NAKANO MIYOKO

Nguyễn Nam Trân

biên dịch và chú thích

Tây du kư

Quá tŕnh xây dựng nhân vt Tôn Ng Không

tiểu thuyết Tây Du Kư dưới cái nh́n dân thoi hc1

Lời dn nhp ca người biên dch: Tây Du Kư tiêu biểu cho tiểu thuyết chương hi b́nh dân Trung Quc, có nh hưởng sâu sc đến sinh hot xă hi các dân tc Á Châu. Không nhng nó đă có mt t lâu trong khu vc văn hóa ch Hán (Trung, Đài, Hàn, Vit, Nht) mà t cui thế k 19, qua các bn tung các gánh hát lưu din và văn dch, Tây Du Kư ( TDK ) đă theo ngn gió mùa và quang thúng Hoa Kiu đến Thái, Mă Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế gii. Âu M cũng đánh giá cao TDK, bng c là Pháp đă cho in bn dch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tp Pléiade trên giấy quyến và hc gi A. Waley đă dch TDK ra Anh ng t lâu ( Monkey, by Wu Ch’Êng-Ên, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài ra, việc so sánh Tây Du Kư2 và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s Progress (Thiên Lộ Lch Tŕnh)ng là mt đề tài thú v cho người nghiên cu văn hc đối chiếu.

Do đó, ta không l ǵ khi thy trong s hc gi Nht có người như Nakano Miyoko b gn c cuc đời để nghiên cu Tây Du Kư. Bà Nakano sinh năm 1933 Sapporo, min Bc nước Nht, giáo sư danh d Đai Hc Hokkaidô và chuyên môn về văn hc Trung Quc. Tác phm chính có Tôn Ngộ Không chào đời (1980), Yêu quái Trung Quốc (1983), Bí mật bên trong Tây Du Kư (1984), Pháp sư Tam Tng, Tôn Ngộ Không có phi là kh không?…. Ngoài ra, bà đă dch Tây Du Kư sang tiếng Nht.

Bài viết nầy có mc đích tŕnh bày mt s thông tin trích t hai tác phm ca bà là Ngày Tôn Ngộ Không chào đời (Son-Go-Ku no tanjô, 292 trang, bản năm 2002), và Bí mật bên trong Tây Du Kư (Saiyuki no himitsu, 368 trang, bản 2003), đều do Iwanami Shoten tái bn vi kh b túi. Ta đề và tiết đều do người biên dch tm đặt. V́ tính cht đon chương th nghĩa không tránh khi ca vic trích dch, xin độc gi lượng th nếu bài viết không th hin đầy đủ tun t suy lun ca tác gi Nakano Miyoko.

Bạn đọc hn không c̣n lạ ǵ Tôn Ng Không, nhân vt chính ca Tây Du Kư ( TDK ), con kh thn thông và anh hùng nt ra t qu trng đá trên đỉnh Hoa Qu Sơn, nước Ngao Lai, mt ḥn đảo ngoài bin thuc Đông Thng Thn Châu3. Không cha mẹ, không anh em, mt ḿnh t tp đàn kh, tự xưng M Hu Vương động Thy Liêm, ri mt ngày b tt c lên đường đi hc đạo tiên vi Tu B Đề T Sư Tây Ngưu Hóa Châu4. Họ Tôn pháp thut cao dày, vũ ngh tuyt luân, đại phá long cung, náo lon thiên đ́nh, ăn trm qu bàn đào, được phong T Thiên Đại Thánh, đánh tan thiên binh thn tướng, nut linh đơn, chu được la khói ḷ bát quái ca Lăo Quân và ch mc mưu Như Lai b đè dưới ngn Ngũ Hành Sơn, để ri theo Huyn Trang Tam Tng thnh kinh và cui cùng thành Đấu Chiến Thng Pht tiêu dao cơi Tây Phương.

Ba nguồn ci văn hc ca Tây Du

  Lai lịch ca Tôn Ng Không như trên tóm lược t tiu thuyết Tây Du Kư, được viết ra vào đời Minh mà bn khc g xưa nht c̣n gi được đến nay mang tên Tân Khắc Xut Tượng (Tướng) Quan Bn Đại T Tây Du Kư, tục gọi là bn Thế Đức Đường, ra đời năm Vn Lch 20 (1592). Tuy nhiên trước bn đời Minh100 chương hi này, chúng ta đă thy du vết ca Tây Du Kư tự đời Nguyên. Tiếc thay không ai c̣n gi được bn TDK đời Nguyên na, nhưng qua nhng tư liu bên l, ta có thể tưởng tượng ra h́nh dáng nó mt phn nào.

liu bên l y là kch và thi thoi (nhưng xin hiu thi thoi đây là truyn k bng thơ và bch thoi ch không phi giai thoi v thơ). Kch bn đời Nguyên ly TDK làm đề tài hin cũng không c̣n nhưng may mắn là một b phn ca nó được ghi li trong Tây Du Kư Tạp Kch của Dương Cnh Hin (c̣n gi là Dương Cnh Ngôn) đời Minh. Sách ny hin vn được bo tn và coi như là mt tư liu tham kho đáng tin cy.

Dấu vết v mt tiu thuyết có tên là Tây Du Kư xuất hin dưới thi Nguyên c̣n được thy qua mt tư liu Triu Tiên thế k 15, Phác Thông Sự Ngn Gii, cuốn sách giáo khoa dy đàm thoi tiếng Trung Quc có phiên âm theo Hàn ng (ngn gii) ca ông thông ngôn (thông s) h Pak (Phác). Ngoài ra trong nh Lc Đại Đin, bộ toàn thư vĩ đại in năm Vĩnh Lc th 6 (1408) đời Minh, quyn 13139 cũng có dn dng mt phn nguyên văn TDK, xét niên đại th́ suy được nó phi là TDK ca đời Nguyên.

Trước Nguyên, Tây Du Kư đă xut hin dưới h́nh thc thô sơ hơn t đời Tng. Thời ấy, trong các đô th ln, có nhng Ngơa T tc là nhng người k truyn bng thơ vè và nói li cho dân chúng nghe và h cn có bn gc (để bn) dựa vào đó mà k. Hai trong nhng bn gc đó đă được t́m thy Nht. Đó là Đai Đường Tam Tng Th Kinh Thi Thoại (c̣n khá đầy đủ ) và Đại Đường Tam Tng Th Kinh Kư, in thời Nam Tng và có l do các tăng Nht Bn du hc bên đấy mang v.

