THẦN, PHẬT, MA, NGƯỜI

TRONG NHẬT BẢN THỜI XƯA

 

Đi xa hơn với Lafcadio Hearn (Koizumi Yakumo)

 

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Dẫn nhập: 

“Ở Tokyô, có một con đường dốc về hướng Akasaka tên gọi Kiinokuni-zaka,  nghĩa là Dốc của phiên Kii. Con dốc ấy liên quan đến xứ Kii như thế nào, tôi không được rơ. Một bên dốc này tự thời xưa đă có cái hào thật sâu. Chạy dọc theo nó là con đê cao phủ đầy cây xanh. Vượt lên trên nữa là khu vườn tược. C̣n bên kia dốc, bức tường thành cao nghệu của Hoàng Cung kéo dài đến măi xa. Thời đèn đường và xe kéo c̣n chưa có, khi màn đêm buông xuống, nơi đây vô cùng tịch mịch. Do đó mà từ lúc ngày vừa chạng vạng, khách bộ hành thà đánh một con đường ṿng xa hơn mấy dặm chứ không ai dám đi ngang dốc ấy. Cũng bởi họ sợ gặp những con quái Mujina thường héo lánh nơi đây.

Người cuối cùng gặp Mujina đă chết cách đây khoảng 30 năm về trước. Đó là một ông lái buôn có tuổi ở xóm Kyôbashi. Sau đây là câu chuyện do ông ta kể lại:

Một buổi chiều tối, khi ông lái buôn này đang gấp rút leo lên Dốc Kiinokuni th́ chợt thấy có một người con gái đang ngồi sụp xuống bên bờ hào khóc lóc nỉ non. Ông lo cô ta sẽ nhảy xuống hào tự sát nên dừng chân lại những mong ḿnh có thể giúp cô ta điều ǵ, ít nhất cũng nói được một câu an ủi. Cô gái ấy có vẻ giàu có thanh lịch, trang phục trông đẹp đẽ và tóc búi theo kiểu một tiểu thư con nhà gia thế. Ông lái bèn đến gần và lên tiếng gọi: “O-jochuu[1] ơi! Thôi đừng khóc nữa! Nếu có chuyện ǵ khổ tâm, cứ kể tôi hay. Nếu giúp được cô điều chi th́ tôi sẽ t́m cách giúp cho. (Thực ra ông lái định làm đúng như lời ḿnh nói v́ bản chất ông ta là người hết sức tốt bụng) Thế nhưng người con gái vẫn không ngưng tiếng nỉ non. Cô đưa ống tay áo rộng che lấy khuôn mặt không cho ông nh́n. “O-jochuu ơi! “ Ông lái cứ tiếp tục gọi cô với giọng nhỏ nhẹ. “Này cô, này cô! Nghe lời lăo đi! ...Chỗ này không phải là nơi để đàn bà con gái đang đêm hôm ra mà ngồi đâu. Tôi van cô đừng khóc nữa! Nếu thấy tôi có thể giúp cô điều chi th́ cứ cho tôi hay nhé!”. Cô gái mới nhổm dậy nhưng lại đưa lưng về phía ông. Đằng sau ống tay áo vẫn nghe thấy những tiếng khóc nức nở. Ông bèn đưa tay đặt nhẹ trên vai người con gái và tiếp tục thuyết phục: “O-jochuu! O-jochuu! O-jochuu! Cô nghe lời tôi đi. Chịu khó nghe một chút mà. ...O-jochuu! O-jochuu!” ... Nghe đến đấy th́ cô gái vốn có dáng như cô hầu gái trong một phủ đệ mới quay mặt lại. Và lúc đó nàng ta buông ống tay áo xuống rồi đưa tay vuốt mặt ḿnh... Nh́n ra th́ trên đó hoàn toàn không có mắt, mũi và miệng đâu cả. Ông lái sợ hăi, thét lên một tiếng rồi ù ù té chạy.  

Ông chạy như bị đuổi lên phía trên Dốc Kiinokuni.Trước mặt, tất cả tối đen và vắng tanh. Ngay quay đầu nh́n lại ông cũng không dám, cứ thế mà chạy đôn chạy đáo cho đến khi thấy tận đằng xa có một chấm sáng leo lét của ngọn đèn lồng nhỏ như đom đóm nên mới tiến về phiá đó. Mới hiểu rằng ngọn đèn kia chỉ là ánh đèn của một người hàng rong bán ḿ kiều mạch (soba) đang hạ quang gánh xuống bên đường. Tuy nhiên sau khi gặp cảnh vừa rồi th́ dù là ánh sáng ǵ và của ai đi nữa, đối với ông đều tốt cả. Ông lái ngă quị xuống trước mặt người bán ḿ rong, miệng lắp bắp: “Ôi! Ôi! Ôi chao ôi!”. “Này, này!” Người bán ḿ giọng gắt gỏng. “Sao thế! Sao thế! Ai làm ǵ bác vậy!” “Dạ không! Chẳng có ai làm ǵ tôi cả!”. Ông lăo rền rĩ trong tiếng thở đứt đoạn: “ Chỉ là ... ôi, ôi ....”

“Mới bị dọa thôi chứ ǵ?”Người bán ḿ hỏi cụt lủn. “Gặp cướp hả?”

“Không phải cướp! Không phải cướp” Ông lăo đang chết điếng cũng ráng lấy hơi đáp: “Tôi thấy ...tôi thấy một người đàn bà...bên bờ hào...nó đưa  cho tôi xem cái mặt ..... ôi chao ôi. Cho thấy cái ǵ ...th́ thật không sao tả ra được”. 

“Ủa? Chớ cái bác vừa thấy có giống cái này không?” Hỏi xong, người bán ḿ đưa tay lên vuốt mặt ḿnh. Liền đó, mặt anh ta bỗng biến dạng thành một quả trứng tṛn vo. Cùng lúc, ánh lửa chiếc đèn lồng cũng tắt ngấm”.

Truyện ngắn “hai-lần-sợ” vừa kể nhan đề Mujina được đăng trong tập Kwaidan (Truyện Kinh Dị, 1904) của nhà văn Lafcadio Hearn tức Koizumi Yakumo. Mujina (badger), một giống chồn lùn, tiếng Hán viết là hạc (). Mujina sống trong hang, h́nh dạng nửa chồn nữa cầy nên c̣n được dịch sang tiếng Anh là racoon dog. Người Nhật tin rằng cũng như hồ ly, nó có thể thành tinh và đội lốt người để trêu ghẹo và phá quấy thiên hạ. Tương truyền một trong những biến dạng của Mujina là cái đầu với khuôn mặt phẳng ĺ. Truyện dân gian Nhật Bản nhắc nhiều đến nó và ngay sử liệu nhà nước như Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ, 720) cũng từng đề cập đến việc một con Mujina đă hoá thành người và biết ca hát. Chuyện ấy đă xảy ra vào năm 627 dưới thời Nữ thiên hoàng Suiko.

http://3.bp.blogspot.com/_sSJZ6-mYzjc/Sai0QxyRqEI/AAAAAAAAACA/nqOoM8YBsfs/s320/mujina.gif

Mujina hiện h́nh người 

Thế giới của Thần-Phật-Ma-Người trong Nhật Bản thời xưa mà nhà văn Lafcadio Hearn gợi ra đă đến với người viết qua tác phẩm “Hồ ly Mujina” (Mujina) cách đây trên nửa thế kỷ vào giờ Anh văn ở một đại học Nhật Bản với một ông giáo người Nhật tên Saitô. Thày Saitô đă dùng Kwaidan để dạy đám học tṛ ngoại quốc phần đông không chút thiết tha học tập v́ họ quá tự tin về tiếng Anh nhăn hiệu thuộc địa của ḿnh để có thể chịu sự dạy dỗ của một ông thày Nhật. Riêng đứa học tṛ nhỏ đến từ Việt Nam - vừa dốt vừa dát - luôn luôn trân trọng những lời giáo huấn ấy và chăm chú nghe theo. Ngày nay, đă bước qua cái tuổi thất thập, lần đầu tiên mới hiểu tấm ḷng ấm cúng của người thày muốn trao cho lũ học tṛ phương xa cái ch́a khóa mở cánh cửa bước vào khu vườn văn hoá Nhật Bản qua tập truyện của một văn sĩ Anh đă đến định cư ở nước này vào giữa thời Meiji. Hôm nay, viết những ḍng này là v́ vừa muốn đào sâu thêm sự hiểu biết của ḿnh về Lafcadio Hearn, một nhà văn hoá quốc tế hàng đầu, vừa để tưởng nhớ công ơn một người thày học cũ, hiền ḥa và b́nh dị, nếu c̣n sống đến bây giờ, chắc phải gần trăm tuổi.

http://terrar.io/wp-content/uploads/2013/08/hearn4.jpg 

Lafcadio Hearn (Koizumi Yakumo)    

I-                 Lafcadio Hearn và Glimpses of Unfamiliar Japan:

Lafcadio Hearn (1850-1904) cập bến Yokohama vào năm 1890 (Meiji 23). Sáu năm sau, người Anh gốc Ai-Len (Ireland) ấy đă trở thành công dân Nhật Bản Koizumi Yakumo, viết văn và dạy học trên đất nước Phù Tang cho đến cuối đời. Ông thường được biết đến nhiều nhất nhờ “Hôichi cụt tai” (Miminashi Hôichi)[2], “Nàng Tuyết” (Yuki Onna)[3] và những truyện kinh dị khác tập hợp trong tác phẩm “Truyện Kinh Dị” (Kwaidan, 1904), một giai tác của thể loại văn học “truyện cũ viết lại” (cố sự tân biên) nghĩa là phóng tác truyện truyền khẩu có sẵn. Ngoài ra, ông c̣n được nhớ tới như một nhà b́nh luận, một nhà tùy bút và chỉ riêng trong hai lănh vực này, Hearn đă để lại một số công tŕnh khá lớn. Quyển Glimpses of Unfamiliar Japan (Thoáng nh́n Nhật Bản, một đất nước xa lạ, 1894) là tác phẩm đầu tiên ông chấp bút khi đến nước Nhật. Nó giúp ta trong quá tŕnh t́m hiểu văn hoá Nhật Bản và lối sống của người bản xứ để có cái nh́n về họ một cách đúng đắn và sâu sắc hơn. Đồng thời, nhờ nó, ta có thể xem thử trong 120 năm qua, về mặt văn hóa, Nhật Bản đă được và mất đi những ǵ. Qua tác phẩm này, ta sẽ thấy h́nh ảnh đích thực của người dân Nhật Bản b́nh thường, những con người tự ngàn xưa vốn có một cuộc sống đơn sơ chất phác và tâm linh, gần gũi với thiên nhiên hoang dă, trước khi xu thế thời đại cuốn hút họ vào cuộc cận đại hoá và kỹ nghệ hoá.   

