ” (ima) được thái thượng hoàng Go-shirakawa. cho thu thập trong Ryôjin Hishô (Lương Trần Bí Sao). Ngoài các kayô có tính cách tôn giáo, phần lớn nó nói lên t́nh tự dân gian và t́nh luyến ái, mộc mạc (nhiều khi tối nghĩa), sống động chứ không văn vẻ và g̣ bó như waka cung đ́nh.

Để hiểu sự phát triển của loại h́nh nầy vào thời cận đại, ta có thể bắt đầu với Matsu no ha[12] (Tùng diệp) “Lá tùng”, tập bài hát thu thập các bài ca lưu hành ở các xóm ăn chơi vùng kinh kỳ vào đầu thời cận đại. Đến giữa thời cận đại th́ kayô đă nhường bước cho loại ca khúc mang tên Bungo-bushi (Phong Hậu[13] tiết) và những phân nhánh của khúc nầy như Tokiwazu-bushi (Thường Bàn Tân tiết), Kiyomoto-bushi (Thanh Nguyên tiết). Những khúc này hưng thịnh được một thời bởi v́ qua mối giao lưu thường xuyên với âm nhạc các xóm ăn chơi và kịch trường, nó đẻ ra vô số khúc hát khác được quần chúng b́nh dân ưa thích. Thế rồi, cuối đời cận đại, có thêm loại Itakobushi (Triều Lai tiết), dân dao địa phương, ăn lấn ra thành thị và sau đó phổ biến ra khắp nước.

Matsu no ha gồm những bài của tác giả vô danh, chủ yếu nói đến cuộc sống hưởng lạc như thấy trong Kangin-shuu (Nhàn ngâm tập, 1518) của thời Muromachi trước đó nhưng với bối cảnh bây giờ là các xóm b́nh khang (kuruwa) mà nội dung của nó cũng sâu lắng hơn v́ đượm nỗi buồn của các cô gái lầu xanh than thở cho cuộc đời ngắn ngũi và cảnh phong lưu không bền lâu măi măi.Có những câu:

Lẳng lơ trai gái dẫu là,
Qua một kiếp ngắn rồi ta đều về.
Đến đây cạn chén quên đi,
Ngày mai ai biết chuyện g
́ xảy cho 

(Matsu no ha, Date mo uwaki mo, quyển 2, bài 5)

Sắc hương nào tiếc chi ai,
Hoa b́m sáng thắm trưa phai nắng trời.
Giận người, người giận, xin thôi,
Ḱa sương đồng cỏ khô rồi, thấy đâu.

(Matsu no ha, Yoshiyawazakure, quyển 3, bài 7)

Có những bài thơ viết về cảnh sinh hoạt trong xóm lầu xanh với nhận xét tâm lư nam nữ rất tinh tế:

V́ chàng, mái tóc xổ tung,
V́ chàng em lỏng mấy ṿng giải lưng,
Ép em yêu đến bao lần.

Đêm mấy giờ, trễ phải về,
Tiếng chàng giục gấp, ghét ghê cái giờ!

Thời Tokugawa bắt đầu bằng sự phân ly giữa hai giai cấp thống trị và bị trị, cũng là lúc có sự phân ly giữa bổn phận (giri) và t́nh cảm (ninjô), giữa bề ngoài (omote) cứng nhắc và bên trong (ura) lỏng lẻo. Đến đời Genroku (1688-1704), xu hướng nầy sẽ sáng tỏ ra và sẽ đạt đến đỉnh cao để h́nh thành văn hóa Genroku xán lạn.

Xin đóng dấu ngoặc về kayô ở đây để trở lại với sự phát triển của waka về hướng tanka, h́nh thức ngắn và giản dị nhất của nó.

TIẾT III: TANKA THỜI MEIJI:

a) Tanka cải cách:

Đầu đời Meiji, khi thơ chữ Hán trên đường tàn lụi th́ thơ mới đă được du nhập từ phương Tây vào đất Nhật. Haiku vẫn c̣n đó nhưng cũng đang chờ đón những biến chuyển lớn.

Song song cạnh thơ mới và haiku tanka (xin giới hạn wakatanka tanka tức h́nh thức waka mang tên đoản ca vẫn được phổ biến vào thời hiện đại trong khi h́nh thức waka mang tên chôka (trường ca) đă biến mất).Thơ tanka cổ điển của hai phái Dôjô[14] (Đường thượng phái) và Keien [15](Quế Viên phái) hăy c̣n ngự trị trên thi đàn cho đến khoảng năm Meiji thứ 30 (1897). Hai trường thơ này dựa trên sách gối đầu giường của họ là Kokin waka-shuu (Cổ kim hoà ca tập, ra đời khoảng 905 hay 914), lấy sự phong nhă làm điều kiện tiên quyết chứ không chú trọng tới cá tính của người làm thơ.

Ochiai Naobumi (Lạc Hợp, Trực Văn, 1861-1903):

Từ ḍng thơ tanka cổ điển này bỗng nẩy ra một thi nhân gây được sự chú ư hơn cả là Ochiai Naobumi. Lư do là năm 1893, ông đă thành lập tổ chức gọi là Asaka-sha (Thiển Hương Xă), nơi mà mỗi thành viên đều có cơ hội sáng tác tanka (thay v́ chỉ làm khán thính giả). Môn hạ của Naobumi có Yosano Tekkan (Dữ Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935) và vợ ông ta là Akiko (Tinh Tử,1878-1942). Hai người này đă cộng tác với tạp chí thơ Myôjô “Sao Mai” và phát triển được phong cách lăng mạn của tanka, qui tụ được nhiều người đồng điệu.

Naobumi người phiên Sendai, thưở nhỏ theo học quốc học và Thần Đạo, sau đó đă lên Tôkyô vào năm 1889 và nhập nhóm Shinseisha (SSS hay Tiếng Nói Mới), một tổ chức gây dựng bởi Mori Ôgai. Ông có dịch một số thơ cho tập Omakage “Vang Bóng” (1889). Năm 1893, cùng người em là Ayukai Kaien và các bạn trong đó có Tekkan, qua việc điều hành hội Ayaka-sha (Thiển Hương Xă), có mục đích cải cách tanka. Ông cũng hợp tác với Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902) và Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963) để làm thơ mới nhưng không mấy thành công.

Việc cải cách cũng chỉ thực hiện được nửa vời v́ dù sao, ông vẫn là người của cổ học, không thoát ra nổi ảnh hưởng của phái Keien. Hơn thế, tài thơ của ông cũng có giới hạn. Một bài tanka ông làm năm 1892 vẫn c̣n rất sáo rỗng:

Mặc áo giáp, lại mang bào.

Lưng đeo trường kiếm, ngắm đào trên non.

(Bài Hiodoshi no, thơ Ochiai Naobumi)

Khác với tanka phái Keien (Quế Viên), bài thơ này có vẽ hùng tráng mạnh mẽ nhưng nó không có ǵ gọi là mới mẽ v́ chỉ lập lại một h́nh ảnh rập khuôn của người Nhật “hoa anh đào là hoa đứng đầu trong muôn hoa, người samurai là người đứng đầu trong đám đàn ông”. Trong không khí hứng khởi sau trận Nhật Thanh (1894-95), bài này được nhiều người xưng tụng nhưng không phải là thiếu người chế nhạo.

Chỉ có đến lúc cuối đời, ở trên giường bệnh, Ochiai mới có những vần thơ mới mới hơn một chút:

Gió đêm đông ơi, ta mơ,

Chốn người thổi đến lặng lờ hư không

(Bài Kogarashi yo, thơ Ochiai Naobumi)

Mặt khác, Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902, xin xem tiểu truyện ở phần nói về haiku) phê phán cách viết waka của người xưa trong Kokin-shuu (Cổ kim ḥa ca tập)[16]. Ông coi trọng truyền thống Man.yô-shuu (Vạn diệp tập) có trước đó hơn, chủ trương một ca phong thiên về tả thực, không tu sức, dựa trên đó, xây dựng cơ sở cho phái Araragi (A la la mộc) và tạp chí mang tên nầy.

Dưới thời Meiji, hai nhà thơ tanka của nhóm Myôjô “Sao Mai” đă hoạt động mạnh mẽ dưới ảnh hưởng chủ nghĩa tự nhiên. Đó là Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc, 1886-1912) và Wakayama Bokusui (Nhược Sơn, Mục Thủy, 1885-1928). Thông qua chủ nghĩa tự nhiên, nhóm Myôjô hướng về khuynh hướng duy mỹ để gặp gỡ các nhà thơ Kitahara Hakushuu (Bắc Nguyên, Bạch Thu, 1885-1942) ,Yoshii Isamu (Cát Tỉnh, Dũng, 1886-1960) trong khi phái Araragi tiến về phía Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953), một nhà thơ có khuynh hướng t́nh cảm, miêu tả sự vật và cảnh sắc một cách khách quan như nhà hội họa.

Đến thời Taishô, trường phái Araragi là ḍng thơ chính nhưng Kitahara Hakushuu và Kinoshita Rigen (Mộc Hạ, Lợi Huyền, 1886-1925) đă lập ra tờ Nikkô (Nhật Quang) “Ánh Mặt Trời” để chống lại ảnh hưởng trường phái tả thực của Araragi cũng như của những nhà thơ đă thành danh.

Tuy vậy, đến thời chiến tranh Trung Nhật[17] (1937-41) và chiến tranh Thái B́nh Dương (1941-45) th́ ngay tanka cũng bị kiềm tỏa và rơi xuống hàng “thơ yêu nước” tức là thơ phục vụ chế độ phát xít.

Trở lại nguyên ủy của tanka hiện đại, từ năm Meiji 26 (1893), Ochiai Naobumi đă dẫn đường cho khuynh hướng mới có tính cách hiện thực, phê phán tác phong của waka cổ điển nhưng dù muốn cải cách tanka, ông chỉ làm được nửa vời, nhất là c̣n phải chờ đợi đám học tṛ như Yosano Tekkan (Dữ Tạ Dă Thiết Cán, 1873-1935), Kaneko Kun.en (Kim Tử, Huân Viên, 1876-1951), Onoe Saishuu (Vĩ Thượng, Sài Chu, 1876-1957) hay những người có một thời hợp tác với ông như Masaoka Shiki, Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963). Riêng Sasaki là chủ biên tạp chí Kokoro no hana “ Hoa Tim”, học tṛ ông có nhiều nhà thơ tanka nổi tiếng về sau.

B) Phái Myôjô (Minh Tinh) “Sao Mai”:

1) Yosano Tekkan (Dữ Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935):

Người Kyôto, Tekkan là con một nhà sư thế tục. Sau ông lấy tên là Yosano Hiroshi (Dữ Tạ Dă, Khoan). Ông là chồng của Akiko và được xem như người nối tiếp sự nghiệp của Ochiai Naobumi.

Yosano Tekkan viết Bôkoku no ne “Tiếng thơ vong quốc” (1894) để phê phán cách làm thơ ẻo lả, nhu ḥa “như  phụ  nữ”  (taoyameburi) [18]của tanka kiểu cũ, nghe như thơ mất nước. Ông ra hai tập Tôzainanboku (Đông tây nam bắc,1896) và Tenchigen-ô (Thiên địa huyền hoàng)[19], dùng chính thơ của ḿnh để chứng minh điều đó. Năm 1899, ông lại lập Tôkyô Shinshisha (Đông Kinh Tân Thi Xă) và ngay năm sau, cho ra mắt tờ Myôjô. Đối với ông, tạp chí này phải là nơi để ḍng thơ nam nhi hùng hồn (masuraoburi) theo phong cách của Man.yôshuu được bày tỏ. Ông tận tụy trong việc điều hành tạp chí thơ Myôjô và qua đó, đă cống hiến rất lớn vào sự nghiệp cách tân tanka.