Bản TDK đời Minh quen thuc vi chúng ta, song nhng h́nh thái truyn, kch, thi thoi Tng Nguyên kia có liên h hàng dc vi nhau không, ta chưa qu quyết được. Bi v́ nhng mi dây đó mc míu vào nhau, thêm bt cho nhau vô cùng phc tp, làm cho ta b ngp lt trong đống văn kin và d kin. Tt hơn nên xé l mt vn đề để nghiên cu như th so sánh xem trong mi mt h́nh thái n ngh nói trên, nhân vt trung tâm Tôn Ng Không đă được xây dng theo quá tŕnh như thế nào.

Trong kịch bn TDK chng hn, Tôn Ng Không có c anh ch em, li bắt cóc nữ vương nước Kim Đỉnh v làm v, nhưng trong tiu thuyết TDK đời Minh th́ Tôn Ng Không một ḿnh mt thân, tuy phá phách nhưng không h háo sc. Phn trích dch (bn TDK đời Nguyên) ca Phác thông s ra tiếng Triu Tiên không đề cp ti chuyn v con ca Tôn Ng Không nhưng có nhc đến vic Tôn Ng Không đánh cp áo Tú Tiên Y ca Tây Vương Mẫu để m Khánh Tú Y Hi, mt chi tiết ging y ni dung kch bn, nên t đó có th suy ra là trong bn TDK đời Nguyên, Tôn Ng Không cũng có th có v con.

Ngược li, thi thoi đời Tng cho nhân vt chính là Hu Hành Gi (tin thân Tôn Ng Không) không vợ con ǵ c, chng t gia thi thoi Tng và kch bn Nguyên có th li không cùng mt h thng. Ngoài ra, theo bn TDK đời Minh th́ rơ ràng Tôn Ng Không có ngun ci bí n, vn t ḥn đá nt ra, không cha không m ch đừng nói đến anh em.

Về cách Tôn Ng Không b trng pht cũng thế, trong thi thoi Tng ch nói h Tôn b Tây Vương Mu đánh đ̣n nhưng không có s tích đá đè dưới núi Ngũ Hành như các bn t Nguyên v sau. Mà chuyn đè Tôn Ng Không dưới đá có bn cho là do Ngc Đế, bn khác bo do Quan Âm, Như Lai, không thng nht. V người cu h Tôn ra khi Ngũ Hành Sơn th́ các bn đều đồng thanh là Tam Tng, tr thi thoi bo Ng Không dưới dng mt Bch Y Tú Tài t phương Đông đă đến nhp bn thy tṛ Đường Tăng và đổi tên thành Hu Hành Gi, cùng đi thỉnh kinh.

Những chi tiết khác nhau na là danh xưng và quê quán ca Tôn Ng Không. Chng hn T Thiên Đại Thánh có phi là tên Ngc Đế phong hay Ng Không t xưng. Ngoài ra, theo TDK bn Nguyên và bn Minh, nơi phát tích ca Tôn Ng Không là núi Hoa Qu động Thy Liêm, trong khi thi thoi đời Tng và kch bn gi nó là T Vân Động hay T Vân La Động.

Ai viết Tây Du Kư?

Theo ư kiến chung ngày nay, bn TDK đời Minh là ca Ngô Tha Ân5 soạn. Lập lun ny chưa hn được tt c các nhà nghiên cu chp nhn. Vic Hoài An Phủ Chí của ph Hoài An, quê hương ông, ghi rng Ngô Tha Ân viết TDK chưa chc mun nói đích xác là cun TDK, tiu thuyết v Tôn Ng Không, v́ cái ta Tây Du Kư c̣n được dùng bi nhiều người mi khi nói đến mt cuc l hành v phương Tây. Vào thế k 13, thiên hi kư v cuc hành tŕnh ca đạo sĩ Khâu (Khưu) X Cơ6, người được Thành Cát Tư Hăn mi đến thành Samarcand đă có nhan đềTrường Xuân Chân Nhân Tây Du Kư. Cái tựa ny làm cho từ đời Thanh cho đến đầu thế k 20, nhiu người vn lp lun rng Khâu X Cơ là tác gi TDK, ch v́ căn c vào 3 ch TDK trên b́a sách mà không cn biết ni dung quyn sách ny (đă được dch ra Nht ng) không dính líu ǵ đến tiu thuyết TDK.

Nhiều người đă da vào mt là Hoài An Phủ Chí, hai là vào lư do trong TDK có những chi tiết phn ánh quan chế đời Minh để bo rng nó phi là tác phm viết bi mt người sng vào đời Minh (Ngô Tha Ân) ch không th là mt người đời Nguyên (Khâu X Cơ ) được. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Nht Bn Ôta Tatsuo là mt trong nhng người t ra ng vc thuyết Ngô Tha Ân. Ông tiếc rng t khi H Thích trong Tây Du Kư Khảo Chng (xem Hồ Thích Văn Tồn, 1923) và Lỗ Tn (1881-1936) trong Trung Quốc Tiu Thuyết S Lược (1924) chấp nhận thuyết Ngô Tha Ân là tác gi TDK th́ thuyết ny tr thành định thuyết trong hc gii. Ông c̣n cho là gn đây, năm 1955, khi in bn ch́ cho TDK, Tác Gia Xut Bn Xă và Nhân Dân Văn Hc Xut Bn Xă đă s dng bn Thế Đức Đường tàng tr ti Thư Vin Bc Kinh làm bn gc, dùng sáu d bn đời Thanh để hiu đính, nhưng li lược b bài ta ca Trn Nguyên Chi lưu ư v vic tên tác gi vn c̣n chưa chc, và đề ngay lên là «Ngô Tha Ân tr». Vn theo Ôta Tatsuo, trên lp trường mc lc hc, Hoài An Phủ Chí với tư cách là mt văn kin chính thc ph Hoài An, mt cơ quan hành chánh, th́ ch để ư đến nhng tác phm có tính cht đứng đắn như Kinh, S, T Tp, cùng lm là kch bn (v́ kch được triu Minh chp nhn), ch không th nào lư đến s tn ti ca mt tiểu thuyết bch thoi, cho dù nó được qun chúng yêu thích. Ông cho là may ra h Ngô ch viết kch Tây Du ch không h viết truyn Tây Du.

Chính ra những người ch trương thuyết Ngô Tha Ân không phi không có trong tay nhiu «chng c» khác. Để bo v lun cứ ca H Thích và L Tn, hc gi Trung Quc bt đầu t́m hiu các tác phm khác ca Ngô Tha Ân như Xạ Dương Tp (sau nầy được chnh lư li dưới cái tên Xạ Dương Tiên Sinh Tn Co) và đă có th bin minh cho liên quan gia h Ngô và tiu thuyết Tây Du Kư bằng nhng lư l như sau:

1) Trong Xạ Dương Tiên Sinh Tn Co, quyển 1 có bài Nh Lang Sưu Thn Đồ Ca B́nh T (đề ta bc tranh v thn Nh Lang đi tun núi bt yêu quái) viết theo li tht ngôn c thi. Ni dung thơ có nhc đến vic «thn Nh Lang có chim ưng và chó săn, có th bt được c kh già» (câu 9 và 11). Nh Lang có th là Dương Tin (đă có mt trong Phong Thần Din Nghĩa), từng giao tranh kch lit vi T Thiên Đại Thánh trên thiên cung trong hi th 6 ca TDK chăng? (mc dù có mt thn Nh Lang khác trong Nguyên khúc và Minh khúc tên Triệu Dc, gn thi đại vi Ngô Tha Ân hơn).