Quá tŕnh h́nh thành một con người đa văn hóa 

Thời thơ ấu và cảnh ly biệt với người mẹ: 

Lafcadio Hearn ra đời vào năm 1850 trên đảo Lafcas (Lefkada) ở Hy Lạp trong một gia đ́nh cha người Ai-Len mẹ Hy Lạp. Tên ông được đặt theo tên ḥn đảo quê hương: Patrick Lefkadios Hearn. Đó là cách đọc Hy Lạp, c̣n theo tiếng Anh th́ Lefkadios phải được viết là Lafcadio. Cha ông, Charles Bush Hearn là một y sĩ lục quân gốc Ai-Len (Ireland) , mẹ, Rosa Kassimatti, là phụ nữ Hy Lạp. Văn hóa Celte của xứ Ai-Len và văn hoá Hy Lạp là hai nền văn hóa lớn đă làm nên cơ sở của văn hóa Âu Châu. Thiên khiếu văn chương nghệ thuật của ông đă bắt nguồn từ hai nguồn văn hóa đó thông qua cha mẹ.

Thế nhưng lúc Hearn ra đời nghĩa là khoảng giữa thế kỷ 19, hai cường quốc Anh và Pháp đang đóng vai tṛ quan trọng trong lịch sử thế giới. Ai-Len bị Anh thôn tính và cai trị, c̣n Hi lạp th́ bị Anh Pháp Nga đô hộ. Nhân đó, Hearn mang quốc tịch Anh theo người cha.

http://upload2.weddbook.com/blogs2/115/greek-island-wedding-venues-lefkada-606-int.jpg

Đảo Lafca (Lefkada, Hy Lạp) nơi Hearn sinh ra 

Sau đó không lâu, Charles, cha ông, được bổ nhiệm ở vùng đảo Tây Ấn (West Indies) trong vùng biển Ca-ri-bơ (Caribbean Sea), Hearn phải cùng mẹ là bà Rosa về Dublin (thủ đô Ai-Len). Năm Hearn lên 3, bố từ nhiệm sở trở lại nhà nhưng Charles bắt đầu lạnh nhạt với vợ. Cùng lúc, bà Rosa đă chán ngán với cuộc sống ly hương trên quốc gia miền bắc nơi ḿnh không quen ngôn ngữ, tập quán, tôn giáo lẫn khí hậu. Năm 1854, mắc chứng trầm cảm, bà Rosa bỏ về Hy Lạp, để cậu bé Lafcadio lại Dublin.

Kể từ ngày đó, Hearn không bao giờ gặp mẹ nữa. Thế nhưng ông không khỏi đồng t́nh với bà v́ đă thông cảm dược tâm sự u uất của mẹ ḿnh. T́nh cảm đó, ông vẫn giữ cho đến cuối đời. Chúng ta thường bắt gặp h́nh ảnh mẹ ông trong những nhân vật của Kwaidan.

Cha của Hearn sau đó tái hôn với người yêu cũ, lên đường sang Ấn Độ và để Hearn lại Dublin cho bà Sarah Brennan, người d́ của ḿnh, trông coi. Sau đó, cha ông lâm bệnh và mất. Từ ấy, Lafcadio Hearn mồ côi cha lẫn mẹ, phải nương tựa nơi người d́ của cha rồi theo bà lên Durham, một thành phố miền đông bắc nước Anh (1863 năm 13 tuổi). Bà trẻ của ông là người ngoan đạo nên đă gửi ông theo học ở một trường ḍng trong tỉnh nhưng đối với Hearn, kỹ luật khắt khe và giáo dục Ki-tô-giáo ở ngôi trường này chỉ đem đến cho ông sự chán nản.

Năm lên 16, ông bị cái giây thừng của chiếc đu quay trong sân chơi nhà trường đập thật mạnh vào mắt trái khiến mất thị lực. Ta để ư những bức ảnh chân dung ông đều chỉ được chụp từ bên phải hay trong tư thế nh́n xuống. Việc mắt trái không c̣n nh́n thấy đường sau tai nạn ấy trở thành một mặc cảm lớn lao suốt những năm về sau. Không những thế, mắt phải của Hearn cũng cận thị nặng và có lẽ v́ vậy chăng mà từ đó, đôi mắt của ông bắt đầu hướng về một thế giới mà những con mắt b́nh thường không thể nh́n thấy. Đó là thế giới “bên kia”, mờ ảo lung linh đầy những thần linh, yêu quái cũng như hồn ma bóng quế.

Giáo dục khắc nghiệt của trường ḍng thời niên thiếu ở Durham chỉ tô đậm thêm nơi Hearn t́nh cảm chán chường và tâm sự cô đơn. Gia đ́nh đă tan vỡ, ngôi trường kia và cả mảnh đất Âu châu chẳng qua chỉ là nơi ăn gửi nằm nhờ, ông chỉ c̣n có cách là làm sao thoát ra cho được thế giới đó.

Lên năm thứ 4, Hearn xin thôi học ở Durham, đổi sang một kư túc xá trường đạo vùng Normandie bên Pháp. Đáng tiếc là không ai có bằng chứng cụ thể về sinh hoạt của ông trong thời gian này. 

Sang Mỹ rồi sang Nhật: 

Năm 19 tuổi, Hearn một ḿnh sang Mỹ. Bà trẻ của ông bị người ta đánh lừa nên ông mất cả tiền thừa kế di sản. Không một xu dính túi, may nhờ có quốc tịch Anh, ông kiếm cách sang được đất Mỹ. Ở đó, ông làm đủ mọi nghề từ bán hàng rong, nhân viên phát điện tín, bồi khách sạn, phát quảng cáo bươm bướm, thầy c̣ chữa bài trong các nhà in, ṭa báo vv...Tuy sống cực khổ nhưng ông không hề xao lăng việc đến các thư viện để đọc sách và rèn luyện văn từ. Sau khi nếm đủ mùi cay đắng trong xă hội Mỹ, rốt cuộc ông t́m ra cơ hội hoạt động trong ngành báo chí. Trong ṿng 16 năm, ông đă hành nghề kư giả ở vùng Cincinnatti-New Orleans và lần hồi có chút tên tuổi như nhà văn và nhà báo.

Trong giai đoạn sống trên đất Mỹ, ông có cơ hội dịch một số thơ tiếng Pháp của Baudelaire và Gautier và sống một thời gian trên quần đảo Martinique vùng Tây Ấn. Đến năm 1890, nhà xuất bản  (tạp chí) Mỹ Harper and Brothers gửi ông làm đặc phái viên ở Nhật. Lúc đó ông đă 39 tuổi. Là người đă quan tâm đến đất Nhật từ khoảng năm 26 tuổi nhưng ư định sang Nhật chỉ thành h́nh từ hồi 35 tuổi (1885), khi ông đến dự Hội chợ Quốc Tế ở New Orleans và làm quen được một người Nhật, công chức cao cấp biệt phái của chính phủ Nhật Bản tên là Hattori Ichizô[4], trở thành bạn thân với ông này. Thế rồi năm 1889, Hearn mượn được (từ William Patton, chủ nhiệm mỹ thuật Tạp chí Harper Monthly) quyển Kojiki (Cổ Sự Kư), bộ cổ sử Nhật Bản (nội dung gồm cả thần thoại, truyền thuyết và ca dao cổ đại) được học giả ngôn ngữ người Anh Basil Hall Chamberlain[5] dịch. Ông rất cảm động khi đọc bản dịch tiếng Anh này và sau khi đến Nhật, đă t́m mua nó.

Tiếng rằng Hearn đến Nhật Bản một cách t́nh cờ với tư cách đặc phái viên của tạp chí do nhóm Harper and Brothers chủ trương nhưng chính ra lúc ấy, trong ḷng, Hearn đă quyết tâm t́m đến nước này. Bằng chứng là khi tàu cập bến Yokohama ngày 4 tháng 4 năm 1890, ông đă gửi thơ ngay cho Basil Chamberlain, lúc đó đang là giáo sư Đại học Đế quốc Tokyo (Imperial University of Tokyo) để xin giúp đỡ t́m việc làm. Chỉ hai tháng sau, ông từ chức đặc phái viên tạp chí v́ cho rằng so sánh với các đồng nghiệp, điều kiện hợp đồng dành cho ḿnh không được thuận lợi; đến tháng 8 cùng năm, ông xuống Matsue (tỉnh Shimane) miền nam đảo Honshuu, dạy tiếng Anh trong một trung học và Trường Cao đẳng Sư phạm địa phương nhờ có sự giới thiệu của Chamberlain. Từ đó cho dến 14 năm sau, khi ông qua đời, Hearn không hề rời đất Nhật. 

Tác phẩm đầu tiên trên đất Nhật 

Glimpses of Unfamiliar Japan là tác phẩm đầu tiên Hearn viết từ khi ông cập bến Yokohama. Quyển sách thuộc loại tùy bút lữ hành này gồm 700 trang và chia làm 2 tập với 27 chương, đă được xuất bản ở Boston và New York vào năm 1894.