Về mặt sáng tác, tuy thơ ông có hùng hồn, một phần v́ ảnh hưởng sự cổ động của chính trị trong thời buổi đó, nhưng đă chứa màu sắc chủ nghĩa ái quốc độc tôn đối với các nước láng giềng như Trung Quốc và Triều Tiên. Ông viết những câu như sau lúc v́ chứng thương hàn phải nằm trên giường bệnh ở Seoul (ông qua đó để dạy tiếng Nhật):

Ở đây trên đất Hàn,
Làm sao ta chết được.
Nếu ta bỏ xác ở Hàn,
Ḍng thơ nam tử sẽ tàn mất thôi.

(Bài Kara ni shite ikade ka shinan, thơ Tekkan, 1895)

Trong một bài thơ viết nhân lễ khánh thành ngôi trường nơi ông có nhiệm vụ dạy văn chương cổ điển và thi ca Nhật Bản cho 700 học sinh, ông lại có những vần như sau:

Ta trồng cây anh đào,
Trên núi Hàn đất lạ.
Dạy cho người ở cơi ngoài,
Lời ca hùng dũng chàng trai Đại Ḥa.,

(Bài Kara yama ni, thơ Tekkan)

Tự hào dân tộc của ông c̣n đi xa hơn nữa, qua măi bên kia bờ Thái b́nh Dương như trong bài thơ chào mừng hội chợ đấu xảo Chicago năm 1893:

Trước tiên,
Như một món quà,
Ta muốn gửi Chicago,
Tuyết trắng Phú Sĩ, Yoshino đào hồng.

(Bài Shikago e wa, thơ Tekkan trong tập “Đông tây nam bắc”,1896)

Dù vậy, Tekkan cũng làm thơ t́nh. Ông có cả một tập Aigikoe “Nhớ thương nhau” (1910) gồm cả ngh́n bài. Thơ t́nh của ông cũng khác lạ:

T́nh yêu hay tiếng tăm,
Đâu là điều quan trọng?
Ta c̣n suy nghĩ mông lung,
Hai mươi tám tuổi, bâng khuâng hỏi ḷng.

(Bài Koi no na to, thơ Tekkan, trong tập Tekkanshi, 1901)

Bên này là lư tưởng,
Bên kia lại số phần,
Đường chia lối, dạ phân vân ,
Nh́n cành lan tím
[20], khóc thầm ngă ba.

(Bài So ya risô ko ya unmei no, thơ Tekkan)

Trong tạp chí Myôjô, ông đưa ra chủ trương kính trọng thơ người xưa nhưng không mô phỏng, phải sáng tạo cho riêng ḿnh. Ông không gọi thơ ḿnh là waka hay tanka mà dùng chữ kokushi (quốc thi) hay tanshi (đoản thi) để đánh dấu một sự chia tay với ḍng thơ cũ.

2) Yosano Akiko (Dữ Tạ Dă, Tinh Tử, 1876-1942):

Yosano Akiko, nhà thơ nữ quyền đi trước thời đại

Sinh ở thành phố buôn bán Sakai, tên thật là Hô (hay Otori), yêu thích văn chương cổ điển từ nhỏ. Quen với Tekkan ở Ôsaka năm 1900.

Yosano Akiko, sau này sẽ trở thành vợ của Tekkan, viết những vần thơ t́nh ái có tính cách nhục thể và đă ảnh hưởng đến cả ca phong của Tekkan. T́nh yêu giữa hai người được thổ lộ ra trong tập Murasaki “Hoa Tím” (1901) của Tekkan và Midaregami “Tóc Rối” (1901) gồm 399 bài của Akiko. Lối diễn tả về t́nh yêu của Akiko vượt ra khỏi lễ giáo truyền thống đă là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự tiến triển của tanka cận đại.

Bà được biết như một người phụ nữ đă được giải phóng hiếm thấy trong xă hội phong kiến thời đó.Tuy là vợ Tekkan, hai người không cộng tác thường xuyên trong lănh vực văn chương.

Dù đông con (11 người) và cuộc sống vật chất khó khăn, bà đă dành nhiều thời giờ để dịch Truyện Genji ra kim văn và đó là công tŕnh để đời của bà. Bà c̣n hợp tác với Yamakawa Tomiko và Masuda Masako để ra tập Koigoromo “Áo t́nh yêu” (1905), trong đó bà có 148 bài tanka. Bà c̣n một tập thơ khác nhan đề Maihime “Nàng vũ công” (1906) với 302 bài thơ và tiểu thuyết trường thiên duy nhất Akarumi e “Về miền tươi sáng” kể lại kinh nghiệm một chuyến Âu du năm 1912, lúc bà có dịp làm bạn với nhà điêu khắc Auguste Rodin.

Sau đây là vài bài thơ tiêu biểu của Yosano Akiko. Akiko không trong sáng, rơ ràng như Tekkan. Thơ bà bóng bẩy và nhiều khi tối nghĩa hơn:

Ai loại bỏ màu đỏ,
Ra khỏi cánh đồng hoa.
Muốn biết , hỏi thơ tôi đi,
Cô gái tội lỗi bởi v́ mùa xuân.

(Bài Uta ni kike na, trong Midaregami, thơ Akiko)

Trong bài thơ này, Akiko không theo khuôn khổ 5/7/7/7/5 mà là 6/7/6/8//7 (34 âm tiết) cho ta thấy bà không gói ghém được ư nghĩ ḿnh trong 31 âm tiết. Hơn nữa, những ư tưởng và câu chữ đầy ẩn dụ của bà đă đến từ thơ mới hơn là ḍng tanka cổ điển. Hoa đỏ tượng trưng cho t́nh yêu và người con gái bị xem là tội lỗi v́ mang một tấm ḷng xuân, là những h́nh tượng mới mẽ. Sự tự tin về sắc đẹp và sự buông thả theo cảm xúc biểu lộ ra trong mấy câu sau đây cũng đi ngược lại với lối suy nghĩ cũ bắt buộc người đàn bà phải khiêm tốn và dấu diếm t́nh cảm. Bài này cũng phá thể v́ đă viết theo h́nh thức 6,7/5/7/7 (32 âm tiết):

Cô gái tuổi đôi mươi,
Suối huyền để buông lơi.
Tóc theo đường lược chảy dài,
Tự hào tươi đẹp giữa ngày xuân em.

(Bài Sono ko hatachi, trong Midaregami, thơ Akiko)

Akiko thành công với “Tóc Rối”. Tập thơ đă được yêu chuộng hơn cả dự tưởng và bà trở thành một nhà thơ tanka hàng đầu. Bà c̣n nổi tiếng v́ bài thơ viết cho người anh lúc đó đang ở trong quân đội đóng ở Port Arthur (1904) thời chiến tranh Nhật Nga, khuyên anh đừng chết v́ nước có những câu như “Anh ơi, anh không được chết!” (Kimi, shini-tamô koto nakare). Do đó bà bị mang tiếng là người thiếu tinh thần yêu nước. Ngược lại, qua đó, người ta thấy sự độc lập về tư tưởng của bà mà trong những năm sau đó, đă trở thành một biểu tượng cho lớp người phụ nữ được giải phóng.

Ngoài vợ chồng Yosano, tạp chí Myôjô nhờ qui tụ được những nhà thơ hàng đầu thời ấy như Kitahara Hakushuu, Yoshii Isamu, Kubota Utsubo, Ishikawa Takuboku, là trung tâm của ḍng thơ lăng mạn. Tuy nhiên, về sau một số người như Takamura Kôtarô sẽ tách ra để bước vào lănh vực thơ mới, c̣n Kubota Utsubo (1877-1967) và Mizuno Yôshuu (1883-1947) đi lập trường phái khác. Ngay cả Kitahara và Yoshii, tuy vẫn đồng ư về đường lối của Shinshisha, đă ngừng hoạt động chung với vợ chồng Tekkan và Akiko. Tuy nhiên, tạp chí Myôjô khi ra số báo thứ 100 vào năm 1908 cũng đă hoàn thành nhiệm vụ đối với tanka của nó vậy.

C) Hội thơ Negishi (Căn Ngạn đoản ca hội) của Masaoka Shiki:

 

Masuoka Shiki, nhà cải cách tanka và haiku

Năm Meiji 31 (1898), Masaoka Shiki viết sách Utayomi ni atauru sho “Sách viết cho người làm thơ tanka”, trong đó ông phê b́nh thơ kiểu Kokin-shuu, dám chê Ki no Tsurayuki (868?-945?), người biên tập nó, là làm thơ dở, chủ trương phải theo đường lối thơ cổ xưa trong Manyôshuu cũng như phong cách của Minamoto no Sanetomo (Nguyên, Thực Triều, 1192-1219), vị Shôgun thứ ba của mạc phủ Kamakura và nhà thơ waka có tài. Ông thú nhận đă tôn thờ một cách sai lầm Kokinshuu măi đến sau này. Ông thấy thơ trong Kokinshuu chỉ thiên về kỹ xảo tu sức. Đối với ông, làm thơ dĩ nhiên phải cần hay nhưng cần thực thà trong tâm t́nh và khách quan trong diễn tả như thơ trong Manyôshuu mới được. Để thực thi đường lối đó, ông đưa ra lư thuyết shasei (tả sinh) một thủ pháp vay mượn từ họa gia và nhà thư đạo Nakamura Fusetsu (Trung Thôn, Bất Chiết, 1866-1943), bạn ông. Thuyết này chủ trương ghi chép thực tế (nhưng không loại bỏ tưởng tượng).

Ngoài ra, ông thành lập hội thơ mỗi tháng gặp nhau một lần, lấy tên là hội tanka Negishi. Hội này ra đời năm 1899 ở vùng Negishi thuộc Tôkyô, nơi ông có lập am trú ngụ. Hội thơ nầy lúc bắt đầu đă dựa trên nhật báo Nihon (Nhật Bản), tạp chí Kokoro no hana “Hoa Tim” để phát triển. Năm 1902, Shiki qua đời lúc hăy c̣n trẻ (35 tuổi). Sau khi ông mất, tập tanka nhan đề Take no sato-uta “Bài thơ làng tre” của ông mới ra đời.

Sau đây là tên tuổi những người đă nối tiếp sự nghiệp của Shiki trong lănh vực tanka.

1) Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963):

Sasaki Nobutsuna, gạch nối giữa hai ḍng waka cũ và mới

Người tỉnh Mie, tốt nghiệp cổ văn Đại Học Đông Kinh. Tên tuổi đáng được nhắc tới v́ đă làm cái gạch nối giữa tanka cổ điển phái Keien (Quế Viên) và tanka hiện đại. Ông cũng là đồng chí của Shiki trong Chikuhakukai (Trúc Bách Hội) chủ trương việc đổi mới tanka. Ông có công sáng lập tạp chí Kokoro no Hana (Hoa tim, từ 1888) nới qui tụ nhiều nhân tài thi văn. Việc cách tân tanka, theo ông, phải đi từ bước và theo 3 nguyên tắc: rộng hơn, sâu hơn và có cá tính hơn.Về sáng tác, ông có các ca tập Omoigusa “Cỏ nhớ” (1904) và Shingetsu “Trăng non” (1912), Tokiwagi “Vạn niên thanh” (1922).

2) Itô Sachio (Y Đằng, Tá Thiên Phu, 1864-1913):

Môn đệ Shiki có người những như Itô Sachio (Y Đằng, Tá Thiên Phu, 1864-1913). Tuy lớn hơn Shiki 3 tuổi nhưng ông nầy tâm phục ông, nối tiếp truyền thống sáng tác shasei của ông nghĩa là miêu tả đơn sơ chất phác nhưng phải linh động. Itô Sachio c̣n viết tiểu thuyết Nogiku no hana “Mồ cúc dại” (1906), đề xướng thuyết “kêu gào” (sakebi) nghĩa là “dốc hết ḷng hết sức để gào lên tiếng nói của sự sống”.