2) Cùng trong quyển 1 ca tn co ny có bài Hi Hc Bàn Đào Biên (Bài thơ v bàn đào hc bin) viết năm k su đời Gia Tĩnh (1529) có t cnh qu tiên bàn đào bên b Dao Tŕ ở Côn Lôn, nhc đến Đông Phương Sóc và Tây Vương Mu. Câu 7 c̣n viết: (Cây đào tiên) sinh hoa kết trái 6 ngh́n năm.

3) Quyển 3 trong tn co li có bài Bát Tŕ Sơn Khuyến Duyên K (Bài k khuyên người nên đến t́m đạo núi Bát Tŕ) bt đầu vi hai câu «ta nghe nói Nam Thiệm B Châu có 72 phúc địa mà mt trong s đó là núi Bát Tŕ». Ngoài vic dùng ch Nam Thim B Châu phn ánh vũ tr quan n Độ và có thy ghi đầu Tây Du Kư, bài thơ c̣n có nhng câu nhc đến s hn hp hài ḥa gia Pht Giáo và Đạo Giáo, ăn khp vi tinh thn TDK.

Những dn chng trên có th làm nng cán cân v thuyết Ngô Tha Ân, nhưng vn chưa thy mt chng c quyết định nào để nói rng ông là tác gi ca tiu thuyết TDK . Vn c̣n nhà nghiên cu Đài Loan Trn Đôn Ph c bênh vc (một cách tài t́nh) cho thuyết Khâu X Cơ, và mười năm gn đây, nhiu hc gi Bc Kinh không ngng xét li thuyết cho Ngô Tha Ân là tác gi ca «bách hi bn» TDK.

Ba bản Tây Du Kư

Tiểu thuyết Tây Du Kư h́nh thành vào đời Minh, thi ca t đại tiu thuyết và cũng là t đại k thư, ngang hàng vi Tam Quốc Chí Thông Tc Din Nghĩa, Thủy H TruyệnKim B́nh Mai. Người ta nhn ra du vết ca TDK trong nhng tác phm kia và ngược li. Không gian ca TDK bao trùm lên nhiu tiu thuyết có mt giá tr nht định khác như B́nh Yêu Truyện, Phong Thần Din Nghĩa, hoặc có liên quan không ít thi nhiu vi nó như Đông Du Kư, Bắc Du KưNam Du Kư. TDK c̣n có liên hệ đến nhng hí khúc mà phn ln tác gi và thi k thành lp đều không rơ ràng. Nhng kch bn y mà ni dung có liên hệ đến TDK và c̣n được nhc nh là Ta Ma Kính, Tây Du Kư Tp Kch, Na Tra Tam Biến, Ta Bch Viên, T Thiên Đại Thánh, Trm Kin Giao và Ngũ Long Triu Thánh.

Riêng nói về b môn tiu thuyết thôi, ít nht có 3 bn Tây Du:

1) Đỉnh Khiết (Khc) Toàn Tướng Tam Tng Tây Du (Thích Ni) Truyn tục gi Chu Đỉnh Thn bn Tây Du Kư, Chu Đỉnh Thn biên son, 10 quyn, san hành dưới đời Vn Lch (1573-1620).

2) Tân Khắc Xut Tượng Quan Bn Đại T Tây Du Kư tục gi Thế Đức Đường bn Tây Du Kư, tác giả thường cho là do Ngô Tha Ân son và phát hành năm Vn Lch 20 (1592).

3) Tân Khiết (Khc) Đường Tam Tng Xut Thân Toàn Truyn tục gi Dương Chí Ḥa bn Tây Du Kư do Dương Chí Ḥa biên, niên đại biên son và phát hành không rơ, được lit vào một trong T Du Kư.

Bản Thế Đức Đường và bn Dương Chí Hoà có l đều được in ra trước bn Chu ĐỉnhThn, nhưng bn ca h Dương ch là mt quyn TDK rút gn (digest) và là mt thành phn ca T Du Kư (trong đó Bắc Du nói về Chân Vũ T Sư, Nam Du nói về Hoa Quang Thiên Vương và Đông Du kể chuyn Bát Tiên Quá Hi). C̣n Bn Chu Đỉnh Thn7 h́nh như ra đời để đối kháng (thương mi hay tôn giáo?) vi bn Thế Đức Đường, nhưng ni dung cũng tương t như thế.

Tôn Ngộ Không là ai?

Theo các thi thoại đời Tng nghĩa làn kin liên h sm nht vi TDK, tin thân Tôn Ngô Không là con kh tánh linh động T Vân núi Hoa Qu, t xưng Bát Vn T Thiên Đồng Đầu Thiết Ngch Mi (Di) Hu Vương, năm 800 tui ăn trm Tây Vương Mu Tŕ 10 qu bàn đào, b Tây Vương Mu sai đánh 3800 thiết bng. V sau dưới dng bch y tú tài gp đoàn thnh kinh ca Huyn Trang và xin đi theo. Huyn Trang bèn đặt tên cho là Hu Hành Gi.

Bản TDK đời Nguyên thu lục được mt phn trong Phác Thông Sự Ngn Gii cho biết quê quán Tôn Ng Không động Thủy Liêm, núi Hoa Qu. T xưng T Thiên Đại Thánh, trên thiên cung trm bàn đào và áo tiên, đánh nhau vi Lư Thiên Vương và Đại Lc Thn. Quán Khu Nh Lang Thn xut binh theo li mi ca Thái T Mc Xoa, đánh bt được. C Linh Thn theo lnh Quan Âm giam dưới núi Hoa Qu, được Huyn Trang trên đường thnh kinh cu g, đặt cho pháp danh Ng Không, sau đổi thành Tôn Hành Gi.

Trong các kịch bn đời Minh, TNK quê ở động T Vân La, hiu Thông Thiên (Đạo Thiên) Đại Thánh, xưng là Tôn Hành Gi. Có anh là T Thiên Đại Thánh, em là Yêu Yêu Tam Lang, ch là Lê Sơn Lăo Mu. Bt cóc được n vương nước Kim Đỉnh đem v làm v. Ăn trm tiên y, tiên mo, tiên đào, tiên tu. Đem áo và nón tiên tng v, m Khánh Tiên Y Hi. B Quan Âm và Lư Thiên Vương bt. Quan Âm giam dưới núi Hoa Qu. Được Huyn Trang gii cu trên đường thnh kinh. Tôn Ng Không là pháp danh Quan Âm ban cho.