Hearn đă bỏ ra hai năm trời để viết nó. Hai mươi bảy thiên tŕnh bày một loạt chủ đề đa dạng nhưng nh́n chung, tất cả đều qui về mối quan tâm của ông đối với văn hóa dân gian Nhật Bản. Hai năm trời nói trên, đúng ra là 1 năm 7 tháng, bắt đầu từ ngày ông đặt chân đến Yokohama (4/4/1890) và kết thúc khi ông từ giă Matsue (15/11/1891). Tuy là người “phải ḷng” nước Nhật từ ngày đầu tiên, chứng từ Hearn để lại cho ta thấy một sự hiểu biết sâu sắc và chính xác về đất nước này dù chỉ thông qua trực giác. Đó là chưa nói đến thành quả về mặt văn học của tác phẩm. Thực t́nh 2 năm đâu phải là một thời gian đủ để hoàn thành một công tŕnh có tầm cỡ như vậy, nếu không phải nói đó là một phép lạ!

location Matsue map Japan 

Vị trí của Matsue (chấm đỏ) trên địa đồ Nhật Bản 

Trong 14 năm trời sống ở Nhật, Hearn đă viết được trên một chục tác phẩm. Có lẽ quyển sách đáng được xem là lư thú nhất chính là Glimpses of Unfamiliar Japan, tác phẩm đầu tiên. Nhiều người có thể bỏ phiếu cho Kwaidan, một phần v́ nó được phổ biến rộng rải hơn nhưng công b́nh mà nói, Glimpses of Unfamiliar Japan mới biểu lộ được hết sở trường sở đoản cũng như cá tính của nhà văn, xứng đáng được coi như sáng giá hơn hết trong các tác phẩm của giai đoạn Hearn lưu ngụ Nhật Bản. Người ta có cảm tưởng là qua tác phẩm này, Hearn đă bày tỏ tất cả t́nh yêu nồng nàn của ông với đất nước và con người Nhật Bản. Đôi khi hành động đó cho ta thấy ông giống như một đứa trẻ thơ đi t́m h́nh bóng mẹ. Nhiều người phê b́nh ông đă đi đến chỗ cực đoan là tán tụng Nhật Bản một cách quá ngây thơ, vô điều kiện. Về điểm đó, ông đă khẳng định rằng ḿnh cũng đă thấy cả hai mặt phải và trái: 

Trong sinh hoạt, người Nhật có một số sở đoản, thậm chí đôi khi họ tỏ ra ngốc nghếch và ti tiện nữa. Họ cũng làm việc ác và c̣n tàn nhẫn. Tuy nhiên, nếu xét cho thật kỹ, ta sẽ thấy họ hết sức lương thiện, giỏi chịu đựng và luôn luôn có một tấm ḷng đơn sơ, một thái độ ân cần, biết chăm sóc người khác. (Trích Lời nói đầu) 

Dù sao, kết quả là với những ǵ viết trong quyển sách này, ông đă giúp được người Nhật nói riêng hay những dân tộc Đông Phương nói chung, t́m lại bản sắc tốt đẹp của ḿnh mà chính họ không hề hay biết để cứ phải nhắm mắt chạy theo những giá trị phương Tây mà họ xem như là trên hết. 

Nội dung hai tập Glimpses of Unfamiliar Japan 

Quyển sách này đă được Hearn viết ra theo cung cách một tác phẩm ra đời trước đó về hai năm sống ở vùng Tây Ấn thuộc Pháp nhan đề Two years in the French West Indies nghĩa là ông chen lẫn cảm tưởng và tri thức của ḿnh vào bên trong mô tả. Từ một nội dung gồm 1.500 trang bản thảo, bản đầu tiên của Glimpses of Unfamiliar Japan xuất bản năm 1893 được thu ngắn xuống 500 trang trong hai tập. Nhà xuất bản Tuttle Co. đă thu xếp và gộp lại thành một quyển dày 569 trang 27 chương với b́a mỏng trong lần tái bản năm 1976.   

Tập I:

0 - Lời nói đầu – 1- Ngày đầu tiên ở phương Đông – 2- Thư pháp của Kôbôdaishi – 3- Địa Tạng (Jizô) – 4- Cuộc hành hương đến  Enoshima – 5- Ngôi chợ của người chết (Bon-ichi) - 6- Điệu múa Vu Lan (Bon.odori) – 7- Thủ đô của đất nước chư thần (thành phố Matsue) – 8- Kitzuki, ngôi đền Thần đạo cổ nhất Nhật Bản – 9-  Trong động đá những hồn ma trẻ con – 10- Ở Mionoseki – 11-  Tạp kư về Kitzuki – 12- Ở Hinomisaki – 13- Những người chọn chết chung (Shinjuu) – 14-  Đền Thần đạo Yaegaki – 15-  Chồn (Kitsune). 

Tập 2: 

16- Trong khu vườn Nhật – 17-  Ban thờ gia đ́nh – 18- Về mái tóc người phụ nữ - 19- Trích nhật kư một nhà giáo tiếng Anh – 20- Hai lễ hội kỳ quái – 21- Dọc Biển Nhật Bản – 22- Một con múa – 23- Từ Hoki tới Oki – 24- Về những linh hồn – 25- Ma và yêu quái – 26- Nụ cười Nhật Bản – 27- Giă từ. 

Thời gian cư ngụ ở Nhật của Lafcadio Hearn có thể chia làm 5 giai đoạn như sau:

1)     Thời mới đặt chân đến Yokohama (tháng 4 đến tháng 8 năm 1890).

2)     Thời dạy học ở Matsue (tháng 8 năm 1890 đến tháng 9 năm 1891).

3)     Thời chuyển xuống Kumamoto (tháng 11 năm 1891 đến tháng 10 năm 1894).

4)     Thời ở Kobe (tháng 10 năm 1894 đến tháng 8 năm 1896):.

5)     Thời lên Tôkyô (tháng 9 năm 1896 đến tháng 9 năm 1904).

 

Tuy vậy, phần lớn những địa danh được nhắc tới trong 2 tập sách trên đây đều liên quan đến vùng Matsue, nơi ông cư ngụ vào những ngày đầu tiên trên đất Nhật và cũng là đối tượng t́m hiểu của ông. Điều này khá dễ hiểu. Trước tiên, Matsue trong tỉnh Shimane nằm ven biển Nhật Bản nh́n về bán đảo Hàn, là sân khấu của bộ cổ sử Kojiki, nơi xưa kia theo truyền thuyết, các thần cổ đại từng sống chung với loài người. Hai nữa là vào thời điểm đó, mới đến Nhật, con mắt hiếu kỳ của Hearn c̣n đang choáng ngợp trước một đất nước lạ lùng với những điều mới mẻ ông chưa từng chứng kiến ở phương Tây. 

Giáo sư Ikeda Masayuki[6], người dịch văn bản từ nguyên tác tiếng Anh sang tiếng Nhật đặc biệt lưu ư độc giả đến văn tài của Hearn thể hiện trong Glimpses of Unfamiliar Japan. Theo ông, văn tiếng Anh trong đó có nhiều tu sức nên hoa lệ và huyền ảo, khó ḷng xem như giọng văn của người nghiên cứu hay nhà báo mà chỉ có thể là của một tùy bút gia viết kư sự lữ hành bẩm sinh. Hearn đặc biệt sử dụng nhiều h́nh dung từ, c̣n các động từ th́ viết theo th́ hiện tại và thể liên tiến hiện tại, ít dùng thời quá khứ nên câu văn rất sống động nhưng cùng lúc, gây nhiều khó khăn cho dịch giả. 

Lời nói đầu (Preface) 

Lời nói đầu đóng vai tṛ dẫn lối vào quyển sách nhưng cũng là tuyên ngôn của tác giả cho biết là kể từ ngày hôm nay, ḿnh sẽ tích cực có những hoạt động văn bút trên đất Nhật.

Lời nói đầu gồm 4 phần, trong đó Hearn khai triển 4 ư chính:

1)     Phê phán giới thượng lưu và trí thức Nhật Bản chỉ biết chạy theo Tây Phương. Ông thấy họ không quan tâm đến tôn giáo và tâm linh, quá gấp gáp muốn thu thập khoa học kỹ thuật tân tiến,  quên mất cái hay cái đẹp của nước ḿnh.

2)     Vẻ đẹp độc đáo của Nhật Bản có thể t́m thấy nơi người dân b́nh thường. Ư này cũng có mục đích phê phán giới trí thức.

3)     Truyền thuyết, thần thoại, lễ hội ... những ǵ sắp biến mất, theo Hearn, mới là tượng trưng của một Nhật Bản đích thực. Ông ca tụng những đức tính như lương thiện, nhẫn nại, chịu cực và sự chất phác hiếm có của họ.

4)     Phê phán Ki-Tô giáo lẫn văn minh Tây Phương qua những thói hư tật xấu nẩy ra ở Anh từ Cuộc cách mạng kỹ nghệ. Hearn cũng chê trách sự cạnh tranh quá mức và chủ nghĩa thuần lư ở Mỹ. 

Hearn từng nhắc trong một bức thư vào cuối tháng 11/1888 gửi cho William Patton, tổng biên tập tạp chí Harper Monthly là ông sẽ không viết kư sự theo kiểu một nhà nghiên cứu hay kư giả nhưng viết làm sao để độc giả cảm thấy một cách sống động từ những điều ông bắt gặp trong thực tế. Tóm lại, điều ông mong muốn là đi vào cuộc sống Nhật Bản để t́m hiểu bản chất của văn hóa Nhật Bản và cuộc sống nội tâm người Nhật. Điều này cũng được Hearn thổ lộ trong Lời nói đầu. 

Thực ra, văn chương du kư của Hearn đă có sẵn một điểm khởi hành, đó là việc t́m hiểu thế giới tâm linh. Trước khi đến Nhật và hăy c̣n sống ở Mỹ, Hearn đă viết những bài tiểu luận liên quan đến hồn ma (ghost). Xung động muốn ra đi thường xuyên ám ảnh tâm trí ông. Ra đi là để gạt bỏ sự yên ổn, b́nh thản của cuộc sống hiện tại đầy nọa tính, ra đi là t́m đến những nơi chưa hề đặt chân, gặp gỡ những người chưa hề quen biết, ra đi để t́m sự đối chiếu dẫn đến giao cảm rồi đồng điệu giữa tự ngă và tha nhân. Hơn thế nữa, ra đi đối với ông c̣n là cơ hội giúp ḿnh gặp được một cái ta khác đang ẩn dấu trong người. 

1  Ngày đầu tiên ở phương Đông (My first day in The Orient) 

Chương đầu tiên mang tên “Ngày đầu tiên ở phương Đông” ghi lại cảm nghĩ của Hearn khi ông đặt chân lên bến Yokohama vào ngày 4/4/1890. Đoạn văn này bộc lộ sự cảm động và phấn khích trong ḷng ông khi được đến một vùng đất mới.