Ông người Chiba, đă theo học Luật nhưng bỏ dở dang v́ đau mắt. Khi t́m hiểu lư luận của Shiki, ông thấy thích nên bỏ phái Keien (Quế Viên) cũng b́nh dị nhưng thiên về nhạc điệu mà theo thầy từ năm 1900. Ông là người của tổ chức, đă phụ tá đắc lực cho Shiki trong việc cải cách thơ và điều hành các tạp chí. Về sáng tác, ông có tập thơ Fusô “Rong Trôi Dạt” (1910). 

3) Nagatsuka Takashi (Trường Chủng, Tiết, 1879-1915):

 

Nagatsuka Takashi, nhà thơ của nông dân

Nagatsuka là nhà văn và nhà thơ khuynh hướng nông dân, quê ở Ibaragi gần Tôkyô. Ông là tác giả các tiểu thuyết Sado no shima “Đảo Sado” (1907) được Natsume Sôseki nh́n nhận văn tài, Tsuchi “Đất”, nói về kiếp sống cực khổ của tá điền (1910) có nhiều chỗ không khác cách phê phán xă hội trong tác phẩm của Emile Zola và của Knut Hamsun, và đă viết những vần thơ đầy cảm xúc tinh tế như trong những tập mang tên Hari no gotoku “Như mũi kim châm” (1914-1915) hay thi tập Sae “Sáng suốt” gồm 231 bài viết đăng báo vào lúc cuối đời. Mất v́ lao cổ họng, bệnh nan y thời đó, năm mới 35 tuổi.

Khi nằm dưỡng bệnh (1896), ông có dịp đọc haiku của Shiki và cảm động v́ cuộc vận động cải cách thơ của Shiki. Từ đó, ông thường gửi thơ đăng báo và tham gia hội tanka ở Negishi, quen biết với Itô Sachio, Oka Fumoto, Katori Hozuma, Akagi Kakudô. Sau khi Shiki mất (1902), ông cùng những người nói trên đứng ra lập tờ Ashibi “Hoa Tiên Nữ” để tiếp tịuc sự nghiệp của Shiki. Lúc đầu ông chủ trương làm thơ theo phong cách sơ khai như tập Manyô.shuu nhưng sau ngả về lối bắt gặp sự vật một cách khách quan và sinh động (shasei) của Shiki.

Là người rất nghiêm túc trong sáng tác, ông viết rất ít. Ngoài những tác phẩm kể trên, ông đă đăng trên các báo Akane (1908-09) và Araragi (từ 1908) các tác phẩm Banshuu Zatsuei “Văn thu tạp vịnh” (1908), Nômu no Uta “ Thơ trong sương dày” (1909).

4) Oka Fumoto (Cương, Lộc, 1877-1951):

Oka Fumoto[21] là người có những vần thơ trung hậu. Tuy nhiên, thừa kế công tŕnh của Shiki nhiệt thành nhất là Sachio. Năm 1903, ông đă đứng ra làm chủ biên cho tờ Ashibi [22](Mă Túy Mộc) “Hoa Tiên Nữ”[23] của hội.

D) Tanka theo chủ nghĩa tự nhiên:

Năm Meiji 35 (1902), hai nhà thơ Onoe Saishuu (Vĩ Thượng, Sài Chu, 1867-1957) và Kaneko Kun-en (Kim Tử, Huân Viên, 1876-1928) cho ra mắt Jokeishi (Tự cảnh thi) “Thơ tả cảnh”, một thi tập ra đời để phê phán khuynh hướng quá thiên về thơ t́nh ái của vợ chồng Yosano và tạp chí Myôjô. Hai người đều hăng hái dẫn dắt lớp người đi sau. Chẳng hạn Saishuu đă thành lập nhóm Shazensô (Xa Tiền Thảo) “Cây mă đề”, tạp chí ra đời năm 1911, đến năm 1913 th́ đóng cửa. Saishuu c̣n gầy dựng cho Wakayama Bokusui (Nhược Sơn, Mục Thủy), Maeda Yuugure (Tiền Điền, Tịch Mộ, 1883-1951) là những nhà thơ trường phái tự nhiên tiếng tăm. Kun-en thành lập hội Shiragiku (Bạch Cúc), d́u dắt Toki Aika (Thổ Kỳ, Ai Quả , 1885-1980), người vừa là nhà thơ vừa nhà báo nên nổi tiếng là có cái nh́n thẳng vào sự vật.

1) Wakayama Bokusui (Nhược Sơn, Mục Thủy, 1885-1928):

 

Wakayama Bokusui, tác giả “Tiếng Gọi Của Biển”

Người tỉnh Miyazaki miền nam đảo Kyuushuu, hay thơ từ thời trên ghế trường trung học.Theo học khoa Anh văn ở Đại Học Waseda và tham gia nhóm “Cây Mă Đề” của Saishuu. Chịu ảnh hưởng của văn chương chủ nghĩa tự nhiên và viết truyện ngắn theo lối đó. Ông yêu một người đàn bà có chồng, thác ngụ tâm t́nh vào tanka nhưng sau khi cuộc t́nh đổ vỡ, ông trở lại với khuynh hướng hiện thực và làm thơ với chủ đề thiên nhiên. Tác phẩm hằn dấu thời yêu đương say đắm của ông là Umi no koe “Tiếng gọi của biển”(1908), rồi sau đó, Hitori Utaeru “Tỏ ḷng ḿnh”(1910), Betsuri “Biệt ly” (1910). Ông kết hôn với Ôta Kíhiko (Thái Điền, Hỷ Chí Tử), cũng là một nhà thơ nhưng cuối đời, khổ năo v́ cuộc sống và nghệ thuật, chỉ uống rượu và rày đây mai đó.

Thơ Bokusui chính ra lấy cuộc sống thường nhật làm đề tài như thơ Maeda Yuugure nhưng sau khi trải qua thời chuyên chú vào thơ luyến ái, màu sắc cảm thương (lyric) vẫn c̣n rơi rớt lại trong thơ ông dầu là khi khai thác đề tài về thiên nhiên và biển cả, đam mê của riêng ông.

Ḱa con chim biển trắng,
Biết có buồn chăng ta!
Một ḿnh lượn giữa cao xa,
Không nhuộm xanh biển không pha xanh trời.

(Bài Shiratori wa, trong Umi no Koe, 1908, thơ Bokusui)

2) Maeda Yuugure (Tiền Điền, Tịch Mộ, 1883-1951):

Maeda Yuugura, đem hội họa phái ấn tượng vào tanka

Trong khi Bokusui tâm sự về ḿnh trong “Tiếng gọi của biển” th́ Yuugure quan sát chính bản thân trong Shuukaku (Thu hoạch) “Gặt Hái” (1910). Biểu hiện bằng thủ pháp khác nhau nhưng cả hai đều giữ đúng phong cách riêng của chủ nghĩa tự nhiên Yuugure là người luôn luôn đi t́m miền đất mới nên sau đó, trong 15 năm trời, ông đă thử áp dụng lối miêu tả của hội họa phái ấn tượng vào thơ và cụ thể hóa nó trong Suigen Chitai “Vùng Đồng Nước” (1938), một tập thơ tự do viết theo văn nói (nhưng ông vẫn c̣n gọi nó là tanka v́ bảo nó c̣n giữ nhịp điệu tanka ở bên trong). Ông c̣n đem chính trị vào tanka, với khuynh hướng quốc gia cực đoan, nhất là vào những năm 1930 khi phe trục thành h́nh và t́nh h́nh thế giới càng ngày càng căng thẳng.

Cùng thời với Bokusui và Yuugure, hai nhà thơ Kubota Utsubo (Oa Điền, Không Tuệ, 1877-1967) và Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc, 1886-1912), tuy từng sinh hoạt với nhóm Myôjô, cũng mang màu sắc chủ nghĩa tự nhiên, gắn liền với cuộc sống thường nhật. Có lẽ Kubota Utsubo là người cao niên nhất trong nhóm các nhà thơ theo chủ nghĩa tự nhiên.

3) Kubota Utsubo (Oa Điền, Không Tuệ, 1877-19676):

Ông bỏ học lúc ở trường Chuyên Môn Tôkyô tức tiền thân của Đại Học Wasseda, về quê làm nhà giáo phụ khuyết. Thơ ông buổi đầu có phong cách lăng mạn. Sau trở lại học cho đến khi tốt nghiệp rồi sáng lập tờ Yamabiko “Tiếng Vọng” (1902). Một thời gian làm báo, ông trở thành giáo sư Đại Học Waseda và làm thơ theo khuynh hướng tự nhiên, lấy sinh hoạt thường ngày làm đề tài..Ông c̣n viết tiểu thuyết và nghị luận văn học.

Ăn được một miếng cơm,
Do chính tay ḿnh kiếm.
Người thợ trẻ trong xưởng kia,
Lần đầu cảm thấy buồn tê tái ḷng.

(Bài Sono te mote, thơ Utsubo, 1915)

Về sau, trong nhóm nhà thơ theo chủ nghĩa tự nhiên này, Takuboku và Toki Aika đă đi xa hơn các người khác nghĩa là t́m đến với lư tưởng xă hội chủ nghĩa của họ.

4) Toki Aika (Thổ Kỳ, Ai Quả , 1885-1980):

Ông tên là Toki Zenmaro (Thổ kỳ, Thiện Lữ), người Tôkyô.Tốt nghiệp Anh văn Đại Học Waseda, chơi thân với Takuboku. Aika có tác phẩm Nakiwarai “Khóc Cười” (1910) và Tasogare ni “Lúc hoàng hôn” (1912). Cả Takuboku lẫn Aika đều thích làm thơ theo lối 3 hàng (chia 31 âm của bài thơ làm 3 hàng).

Về Aika, nhà văn Akutagawa có nhắc đến một bài thơ của ông nầy, nói về t́nh yêu của ông với vợ nhà, trong tiểu phẩm Yasukichi no techô kara “Trích từ sổ tay của Yasukichi” mà ai cũng biết là nhật kư của chính tác giả Akutagawa thời gian ông làm giáo sư Anh văn trường hải quân :

Mỏi răng nhai cơm dọc đường,
Bíp tếch như cứt. Anh thương nhớ ḿnh.

(bài Tôku kite kono kuso no yôna, thơ Toki Aika)

Không khí lăng mạn nhưng với những chi tiết có tính tả thực mạnh bạo như thế c̣n được thấy trong một bài thơ khác:

Đi thuê nhà, hai vợ chồng,
Xuân sang ngoài ngơ, trong pḥng âm u.

(Tsuma to futari, thơ Toki Aika)

Sau đây là một bài thơ trong tập “Lúc hoàng hôn” mà Aika tŕnh bày tâm sự của một người “lao động tay trắng” nghĩa là một trí thức như ông, nhỏ lệ khi đọc một quyển sách quốc cấm tức một quyển sách có chứa đựng tư tưởng xă hội (năm 1912 chưa có Cách Mạng Tháng 10):

Có người lao động trắng tay,
Đọc sách quốc cấm, lệ đầy, cảm thương.

(Bài Te no shiroki, trong Tasogare, 1912, thơ Aika)

Người ấy khóc có lẽ v́ cảm thấy bất lực đă không thay đổi được hoàn cảnh xă hội anh ta đang sống. Có lẽ quyển La Conquête du Pain “Kiếm miếng ăn” của Kropotkin mà Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức Thu Thủy, nhà văn bị bị xử h́nh năm 1910) đă dịch ra tiếng Nhật là quyển sách quốc cấm đă gợi nguồn cảm hứng cho Aika.

Sau đó, vào thời điểm 1941, theo Donald Keene, Aika tuy cũng có những vần thơ thuộc loại “yêu nước” cỡ Saito Mokichi hay Shaku Chôkuu nhưng không đến nỗi làm công tác tuyên truyền mà lui về viết biên khảo để sống cho qua thời chiến.

5) Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc, 1886-1912):

Ishikawa Takuboku, nhà thơ tanka được yêu mến nhất

Thi sĩ tanka Ishikawa Takuboku, tên thật Ishikawa Hajime, trưởng nam của một ông từ trụ tŕ một ngôi chùa thôn Hinoto tỉnh Iwate. Thuở nhỏ ông đă học rất giỏi, lúc vừa vào trung học thị xă Morioka ham đọc tạp chí thơ Myôjô. Mải lo thơ thẩn và yêu đương, ông phải bỏ học nửa chừng (1902) và từ đó, từ miền Bắc xuống Tôkyô để theo đuổi văn chương, được có bốn tháng đă thất bại. Ngă bệnh, Takuboku về quê hương tĩnh dưỡng và làm thơ. Từ 1903, ông bắt đầu có thơ đăng ở Myôjô của vợ chồng Yoshano Tekkan và Akiko và trên các tạp chí khác và năm 1906, tập thơ đầu tay Akogare “Ngưỡng Vọng” ra đời.

Từ khi bố mất chức trụ tŕ và Takuboku kết hôn với bà Setsuko, gánh nặng gia đ́nh đè trên một vai ông. Ông phải làm giáo viên dự khuyết ở trường tiểu học thôn Shibutami, nơi quê nhà, để kiếm sống. Ông viết tiểu thuyết Kumo wa tensai dearu “Mây là một thiên tài”. Dạy học được một năm bị băi chức, ông vượt biển lên đảo Hokkaidô kiếm ăn, lưu lạc đó đây, hết là giáo viên phụ khuyết lại làm kư giả nhật báo nhưng không bao giờ chịu bỏ nghề văn. Năm 1908, ông để gia đ́nh ở lại Hakodate trên đảo Hokkaidô, xuống Tôkyô lần nữa để viết tiểu thuyết nhưng bán không chạy. Năm 1909, t́m được chân “thầy c̣” chữa bài cho nhật báo Asahi nhưng nghèo vẫn nghèo, không gọi được gia đ́nh xuống sống chung. Từ đó, ḍng thơ lăng mạn của ông đă bắt đầu mang màu sắc hiện thực của chủ nghĩa tự nhiên, có nhiều bài than cho cuộc sống điêu linh và mang t́nh cảm nhớ mong về gia đ́nh miền bắc.

Năm 1910, ông xúc động v́ vụ án “đại nghịch” nên chuyển hẳn qua khuynh hướng xă hội. Lúc đó ông viết A letter from prison “Thơ gởi  từ nhà tù” (1911) (tựa đề bằng tiếng Anh) và tập nghị luận “Jisei heisoku no jôtai “Cảnh tượng một thời đại bế tắc” (1911), buộc tội cả chủ nghĩa tự nhiên v́ cho là nó thiếu tính xă hội. Tập tanka đầu tiên nhan đề Ichiaku no Suna “Một vốc cát” (1910) đưa tên tuổi ông lên cao nhưng chỉ một năm sau, ông bị bệnh lao nặng, chết đi không kịp nh́n thấy tác phẩm tanka nhan đề Kanashiku gangu “Món đồ chơi buồn bă” (1912) ra đời.

Tác phẩm của Takuboku nói nhiều đến cuộc sống (sinh hoạt) hằng ngày như một tập nhật kư thơ nên các nhà viết văn học sử có khuynh hướng xếp ông vào phái “sinh hoạt” (seikatsuha). Ông c̣n để lại tập thơ di cảo Yobiko to kuchibue “Huưt c̣i và huưt sáo”.

Ichiaku no suna “Một vốc cát” có 551 bài tanka làm từ lúc xuống Tôkyô, nội dung hồi tưởng cuộc sống ở quê hương miền Iwate (thuộc Đông Bắc) và đảo Hokkaidô cũng như kể lại những vui buồn trong cuộc sống đô thị. Kanashiki gangu “Món đồ chơi buồn bă” gồm 194 bài tanka viết tiếp tập trước và hai bài nghị luận về thơ, được Wakayama Bokusui in sau khi tác giả mất. Đề của tập thơ lấy từ tựa bài nghị luận Uta wa watashi no kanashiki gangu dearu ”Thơ là món đồ chơi buồn bă của tôi”:

Cát kia không kiếp đến buồn,
Vốc lên, len ngón tay tuôn rào rào.

(Bài Inochinaki suna, trong Ichiaku no suna)

 Dưới chân Kozu thành cao,
Ta nằm trên cỏ, gửi vào không gian,
Chút ḷng của tuổi mười lăm
.

(Bài Kozukata no, trong Ichiaku no suna)

Đằng sau thư viện trường xưa,
Cỏ thu bao độ nở hoa sắc vàng.
Tên cỏ nay vẫn chưa tường.

(Bài Gakkô no toshogura, trong Ichiaku no suna)

Làm ăn, chăm chỉ làm ăn,
Cuộc sống nhọc nhằn nào đă đổi thay,
Đăm đăm ngó xuống bàn tay.

(Bài Hatarakedo, trong Ichiaku no suna)

Đùa vui cơng mẹ dạo chơi,
Sao thân mẹ nhẹ, tơi bời ḷng con,
Bước ngập ngừng, nước mắt tuôn.

(Bài Hatamureni, trong Ichiaku no suna)

Có lần ḿnh đă thốt ra, 
Một ngày mai mới quyết là không xa,
Tuy không nói dối nhưng mà...
 

(Bài Atarashiki, trong Kanashiki Gangu)

Có thể nói Takuboku là một trong vài ba nhà thơ tiêu biểu của thời Meiji. Tuy ông viết đủ loại văn thơ nhưng độc giả chỉ nhớ ông v́ những bài tanka 31 âm tiết tuyệt vời. C̣n về cuộc đời th́ như đă tŕnh bày, nó là một chuỗi ngày cô độc, lang bạt, chiến đấu và chiến bại.

 Giữa Biển Đông, ḥn đảo côi,
Bên bờ cát trắng ḿnh tôi lệ nḥa.
Đàn cua bầu bạn chăng là ! 

(Bài Tôkai no kojima, trong Ichiaku no suna)

Có thể hiểu ḥn đảo trơ trọi giữa Đông Hải là Nhật Bản, cát trắng tượng trưng cho sự trống rỗng và đàn cua là những công việc nhàm chán hằng ngày hay những kẻ sống chung quanh, thân thiện với nhà thơ đấy nhưng không cảm thông được với ông chăng ?

 Làm sao quên được người kia,
Không buồn quệt má đầm đ́a lệ rơi.
Trao cho ta vốc cát thôi ! 

(Bài Hô ni tsutau, trong Ichiaku no suna ”

Ư của bài này khá rơ: thông điệp của kẻ vô danh (một người con gái ?) đă gửi cho Takuboku là cuộc đời phù du và không chút giá trị của chúng ta có khác nào một vốc cát.

Trong toàn bộ tác phẩm của ông có lẽ “ Một vốc cát ” (1910) là tập thơ quan trọng nhất. Nó giống như một tập tự truyện của cá nhân ông. Thôn Shibutami tuyết phủ, hàng liễu bên ḍng sông Kitakami, người vợ trẻ của ông địu con ra bến xe tiễn chồng đi xa kiếm ăn, cô hầu rượu Koyakko ở một thành phố tuyết phủ trên đảo Hokkaidô có cái dái tai mềm mại, người bạn già mỗi lần say lại khảng khái ngâm mấy vần thơ chữ Hán làm ra mười năm về trước...là h́nh ảnh cố hương (furusato) đă theo dấu chân nhà thơ đến cuối đất cùng trời.

Kitakami quê nhà,
Liễu mềm xanh thắm hiện ra trong ḷng.
Khóc đi ! như nhắn ta cùng.

(Bài Yawarakani, trong Ichiaku no suna)

Hàng liễu xanh như an ủi người phiêu bạt, bảo nhà thơ hăy như hàng liễu rũ, nếu buồn th́ cứ khóc cho vơi.

Cố hương ḷng nhớ khôn nguôi,
Bến xe chen giữa sóng người ngược xuôi,
T́m nghe giọng nói quê tôi.

(Bài Furusato no, trong Ichiaku no tsuna)

Tương truyền trong thời gian ở Tôkyô, Takuboku thường lên ga Ueno, nơi có những người vùng Đông Bắc đáp xe hỏa xuống, để nghe thổ âm địa phương và ngữ vựng quê nhà.

Là con người có tư tưởng xă hội và vô chính phủ, ông có những câu thơ dạt dào t́nh cảm cách mạng nhưng viễn mơ nguy hiểm, nhiều khi quá khích đến nổi kêu gọi bạo động. Điều đó không ngăn việc những người của chính quyền mà ông căm ghét và tấn công tới tấp vẫn dùng thơ ông trong sách giáo khoa cho giới trẻ học. Ngay cả đến bây giờ, mọi người vẫn không ngừng yêu mến ông v́ cái hồn thơ chân thật và mộc mạc.

Takuboku cũng là một nhà lư luận về thơ. Theo ông, chỉ có h́nh thức thơ ghi vội được như tanka mới giúp người ta chụp lấy được những ư tưởng, h́nh ảnh chợt đến, chợt đi, và có khi không bao giờ trở lại nữa.

TIẾT IV : TANKA ĐỜI TAISHÔ

A) Tanka phái duy mỹ :

Phái duy mỹ có ba cột trụ : Yoshii Isamu, Takamura Kôtarô và Kitahara Hakushuu. Họ hoạt động trong nhóm Pan no Kai và tạp chí Subaru. Ngoài Takamura Kôtarô và Hagiwara Sakutarô, nhà thơ lớn thứ ba đương thời Kitahara Hakushuu cũng chọn đời Taishô làm thời điểm hoạt động phong phú nhất của ḿnh. 

Tanka của Kitahara Hakushuu

Kitahara là nhà thơ nhiều tài. Sau đây là vài bài thơ của Kitahara Hakushuu trong lănh vực tanka, chứng minh một phần nào tài nghệ và phong cách thơ của ông, có vẻ gần với tanka của Kokin-shuu (nghĩa là diễm lệ, u huyền) chứ không phải là Man.yô-shuu (rắn rơi, đơn sơ) như trường hợp của Tekkan, thầy ông :

Hỡi những con chim xuân,
Đừng hót, xin đừng hót !
Nắng trên đồng cỏ ngoài song,
Đă ch́m ánh đỏ vào trong buổi chiều.

(Bài Haru no tori, trong Kiri no hana, 1913, thơ Hakushuu)

Nhà thơ yêu cầu chim xuân ngưng giọng hót khi ông cảm thấy buồn trước cảnh chiều tàn. Đặc biệt thơ ông giàu nhạc điệu như khi ta đọc những tiểu đoạn Naki so naki so (Đừng hót, xin đừng hót) Aka.akato (Đỏ ối).

Buổi mai tháng mười một,
Cuộc hẹn ḥ bí mật.
Mùi khăn quàng cổ bằng lông,
Hương xưa bừng dậy trong ḷng của ta.

(Bài Fukura naru, thơ Hakushuu)

Thơ Hakushuu đặc biệt có hương vị phương xa (exotic) như khi ông viết về chiếc khăn quàng cổ bằng lông thú như trong bài nói trên, hoa dạ hương lan (hyacinthe), cây cung nhân thảo (amaryllis), một đêm xuân ở Paris, chàng thi sĩ Rimbaud lang thang trên đường phố, tiếng hắc tiêu (clarinette) một chiều nào mà Hakushuu đă nghe, tất cả tạo nên một không khí đồi phế cuối thế kỷ 19 (fin-de-siècle).

Một mối t́nh với người đàn bà đă có chồng (1912) kéo ông xuống đất đen. Cuối đời, ông t́m an ủi trong ḷng tin Phật giáo. Những tập thơ như Kirakira Shuu “ Tập thơ lập lánh ” (1915) và Suzume no Tamago “ Trứng chim sẻ ” (1921) không c̣n cuồng nhiệt, bén nhạy như Kiri no hana “ Hoa ngô đồng ” (1913, tập thơ đầu tay). Thị lực suy giảm, ông gần mù, đă viết bài thơ như sau trong tập Kurobi “ Cây Tùng Đen ” :

Tôi có thể cảm thấy,
Cái lạnh của vầng trăng.
Qua cửa kính, nh́n đăm đăm,
Nhưng đôi mắt đă ḷa dần c̣n đâu.