Bản TDK đời Minh cho biết TNK sinh núi Hoa Qu nước Ngao Lai và sng động Thy Liêm. Xưng M Hu Vương, hiu T Thiên Đại Thánh. Trm kim đan ca Lăo Quân và bàn đào ca Tây Vương Mu. Đánh nhau vi Mc Xoa (Hu Ngn, đệ t Quan Âm và con th 2 Lư Thiên Vương), Hin Thánh Nh Lang Chân Quân, và Na Tra Thái T. Cui cùng b chó ca Nh Lang cn và Lăo T dùng thiết luân bt được. Ngc Đế ra lnh x t nhưng trn khi ḷ bát quái ca Lăo Quân. Cui cùng b Như Lai p bàn tay đè dưới Ngũ Hành Sơn. Năm trăm năm sau, Huyn Trang cu thoát, cùng đi thnh kinh. Tên Tôn Ng Không do thy là Tu B Đề T Sư đặt cho. Huyn Trang gi là Tôn Hành Gi.

Cái tên Tôn Ngộ Không có nghĩa thế nào? Tôn là mt h thông thường nhưng có th khiến ta liên tưởng ti kh (Bản Tho Cương Mc của Lư Thi Trân có nói đến hai ging kh lông ngn, đuôi ngn tên gi H Tôn8 và Vương Tôn). Theo thuyết ca Ôta Tatsuo, ch Không trong Ng Không ly t câu « Sc tc th Không, Không tc th Sc » ca Bát Nhă Tâm Kinh để gii răn tính háo sc (dĩ nhiên ch Sc trong kinh Bát Nhă có nghĩa rng hơn ch sc thông dng nhiu). Thuyết ca Isobe Akira lại cho biết trên thc tế có v tăng hiu là Ng Không, người đời Huyn Tông (sau đó) đă đi ly kinh Tây Phương, cc kh chng khác Tôn Hành Gi giúp Tam Tng lúc đi thnh kinh (đời Cao Tông trước đó), nên tng m xưng đó cho hành gi h Tôn chăng? V tăng Ng Không này có tên trong Tống Cao Tăng Truyn, Đường Thượng Đô Chương Kính T, Ng Không Truyn. Tc danh ca ông là Xa Phng Triu, ḍng dơi hoàng tc h Thác Bt nhà Bc Ngy (386-534). Ông theo Trương Thao Quang đi s n Độ, đến nơi năm Thiên Bo th 12 (753) nhưng lâm bnh phi li, xut gia bên đó, hiu là Dharmadhâtu (tiếng Hán là tăng Pháp Gii). Sau đó, ông vân du khp nơi n, đem kinh Pht v Khotan (Vu Điến) và Kuchya (Qui Tư) dch dn ra Hán Văn ri mang v Trường An năm Trinh Nguyên thứ 5 (789). Năm sau, ông được sc phong làm sư thc s, ly hiu là Ng Không và tu chùa Chương Kính. Chúng ta nên lưu ư mt đim là trong Tống Cao Tăng Truyn, có đon k v tăng Ng Không khi đi qua nước Tohala (Đô Quá La) b mưa to gió ln, đă cu được Long Thn cho mưa tnh gió an. đim này, tăng Ng Không đă có th thc hin được phép l như Tôn Ng Không.

*

Dầu mun nhượng b đến đâu, ta vn thy không th mt cá nhân Ngô Tha Ân nào có th son được mt tác phm súc tích như TDK . Để xây dng tác phẩm TDK , không nhng phi vn dng ǵ ba ngun văn hc t đời Tng, Nguyên (thi thoi, kch, truyn) mà c̣n cn c các ngun tư liu xa xưa khác mà ta mi ch bt gp mt vài mnh vn. Tuy nhiên, trong bài viết ny, xin phép tp trung vào ngun tư liu chính là dân thoại (folk tale), v́ bn thân tiu thuyết TDK là mt kho tàng dân thoi vô cùng phong phú. Ta s bt đầu t dân thoi Trung Quc ri li ngược gịng lên dân thoi n Độ Rp để xem nhân vt tiu thuyết Tôn Ng Không vn được cu to bng những cht liu ǵ và đă đến t đâu, bi v́ cũng như pháp thut ca lăo Tôn, ngun sinh lc và khí phách ca ông đă ta rng và bay bng vượt qua không biết bao nhiêu là biên gii.

Con khỉ trong dân thoi (truyn dân gian) và truyn k9 Trung Quốc

Người Trung Quốc phân bit vượn (viên)10 và khỉ (hu). Hc gi đời Minh, Lư Thi Trân trong Bản Tho Cương Mc cho rằng vượn Trung Quc thường thy vùng núi sâu T Xuyên, Qung Đông, to ln hơn kh, tay cc dài, và sng lâu. Như định nghĩa ny th́ chc ông mun nói vượn là loi kh tay dài (Hylobatidae, tay dài, đuôi ngn) không nhng thy T Xuyên, Qung Đông, Qung Tây, Vân Nam mà c̣n vùng Đông Nam Á (bán đảo Đông Dương, bán đảo Mă Lai, Sumatra, Java, Borneo). V kh th́ Lư Thi Trân cho biết có nhiu loi, t nh đến ln, thường là nh con và người ta d gp hơn. Kh hay thy Trung quc là kh mt hng và kh lông đỏ (thuc h Cercopithecidae, tay ngn, đuôi ngn) cũng là ging kh thy Đông Nam Á (Vit Nam , Miến Đin, Thái Lan và Bc n Độ). Kh lông đỏ phân b nhiu phía nam sông Trường Giang, có gương mt ging h́nh nh v v Tôn Ng Không, ch cao độ 55cm. Nếu TNK thuc loi mi (di) hu th́ thân th phi to cao hơn, nht là đóng vai kh đầu đàn. Trong tiếng Nht, để viết saru (khỉ) người ta dùng chử Hán viên, nhưng Trung Quc phân bit viênhầu kỹ càng hơn.

Nhà Đông Phương Hc và ngoi giao người Ḥa Lan G. H. van Gulik11 cho rằng hầu (monkey) là giống kh nh như kh đi theo ch đóng tṛ ngoài đường ph, lang thang hết ch này đến ch n, trong khi viên, «cao cấp hơn », sống trong rng sâu vi thi nhân và người n. Hầu mới đúng là con kh hiếu k, nghch ngm, gian trá mưu mo như người, con kh ăn trm đào và lo đẽo sau lưng ch trên con đường thnh kinh dng dc. Nó mi là nhân vt chính của TDK , tác phm thế k 16 y. Con hầu đó đă theo kinh Pht vào Trung Quc t đầu công nguyên và đem theo nó c mt kho tàng dân thoi n Độ. Ngược li, con viên (ape), con vượn dài tay kia là sn phm ca Trung Quc. Nó tượng trưng cho t́nh cm và ư nghĩ thoát tục, sâu xa và thn bí ca nhng nhà tư tưởng và văn hc, thi nhân, ha gia...