Buổi sáng khi ghé cảng Yokohama, ông đă thuê xe kéo để thăm viếng thành phố. Bầu trời xanh ngắt của ngày hôm ấy, người kéo xe (kurumaya) tên Cha đội nón lá, chân đi dép bện rơm và hết sức tốt bụng, những cửa tiệm với rèm cửa màu lam trên đó viết những ḍng chữ Hán ngoằn ngoèo ... đều làm ông kinh ngạc. Ông ngỡ ḿnh như lạc vào một xứ thần tiên nào (fairyland, chữ Hearn dùng). Đầu tháng 4 cũng là mùa xuân, lúc hoa anh đào đang nở. Tất cả như muốn cùng nhau giúp Hearn củng cố ư định muốn lưu lại sinh sống trên đất nước này, ư định mà ông đă có từ đầu.

Ngày hôm đó, ông cũng đến thăm nhiều chùa Phật đền Thần và khi soi bóng ḿnh trong tấm kính đồng ở ngôi chùa ven biển và nhâm nhi chung trà với một nhà sư già, Hearn có cảm tưởng như thấy được một con người khác của ḿnh đă từng có mặt nơi đây từ một ngh́n năm về trước.

Cũng trong ngày đầu tiên ấy, Hearn đă làm quen được với Manabe Akira, một tăng nhân tập sự trong chùa, có biết chút tiếng Anh học được ở Tokyo. Sau đây là đôi mẩu đối thoại thú vị giữa hai người: 

Tôi hỏi:

-Tại sao trong chùa của anh không thấy tượng Phật?

Người học tăng trả lời:

-Có một bức tượng nhỏ trong khám thờ ở trên điện. Thế nhưng cái khám ấy đang khóa kín. Ở đây, tượng Phật lớn cũng có nhiều nhưng không đem trưng ra mỗi ngày trừ những dịp lễ lạc.Có tượng một năm ḿnh chỉ được thấy hai ba lần.

..................................

Tôi quay lại người thanh niên và hỏi anh:

-Tại sao những người đến viếng lại vỗ tay trước khi khấn khứa?

Anh ta mới giải thích:

- Vỗ tay ba lần cho Tam Tài là Thiên Địa Nhân[7].

-Chứ không phải họ đang mời mọc thần thánh như khi người Nhật vỗ tay để gọi người làm của ḿnh?

-Ồ không! Vỗ tay như thế là muốn thoát ra khỏi giấc Mộng của Đêm Dài.

- Mộng ǵ? Đêm nào?

Anh ta chần chừ một chút rồi đáp:

-Đức Phật dạy rằng tất cả con người đang nằm mộng trong một cơi phù sinh tối tăm và đau khổ.

-Thế th́ vỗ tay là để đánh thức những linh hồn đang ở trong chốn mê lầm.

-Thưa vâng.

-Ông có hiểu linh hồn (soul) mà tôi nói nghĩa là ǵ không?

-Vâng, có chứ. Đức Phật dạy linh hồn vẫn có và sẽ có măi.

-Ngay cả trên Niết Bàn?

-Vâng, chính thế! 

Người học tăng tên là Akira đó sau này sẽ đồng hành với Hearn xuống Matsue.          

Cách viết độc đáo của Hearn 

Cách viết kư sự du hành bằng miêu tả chi tiết pha lẫn cảm tưởng cá nhân như thế là đặc điểm của văn chương Hearn. Sự trầm tư giúp ông len lỏi vào chiều sâu những chi tiết bắt gặp trong thực tế và t́m ra từ chúng một ư nghĩa cao xa. Nó khác hẳn cách viết của những người ngoại quốc đến Nhật nghiên cứu vào thời điểm ấy.

Thực ra từ năm 1872 một hội đoàn nghiên cứu về Nhật Bản tên là Japan Asia Society (Hiệp Hội Á Châu Nhật Bản) đă được thành lập ở Yokohama, trong đó có những thành viên như Lord Basil Hall Chamberlain và Ernest Satow[8]. Thế nhưng những người phương Tây chuyên nghiên cứu về Nhật Bản (Japanologist) này hoàn toàn không hiểu Thần đạo (Shintoism) là tôn giáo ǵ. Bởi v́ theo họ, sự sùng bái các hiện tượng thiên nhiên chưa hội đủ điều kiện để làm nên một tôn giáo. Hearn chống đối lập luận này của họ. Ông đă phê phán (tuy không nêu hẳn tên) những nhà nghiên cứu chỉ biết dựa trên tư liệu, sách vở để suy luận ấy ở những hàng cuối chương 8 “Kitsuki, ngôi đền Thần đạo tối cổ của Nhật Bản”. 

http://themargins.net/images2/bib/D/D5.jpg          アーネスト・サトウ

Basil Hall Chamberlain                Ernest Satow

Dĩ nhiên là vào thời buổi đó, những nhà nghiên cứu phương Tây khi t́m hiểu Nhật Bản cũng như các nước phương Đông chỉ nhằm mục đích phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc và chính sách thực dân. Ngay cả Chamberlain khi dịch Kojiki (Cổ Sự Kư, 712) sang tiếng Anh, không phải v́ ông đánh giá cao những cống hiến về mặt văn học của tác phẩm mà chỉ nhắm cung cấp thông tin về Nhật Bản cho học giới Anh quốc trong bối cảnh thế kỷ 19, thời mà chủ nghĩa đế quốc của Đế quốc Đại Anh (British Empire) đang hưng thịnh. Học giới Anh nhất là những nhà nghiên cứu trong lănh vực nhân loại học hay thần thoại học đối chiếu, nếu có quan tâm văn hoá, lịch sử, phong tục, tập quán của những “miền đất mới” cũng chỉ v́ họ chạy theo ư thức hệ đương thời, những mong điều hiểu biết của ḿnh sẽ phục vụ tích cực cho chính sách bành trướng thị trường và thực dân, hệ quả của Cuộc cách mạng kỹ nghệ .  

Ngược với họ, Hearn không đi theo lối tiếp cận ấy. Điều này có thể bắt nguồn từ 2 lư do. Trước tiên là thân thế rất đặc biệt của Hearn. Ông là một người con lai, mang trong người hai ḍng máu Ai-Len và Hy Lạp. Từ ngày bé thơ, ông đă được vú em kể những câu chuyện dân gian và hát cho nghe những bài hát ru Ai- Len. Cả Ái Nhĩ Lan và Hy Lạp đều là những nền văn hóa đa thần giáo (polytheism). Do đó Hearn đă có thể dễ dàng đồng cảm không chút gượng ép với văn hoá đa thần của Nhật Bản khi tiếp xúc với một tín ngưỡng vốn đặt ḷng tin vào bách vạn chư thần trú ngụ trong thiên nhiên là Thần đạo. Thứ đến, đó là tư chất nhà báo và nhà lữ hành của Hearn. Hearn không dựa trên tư liệu sách vở và cũng không phân tích kiểu học thuật khi ông t́m đến với văn hoá Nhật Bản. Với một giọng văn uyển chuyển, sống động, ông đă vẽ nên được một Nhật Bản đời thường, thân mật và truyền cảm. Khi bàn đến các tác phẩm viết về Nhật Bản vào thời đó, cho dù sao này có mối bất ḥa giữa hai người, Chamberlain cũng đă phải tỏ lời khen ngợi Hearn:  

“Ông biết tŕnh bày cặn kẽ với một sự chính xác khoa học với một lối viết nhẹ nhàng, linh động và hoa lệ. Nơi ông, có một sự kết hợp khéo léo đến nay chưa thấy ai làm được.... Ông làm tôi nhớ tới câu nói của soạn giả nhạc kịch người Đức Richard Wagner: “Hầu hết mọi sự hiểu biết sâu sắc đều phải thông qua con tim mới đến được chúng ta”. Bởi v́ Hearn đă yêu mến Nhật Bản hơn ai hết cho nên ông cũng đă hiểu biết Nhật Bản hơn ai hết và nhân đó, có khả năng giúp cho độc giả hiểu về Nhật Bản một cách sâu sắc hơn bất cứ tác giả nào khác”. (Trích lời tựa ấn bản lần thứ 5 của Things Japan) 

B́nh thường, trong khi t́m hiểu một nền văn hoá khác, con người ta thường chỉ muốn thỏa măn sự hiếu kỳ (curiosity) và v́ một hứng thú (interest) nào đó. Nhưng thực ra, trong học vấn, nghệ thuật hay văn học th́ con đường t́m hiểu cần phải bắt đầu từ sự ngưỡng mộ (admiration) và ḷng tôn kính (respect) đối tượng. Giáo sư Ikeda Masayuki sử dụng thuật ngữ thaumazein (tán dương) mà người thầy của ông, triết gia Imamichi Tomonobu (1922-2012) đă đề xướng. Đó là một khái niệm đến từ tiếng Hy Lạp.

Nếu tiếp cận đối tượng v́ hiếu kỳ và hứng thú th́ ta chỉ có thể chạm được cái vỏ ngoài của sự vật. Chữ interest c̣n có nghĩa là “lợi ích” cho nên khi nói đến interest là nói đến việc thủ lợi, nó có hơi hướm của đồng tiền. Trong khi đó với thaumazein, ta có thể tiến gần đến bản chất của sự vật hơn, và như thế, phù hợp với mục đích học tập, nghiên cứu. Có thể nói việc làm của Hearn đă bắt đầu bằng tinh thần thaumazein này bởi ông không v́ hiếu kỳ cũng như lợi lộc nhưng đă tiếp cận văn hoá Nhật Bản với một tấm ḷng yêu kính..

Những người sống trong thời đại của chúng ta chỉ khen chê đầu lưỡi, khi suưt soa khi mạt sát chớ ít ai cảm thấy quí hóa khi đứng trước những ǵ xa lạ với ḿnh. Có được cái tầm nh́n với thaumazein là điều chúng ta cần học tập nơi Hearn. 

2       Thư pháp của Kôbô Daishi (The writing of Kobodaishi)  

V́ sao chương 2 lại dành riêng cho Kôbô Daishi th́ hơi khó hiểu. Có thể Hearn chép câu chuyện ra ngay đầu sách v́ nó đă được nhà sư tập sự Manabe Akira kể lại cho nghe hồi mới gặp nhau và ông lấy làm thích thú.

Kôbô Đạishi (Hoằng Pháp Đại Sư) là chức phong cho tăng Kuukai (Không Hải, 774-835), người sáng lập phái Shingon (Chân Ngôn tông). Tương truyền chữ ông rất đẹp, có thể viết bằng toàn thân một lần với 5 ngọn bút, khiến Hoàng đế nhà Đường lẫn Thiên hoàng đều phải thán phục. Ông lại c̣n sáng tạo ra hệ thống Hiragana cho Nhật ngữ từ chữ Hán và là tác giả bài thơ Iroha để tóm tắt bộ chữ ấy.