(Bài Teru tsuki no, trong Kurohi, 1937, thơ Hakushuu)

Năm 1949, tập Unasaka (Biên giới của biển) ghi lại hơn 200 bài thơ ông làm giũa khoảng 1923-26, một loại tanka thí nghiệm.

Yoshii Isamu ( Cát Tỉnh, Dũng, 1886-1960)

Ông vừa là nhà thơ tanka vừa là nhà viết kịch. Sinh ra ở Tôkyô và sau đó học Đại Học Waseda nhưng phá ngang. Cùng với Kitahara Hakushuu và Kinoshita Mokutarô lập ra tờ Subaru. Ca phong của ông thuộc loại duy mỹ.

Yoshii Isamu tŕnh bày cái đẹp và nỗi buồn của cuộc sống hưởng lạc với bối cảnh xóm Gion (Kỳ Viên) ở Kyôto qua tác phẩm Sakahogai (Tửu Chúc) “ Ly rượu mừng ” (1910). Về kịch ông có vở Gogo sanji “ Ba giờ chiều ”.

B) Phái Araragi (A La La Mộc)[24] :

Itô Sachio (Y Đằng, Tá Thiên Phu, 1864-1913), truyền nhân của Masaoka Shiki, đă xuất bản tạp chí Araragi kể từ năm 1908.Nơi đây là nơi qui tụ của nhiều nhân tài trong làng thơ Nhật Bản như Shimagi Akahiko (Đảo Mộc, Xích Ngạn, 1876-1926), Saitô Mokichi (Trai Đằng Mậu Cát, 1882-1953), Nakamura Kenkichi (Trung Thôn, Hiến Cát, 1889-1934), Koizumi Chikashi (Cổ Tuyền, Thiên Kiên, 1886-1927), Tsuchiya Bunmei (Thổ Ốc, Văn Minh, 1890-1990), Shaku Chôkuu (Thích, Điều Không, 1887-1953), Ishihara Jun (Thạch Nguyên, Thuần, 1881-1947). Ngoài Saitô Mokichi là một nhà thơ lớn, người sẽ tiếp nối Ito Sachio để cầm đầu nhóm về sau, nhân vật Araragi toàn những người đặc sắc. Ví dụ Shaku Chôkuu, không ai khác hơn là Origuchi Shinobu (Triết Khẩu, Tín Phu), nhà văn học dân tộc học vĩ đại của Nhật Bản ; hay Ishihara Jun, nhà vật lư học đă truyền bá thuyết tương đối ở Nhật Bản.

1) Shimaki Akahiko (Đảo Mộc, Xích Ngạn, 1876-1926) :

 
Shimaki Akahiko đi t́m cách “ chân tướng tịch liêu ”

Sinh ở tỉnh Nagano, vùng núi non gần Tôkyô. Tốt nghiệp trường sư phạm ở quê nhà rồi đi làm giáo viên. Trở thành học tṛ của Itô Sachio và đăng thơ ở các tạp chí tanka như Ashibi và Araragi. Sau khi Itô Sachio mất, ông lên Tôkyô. Từ năm 1914, ông là chủ bút tạp chí Araragi và đă biến tờ báo thành công cụ để giúp trường phái của ḿnh trở thành đầu tàu cho tanka đương thời.

Shimaki chủ trương nhà thơ phải rèn luyện cho đến khi mô tả được cái sekiryôsô (chân tướng tịch liêu) của con người. Có các tập thơ Kiribi “ Đánh lửa ”(1915), Taikyoshuu “ Thái Hư Tập ” (1924) và Shiinshuu “ Dưới bóng cây quả hồng ” (1926).

Thời trẻ ông lấy hiệu là Kubota Kakibito. Kubota là tên thật, c̣n Kakibito gộp từ tên của nhà thơ waka lớn Kakimoto no Hitomaro. Ngay biệt hiệu Shimaki (cây đảo) Akahiko (người đỏ) sau này cũng lấy cảm hứng từ màu sắc và nhân vật của tranh Gauguin. Năm 1913, ông ghé đảo Hachijô-jima và, cũng như họa sĩ Paul Gauguin ở Tahiti, có một câu chuyện t́nh với người đàn bà trên đảo.Từ đó, ông đổi hướng và viết nhiều thơ về thế giới hoang dă.

Trong cánh rừng sâu thẳm,
Không c̣n nghe tiếng chim.
Mơ hồ len giữa hàng cây,
Ḍng nước lấp lánh cuối ngày đó chăng ?

(Bài Mori fukaku, trong tập Bareisho no hana (Hoa Khoai Tây, 1913)

2) Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953) :

 

Bác sĩ khoa thần kinh Saitô Mokichi, một nhà thơ tanka lớn

Được đánh giá như nhà thơ tanka quan trọng nhất của thế kỷ 20 và là người nối tiếp Shimaki Akihito để điều hành tạp chí Araragi.

Ông là con nhà nuôi tằm vùng quê tỉnh Yamagata nhờ học giỏi được người bà con họ Saitô gọi lên Tôkyô, cho học thuốc và sau lập gia đ́nh với con gái trong nhà. Ông tốt nghiệp Y khoa Đại Học Đông Kinh, có du học ở Đức ba năm, sau về mở bệnh viện khoa thần kinh và dạy y khoa ở trường thuốc tỉnh Nagasaki.

Tuy nhiên, yêu thơ từ ngày trẻ, cảm động khi đọc di cảo Takenosato Uta “ Khúc hát làng tre ” của Masuoka Shiki, ông t́m đến một trong những người thừa kế Shiki là Itô Sachio để thụ giáo nghệ thuật shasei và trở thành một nhân vật quan trọng của nhóm Araragi. Điều đó là chuyện dĩ nhiên bởi v́ ông từng viết lư luận về shasei. Qua tác phẩm Tanka ni okeru shasei no setsu “ Lư luận về nghệ thuật shasei trong tanka ” (1920), ông đưa ra thuyết jisshô kannyuu (thực tướng quan nhập) nghĩa là trong sáng tác người làm thơ phải đi đến chỗ bắt được thực chất của thiên nhiên, ḥa nhập nó thành một với ḿnh. Qua đó, ông muốn đào sâu hơn lư luận miêu tả khách quan của Shiki.

Tác phẩm tiêu biểu của ông là thi tập Shakkô “ Tia Sáng Đỏ ” (1913) gồm 834 bài tanka nói vê t́nh yêu sự sống và những khổ năo của người hiện đại trong đó có 59 bài làm lúc mẹ sắp lâm chung. Số bài thơ cùng với số tuổi của người mẹ. Hai bài đó là :

Đêm nay mẹ bỏ cơi đời,
Con nằm ghé cạnh không lời, lắng nghe, 
Đồng xa tiếng ếch vọng về.

(Bài Shi ni chikaki, trong Shakkô, 1913)

Tiếng ếch là kỷ niệm thời thơ ấu những đêm nằm cạnh mẹ mà cũng là những tiếng vọng tự trời cao đang gọi hồn mẹ về.

Khi thức giấc lúc b́nh minh,
Mùi lá dâu thoảng buồn xanh dạ người.
Nghẹn ngào con gọi mẹ ơi !

(Bài Kuwa no ka no, trong Shakkô, 1913)

Không khí lạnh lẽo của buổi sáng đem đến mùi lá dâu xanh dùng để nuôi tằm, nhờ đó ông khôn lớn, khiến Saitô Mokichi nhớ lại người mẹ tảo tần lo việc tầm tang để nuôi con.

Ông lại cất công nghiên cứu lại thi tập cổ điển Man.yô-shuu và viết Kakimoto no Hitomaro, một công tŕnh nghiên cứu vĩ đại về nhà thơ thời Vạn Diệp này gồm 5 quyển. Sau chiến tranh, trong tác phẩm cuối cùng Shirakiyama “ Núi cây bóc trắng “ (1945), ông tŕnh bày cảnh sơ tán về quê vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến và tâm t́nh bi thương của người Nhật mùa thu bại trận (15/08/1945). Có thể những vần thơ sau đây ngầm chứa mặc cảm tội lỗi v́ đă góp phần vào cuộc phiêu lưu của tập đoàn háo chiến :

Trong khi rơi,
Xuống vực đen ng̣m.
Cái thế kỷ nặng nề tội lỗi,
Đă cuốn theo bao cuộc đời,
Ta cũng là một người trong đó.

(Bài Kuragari no, thơ Saitô Mokichi, cuối 1946)

Các nhà viết văn học sử Nhật thường hay xóa bỏ hoặc nói một cách mơ hồ về quá khứ chính trị của các nhà thơ. Các tác giả ngoại quốc như Donald Keene[25] th́ không vậy. Ông đă nhắc đến khuynh hướng “ yêu nước ” trong thơ Mokichi vào thập niên 1930 và sự kiện này đă biến Araragi thành một công cụ tuyên truyền cho việc đeo đuổi chiến tranh. Mokichi đă đến thăm Munchen (Munich) vào thời điểm Hitler làm cuộc đảo chánh và từ đó tỏ ra ngưỡng mộ nhà độc tài phát xít này. Tuy nhiên, bỏ ra ngoài sự phê phán về thái độ chính trị hết sức đáng trách của ông, kể từ khi Mokichi qua đời vào năm 1953, phải nói là khó t́m lại được một người làm thơ tanka sánh nổi ông.

3 Tsuchiya Bunmei (Thổ Ốc, Văn Minh, 1890-1990) :

Tsuchiya Bunmei đưa đề tài xă hội vào tanka

Sống đến 100 tuổi. Ông tốt nghiệp khoa triết Đại Học Đông Kinh và theo học thơ với Itô Sachio, tham gia nhóm Araragi và cùng Saitô Mokichi phụ trách phần biên tập. Thơ ông gần văn nói và có khuynh hướng đưa những đề tài xă hội vào thơ. Có các ca tập Fuyukusa “ Cỏ úa mùa đông ” (1925), Ôkan-shuu “ Đi và về ” (1930) và Sankoku-shuu “ Khe núi ” (1935). Nghiên cứu cả Man.yô-shuu.

4) Shaku Chôkuu (Thích, Điều Không, 1887-1953) :

Shaku Chôkuu tức nhà dân tộc học Origuchi Shinobu

V́ cha là ông từ giữ đền nên từ ngày bé, Orikuchi Shinobu (Triết Khẩu, Tín Phu, tên thật của ông) đă có khuynh hướng muốn t́m hiểu về quá khứ. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Kokugaku.in, năm 1915, ông có cơ hội gặp gỡ Yanagita Kunio (Liễu Điền, Quốc Nam, 1875-1962) nhà dân tộc học lớn của Nhật chuyên môn nghiên cứu văn học dân gian. Từ đó ông theo đường nghiên cứu của thầy và gầy dựng được một môn học độc đáo. Yêu thơ từ nhỏ, trước tiên ông tham gia phái Araragi, sau bỏ đi và xuất bản tạp chí Nikkô với Kitahara Hakushuu. Ca tập có Umiyama no aida “ Giữa núi và biển ” (1925), thi tập có Kodai kan.ai shuu “ Tập thơ thương về thời cổ xưa ” (1947). Là người đa tài, ông c̣n viết cả tiểu thuyết.

Trước những biến chuyển lịch sử như vụ Ni.niroku (cuộc đảo chánh bất thành của nhóm sĩ quan trẻ ngày 26/02/1936 để lập chính quyền quân phiệt) và việc Nhật Bản lún sâu vào con đường chuẩn bị chiến tranh từ thập niên 1930, ông có thái độ không mấy rơ ràng. Như bài tanka sau đây :

“ Một ra đi quyết chẳng về ”
Tiễn lính ra trận nghe thề vang ca.
Một ḿnh trở lại nhà ta.