Sách vở cho biết ngày xưa người Trung Quc sng gn vi kh vượn và viên có vai tṛ quan trọng hơn hầu. Đạo sĩ Cát Hng đời Tn (thế k th 4) viết: «Mi (Di) hu sng 800m th́ thành vượ(Bảo Phác T). Thái B́nh Ngự Lăm thời Tng cho biết: «Chu Mc Vương nam chinh. Tướng sĩ hóa hết. Quân t hoá thành vượn hay hc, tiu nhân thành trùng. Hoài Nam Tử của Lưu An chép: «S Vương mt con vượn, sai pht cây để t́m làm tan hoang cả rng». Con vượn dài tay dn dn được thn bí hóa, nhiu khi thn tiên hóa na. Sách Ngô Việt Xuân Thu có kể chuyn ông lăo tên Viên Công thi kiếm thut vi người con gái nước Vit, b thua hóa thành vượn trng leo lên cây. n Hi Kinh đời Hán cũng hai lần nhc đến vượn trng nhưng phi đợi đến đời Đường mi thn bí hóa nó và h́nh nh vượn trng tr thành nhân t quan trng trong vic xây dng h́nh tượng nhân vt TNK.

Trong khi con vượn được đưa vào văn hc, như lúc ví von v ni bun thm thiết người ta hay dùng ch viên đề, viên minh, viên thanh...12. th́ những ging như tinh tinh (đười ươi, h Pongidae), phí phí (h Cercopithecoidea) được t là có mt ging mt người, biết bt chước tiếng người, li ít khi được văn gia để ư. Có chăng là nhng chuyn tinh tinh cái, chính là dă bà, dă n, v́ không có đực nên bt cóc đàn ông v làm chng13 (Chu Mật, Tề Đông Dă Thoi) c̣n phí phí hay xơa tóc, chạy rt nhanh, gp người th́ cười và bt ăn tht (n Hi Kinh, Quách Phác chú). Cho dầu nhng chuyn trên chỉ là hoang đường, nhưng nó chng t sc tưởng tượng phong phú ca dân gian, quan trng đối vi quá tŕnh hư cu nhân vt tiu thuyết.

Mô típ dân thoại v kh vượn

Hí khúc Tây Du Kư có nói đến chuyn TNK bắt cóc nữ vương nước Kim Đỉnh v làm v. Mô-típ vượn đực bt cóc v ngườing đầy dy trong văn hc dân gian Trung Quc.

Dịch Lâm của Tiêu Diên Th đời Hán đă k có người b mt con vượn ln cướp người thiếp yêu nhưng s không dám đui theo, t đó đành ng mt ḿnh. u Thn Kư do Can Bảo đời Tn cũng viết chuyện «trong đất Thc, có ging vượn bt cóc người làm v, sinh con. Đàn bà v vi chúng dn dà đâm ra u mê c. Sinh con toàn ly h Dương»14. Truyện ging y như thế cũng được ghi li trong Bác Vật Chí của Trương Hoa và Dậu Dương Tp Trở của Đoàn Thành Thc. Ni tiếng hơn c có lBổ Giang Tng Bch Viên Truyn, kể v chuyn tướng Âu Dương Ht đi cu người v đẹp b con vượn trng có sc mnh vô song bt đem v núi. Truyn ny b túc Bạch Viên Truyn của Giang Tng đời Trn15.

Sự linh thiêng của loài vượn đă thành đề tài ca thi phú và thuyết thoi (shuo hua). Phó Huyền đời Tn viết Viên Hầu Phú, Ngô Quân đời Đường viết Huyền Viên Phú, Lư Đức D viết Bạch Viên Phú, Liễu Tôn Nguyên viết Tặng Vương Tôn Văn. Đáng k hơn na là đầu đời Tng có Từ Huyn ghi li trong Kê Thân Lục truyện Lăo Hu Thiết Ph Nhân (Kh già trm đàn bà) và trong khong năm Thun Hi, Chu Kh Phi trong nh Ngoại Đại Đáp có viết v Quế Lâm Hu Yêu, nói đến mt con kh già vài trăm tui ph Tĩnh Giang (Quế Lâm), biến hóa thần thông, chuyên bắt gái đẹp. Li có truyn Thân Dương Động Kư trong Tiễn Đăng Tân Thoi của Cù Hu đời Minh k truyn chàng th săn Lư Đức Phùng lt vào động Thân Dương cũng Quế Lâm và cu 3 nàng con gái b vượn bt cóc. Hng Tin đời Minh biên Thanh B́nh Sơn Đường Thoi Bn, trong đó có Trn Tun Kim Mai Lĩnh Tht Thê Kư k truyn nàng Như Xuân, v ca Tun Kim Trn Tân đời Tng Huy Tôn, mt đêm b con tinh vượn tên Thân Dương Công16, hiệu ...Tề Thiên Đại Thánh nổi mt trn gió bt cóc t nhà tr phía bc Mai Lĩnh (Phúc Kiến) đem v động. Trn Tun Kim ra công đi t́m v, ba năm sau mi t́m ra du vết mt con vượn trng đến nghe ging Pht pháp chùa Hng Liên, phi nh mt v tu hành tên T Dương Chân Nhân lấy xing trói nó lại.

Ngoài mô-típ về con kh háo sc, c̣n có mô-típ về con kh b giam cm. Trong «thi thoạđời Tng không thy chi tiết Tôn Hành Gi b đè dưới núi đá, nhưng các truyn Tây Du k t đời Nguyên tr đi, không đâu là không có mô-típ con kh b giam. Đường Quc S B đời Thnh Đường có chép chuyn ông câu trên Hoài Hà Giang Tô thy lưỡi câu b vướng xích st dưới ḷng sông mi đi báo quan. Th s Lư Dương cho người ti kéo xích th́ mt con kh đen ln (thanh mi hu) tri lên ri li ln mt. Có người tra cu n Hi Kinh mới biết con kh đó là Vô Chi K, b vua Vũ nhà H xing dưới núi Quân Sơn. Lư Công Tá, tác gi truyn k ni tiếng Nam Kha Thái Thú Truyn cũng có ln (trong truyn Lư Thang) k v con kh khng l đầu bc, răng trng, móng vàng b xing trên sông, tương t như câu chuyn thy trong Đường Quc S B. Ngoài ra, Vương Tượng Chi đời Nam Tng trong quyn sách địa lư Địa K Thng lại đưa ra s tích nhà sư nước Khang Cư (Sogdian) t Tây Vc đến, tên gi Tăng Già (Sangha, có ch cho là hóa thân ca Quan Âm vn hay cứu người b nn thy) đă hàng phc con quái vt Vô Chi K y.