Chương này đặc biệt kể lại những giai thoại có tính cách thần thánh chung quanh cuộc đời của bậc đại sư và không có ǵ đáng bàn thêm. Chỉ có thể giữ lại từ đó ấn tượng là ḷng tôn kính và biết ơn của người Nhật đối với ông như động cơ để tạo ra truyền thuyết chung quanh một nhân vật lỗi lạc. 

                 3  Địa Tạng (Jizô)  

Học tăng Manabe Akira đă đồng hành với Hearn trên đường xuống Matsue. Khi đi ngang vùng Yokohama, anh giải thích cho ông về tín ngưỡng Địa Tạng (Jizô) ở Nhật Bản. Hai người trước đó đă đến một ngôi chùa tên là Zôtokuin để dự một buổi lễ tắm Phật bằng trà ngọt (amacha) và đi xin xăm (mikuji). Sau đó họ viếng một nghĩa trang (hakaba) trong khuôn viên nhà chùa, nơi đây Hearn quan sát h́nh thức kiến trúc những ngôi mộ Nhật Bản và phong tục cúng hoa, thắp nhang và tưới nước cho người đă khuất. Hearn đă ngạc nhiên khi thấy trong nghĩa trang Phật giáo này có cả một ngôi mộ Ki-tô giáo với thập tự giá của một người Anh. Thế nhưng cái làm Hearn hơn cả là trên đường về, ông đă dừng chân lại trước 6 bức tượng nhỏ đặt bên đường và nằm thành một hàng. Đó là Roku Jizô hay 6 vị Địa Tạng. 

2007.09.28東海道 岩淵 清源院の六地蔵

Roku Jizô với khăn trùm đầu (zukin) và yếm nước dăi (yodarekake) 

Theo Hearn, đây là những pho tượng đáng yêu hơn cả và những nhóm tượng như vậy, người ta thường gặp ở trong các băi tha ma ở Nhật. Trong tín ngưỡng dân gian, đó là những vị bồ tát đă đến cơi đời này để an ủi những linh hồn trẻ con đang đau khổ và cứu chúng thoát khỏi bàn tay ma vương ác quỷ.

Hearn cho biết không ai rơ tại sao Jizô khi đặt bên nhau lại là sáu mà không phải là 2, 3, 4 hay 5... Ông đưa ra giả thuyết được truyền lại từ đời trước là Jizô muốn phân thân làm 6 để cứu vớt tất cả chúng sinh trong sáu cơi (Lục đạo). Hăy hiểu thêm về Jizô qua đoạn văn dưới đây: 

Tôi hỏi:

- Tại sao có những đống đá nhỏ được sắp bên cạnh các tượng?

-Bởi v́ người ta nói tất cả các hồn ma trẻ con phải gom góp đá đi xây những tháp chuộc tội cho chúng ở Sai-no-kawara, nơi mà sau khi chết chúng đều phải tới. Bọn quỷ sứ (Oni) sẽ đến nơi đập phá tan hoang những tháp ấy ngay khi lũ trẻ vừa mới xây xong, đe dọa và hành hạ chúng. Lúc đó, những hồn ma trẻ con bèn chạy đến bên Jizô và được những vị bồ tát ấy dấu dưới ống tay áo của các ngài, an ủi chúng và đánh đuổi bọn quỷ dữ. Mỗi ḥn đá đặt trên gối (Jizô ngồi) hay dưới chân Jizô (đứng) cùng với lời khấn nguyện chân thành của khách văng lai sẽ giúp lũ trẻ con ở Sai-no- Sawara tiêu được tội lỗi của chúng.

Thế rồi người học tăng có nụ cười hiền hậu như một bồ tát Jizô tiếp lời:

-Mọi đứa trẻ đều phải đi về cơi Sai-no-Kawara sau khi chết và chúng sẽ chơi đùa với các Jizô ở đó. Sai-no-Kawara nằm trong ḷng đất, dưới chân chúng ta.

Bởi v́ Jizô có ống tay áo thật dài, bọn trẻ đùa nghịch bằng cách tŕ kéo các ngài bằng ống tay áo và sắp xếp những ḥn đá nhỏ trước mặt họ. Thực ra, những ḥn đá nhỏ chúng ta thấy xếp bên cạnh tượng thường là của những bà mẹ có con nhỏ chết đến đây khấn vái. Chỉ có trẻ em chứ người lớn th́ không thác sinh về Sai-no-Kawara.    

Các nhà Đông Phương học cho rằng Jizô trong tiếng Phạn viết là Kshitegarbha nhưng họ đồng thời xác nhận Jizô Nhật Bản là một sáng kiến của người bản xứ. Thủ tục chồng đá trước tượng Jizô không biết có từ đời nào nhưng có thể đă dựa vào ư nghĩa một đoạn trong kinh Pháp Hoa. C̣n như truyền thuyết về Sai-no-Kawara dường như đă bắt đầu với tăng Kuuya (Không Dă thượng nhân,   903-972) trong một đêm ông băng qua ḍng sông cạn nước gọi là Sai-no-Kawa (nay đọc là Serikawa) ở ngôi làng tên Sai-in gần Kyôto và trầm tư thương xót cho số phận của những hồn ma trẻ em ở cơi Meido (Minh thổ hay Minh đồ).

Thế nhưng Jizô không chỉ cứu giúp trẻ con. Truyền thuyết về Hakada Jizô (Jizô khỏa thân) thờ ở chùa Enmeiji (Kamakura) nói đến việc Jizô dù là đàn ông và mặc áo quần đă biến thành đàn bà để cởi truồng thế chỗ một bà phu nhân thua ván cờ bị bắt phải chịu sự nhục nhă là cởi truồng và đứng ngay trước mặt mọi người . Ngày nay khách hành hương đến chùa này sẽ thấy một pho tượng Jizô mặt đàn ông trong thân xác đàn bà đặt trên một bàn cờ.

Hearn lại nhắc đến một số thần thánh đặc biệt. Trước tiên là Batô Kannon (Mă Đầu Quan Âm) nghĩa là Quan âm đầu ngựa. Tuy nhiên điều này không ám chỉ Quan Âm ấy có cái đầu như đầu ngựa nhưng có nghĩa là h́nh đầu ngựa được gắn trên măo miện của vị bồ tát. Quan Âm đầu ngựa có “chức năng” bảo vệ cho súc vật được nuôi như ḅ ngựa. Kế đến là Kiriboshin hay Karitei-Bo (chữ Phạn là Hariti), một nữ thần trong một kiếp trước rất hung ác, từng xé xác con ḿnh, nhưng sau khi được Phật giác ngộ, đă trở thành kẻ bảo vệ trẻ em. Nữ thần Ấn Độ này cũng đă được người Nhật tiếp nhận với “chức năng” tương tự Jizô.

Như vậy, Thần Phật ở Nhật có rất nhiều nếu không nói lả các vị ấy tự phân thân ra hàng trăm hàng ngàn để đáp ứng với nhu cầu của đại chúng. Một Kannon đă trở thành trăm Kannon, sáu Jizô đă trở thành ngh́n Jizô.

Trong nghĩa địa này, Hearn cũng đă nh́n thấy những tượng nimbi (súc sanh trong lớp da người) qú đội những b́nh hương, tượng Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay (Senjiu Kannon), tượng Yakushi Nyorai (Dược Sư Như Lai), tượng Bất Động Minh Vương (Fudo Sama) cầm kiếm (tượng trưng cho tri thức) và lửa (quyền lực), dây thừng (để trói đam mê và dục vọng), cũng như các tượng đá tạc h́nh chồn (kitsune) và ba con khỉ (san.en), tương truyền là bộ hạ của thần khỉ Saruta Hiko no Mikoto trong Thần đạo. Chúng che mắt, che tai và che miệng v́ không muốn nghe (kikazaru), không muốn thấy (mizaru) và không muốn nói (iwazaru) những điều thất đức.

Lấy xe kéo đi tiếp với nhà sư trẻ đến một nơi tên là Renkoji ở Kuboyama, Hearn đă thấy tượng Em-Ma (Diêm Ma) mặt đỏ tức Diêm Vương, người cai quản Địa Ngục, tượng Jizô màu trắng đứng trên ṭa sen và cả tượng Sozu Baba, một nữ quỷ già nua da tóc trắng toát, hay cướp áo xống người chết để đ̣i tiền chuộc khi họ phải qua sông Tam Đồ (Sanzu no Kawa) dưới âm ty. Tất cả những pho tượng đó tượng trưng cho sinh hoạt dưới cơi âm mà khi chết người Nhật sẽ bước vào. 

4       Cuộc hành hương đến Enoshima (A Pilgrimage to Enoshima) 

Hearn và Akira tiếp tục thuê 2 chiếc xe kéo (jinrikisha), một thứ taxi thời đó, để viếng Kamakura, cố đô Nhật Bản dưới Mạc phủ Kamakura (1183-1333), nơi xưa kia sứ giả của Kubilai Khan đă mất đầu v́ dám đến kêu gọi Shôgun hăy hàng phục Mông Cổ. Nay Kamakura là một thành phố nhỏ có nhiều cây xanh tô điểm bởi những đoá hoa xương bồ (ayame, Japanese iris) tím ngát. Hai người đă làm một cuộc hành hương trong một vùng có vô số chùa chiền khởi đầu bằng Engakuji (Viên Giác Tự) rồi Kenchôji (Kiến Trường Tự), viếng tượng Daibutsu (Đại Phật), đền thờ Quan Âm và bờ biển Enoshima, ḥn đảo linh thiêng của tín ngưỡng thủy thần qua h́nh ảnh nàng Long Nữ.

Trong chương này, Hearn mô tả cảnh tượng chùa chiền trong chuyến tham quan. Ông cũng thuật lại nhiều câu chuyện đơn sơ có tính răn đời và liên quan đến các đền chùa trong vùng nhưng chỉ xin ghi lại nơi đây hai mẩu chuyện nhỏ mà ông nghe được. Một là về quả chuông chùa Engakuji, một là về pho tượng Jizô ở Kenchôji: 

Năm thứ 12 niên hiệu Bunmei (1481), đại hồng chung của chùa Kengakuji không ai đánh cũng kêu. Thiên hạ cho là phép lạ, có người bèn cười. Người ấy liền gặp sự bất hạnh. Trong khi ấy, kẻ khác tin theo và được hưởng nhiều điều may mắn.