(Bài Ikite ware kaerazan to, thơ Shaku Chôkuu, 1937)

Có lẽ chỉ để nói lên sự lo lắng khi người con nuôi của ông, học giả trẻ tuổi Fujii Harumi (1907-1944) đi ṭng quân. Thế nhưng, khoảng 1941 th́ ông lại tỏ ra sốt sắng với chiến tranh như viết những bài thơ ca ngợi việc tuyên chiến với Anh, Mỹ, chiến thắng của quân Nhật ở Singapore, chẳng khác nào Saito Mokichi với những bài “ tanka mặc quân phục ”. Có thể Shaku đă từng có một số t́nh cảm cao thượng nhưng ông đă trở thành mù quáng khi say men chiến thắng và thơ phục vụ chính trị đă kéo người trí thức như ông xuống hàng một cây bút tuyên truyền không hơn không kém.

Fujii Harumi đă đă tử trận trên đảo Iwojima khi Mỹ đổ bộ. Người ta c̣n giữ lại một bài thơ trong tập Yamato Oguna “ Những chàng trai Đại Ḥa ” (1955) in ra sau khi Shaku qua đời và những câu sau với t́nh cảm có lẽ trung thực hơn những bài thơ ông làm trong thời chiến.

Đă đến lúc có thể,
Nói lên được lời này :
“ Người ơi, hăy trả lại ta,
Đứa con đánh giặc miền xa không về 
! ”

(Bài Tatakai ni hateshi wa ga ko wo, thơ Shaku Chôkuu)

5) Nh́n chung về Araragi :

V́ Itô Sachio chỉ muốn duy tŕ phong cách sáng tác của Shiki nên ông không thoả măn được đ̣i hỏi của thành viên trong nhóm, những người từng có vốn hiểu biết về tư trào duy mỹ và tự nhiên trong văn nghệ. Xung đột giữa họ đă xăy ra như sự ra đi của Shaku vào năm 1921. Đến khi Sachio mất (1913), nhờ có Akahiko và Mokichi ǵn giữ và phát triển, Araragi c̣n tồn tại được.

Về tác phẩm, Mokichi có Shakkô (Xích Quang) “ Tia sáng đỏ ” (1913), Shimaki Akahiko và Nakamura Kenkichi viết chung Bareisho no hana “ Hoa khoai tây ” (1913), Akahiko có tác phẩm riêng Taikyo-shuu (Thái hư tập) “ Trời cao rộng ” (1913), Kenkichi viết Rinsen-shuu (Lâm tuyền tập) “ Đồng Quê ” (1916), Atsushi viết Aijitsu (Ái nhật) “ Ngày mây mù ”(1922), Bunmei có Fuyukusa “ Cỏ mùa đông ” (1925), Chôkuu viết Umiyama no aida “ Giữa núi và biển ” (1925), Chikashi viết Okujô no Tsuchi “ Đất trên mái nhà ” (1927). Phần lớn là những tập thơ có giá trị cao. 

Araragi giữ được thế đứng lâu dài trên thi đàn không những nhờ tài cán của các nhà thơ thành viên mà c̣n nhờ ở phẩm chất những cuộc thảo luận về văn học nghệ thuật của họ. Trước tiên Shimaki Akahiko đă đưa ra thuyết cho là dù không phải là thiên tài, người thường cũng có thể trui rèn để biết diễn tả theo phép “ tả sinh ” ( shasei) để nh́n thấy cái “ chân tướng tịch liêu ” (sekiryôsô) của con người. V́ lối nh́n nầy bỏ qua cá tính của người làm thơ nên Mokichi thêm vào là thi nhân phải nh́n thấy thực tướng của sự vật rồi nhập với nó thành một, nghĩa là nhấn mạnh lên tính chủ quan của người làm thơ. Ở điểm này, Mokichi đă đi xa lư luận về miêu tả khách quan mà Shiki đề xướng trước đây.

C) Thơ chống Araragi :

Dưới thời Taishô, dĩ nhiên vẫn có những nhà thơ hoạt động ngoài ṿng ảnh hưởng của Araragi, nếu không nói là chống lại nó. Đó là đám đệ tử của Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963), chủ biên tờ Kokoro no hana “Hoa Tim” đă nói ở trên.Trong số đó có Kawada Jun (Xuyên Điền, Thuận, 1882-1966) và Kinoshita Rigen. Kawada Jun có tập Gigeiten (Kỹ nghệ thiên) “Nàng tiên nghệ thuật” (1918) và Washi “Chim Ưng” (1926), có phong cách lăng mạn. Ông c̣n để lại tác phẩm nghiên cứu thơ waka lối cổ.

1) Kinoshita Rigen (Mộc Hạ, Lợi Huyền, 1886-1925) :

Ông người tỉnh Okayama, tốt nghiệp khoa quốc văn Đại Học Đông Kinh. Đă làm thơ từ hồi học trung học. Thường đăng thơ trên tạp chí “ Hoa tim ”.

Kinoshita Rigen trước kia từng cộng tác với các tạp chí Shirakaba Nikkô. Có thể xem ông là nhà thơ duy nhất đứng trong nhóm Shirakaba bên cạnh các nhà văn Shiga Naoya, Musashikoji Saneatsu vv... tuy ông cũng có lần viết tiểu thuyết. Ông có các tập thơ Gin “Bạc” (1914), Kôgyoku “ Hồng ngọc ” (1919) và Ichiro “Một con đường”(1924). Trong “ Bạc ”, người ta nhận ra ảnh hưởng của Kitahara Hakushuu với giọng thơ đầy nhục cảm, nhưng khuynh hướng này đă biến dạng từ khi ông đi theo đường “ tả sinh ”của Shimaki Akahiko. Ông mất v́ bệnh lao năm mới 39 tuổi.

Khi đi trên đường cái,
Bên cạnh đàn trẻ con.
Thấy mùi hương quít nức lên,
Biết mùa đông đă đến bên ḿnh rồi.

(Bài Machi wo yuki, thơ Rigen)

Chiếc xe ḅ lọc cọc,
Nặng nề và mệt nhọc.
Bánh xe như sắp ră rời,
Tiếng nghiến đá sỏi như lời ai than.

(Bài Ushiguruma, trong Ichiro “ Một Con Đường ”, 1924, thơ Rigen)

2) Ôta Mizuho (Thái Điền, Thủy Tuệ, 1876-1955) :

Một nhà thơ khác cần biết đến là Ôta Mizuho, người sáng lập tạp chí thơ Chôon (Triều âm) “Tiếng nước triều”. Đặc điểm của ông: đem tinh hoa của waka cổ điển vào waka hiện đại, học hỏi phong cách Bashô để mà tạo ra một h́nh thức tanka có tính cách tượng trưng, chống đối với thuyết tả sinh (shasei,) mô tả tự nhiên của Saitô Mokichi. Ông có tập Unchô (Vân điểu) “Chim trong mây”(1922), Raden (Loa điền) “Vỏ xa cừ”(1940).

Ngoài những nhân vật nói trên, những thi nhân waka hoạt động với quan điểm khác với Araragi vào thời này c̣n phải kể đến Kubota Utsubo, như đă nói, xuất phát từ nhóm Myôjô, nay hướng về những đề tài liên quan đến sinh hoạt. Ngoài ra. hai nhà thơ lớp trước là Onoe Saishuu và Kaneko Kun.en vẫn tiếp tục sáng tác.

Năm Taishô 13 (1924) tờ Nikkô (Nhật Quang) ra đời, tụ họp cả nhân vật phái chống Araragi (Kinoshita Rigen, Kawata Jun, Kitahara Hakushuu, Maeda Yuugure và Toki Zenmai tức Toki Aika) lẫn các cựu thành viên Araragi đă rút lui khỏi nhóm (Koizumi Chikashi, Ishihara Jun, Shaku Chôkuu). Có lẽ họ là những người đă lập được cho cá nhân ḿnh một phong cách làm thơ độc lập nên sự thống nhất đường lối họ mong mỏi đă không kéo dài bao lăm. Tuy nhiên, đối với cánh Araragi, sự kiện này là một kích thích lớn lao và đối với lịch sử thi ca Nhật Bản, nó đánh dấu điểm khởi hành của tanka đời Shôwa vậy.

TIẾT V : TANKA ĐỜI SHÔWA (TIỀN CHIẾN)

Sự ra đời của tạp chí Nikkô (Nhật Quang, từ 1924) như đă nói, đă điểm hỏa cho ng̣i thuốc nổ. Trên thi đàn, không thiếu chi những lời phê b́nh phong cách viết tanka đă có. Một nhóm người đă muốn làm sống lại tanka bằng cách sử dụng văn nói khi sáng tác kiểu thơ cổ truyền này. Chỉ dùng văn nói để làm tanka vẫn c̣n chưa đủ v́ c̣n có sự phân chia các khuynh hướng như tanka định h́nh hay tanka thoát khỏi ràng buộc của âm luật, tanka theo khuynh hướng sinh hoạt hay khuynh hướng vô sản, khuynh hướng nghệ thuật. Những sự đối lập ấy cứ quanh đi quẩn lại không thôi.

Phái vô sản có người đại diện là Nishimura Yôkichi (Tây Thôn, Dương Cát, 1892-1959) với tập tanka Midori no hata “Lá cờ xanh lục” (1929), và Watanabe Junzô (Độ Biên, Thuận Tam, 1894-1972) với Reppuu no machi “Con đường gió giật” (1929). Cả hai ông đều v́ cảm động khi đọc thơ Takuboku hay Aika mà chọn con đường văn học vô sản.

Phái nghệ thuật th́ vẫn c̣n những nhà thơ lớp trước như Ishihara Jun và Maeda Yuuzuru tiếp tục hoạt động. Phong trào phục hưng tanka c̣n đi xa hơn nữa, đến nỗi trong nhóm Araragi đă có người lên tiếng chủ trương phải tiến đến việc làm thơ theo lối văn xuôi nữa.

Để chỉ trích khuynh hướng này, Hakushuu (thành danh thời Taishô nhưng vẫn c̣n hoạt động mạnh trong giai đoạn Shôwa tiền chiến) cho ra mắt tạp chí Tama (Đa ma) “Tinh hoa” (1935), đề xướng chủ nghĩa tân lăng mạn (neo-romanticism) và gầy dựng những cây bút trẻ như Kimata Osamu (Mộc-mata [26], Tu, 1906-1983), tác giả Koshi [27]“Xứ Koshi” (1942), Oka Fumoto[28] (Cương, Lộc, 1877-1951) và Miya Shuuji (Cung, Shuu[29]+ Nhị, 1912-1986), tác giả Gunkei “Đàn gà” (1946).

1) Kimata Osamu (Mộc-mata, Tu, 1906-1983):

Người tỉnh Shiga, thuở bé đă có thi tài, làm thơ gửi đăng báo nhi đồng Akai Tori “Con Chim Đỏ”. Sau theo học Kitahara Hakushuu, làm thơ với thi phong lăng mạn với ca tập “Xứ Koshi”. Sau thời chiến, ông chấp nhận quan điểm phê phán haiku hiện đại chỉ là một “nghệ thuật hạng nh́” của Kuwabara Takeo (1946) và bắt đầu chấn chỉnh lại cách làm thơ.Trong bài tuyên ngôn đăng trong số đầu của tạp chí Yakumo (1946) do ông sáng lập, ông viết:

Chúng ta hăy tranh đấu để phá vỡ cung cách phong kiến của các hội đoàn tanka, và với bối cảnh là sự hưng thịnh của văn học dân chủ hậu chiến, làm được một cuộc cách mạng trong thi ca”.

Tạp chí rất nặng tay đối với những nhà thơ có thành tích cộng tác với chính quyền thời chiến, đ̣i hỏi nhà thơ tinh thần trách nhiệm, không được làm thơ chỉ để mua vui.

Ông lập ra tờ Keisei “H́nh thành” và có các tác phẩm như Tôreki “Cuốn lịch mùa đông” (1948), Rakuyô no shô “Chương lá rụng” (1955) Aizen Mugen “Yêu đương khôn cùng” (1974).