Một mô-típ cũng thú v không kém là mô típ về con kh đi thnh kinh.

Học gi Trn Dn Khác trong bài viết nhan đề Tây Du Kư Huyền Trang Đệ T C S Chi Diễn Biến có viết như sau: «n Độ vn có nhiều c s v kh vượn nhưng không nghe nói có chuyn viên hu náo thiên. Trung Quc c s v kh vượn cũng nhiu nhưng luân lư TQ nghiêm khc ngăn cm s đảo nghch gia vua và tôi, người và thú». Ông Trn dn 2 kinh Pht Đại Trang Nghiêm Kinh LunHiền Ngu Kinh nói về Đỉnh Thiên Vương Náo Thiên và xem s tích này nhưđim bt ngun ca s tích Tôn Hành Gi Đại Náo Thiên Cung. Tuy nhiên, v́ ông không lp được liên h gia Đỉnh Thiên Vương và Tôn Ng Không nên thuyết này thiếu tính thuyết phc.

Ngược li, Uchida Michio khi nghiên cu v s h́nh thành TDK đă trưng ra liên h gia kinh Pht và TDK s tích t́ kheo Bà Tu Mt Đa (Vasumitra) trong Phật Thuyết Sư T Nguyt Pht Bn Sinh Kinh. «T́ kheo leo lên cây bắt chước tiêng mi hu kêu th́ tám vn bn ngh́n mi hu lông vàng t tp li». Trong tin kiếp, t́ kheo tên là Liên Hoa Tng, thân với quc vương và các trưởng gi, nhưng v́ trễ năi vic gi gii hnh phải xung địa ngc A T thành ng qu, ăn st ung đồng, sau tám vạn bn ngh́n năm được đầu thai qua nhiều kiếp thú vt. Đến khi thành mi hu th́ nh gi gii mi thành t́ kheo, sau là Sư T Nguyt Như Lai. Nhng chi tiết «ăn st ung đồng», «tám vn bn ngh́n năđều được thy TDK đời Nguyên dn ra trong Phác Thông Sự Thông Gii và thi thoại đời Minh. Uchida nhân đó kết lun là câu chuyn Sư T Bn Sinh Đàm là ngun ci trc tiếp ca TNK.

Mô típ con khỉ tu hành c̣n thấy trong Tiễn Đăng Thi Thoi (Thính Kinh Viên Kư) của Lư Trinh đời Minh, qua truyn viết v con kh Vin Tn mc cà sa đi tu thành Phật. Nguyên khúc có v Long Tế Sơn Dă Hu Thính Kinh k chuyn tương t. Ngay c Tht Thê Kư đă dn cũng có chương nói v con kh đến nghe kinh Hng Liên T.

Liên hệ gia Huyn Trang và Tôn Ng Không, hay liên h gia nhà tu hành, vic ly kinh Pht và con kh cũng đă được thy trong bài ta Đại Nht Kinh của cao tăng n Độ đến TQ đời Huyn Tông tên Tu Bà Già La17 (Subhakarashinha, 637-735), tiếng Hán gi là Tĩnh Gii hay Thin Vô Úy qua chuyn con kh mt kinh đi đ̣i. Ngoài ra, sách Đường Triu Danh Ha Lc của Chu Cnh Huyn cũng có nhc đến bc tranh ca tăng Ut Tŕ t chùa Báo Ân T (chùa này có liên lc mt thiết vi Huyn Trang) v h́nh 12 b chúng ca Thiên Th Thiên Nhăn Quan Âm trong đó có có con mi hu tên gi Tt Bà Già La Vương. Isobe Akira phng đoán Quan Âm có th đă đóng vai môi gii để Huyn Trang và mi hu gp g nhau.

Ngoài những mô-típ v kh đă k ra, chúng ta không quên nhng chi tiết trong dân thoi và truyn k có liên quan gn xa ti hành tung ca nhân vt Tôn Ngô Không. Xin đơn c

1) Từ đá nt ra: Tôn Ngộ Không có ngun gc siêu phàm v́ là con thch hu sinh ra t ḥn đá đă hp th tinh hoa nht nguyt. H́nh thc sinh đẻ ny gi là «lưỡng tính câu hu» (androgynous) v́ sinh ra t mt vt có cả 2 sinh thc khí nam n cùng lúc. Nó tượng trưng cho mô-típ nguồn gc linh thiêng của các nhân vt thn bí. Trong các văn minh như Maya, Incas, Hi Lap, t nhng vùng như Caucase cho đến các đảo Đại Dương Châu, ta đều thy mô-típ t đá sinh ra. Thn thoi Trung Quốc có nói đến vua Vũ nhà H t tr đá sinh ra. Khi, con ca Vũ cũng t đá nt chui ra sau khi mĐồ Sơn Th (có thuyết cho chính là N Oa, người luyn đá ngũ sc vá tri) hóa đá Tung Cao Sơn. Núi Trung Nhc (Tung Sơn), vùng H Nam, tương truyền hăy c̣n du ḥn đá tên Khai (Khi?) Mu Thch.

2) Tái sinh: Tôn Ngộ Không phá phách tc là đứng v phía chng đối li trt t đă an bài. Vic TNK b giam trong ḷ bát quái và dưới núi Ngũ Hành tượng trưng cho s chết và tái sinh. Nếu không như thế, s trở v «chính nghĩđể làm người đi ly kinh ca TNK khó gii thích. Na Tra cũng phi lóc tht, tr cha m để sau này tr thành Thin Tài Đồng T, t nhân vt phn din đổi qua chính din.

3) Ăn trm đào tiên: Truyện Đông Phương Sóc kiếp trước ăn trm đào tương truyn có chép trong Hán Vũ C S. Quyển sách nói trên đă mt, nhưng L Tn t́m li được du vết Nghệ Văn Ngoi Uyn và ghi lại dn dng v s tích ny trong tác phm Cổ Tiu Thuyết Câu Trm của ông.