Chính vào lúc đó, ở ngôi làng Tamanawa có một người tên Ono no Kimi. Anh ta lâm bệnh và chết xuống Âm Ty. Khi ra trước công đường cho Emma (Diêm Vương) xét xử th́ vị này hướng về phía Ono no Kimi mà phán rằng:

-Ngươi xuống đây sớm quá. Số năm ở cơi Ta Bà của ngươi hưởng chưa hết. Thôi cho ngươi về!

Thế nhưng, Ono no Kimi lại thưa rằng:

-Cơi Âm tối đen như mực, tôi biết theo đường nào mà đi?

Emma đại vương mới nói tiếp:

-Ở Nam thiên, có thể nghe được chuông chùa Engakuji. Ngươi cứ theo tiếng chuông ấy mà đi về phiá Nam th́ thế nào cũng tới.

Ono no Kimi bèn lần theo tiếng chuông mà đi về phiá Nam. Ông ta qua khỏi bóng đêm dài của Âm Ty và t́m lại được cơi Ta Bà.

Cũng vào thời này, người ta thấy xuất hiện một nhà sư hành cước khổ người to lớn không ai biết tên tuổi gốc tích. Ông ta đi khắp tỉnh thành thôn xóm và khuyến khích người ta đến cầu khấn trước quả chuông chùa Engakuji. Cuối cùng mọi người mới vỡ lẽ rằng nhà sư to lớn ấy chính là quả chuông lớn kia nhờ một sức mạnh siêu nhiên đă hoá thân ra.

.....................................

Akira kể cho tôi nghe một câu chuyện anh thấy chép trong quyển sách gọi là Jizô Kyo Kosui (Địa Tạng Kinh Cổ Thú Ư):

Ngày xưa ở vùng Kamakura có một bà vợ của ông rônin (vũ sĩ vô chủ) tên là Soga Sadayoshi. Bà ta chuyên môn nuôi tằm và ươm tơ. Bà lại thường lui tới chùa Kenchôji. Một hôm trời lạnh, bà thấy bức tượng Jizô giá rét tội nghiệp nên định bụng làm ra một cái mũ nồi (zukin) để Jizô đội trên đầu  như người thường dân vẫn làm vào những năm khi thời tiết đặc biệt lạnh. Thế rồi làm mũ xong bà đem đến đội cho tượng và nói: “Phải chi tôi giàu có để có thể làm cái ǵ che đủ cho tất cả tấm thân cao quí của ngài khỏi lạnh. Tôi nghèo quá chỉ được một cái mũ đội đầu, thật không xứng đáng với ngài.”

Sau đó bà ta chết lúc mới 55 tuổi vào tháng 12 năm thứ 5 niên hiệu Jishô (Trị Thừa) tức năm 1181.Thế nhưng thân thể bà sau 3 ngày mà vẫn ấm cho nên họ hàng chưa dám đem hỏa táng. Đến cuối ngày thứ 3 th́ bà bỗng hoàn hồn sống lại. Bà mới kể rằng khi thác xuống Âm Ty, bị bắt ra công đường để xét xử th́ Emma mới phán: “Nhà ngươi là một con người độc ác, không nghe theo lời dạy của Đức Thích Ca. Cả đời, ngươi đă sát hại bao nhiêu là con tằm khi luộc chúng trong nước nóng. Nay ngươi sẽ phải đi vào địa ngục và chịu thiêu đốt cho đến khi đền xong tội”. Bà liền bị một con quỷ dữ thảy vào bên trong vạc dầu nóng như sôi. Bà khóc thét lên v́ kinh sợ. Bỗng nhiên thấy Bồ Tát Jizô ở đâu đáp xuống dưới đáy vạc và dầu thôi nóng cháy. Jizô đưa tay kéo bà lên đến trở lại trước Emma, xin tha tội cho bà. Bà được tha thứ v́ điều thiện đă làm và được trở về sống trong cơi Ta Bà. 

Những câu chuyện vừa kể là những truyện có tính răn đời của nhà Phật (Bukkyô setsuwa). Dĩ nhiên nó biểu lộ sự mê tín của người b́nh dân Nhật Bản. Thế nhưng như trong lời tựa của Glimpses of Unfamiliar Japan viết năm 1894 ở Kumamoto, Hearn đă bày tỏ một sự thông cảm với những con người chất phác ấy trong một đoạn văn dài đại ư: “Người Nhật đă Âu hoá ngưỡng mộ tri thức của Paris và Boston xem mê tín là mê tín chứ không chịu nghiên cứu nó theo quan điểm xă hội học hay tâm lư học...Dĩ nhiên sự mê tín của người Nhật cũng giống như nỗi sợ của người Hy Lạp khi đứng trước thần thánh. Tuy vậy, đừng xem mê tín chỉ tượng trưng cho sợ hăi. Nó c̣n đem đến hy vọng....Chúng ta thường trông cậy vào những ảo giác hơn là tri thức bởi v́ trí tưởng tượng có thể an ủi và đem lại cho chúng ta nhiều hạnh phúc hơn là lư trí.”    

Bên cạnh Thích Ca, Quan Âm, Dược Sư, Văn Thù, Phổ Hiền...thế giới linh thiêng của người Nhật c̣n có những Fudô, Kichijô, Benten, Kishibojin là những vị thần dị giáo bên Ấn Độ được Phật giáo đồng hóa và người Nhật Bản rất yêu chuộng. Khi đến Nhật, Phật giáo cũng tỏ ra hiếu ḥa trong nỗ lực thâu nhận những vị thần của Thần đạo. Chúng ta thấy điều đó qua câu chuyện sau đây, tương truyền đă xảy ra vào thời Nara: 

Lúc ấy, trong vùng Yamato có một vị cao tăng là Tokudo Shônin. Kiếp trước, ông là một vị bồ tát nhưng thác sanh vào cơi đời này để cứu vớt những linh hồn. Một đêm, đang khi dạo bước trong thung lũng, ông chợt thấy một đạo hào quang và nhận ra là nó đến từ một cây long năo (kusunoki). Một làn hương thơm tỏa ra từ thân cây và hào quang sáng như bánh trăng. Shônin (thượng nhân) mới biết rằng đây là một linh mộc nên ông muốn tạc h́nh Phật Quan Âm bằng gỗ cây này. Ông bèn đọc kinh niệm Phật để xin nguồn cảm hứng th́ bỗng có một ông lăo và một bà lăo hiện ra bên cạnh.Họ nói: “Chúng ta biết ông muốn tạc tượng Đức Quan Âm bằng gỗ cây này. Thế th́ cứ tiếp tục khấn nguyện, chúng ta sẽ giúp cho ông”.

Tokudo Shônin nghe và làm theo và thấy họ chẻ thân cây long năo ra làm hai phần bằng nhau một cách dễ dàng. Họ bèn bắt đầu việc tạc tượng, như thế trong ṿng 3 ngày. Đến ngày thứ 3 th́ 2 bức tượng Phật tuyệt vời đă hoàn thành. Shônin bèn thưa: “Có thể nào hai ngài cho tiểu tăng được biết quí danh?” th́ lăo già trả lời; “Ta là Kasuga Myôjin (Xuân Nhật Minh Thần)” (tổ thần họ Fujiwara). Lăo bà nói: “C̣n ta là Tenshôkô Daijin (Thiên Chiếu Hoàng Đại Thần” (nữ thần mặt trời).

Nghe được tin này, Thiên hoàng bèn gửi sứ giả đến dâng lễ vật là cho dựng trên chỗ đó một ngôi chùa...  

5       Ngôi chợ của người chết (The Market of the Dead)  

Từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 7 Dương lịch, ở Nhật có Lễ Cúng Người Chết gọi là Bon.matsuri (Bồn Tế) hay Bonku (Bồn Cúng), dịp mà người phương Tây gọi là Lễ Hội Lồng Đèn (Feast of Lanterns). Nó đă sao y lễ cúng các vong linh vốn được tổ chức tự thời xưa nhưng xảy ra vào 3 ngày đó trong tháng 7 Âm lịch. Nhật không nghỉ lễ tôn giáo, ngay cả Giáng Sinh hay Phật Đản nhưng trong 3 ngày O-Bon, tất cả người đi làm đều được cho nghỉ để về quê cúng kiếng tổ tiên. Akira đă đưa Hearn đưa đi thăm một Butsudan (ban thờ Phật) trong một gia đ́nh và sau đó viếng “Ngôi chợ của những người chết” (Bon.ichi), nơi trưng bày những món đồ người Nhật mua sắm vào dịp cúng dường này.

Theo tục lệ cổ truyền, vào ngày 13, vào sáng sớm, họ phải bện rơm thật sạch sẽ, tinh khiết thành đồ trải ban thờ và đặt nó trên mọi ban thờ (Butsudan) hay trong pḥng thờ Phật (Butsuma). Các đền chùa và ban thờ sẽ được trang trí với giấy màu, hoa như sen (hasu, lotus) và nhánh cây thiêng: hồi hương (shikimi, anise), thưu (misohagi, lespedeza)...Thế rồi, một mâm sẽ có cỗ cúng (gozen) với miến bột gạo (somen), cơm, bánh dày (dango), cà tím (nasu) và hoa quả trong mùa thường là dưa ngọt, đào và mơ, các loại bánh ngọt. Đồ ăn có khi được bọc giản dị trong lá sen. Không bao giờ dùng cá, thịt hay rượu. Nước lạnh lâu lâu được rưới bằng nhánh cây thiêng sakaki và trà th́ châm mỗi giờ để mời những vị khách của thế giới bên kia. Có cả đũa bát và cốc cho họ nữa. Như thế suốt 3 ngày.