Kimata sẽ kế tục sự nghiệp của Hakushuu sau khi thầy mất, điều khiển tờ Tama và nghiên cứu lịch sử waka ( 1964) .

 

2) Kondô Yoshimi (Cận Đằng, Phương Mỹ, 1912-2006):

 Kondô Yoshimi kêu gọi người viết tanka phải vượt tinh thần phe phái.

Kondô Yoshimi là một trong những nhà thơ tanka dấn thân thời hậu chiến. Ông sinh ở Mă Sơn (Masan), Triều Tiên và lớn lên ở Hiroshima. Từ trẻ đă gia nhập nhóm Araragi và theo học Nakamura Kenkichi rồi Tsuchiya Bunmei. Học khoa kiến trúc Đại Học Công Nghiệp Tôkyô, ra trường hành nghề kiến trúc sư. Hoạt động thơ song song. Về thơ, đă thành lập nhóm “Nhóm những nhà thơ tanka mới” (Shin Kajin Shuudan) vượt lên trên phe phái. Năm 1948 ra mắt Sôshunka “Khúc mùa xuân sớm” và Hokorifuku machi “Phố bụi bay”. Lại thành lập tạp chí tanka Mirai “Tương Lai” , ra tập thơ Shizukana ishi “Ư chí lặng lẽ” (1951), Kurohyô “Báo Đen” (1968), viết hồi kư và nghị luận về thơ.

Năm 1945, trong khi các nhà thơ tanka phần lớn đau khổ trước cảnh Nhật bại trận, Kondô viết:

Chẳng hiểu tự khi nào,
Ban đêm, đường xe điện ngầm,
Những chàng trai đă gỡ đi,
Áp phích quân đội dán hồi chiến tranh.

(Bài Itsu no ma ni, thơ Kondô Yoshimi)

Khi mọi người giương cao,
Những ngọn cờ tư tưởng.
Niềm tin ta không hề lay,
Oán ghét cuộc chiến, giải bày ḷng ta.

(Bài Yo wo agashi, thơ Kondô Yoshimi)

3) Miya Shuuji (Cung, Đông Nhị, 1912-1986):

Miya Shuuji, chủ trương đi t́m căn nguyên của sự vật qua thơ

Người Niigata, lúc trên ghế trường Trung Học Nagaoka đă sáng tác tanka. Học xong đă sớm ra đời, giúp việc ở quán sách của gia đ́nh. Sau nhập môn Kitahara Hakushuu và hoạt động với tạp chí Tama. Năm 1939 ông đầu quân và đă kể lại kinh nghiệm chiến tranh ở Trung Quốc trong Sanseishô “Tỉnh Sơn Tây” (1949). Năm 1953, lập tạp chí tanka mang tên Cosmos và giữ vai tṛ điều khiển. Cái đặc sắc của thơ ông là khuynh hướng đi t́m căn nguyên của sự vật.

Miya Shuuji có thi phong hắc ám, cô độc, t́m đến với Shaku Chôkuu và được ông nầy nh́n nhận tài năng.

Cũng cần nhắc đến hai nhân vật có ca phong độc đáo tuy không lui tới sinh hoạt với ca đàn thời đó: Aizu Yaichi và Akashi Kaijin.

4) Aizu Yaichi (Hội Tân, Bát Nhất, 1881-1956):

Người Niigata, biệt hiệu Thu Thảo Đạo Nhân. Thời trung học đă yêu thơ tăng Ryôkan (Lương Khoan) và thích đọc Man.yô-shuu. Bắt đầu làm thơ haiku nhưng sau chuyển qua tanka. Aizu chuyên dùng văn tự hiragana khi làm thơ. Là người nhiều tài, ông c̣n bước sang lĩnh vực lịch sử mỹ thuật và thư đạo (calligraphy) nữa. Aizu có Rokumei-shuu (Lộc minh[30] tập) “Nai kêu” 1940.

5) Akashi Kaijin (Minh Thạch, Hải Nhân, 1901-1939):

Kaijin cũng rành về cả haiku, tanka và thơ mới, bị bệnh hủi phải chữa trị suốt 7 năm trong viện cho đến ngày chết. Kaijin để lại tập Shironeko “Con mèo trắng” (1939).

TIẾT VI: TANKA THỜI SHÔWA (HẬU CHIẾN)

Trong thời chiến tranh, hầu hết người làm tanka hoặc v́ sợ sệt không dám lên tiếng, đă giữ im lặng, hoặc có thái độ a ṭng với phía quyền lực nên khi chiến tranh kết thúc, ca đàn thường mang mặc cảm bất lực, nếu không nói là phạm tội đối với xă hội. Cho nên ta không lấy làm lạ nếu từ ngày hoà b́nh lập lại, không thiếu chi những người lên tiếng phủ nhận tanka. Usui Yoshimi (Cửu Tỉnh, Cát Kiến) chẳng hạn, viết Tanka e no ketsubetsu “Cắt đứt với Tanka” (1946), Ôno Tozaburô trong “Tanka teki jojô ni kôshite” đ̣i (Chống loại thứ t́nh tự kiểu tanka” (1947)…Một số người đứng ra ngăn chặn bớt lời buộc tội và đề nghị một điểm khởi hành mới cho tanka như nhà phê b́nh Kubota Masafumi (Cữu Bảo Điền, Chính Văn (sinh năm 1912) và Kimata Osamu qua việc cho ra mắt tạp chí Yakumo (Bát Vân, từ 1946). Hai ca nhân lăo thành là Saitô Mokichi và Shaku Chôkuu, bằng bài vở, đă đóng góp rất nhiều trong việc định một hướng đi mới cho tanka hậu chiến nhưng ca nhân có phong cách tượng trưng cho thời này là Kondô Yoshimi (Cận Đằng Phương Mỹ, 1913 - 2006), nhà thơ vừa nhắc ở trên, với tác phẩm Hokori fuku machi “Phố bụi bay” (1948).

Khi cả Mokichi lẫn Chôkuu đều đă qua đời (1953), làng thơ bước vào giai đoạn thứ hai của văn học hậu chiến. Người ta thấy có những nhân tài mới đến với làng thơ tanka. Họ là những nhà thơ nữ như Nakajô Fumiko (Trung Thành, Fumiko) với Chibusa sôshitsu “Mất vú” (1954), Baba Akiko (Mă Trường, Akiko) với Hayabue (Tảo Địch) “Thét C̣i” (1955), Ubukata Tatsue (Sinh Phương, Tatsue, sinh năm 1905) với Shiroi kaze no naka de “Trong luồng gió trắng” (1957). Họ c̣n là những nhà thơ tanka tiền vệ (avant-garde) như Tsukamoto Kunio (Chủng Bản, Bang Hùng, sinh năm1922) đă viết Suisô Monogatari “Truyện đám táng dưới nước” (1951), Okai Takashi (Cương Tỉnh, Long, sinh năm 1928) viết Seishô (Tề Xướng) “Cùng hát lên” (1956), Terayama Shuuji (Tự Sơn, Tu Ty, 1935-1983) viết Sora ni wa hon “Sách có trên bầu trời ”(1958). Cùng với tác giả của Mokkei (Mặc ước, 1955) “ Hiểu ngầm” là Ueda Miyoji (Thượng Điền, Tam Tứ Nhị), tác giả của Shigosen no Mayu “Cái kén trên kinh tuyến chia đôi bầu trời” (1964) là Mae Toshio (Tiền, Đăng Chí Phu), hai ông Okai và Tsukamoto đă thành lập liên minh văn học lấy tên Seinen Kajin Kaigi “Nhóm những nhà thơ tanka trẻ” với mục đích cùng nhau đi t́m đường hướng cho tanka

 

1) Baba Akiko (Mă Trường, Akiko, sinh năm 1928) :

 

Nhà thơ tanka nữ Baba Akiko, cũng là nhà nghiên cứu và phê b́nh

Người Tôkyô, tên thật là Iwata Akiko, v́ ảnh hưởng trong nhà, đă yêu thích thi tập Kokinshuu Truyện Heike từ thuở nhỏ. Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, sống bằng nghề dạy học. Tập thơ tanka Hayabue “ Thét c̣i ” (1955) mở đường cho đời làm thơ của bà. Sau đó bà c̣n xuất bản Chika ni tomoru hi “ Ngọn lửa cháy dưới ḷng đất ” (1959) Hikashô “ Tập thơ hoa bay ” (1972) Ôka denshô “ Truyền thống anh đào ” (1977). Ngoài ra c̣n viết b́nh luận và nghiên cứu (1969) về một nhà thơ nữ thời Heian, công chúa Shikishi.

2) Tsukamoto Kunio (Chủng Bản, Bang Hùng, sinh năm1922) :

 

Tsukamoto Kunio t́m ra người hiểu ḿnh nơi Mishima Yukio

Sinh ở tỉnh Shiga, năm 1947 trở thành học tṛ của Maekawa Samio (Tiền Xuyên, Tá Mỹ Hùng). Tác phẩm đầu tay Suisô Monogatari “ Một truyện thủy táng ” có khuynh hướng phản hiện thực nên không được mấy ai trên văn đàn, ngoại trừ Mishima Yukio, chú ư đến. Nhà văn này cho rằng “ Tsukamoto Kunio đă đem lại phẩm cách cho một ḍng thơ sắp sửa bị tiêu diệt ”.

Sau đó, Tsukamoto dần dần được nh́n nhận như một cây bút tiền vệ (ngoài thơ ông c̣n viết cả tiểu thuyết). Cùng với Okai Takashi và Terayama Shuuji lập ra tạp chí Kyoku “ Cực ” (1960) đem phong cách mới mẽ đến cho tanka, sử dụng nhiều ẩn dụ và thiên về thẩm mỹ nhiều hơn là hiện thực.

Có các ca tập Suigin Densetsu “ Truyền thuyết thủy ngân ” (1961), tiểu thuyết Konjô no wakare “ Cuộc chia tay màu xanh ” (1972) v.v...

Sau đây là những vần thơ hiểm hóc ấy mà trong đó Tsukamoto thường dẫn ra những khái niệm về Công Giáo và tên tuổi văn nhân nghệ sĩ phương Tây :

Những cái lưỡi màu hồng,
Sắp trong ḷ bánh ḿ.
Chúng chồng chất lên nhau,
Một làn khói bốc lên,

Sinh nhật Lautréamont.[31]

 

Cocteau[32] đă chết rồi,
Tóc bạc kêu sột soạt,
Tuyết rắc lên cá hồi,
Thịt phanh ra từng miếng.

Cho dù có Đức Chúa,
Sống ở Vatican,
Thược dược đỏ mẹ cắt,
Rễ cũng dính sinh đôi.

(Bài Panya kamado ni “ Trong ḷ bánh ḿ ”, thơ Tsukamoto Kunio)

3) Okai Takashi (Cương Tỉnh, Long, sinh năm 1928) :

Người tỉnh Aichi, tốt nghiệp y khoa Đại Học Keiô, vừa là bác sĩ vừa là nhà thơ. Cha mẹ đều là nhà thơ tanka. Năm 1945, ông tham gia nhóm Araragi và học thơ với Tsuchiya Bunmei. Đă từng sáng lập tạp chí tanka Mirai với Kondô Yoshimi và Kyoku với Tsukamoto và Terayama. Tác phẩm đầu tay tựa đề Seishô “ Cùng hát lên ” (1956) đă có phong cách tiền vệ. Về sau, lại viết Kinki no kôshoku “T́nh cấm ” (1982), Kyuuden “ Cung điện ” (1991) và một số tập b́nh luận về tanka, đặc biệt thơ Saitô Mokichi. 

Thơ của ông gần với văn nói hơn Tsukamoto, không “ khiêu chiến ” với truyền thống và có vẻ dể hiểu hơn. Có vẻ thôi ! :

Không ! Tại sao không ?
Tại sao à ? Tuyết đọng,
Trên đống găng chồng chất,
Đang dần dần tan ra,
Mặt bàn thành mặt biển.