4) Hoa quả có h́nh người: Đây là mt chi tiết thú vị v́ nó đưa ta tiếp xúc vi các dân thoi xa xôi hơn. Lư Thi Trân đă dn dng trong Bản Tho Cương Mc từ quyn sách đă tht lc tên là Quảng Ngũ Hành Kư truyện c nhân sâm đời Tùy Văn Đế có c t chi và biết khóc như người vùng Thượng Đảng (Sơn Tây bây giờ). Sách Dị Uyn cuối thế k th 5 đă nói v nhng «tho yêu», loi c có h́nh người. Chúng ta biết c tượng trưng cho sinh thc khí nam và đào tượng trưng cho sinh thc khí n. Kinh Thi ví người đàn bà có chng là «đào yêu», tượng trưng cho s sung măn và phồn thc. H́nh tượng qu đào trường sinh ca Tây Vương Mu ba ngh́n năm mi ra qu như Hán Vũ C S kể li có th đến t Đại Thc ( Rp), v́ sách Thuật D (do người thi Đường mt mượn tiếng Nhim Phường đời Lương (thế k th 6) viết, đă t nhng qu có h́nh người và c̣n biết cười na. Thc ra nhng tin tc ny đến t Thông Đin của mt người cui đời Đường tên Đỗ Hu, ly tin t mt thân nhân tên Đỗ Hoàn. Hoàn đă theo Cao Tiên Chi hành quân Trung Á năm Thiên Bo th 10 (751) và b bt cm tù giải v Damascus ( Syria ). Mười năm sau, tr li c hương, Hoàn viết sách Kinh Hành Kư có ghi việc này, nhưng sách đă tht lc. Không hiu qu Hoàn mun nói là qu ǵ? Mt khác, cui thế k 13, Chu Mt đă viết Quư Tân Tạp Thc, trong đó có nói v mt th quả độc tên gi «áp bt lư» (yabruh?) đến t nước Hi Hi. Dù không biết đích xác v qu ny, nhưng ta thy rng vào thế k 13, giao dch gia Tuyn Châu (Zaytoun) và các nước Nam Á, Trung Cn Đông đă rng răi, và người TQ có dp nghe nhng chuyn l ca các vùng đất đó.

Con khỉ n Độ Hanumân đă đến Trung Quc bng li nào?

Khi khảo sát v s h́nh thành ca nhân vt Tôn Ng Không (TNK), nếu b qua tác phm thi ca tr t́nh Râmâyana đến t n Độ là mt điu thiếu sót. Quyn sách ny đề cp đến con kh anh hùng Hanumân, (đáng l phi đọc là Hanumat mi đúng văn phm). Đă lâu, nhà dân tc hc người Nht Kumakata Kumagusu (1867-1941) khi đọc xong Râmâyana, có lần viết v cm tưởng rng Hanumân chc là tin thân ca Tôn Ng Không trong Tây Du Kư. H Thích trong Tây Du Kư Khảo Chngng đưa ra thuyết Hanumân chính là t tiên ca TNK. Ngược li, trong mt bài ging v truyn k đời Đường, L Tn đă da vào c thư đă tŕnh bày trên (n Hi Kinh, sự tích con kh Vô Chi K đă b vua Vũ khi đi tr thy xing dưới chân núi Quân Sơn) để ch trương TNK trong TDK là mt con kh hoàn toàn Trung Quc, và con khỉ b giam trong núi nầy có th là t tiên trc tiếp ca TNK. T đó, không ai chu ai, nhưng đa s các nhà nghiên cu tán đồng lp lun v nh hưởng ca Hanumân.

Bàn về nguồn gc ca TNK, nếu ch da vào mt truyn thuyết duy nht, ta s d lc đường. Có th ta phi chp nhn yếu t «kh» là chính yếu trong quá tŕnh h́nh thành nhân vt TNK, nhưng không nên dng li đó. Cho nên, bo Hanumân có đóng góp phn nào vào s thành lập h́nh tượng TNK có l tha đáng hơn, nht là trên con đường sang Trung Quc, Râmâyana có thể biến dng v́ nhng khó khăn v phiên dch và truyn đạt.

Râmâyana là tác phẩm thơ tr t́nh trường thiên, gm 7 biên 4 vn 8 ngh́n câu (tng) do thi tiên Vâlmiki soạn li vào thế k th 2 bng Phn ng (Sankrit), t truyn thơ truyn khu n Độ sut thế k th 6 đến thế k th 4 trước công nguyên. Xin tóm lược câu chuyn như sau:

Quốc vương Dasaratha nước Ayodhyâ có ba v. Bà c Kausalyâ sinh Râma, bà th Kaikeyi sinh Bharata, bà ba Sumitrâ sinh đôi Laksmana và Satrughna...., tt c có 6 vương t. Thái t Râma, b mưu kế ca bà Kaikeyi ton hót vi vua để giành ngôi cho Bharata, b ph vương bt phi sng trong rng vi v là Sita và em khác m là Laksmana. Quốc vương Dasaratha chết, Bharata mi anh v làm vua nhưng Râma không mun trái mnh cha, trao đôi hài vàng để em lên làm vua, hn 14 năm sau s tr v ngôi ri vn li trong rng. V́ vua qu Râvana bt cóc vương phi Sita, Râma và em phi lên đường đi t́m nàng. Trên đường, cu được vua kh Sugrivra, nên vua đền ơn bng cách cho quân sư ca ḿnh là Hanumân dn binh hu tướng kh giúp sc đi t́m v. Hanumân tr tài thn vơ dit gic, đot li được nàng Sita đang b giam đảo Lanka cho Râma, va vn lúc hết thời hn ước hn 14 năm để v làm vua tr li.

Nói về đặc đim ca Hanumân, theo K.C. Aryan (Hanumân in Art and Mythology), trước hết là cái đuôi dài (các tượng Hanumân khai qut được min Nam n Độ cũng xác định điu đó), dù càng v cn đại, h́nh tượng Hanumân lại càng được v cho ging người thêm. Theo hai tác gi Joginder Narula (Hanumân) và Catherin Ludvik (Hanumân) th́ Hanumân thông minh tài trí, hiểu biết s vt và thi cơ mt cách tinh tường. Ngoài ra c̣n biết bay bng t do trong không trung, thu giăn thân thể ngn dài như ư mun, và có thể biến hóa thành người. Những chi tiết ny có th tăng thêm sc thuyết phc cho lp lun ca Minakata Kumagusu và H Thích, xem Hanumân là t tiên ca TNK. Thế nhưng, Râmâyana đă đưa Hanumân vào Trung Quc bng đường nào?

Đường b phía Bc theo kinh Pht?

Minakata Kumagusu cũng cho biết tăng nhân người Sogdian (Khang Cư, dân tc vùng Trung Á, gc Ba Tư) Khang Tăng Hi đến Trung Quc vào cui thế k th 3 có k sơ v truyn Râmâyana khi dch Lục Độ Tp Kinh, trong đó có truyn hu vương sai quân ly đá lp bin để cu mt vương phi b rng bt giam trên đảo. Ngoài ra, Minakata c̣n nói đến v tăng người Kashmir tên Bt Trng đă dch mt đon Râmâyana vào cuối thế k th 4 vi mc đích chng vic sát sinh gây ra bi chiến tranh. Truyn Râmâyana c̣n được nhc ti vào hu bán thế k th 5 bi hai nhà tu ngoi quc Kiết Ca D (Kimkaryâ?) và Đàm Diu trong bn dch Tạp Bo Tàng Kinh, nhưng ngoài vic ca tng tm gương trung hiếu ca La Ma thái t (Râma ) và hoàng t Bà La Đà (Bharata), không h nhc ti Sita ln Hanumân. Nói chung, nhng bn dch k trên đều không thy nói đến tài ngh tuyt luân ca Hanumân, đim mà chúng ta chú mc.