Đêm đến, những cây đuốc thông soi sáng trước nhà để đón chào tổ tiên trở về. Cũng vậy, nhiều khi trong đêm đầu, người Nhật thắp “lửa chào đón” (mukaebi) tổ tiên dọc theo bờ hồ, bờ sông hay bờ biển. Thường là 108 ngọn lửa, con số bí mật có lẽ tượng trưng cho 108 thứ phiền năo. Ngoài cửa nhà, họ c̣n treo thêm những chiếc đèn lồng vẽ h́nh hoa cỏ hay phong cảnh để soi đường cho người chết. Cũng trong đêm đó, họ ra ngoài nghĩa trang đốt hương, tưới nước lên bia mộ, khấn khứa và cúng lễ. Hoa được đặt trong ống tre bên cạnh mỗi nấm mồ. Có cả đèn lồng nhưng là đèn trơn, không trang trí.

Đến tối ngày 15, ở các đền chùa, người ta tổ chức Segaki (Thí ngạ quỷ) để bố thí cho những con ma đói trong Gakidô (Ngạ quỷ đạo) cũng như những cô hồn vất vưởng v́ không ai chăm sóc. Thế nhưng vào dịp này, không mấy khi họ sửa soạn đồ lễ tế Thần.

Đêm thứ ba (đêm 17), điệu múa tập thể gọi là Bon.odori được diễn ra trên toàn thể đất Nhật. Tuy vậy, vào đêm ấy, quang cảnh làm cho người ta cảm động hơn cả Segaki và Bon.odori là lễ chia tay với các vong linh. Sau ba ngày tiếp đón và làm tất cả những ǵ ḿnh có thể để tổ tiên vui ḷng, người Nhật từ giă và trả họ về với thế giới u minh. Mỗi nhà đều sửa soạn những chiếc thuyền con bện bằng rơm chở thức ăn đồ uống và kết những ngọn đèn nhỏ kèm theo hương nhang, mảnh giấy viết lời bày tỏ t́nh cảm cũng như ước nguyện rồi đặt chúng xuống ḷng hồ, sông hay thả trôi ra biển. Những con thuyền ma (có th́ dài đến cả 1 m) này gọi là shôryôbune (tinh linh chu) với ánh lửa leo lét, trôi trong màn đêm và tỏa trên mặt nước một làn hương nhẹ nhàng.

C̣n ngôi chợ cho người chết gọi là Bon.ichi th́ được tổ chức vào ban đêm. Akira cũng đă đưa Hearn đi viếng nơi đó. Dưới ánh sáng đèn lồng và đuốc thông, những gian hàng mọc san sát bên nhau. Ở đây, người ta bán vật dụng để cúng các vong linh. Hearn thú vị nhất là những tiếng rao bán hoa sen (hasu), vỏ gai bện để làm đuốc (ogura), chén bát đáy nông cho người chết dùng (kawarake), đèn lồng (ya-bondôrô), hương nhang (senkô) hay những vật trang trí ban thờ (o-kazari), hoa giả (tsukuribana), cả đom đóm (hotaru) và dế (kirigirisu) vốn không liên quan ǵ đến O-Bon nhưng là những sinh vật tượng trưng cho mùa thu. 

6       Điệu múa Vu Lan Bồn (Bon.odori) 

Hearn bắt đầu làm một chuyến lữ hành vào Nước Nhật Sâu Thẳm (Deep Japan) và cảm tưởng khi ngừng lại thị trấn Uwaichi (tỉnh Tottori) giữa đường đến nơi phó nhậm là Matsue (tỉnh Shimane) vào ngày 28/8/1890. Nó được ghi lại trong Chương 6 nhan đề Điệu Múa Vu Lan Bồn (Bon.Odori). Uwaichi hăy c̣n thuộc khu vực văn hóa Phật giáo trong khi Matsue thuộc về khu vực văn hoá Thần đạo. Ông vẫn được nhà sư trẻ Manabe Akira làm thông dịch và hướng dẫn du lịch. 

1-1

 Điệu múa Vu Lan Bồn 

Đêm hôm đó, sau khi giữ nhà trọ và ăn bữa cơm chiều, Hearn đă được người địa phương đưa đến ngôi chùa Myôgenji (Diệu Nguyên Tự) để xem múa. Lần đầu tiên ông đă được nh́n thấy các cô gái múa O-Bon, các thanh niên đánh trống cả. Ông có cơ hội thưởng thức một thứ âm nhạc dân tộc mà ông không hề biết ở Âu châu, ngoại trừ kinh nghiệm âm nhạc thổ dân ở New Orleans và ở các đảo vùng Tây Ấn trong thời gian phiêu bạt đến quần đảo Martinique. Điệu vũ O-Bon là dịp để người sống gọi hồn người chết, nghênh đón họ trở về để cùng nhảy múa với ḿnh. Làm như thế, giữa người sống và người chết có sự giao lưu và nếu bảo là trong đó c̣n cả một khả năng ḥa hợp, tương chiếu (correspondence) tâm linh giữa hai thế giới tử sinh th́ hẳn cũng không ngoa. Theo Hearn, lư do là nguyên ủy của Bon.odori có lẽ đă phát xuất từ câu chuyện Đại Mục Kiền Liên (Dai-Mokenren) trên thượng giới đă vui mừng nhảy múa khi cứu được mẹ - bà Thanh Đề - ra khỏi kiếp ngạ quỷ dưới địa ngục. Điệu múa vũ trụ (cosmic dance) của O-Bon Nhật Bản đă cuốn hút Hearn vào trong nó và chinh phục ông. 

Giữa sân đền, có một giàn tre trên đó đặt cái trống lớn và đám dân làng đang ngồi dọc theo những hàng ghế dài mang ra từ trường học. Có tiếng nói chuyện th́ thầm, đôi khi là tiếng con nít khóc và tiếng cười khúc khích của mấy cô gái trẻ. Đằng xa phiá sau sân bên ngoài hàng rào thấp bằng cây xanh tôi thấy hiện ra những chấm sáng trắng và những cái bóng cao màu xám. Đó là những ngọn đèn cúng người chết thường chỉ thấy ở nghĩa trang. Những vệt xám là dăy bia mộ.

Đột nhiên một cô gái từ chỗ ngồi đứng dậy và đánh một tiếng trống lớn. Đây là dấu hiệu cho biết cuộc khiêu vũ với người chết đă bắt đầu.

................................

Từ bóng tối của chính điện ngôi đền, một đoàn con múa bước ra dưới ánh trăng, rồi đột ngột họ dừng lại. Toàn là những cô gái trẻ trong những bộ y phục đẹp nhất. Những cô cao hơn cả đi trước dẫn đường, theo sau là những cô thấp dần, cuối cùng là mấy bé gái khoảng 10, 12 tuổi. Họ nhẹ nhàng như chim, dáng vẻ đó gợi nhớ những h́nh thù xinh như mộng được vẽ lên trên những chiếc b́nh cổ. Tấm áo yukata đẹp tuyệt vời buông tới đầu gối với ống tay buông rủ và giải giây lưng rộng thắt quanh áo mang các mô h́nh như được một họa sĩ Hy Lạp hay Etruria (dân tộc cổ ở Bắc Ư) trang trí. Đùng thêm một tiếng trống nữa, họ bắt đầu tŕnh diễn một màn vũ ngoạn mục và huyền ảo đến mức làm tôi sửng sốt. Thực không biết lấy lời ǵ để diễn tả.  

Họ đưa chân phải lên trong khi dép trái không rời mặt đất và duỗi hai cách tay về bên phải với một cử động phiêu diêu trong khi khuôn mặt điểm một nụ cười nhu ḥa bí ẩn. Thế rồi họ rút chân phải về, làm động tác vẫy tay và nhẹ cúi đầu. Họ tiếp tục bằng cách đưa chân trái tới và lập lại động tác cũ, người hơi nghiêng về bên trái. Sau đó tất cả bước nhanh hai bước về phiá trước và chập hai bàn tay vỗ nhẹ vào nhau cùng một loạt.

.................................

Đằng sau lưng tôi, băi tha ma hăy c̣n đó như nó vẫn có tự ngày xưa. Tôi  cảm thấy ḿnh đang bị cuốn hút bởi những chiếc đèn lồng dành để đón người chết đang treo ở đấy. Đó là nói về nơi chốn. C̣n thời khắc th́ bây giờ là lúc hồn ma đă có thể hiện h́nh. Tất cả yếu tố ma quái ấy như qui tụ lại và gây cho tôi một cảm giác khó ở. Thế nhưng đối với các cô gái đang múa hát th́ không! Cử động của những cánh tay đang dịu dàng đưa lên đưa xuống như những đợt sóng thầm lặng kia không hề giống như cánh tay của những vong hồn đang được ánh lửa soi đường. Lúc đó, tôi lại nghe trỗi lên tiếng hát nhẹ nhàng, trong vắt như tiếng chim hót của những cô gái trẻ. Năm mươi cái miệng cùng cất lên một giọng hát dịu dàng: 

Sorouta, soroimashita odoriko ga sorota
Soroi kite kita hare yukata

(Những người con gái múa hát họp nhau đây trong áo quần ngày hội. Họ đẹp như gié lúa chín trên đồng)

...............

Những người đang ngủ trong ḷng đất, bên dưới những bia mộ xám và những chiếc đèn lồng trắng, cả cha họ, ông họ và cả tổ tổ tiên tiên hàng ngh́n năm về trước, bao thế hệ được mai táng ở đây và đă rơi vào quên lăng, nhất định đêm nay đang nh́n lên cảnh tượng này. Phải rồi, những hạt bụi bốc lên từ nhịp bước của những nàng con gái đang múa từng mang sinh mệnh bao người sống nơi đây. Nhất định ngày xưa dưới một vầng trăng cũng giống như trăng đêm nay, cùng một nụ cười tươi tắn, bước chân duyên dáng, bàn tay nhịp nhàng như của những nàng thiếu nữ trước mắt tôi, họ cũng đă từng múa điệu vũ trần gian. 