(Bài Non, naze ?, thơ Okai Takashi)

TIẾT VII : MỘT THOÁNG NH̀N VỀ TANKA ĐƯƠNG ĐẠI :

Cuộc đấu tranh chống hiệp ước an ninh hỗ tương giữa Nhật và Mỹ đă để lại dấu vết thời đại trong tác phẩm của rất nhiều thi nhân tanka, ví dụ như Kishigami Daisaku (Ngạn Thượng, Đại Tác, 1939-1960) và Sasaki Yukitsuna (Tá Tá Mộc, Hạnh Cương). Kishigami viết Ishi Hyôji ”Bày tỏ ư chí” (1961) trước đó, đă treo cổ tự tử trong lúc c̣n ngồi trên ghế đại học cũng là thời điểm cao trào chống hiệp ước Nhật Mỹ lên cao. Cùng thế hệ với họ có Kasuga Iken (Xuân Nhật, Tỉnh Kiện (sinh năm 1936) với tác phẩm Miseinen (Vị thành niên, 1959) . Sasaki về sau c̣n được chú ư nhờ sáng tác Gunrei (Quần Lê ) “Nhân dân” (1970).

Tawara Machi (Biểu, Vạn Trí, sinh năm 1962)

Tawara Machi, tác giả tập tanka ăn khách “Ngày Lễ Rau Xà Lách”

Từ năm Shôwa 62 (1987), có khuynh hướng dùng ngôn ngữ hàng ngày, văn tự katakana[33] và những tiếng nghĩ âm (onomatopoeia) và cứ để nguyên mà viết tanka, nhất là đụng chạm đến những đề tài có tính cách gây bùng nổ như phong cách của Tawara Machi (Biểu, Vạn Trí trong Sarada Kinenbi “Ngày lễ rau xà lách”. Về phương diện sử dụng văn nói tài t́nh để làm thơ, có người xem bà không kém cả Ishikawa Takuboku và thường được ví với nhà thơ tanka nữ Yosano Akiko.

Bà sinh ở Ôsaka và từng theo học ở Đại Học Waseda. Trong lúc c̣n đi học, được quen biết với Sasaki Yukitsuna (Tá Tá Mộc, Hạnh Cương) và bắt đầu làm thơ đăng trên tạp chí Kokoro no Hana “Hoa Tim”. Năm 1986, xuất bản ca tập Hachigatsu no asa “Một buổi mai tháng tám”gồm 50 bài và được giải Kadokawa về tanka của nhà xuất bản cùng tên. Sau đó là “Ngày lễ rau xà lách”, tác phẩm gồm 434 bài thơ rất ăn khách ( 2 triệu cuốn) v́ đă biết dùng ngôn ngữ của văn nói để diễn tả những t́nh cảm luyến ái nhẹ nhàng của một phụ nữ trẻ (thơ nhẹ nhàng = light verse) , bắt mạch đúng nhu cầu thời đại của những người gọi là “con người mới” (shinjinrui).

Bởi v́ nghe anh nói:
“Nè, ngon quá em ơi!”
Từ nay, em sẽ gọi,
Mồng 6 tháng 7 hôm nay,
“Ngày lễ rau xà lách”

(Trong Sarada Kinenbi, thơ Tawara Machi, 1988)

Ngoài ra bà c̣n dịch Truyện Ise và tập thơ Midaregami “Tóc rối” của Yosano Akiko ra văn mới. Hai tập thơ Kaze no te no hira “Ḷng bàn tay của gió” (1991) và Chôkoreto Kakumei “Cách mạng xô cô la” (1997) và tập tùy bút Yotsuba no essei “Tập b́nh luận lá bốn cánh”(1988) là những tác phẩm khác cần được nhắc đến.

Tạm Kết :

Tanka đương đại đă nối tiếp được ḍng Waka cho đến giữa ḷng thế kỷ 20 với tất cả sự tươi mát và hăy c̣n nối tiếp. Có thể xem waka là một trong những ḍng thơ dài lâu nhất của lịch sử loài người. Waka c̣n là một điểm tựa chắc chắn để người Nhật t́m về nguồn cội văn hóa của dân tộc ḿnh trước khi có sự xâm nhập của văn hóa Hán.


 

[1] Hosokawa Yuusai là vũ tướng đă thờ tướng quân Ashikaga Yoshiaki, sau lại theo phục vụ Nobunaga, Hideyoshi và Ieyasu, ba người anh hùng thống nhất Nhật Bản. Có giai thoại kể khi ông bị tướng Ishida Mitsunari bao vây thành tŕ, đă có chiếu chỉ bắt Ishida phải giải ṿng vây để khỏi làm hại ông v́ ông là người hiện giữ bí truyền của thơ Waka. Ông để lại tập thơ “ Lẽ Trời Đất ” (Shuumyôshuu = Chúng Diệu Tập).

[2] Kinoshita Chôshôshi vốn là cháu của Hideyoshi, được phong giữ thành Kohama.Từ sau trận Sekigahara (1600), ông về ẩn dật ở Kyôto. Để lại tập thơ “ Mời Rượu ” Kyohaku-shuu (Cử bạch tập).

[3] Trong waka truyền thống có nhiều ràng buộc hạn chế ví dụ phép seishi (chế từ), kinshi (cấm từ) nghĩa là một số chữ không nên dùng hay cấm dùng trong thơ như thấy nhắc đến trong tác phẩm lư luận về waka của Fujiwara no Tameie (Đằng Nguyên Vi Gia).

[4] Toda Mosui không để lại tập thơ nào nhưng có nhiều bài hay lưu truyền. C̣n có hiệu là Kakureka no Mosui (Ẩn Gia Mậu Thụy)

[5] Tức là cách làm thơ của phái Nijô theo truyền thống thầy truyền cho tṛ của Hoshikawa Yuusai. Chữ Dôjôha (Đường thượng phái ) c̣n đọc là Tôshôha là trường thơ waka cao cấp của hạng công khanh, dùng để phân biệt với Jigeha (Địa hạ phái), môn phái waka tuy cũng bắt nguồn từ Yuusai nhưng có màu sắc dân dă, do Matsunaga Teitoku chủ xướng.

[6] Shimokôbe Chôryuu (1626-1686) có để lại tập “ Hoa Nở Muộn ” (Banka-shuu = Văn Hoa Tập).

[7] Ozawa Roan (1723-1801) lúc đầu đi theo phiên Inuyama ở Owari ( Aichi, gần Nagoya bây giờ ), sau học Waka với Reizei Tamemura (Lănh Tuyền, Vi Thôn) nhưng từ bỏ môn phái. Lư luận về thi ca, ông có “ Đường giữa ngày xưa ” (Furu no nakamichi) và thi tập có “ Sáu thếp ca vịnh ” (Rokujô Eisô = Lục thiếp vịnh thảo)

[8] Kagawa Kageki (1768-1843), vũ sĩ cấp bậc thấp thuộc phiên Tottori. Lên Kyôto, làm dưỡng tử (lấy vợ và theo họ vợ ) nhà Kagawa, một gia đ́nh có tiếng về Waka nhưng sau đó ly hôn. Để lại tập “ Một cành vườn quế ” (Keien Isshi = Quế viên nhất cxhi)

[9] Trường phái này do học tṛ của Kamo no Mabuchi chủ xướng.

[10] Xem Joan Titus-Carmel, Les 99 Haiku de Ryôkan, Verdier, Dijon, France, 1989.

[11] Những bài ca ngắn tương truyền do một nhà sư người vùng Sakai (Giới) gần Ôsaka tên là Takasabu Ryuutatsu (Cao Tam, Long Đạt) đầu tiên đă viết trong khoảng năm Bunroku (Văn Lộc), Genchô (Nguyên Trường ) (1592-1615)

[12] Tập bài hát do nhà biên tập Shushô Ken (Tú Tùng Hiên) soạn (không ai biết chi tiết về nhân vật nầy) , in ra vào năm Genroku 16 (1703), thu thập những bài hát được lưu hành rộng răi trong dân chúng.

[13] Nguyên lai có nghĩa là chi phái Jôruri theo cách kể truyện của Miyako Bingo no Jô (Cung Cổ Phong Hậu Duyện (1660-1740) trước từ Kyôto- Ôsaka dời xuống Edo và lập ra ở đó. Ca khúc gọi là Bungo no Bushi có nội dung dâm đăng lẳng lơ nên bị Mạc Phủ đàn áp, cấm lưu hành.

[14] Dôjôha phát xuất từ môn phái Nijô (xin xem thêm phần thi ca trung cổ), tiếp nối với Hosokawa Yuusai (Tế Xuyên U Trai, 1534-1910), dựa trên Kokin-shuu nhưng thơ có khuynh hướng cao sang.

[15] Keienha là phái của Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1853) cuối thời Mạc Phủ. Cũng dựa trên Kokin-shuu do Ki no Tsurayuki biên tập nhưng chuộng thơ b́nh dị.

[16] Theo Shiki trong Utayomi ni atauru sho “Sách để thưởng thức tanka”, th́ “ Tsurayuki làm thơ dở và tập Kokin không ra ǵ cả ”.

[17] Cần phân biệt với chiến tranh Nhật Thanh (1894-95).

[18] Kiểu thơ ẻo lả, nhu ḥa của Kokinshuu và các tập thơ soạn theo sắc chiếu về sau, khác với giai điệu hùng tráng, “ nam nhi ” (masuraoburi) của Man.yô-shuu mà Tekkan cho là lư tưởng.

[19] Câu đầu trong sách Senjimon (Thiên Tự Văn), một tác phẩm để học chữ Hán ở Nhật cũng như Tam Tự Kinh đối với người Việt Nam đời xưa. “ Thiên địa huyền hoàng, Vũ trụ hồng hoang ” ư nói lúc tạo thiên lập địa.

[20] Gọi là lan tím nhưng hoa murasaki cánh màu trắng, rễ mới tím.

[21] Oka Fumoto có tập Niwakoke “ Rêu sân ” đậm đà phong vị, tiêu biểu cho nghệ thuật diễn tả “ shasei ”.

[22] Sau nầy lần lượt có thêm các tạp chí Akane Araragi (từ 1908). Akane (thiến, madder) là tên một loại cây có rễ dùng làm thuốc nhuộm màu đỏ.

[23] Araragi, tên một loại lan một loài hoa thuộc họ Azalea (hoa đỗ quyên).Tạm dịch sang từ tiếng Anh Japanese Andromeda, mang tên nữ thần Andromeda trong thần thoại Hy Lạp.

[24] Có nghĩa là một loại hoa lan. C̣n là tên gọi cây thủy tùng Nhật Bản (Japanese Yew).

[25] Keene, Donald, Dawn with the West, quyển 4 trang 66- 67.

[26] Mata = quốc tự của Nhật, không có âm Hán tương xứng, ư là phân nhánh.

[27] Tên đất cũ ven biển Nhật Bản, Koshi (Cao Chí) chỉ phần lớn vùng Niigata bây giờ.

[28] Oka Fumoto có tập Niwakoke “ Rêu sân ” đậm đà phong vị, tiêu biểu cho nghệ thuật diễn tả “ shasei ”.

[29] Tên một loại cây (Mộc+ Đông), không thấy âm Hán tương xứng.Tên Nhật là hiiragi tức cây ô-rô để trang hoàng trong dịp giáng sinh ( holly tree).

[30] Chữ trong Kinh Thi chỉ thơ văn làm lúc yến ẩm. Thời Meiji ở Tôkyo có Lộc Minh Quán, chỗ để tiếp tân nổi tiếng.

[31] Nhà thơ người Pháp tên thật là Isidore Ducasse (1846-1870), làm thơ tản văn có những h́nh ảnh huyễn hoặc kỳ quái. Tự xưng là bá tước.

[32] Jean Cocteau (1889-1963), nhà thơ và nghệ sĩ đa tài người Pháp, nổi tiếng trong nhiều lănh vực kể cả tạo h́nh.

[33] Văn tự phụ hiện chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com