Đến nay, vn chưa thy bn Râmâyana chữ Hán nào nói đến tài ngh ca Hanumân. Nếu có th́ đă tht lc đâu chăng? Ch biết gn đây, người ta đă phát hin được bn dch Râmâyana ra tiếng Khotan18 và bản văn tiếng Tây Tng t́m ra thch động Đôn Hoàng (Tunhuang)19, cả hai đều miêu t sc mnh thn thông của Hanumân. Do nhng điu kin địa lư và lch s mà ta không c̣n l ǵ, có l người Trung Quc đă tiếp xúc vi văn bn viết bng hai th tiếng trên. Và ta c̣n có th gi định rng nhng chi tiết thú v v sc thn thông ca Hanumân nếu không truyn qua văn bn th́ vn truyn ming qua li k gia dân chúng trong lúc thông thương và giao lưu vi nhau, li ḥa quyn vi nhng c tích, dân thoi, Pht đin... v kh vượn đă có sn t lâu đời và rt phong phú Trung Quc.

H́nh tượng con khỉ biết bay có lẽ gây n tượng nhiu nht. Nhà nghiên cu Nht Bn Torii Ryuzô chp li bn ha trên đá đào được trong mt ngôi m đời Liêu khc cnh được phng đoán là «cuc gp g đầu tiên gia hai thy tṛ Huyn Trang»: mt người đầu, tóc, mt như kh, qun áo chiến đấu, trên mây trong tư thế cân đẩu vân, mt người đứng phía dưới chp tay như bái vng. Triu Liêu đă b dit vong t năm Tuyên Ḥa th 7 đời Tng (1125), hơn na ngôi m ny nm măi An Sơn (Măn Châu) và tướng mo người mt kh trên mây li ging Thâm Sa Thần đă hin ra và tr giúp cho Huyn Trang khi đói lnh Lưu Sa Hà hơn là ging Tôn Ng Không (v́ mm không du ra như kh mà tóc li dng ngược) nên s liu ca Torii tht quá «ngon» để có th tin.

Nhân vật Hu Hành Gi trong thi thoi đời Tng th́ đúng là tiền thân ca Tôn Ng Không, nhưng trong các tích ny, có l v́ quá ít yêu quái nên không tr được hết thn thông chăng20? Đến bn TDK đời Nguyên mà thông s h Phác trích dn trong Phác Thông Sự Ngn Gii th́ đă thy TNK bay trên không trung, thần thông biến hóa, trừ yêu dit quái, đúng là TNK mà chúng ta mong đợi.

Không thể ph định vic Hanumân trong Râmayana đă nh hưởng đến s thành lp h́nh tượng nhân vt ca Tôn Ng Không, nhưng ta chưa tr li được câu hi ti sao đă theo đường kinh Pht vào Trung Quốc sm thếRâmâyana lại nm im ĺm sut my trăm năm, và phi đợi đến đời Tng, đời Nguyên mi thc dy để bt đầu nh hưởng vào truyn Tây Du. Như vy, gi định v giai thoi truyn khu v Hanumân ca tôi cũng không đúng nt. Ch c̣n mt li giải thích: có mt Hanumân sinh động hơn là trong kinh đin đă vào Trung Quc gia đời Tng và Nguyên, và ln ny, bng đường thy!

Vâng, đường thy đó là đường Nam Hi để đổ b lên Tuyn Châu tnh Phúc Kiến.

Đường thy phía Nam theo ngh thut dân gian?

Râmâyana đi t n Độ băng qua Trung Á ri lên phía Bc như ta đă biết, nhưng li theo mt đường khác đi xung min Nam theo ng Tích Lan, Miến Đin, Thái Lan, Căm Bt, Lào, Vit Nam, Mă Lai... Nó không nhng truyn đi bng văn dch nhưng c̣n qua bích ha các chùa chiền, tung kch, ca vũ, sân khu bóng nh (theater of shadow picture, theater of silhouette), nghĩa là rt nhiu h́nh thc ngh thut dân gian khác nhau và thay h́nh đổi dng theo th tài và ngôn ng được s dng.

Nhiều khi Râmâyana thay đổi đến mức l lùng như trong bn Tích Lan, trong đó, Sita không nhng thun t́nh đi theo qu vương Râvana v đảo Lanka21 sống sung sướng mà khi con kh Vâlin (?) đến kiếm ḿnh c̣n cho bt và đốt cháy đuôi. Có l v́ Lanka là quc hiu ca Tích Lan (Sri-Lanka) nên người đây không thích thú ǵ khi thy Sita sng trên đảo ḿnh mà c khóc than nh chng. Trong bn Miến Đin, Me Thilda (Sita) không b Datagiri (vua qu Râvna) bt v đảo Lanka mà li đem v kinh đô ca Miến thi đó núi Popa. Hanumân đi đến đó cu, nng khi v li b cho lt xung h Inpaung22.

Vào thế kư th mười, Râmâyana đă được dch ra văn t gc Phn gi là Kawi Java23 và các điêu khc tráng l v đề tài truyn ny24 c̣n được gi li trên đảo. Bn Râmâyana Thái Lan có tên là Ramakian25, bảnm Bt tên là Reamker26. Điêu khc v nhng truyn ny có th xem các chùa (Vat) như Vat Paraoke và Vat Po Thái, và trên tường Angkor Vat và các Bayon Căm-Bt. C̣n Lào27, Râmâyana đă được truyn vào t thế k th 7 và Lào vn c̣n gi được nhiu bích họa liên quan đến nó Vat Pa Ke và Vat Mai, hai ngôi chùa th đô Luang Prabang. Ngoài ra, Râmâyana ng đă được truyn đến nhng nước khác trong vùng Đông Nam Á28 như Phi Lut Tân29 và Mă Lai30

Riêng trong Râmâyana của Lào có mt chi tiết đặc bit là Hanumân lúc nhỏ thy mt tri ng là trái cây, bay lên chc hái ăn nhưng b la đốt cháy tiêu31. Thần mt tri Surya thương t́nh ly mt sợi lông kh chưa cháy hết tái to thân th cho và sai đi giúp Pa Lam (Râma Lào) đi t́m nàng Pommachak (Sita Lào). Điều ny khác vi nguyên bn n Độ cho rng khi bay lên ly mt tri, Hanumân b thiên lôi đả rơi xung đất.

Đưa ra nhng t́nh tiết y