Trong đoạn này, ta thấy một đặc điểm khác của Hearn là ông đă tạo nên một bầu không khí siêu tự nhiên, mông lung huyền ảo (supernatural, ghostly atmosphere). Nếu dùng ngôn ngữ tôn giáo để diễn tả không khí đó th́ phải nói là thần thánh (divine), thiêng liêng (holy) hay nhiệm mầu (miraculous). Chữ ghostly dùng bởi Hearn có nghĩa rộng hơn nghĩa từ điển, nó vừa là một trạng thái tâm linh bên trong cá nhân, vừa là một biểu hiện tôn giáo bên ngoài họ. Trong văn chương Hearn, ta thấy có một sự cộng hưởng giữa tâm hồn ông và mọi sự tồn tại, dù chúng là hiện tượng siêu tự nhiên hay tự nhiên, động vật hay thực vật. Ông cho rằng dù con người không tin những chuyện ma quái v́ thấy là không hợp lư đi nữa, th́ ít nhất, họ cũng phải nh́n nhận rằng ngay sự tồn tại của bản thân họ đă là một điều kỳ diệu. Con người chính là một thứ hồn ma (ghost). Lư do là ngày nay dù khoa học có tiến bộ, người ta vẫn thích nghe những chuyện cổ tích, chuyện nhi đồng vốn không hợp lư, cũng như để trí tưởng tượng của ḿnh mọc cánh bay đến cơi siêu nhiên với những thần tiên, yêu quái và hồn ma. Thế nhưng, đôi cánh của trí tưởng tượng c̣n có thể bay trở lại thế giới của con người, một cơi tự nhiên trong đó có những nền văn hóa khác biệt của nhiều dân tộc. Xă hội hợp lư và trọng hiệu suất ngày nay đă khiến chúng ta suy xét một cách máy móc và hời hợt những ǵ chúng ta thấy. Chỉ cần nó không phù hợp với lối suy nghĩ của ta hay khó khăn một tí là ta đă khép cánh cửa ḷng. Thế nhưng sở dĩ chúng ta hăy c̣n cảm động được trước một chuyện ǵ là bởi v́ trong mỗi một người đều có một hồn ma (ghost), nó giúp cho chúng ta đồng cảm, chan ḥa với nhau. Văn học của Hearn chính là loại h́nh văn học coi trọng khả năng giao cảm giữa những linh hồn.  

Trải nghiệm tiếp xúc với hồn ma thời thơ ấu của ḿnh là một nguyên nhân đưa đến lối tư duy ấy. Trong một tập hồi ức, Hearn nhắc đến cảm tưởng đă thấy ma trong một đêm bị bỏ một ḿnh trong gian pḥng vắng hồi c̣n ở chung với bà trẻ Sarah Brennan sau khi cha mẹ đều rời khỏi Dublin. Một chuyện ma khác liên quan đến “bà chị họ tên Jane”(cousin Jane) , một cô gái ngoan đạo đến mức độ cuồng tín từng sống một thời gian với ông ở nhà bà trẻ. Cô này đă có lần tức giận, thuyết giáo và la mắng làm ông chỉ muốn nguyền rủa cho cô chóng chết. Thế nhưng bẵng đi một dạo, t́nh cờ cậu bé Lafcadio gặp lại Jane vào lúc chạng vạng một buổi chiều mùa thu trong ngôi nhà ấy, trong khi ông chạy xô lại để mừng chị th́ thấy cô Jane ấy chỉ là một người đàn bà có khuôn mặt mặt phẳng ĺ (nopperabô) không mắt không mũi không miệng. Có lẽ “cousin Jane” chỉ tượng trưng cho sự bất ổn trong tâm hồn ông đứng trước giáo lư Ki-Tô mà cô ấy là một biểu tượng. Cần nói thêm là trong thực tế, Jane v́ bạo bệnh thực sự đă qua đời trước đó không lâu. Gần 50 năm sau, Hearn đă viết nên “Hồ ly Mujina”, câu chuyện về một con ma đầu tṛn như quả trứng với khuôn mặt phẳng ĺ (xem Mujina trong Kwaidan dịch bên trên). Jane như con ma không mắt không mũi không miệng chỉ là một kết tinh của cái “đáng lẽ có mà lại không có” chẳng khác nào người mẹ đáng lẽ phải ở bên cạnh mà suốt thời niên thiếu, ông chẳng thấy bóng dáng đâu. Cho nên ta c̣n có thể nói rằng văn chương của Hearn là văn chương nói về nỗi sợ hăi và sự mất mát nữa.    

7       Thủ đô của đất nước chư thần (The chied city of the province of the gods) 

Hearn từ giă thế giới Phật giáo của vùng Yokohama và Kamakura   để từ đây bước hẳn hoi vào thế giới Thần đạo. Thực vậy thành phố Matsue trong vùng đất cổ Izumo mới là đất nước chư thần và cái nôi của văn hóa Nhật Bản.

 

http://www.city.matsue.shimane.jp/rus_img/kan/000312-0521115844.jpg

Thành phố Matsue vẫn thơ mộng như thuở nào

 

Tiếp xúc với văn hóa bằng âm thanh qua đôi tai 

Trong những chương vừa qua, chúng ta đă có thể theo chân Hearn từ Yokohama đến Matsue, gặp được nhiều người, biết được nhiều phong cảnh và văn vật địa phương, cùng cộng hưởng với tâm hồn nhạy cảm của ông vốn được thành h́nh từ những trải nghiệm khá đặc biệt của thời thơ ấu. Ở đây chúng ta có thể bàn thêm về khả năng tiếp xúc bằng trực giác và thái độ đồng cảm của ông khi đứng trước một nền văn hoá xa lạ như văn hóa Nhật Bản.

Ngày nay, khi chúng ta tiếp xúc với một nền văn hoá khác với văn hoá chúng ta quen biết, một là ta cảm thấy phấn khích v́ cái lạ lẫm của nó, hay ngược lại, đâm ra cự tuyệt nó v́ không hiểu nổi tại sao có sự khác biệt đó. Thế nhưng Hearn đă chọn một thái độ khác với cả hai. Trước tiên, ông t́m cách tiếp cận với nền văn hoá đó một cách trực tiếp, đem cả thân xác và tâm hồn ra để cảm lấy. Ví dụ ông đă quan sát những tiếng rao hàng để hiểu cách sinh hoạt của người địa phương. Sau đó, ông tự đặt ḿnh vào vị trí của một người dân bản xứ mà thử hiểu xem lư do lịch sử nào đă khiến họ ứng xử như vậy.

Đặc biệt, Hearn dùng đôi tai của ḿnh như một phương tiện làm việc. Trong tác phẩm của ông, ngay cả Glimpses of Unfamiliar Japan, ta thấy nhiều bằng cớ về sự sử dụng thủ pháp này. Thực vậy, ông không dùng mắt để đọc tư liệu và văn kiện, ông chỉ dùng tai để hiểu bản chất của sự vật qua tiếng động. 

Nói như thế, không có nghĩa là ông không dùng mắt với lư do mắt ông mang thương tật. Như ta đă thấy, mắt của Hearn rất tinh tế v́ ông miêu tả rất tinh tường những ǵ ḿnh thấy. Điều đó cũng nhờ óc ṭ ṃ và cặp ống nḥm mà khi đi đâu ông cũng kè kè bên ḿnh. Tuy vậy, điều gây ấn tượng cho độc giả là đôi tai của ông. Ông đă biết miêu tả bằng thanh âm, ngôn ngữ hoá một cách chính xác tiếng động ngoài đường phố.

Ngay trong Chương 1 (Ngày đầu tiên trên đất Nhật), ta thấy đôi tai của Hearn đă mở ra ngay để tiếp xúc với tiếng động. Trở về khách sạn mệt mỏi sau nguyên ngày thăm viếng đền chùa, một giọng đàn bà rao trong đêm vọng qua cửa sổ kèm với tiếng huưt c̣i đă đánh thức trí ṭ ṃ của ông:

Amma –Kamishimo-Gohyakumon!

Sau đó qua lời giải thích bằng tiếng Anh bập bẹ của người hầu pḥng, ông mới hiểu tiếng rao ấy là của một bà đấm bóp mù và tiếng c̣i của bà là để báo cho bộ hành cũng như những người đi xe biết để tránh khỏi chạm vào bà:

Đấm bóp đây - Từ trên xuống dưới - Năm trăm “mon”.

Năm trăm mon này đáng giá năm xu thời ấy.

Tiếp đến, trong chương 7 Thủ đô (Matsue), đất nước chư thần (Izumo) này, Hearn đă ghi lại những tiếng động đầu tiên khi mới đến thành phố và thức dậy sau một đêm ngủ trọ tại lữ quán Tomita.ya bên bờ sông Ôhashi, nơi nh́n thấy được mặt nước hồ Shinji phía tây nam.V́ Hearn lưu lại Tomita.ya những hai tháng nên ông có thời giờ quan sát và miêu tả cảnh trí sông hồ núi non của khu vực này, ngay cả rặng Daisen (Đại Sơn) - ngọn Fuji của vùng Izumo - ở phía chân trời. Tuy vậy, cái đánh mạnh vào tâm thức người đọc hơn cả là những “tiếng động” nghe ông được khi vừa đặt chân lên vùng đất xa lạ này: 

Hôm sau khi vừa đến nơi, một ngày ở Matsue bắt đầu với những tiếng động mạnh dội vào tai tôi trong khi đang ngủ, giống như những tiếng mạch đập th́nh th́nh mỗi lúc một to dần....Những tiếng động lúc khoan lúc nhặt như âm thanh vang lên khi người ta đập liên tục vào một vật ǵ. 

Hearn làm sáng tỏ ngay sau đó: 

Những tiếng động ấy phát ra theo một nhịp đều đặn, sâu kín như đang được bao trùm lại. Không cần lắng tai, tôi đă cảm thấy những chấn động của chúng xuyên qua mặt gối. Âm vang bắt được từ đó chẳng khác nào nhịp tim của ḿnh đang đập. Đó là tiếng giă gạo, tiếng chày rơi nặng nề trên cối. 

Bây giờ ta mới biết đó là tiếng chày giă gạo. Cách viết này cũng giống như cách ông mô tả núi Fuji trong một chương trước. Tuy chỉ là những “tiếng động bất chợt” Hearn đă nghe được khi vừa ngủ dậy nhưng nó đă nối kết được với “lúa gạo”, một yếu tố cơ sở của văn hoá Nhật Bản. Trong đoạn sau đây và thông qua trực giác, ông đă khơi gợi được cái tinh túy của nền văn hoá ấy thông qua một tiếng chày.

http://wadaphoto.jp/maturi/images7/yansa026l.jpg

 Nghi thức giă bánh dầy 

Gạo là thức ăn của người Nhật từ thuở xa xưa cho nên văn hoá lúa gạo là văn hóa ẩm thực, rộng hơn nữa, văn hoá cơ bản của người Nhật. Tóm lại, tiếng chày giă gạo là “nhịp tim Nhật Bản”. Kết hợp thính giác với trí tưởng tượng, Hearn đă tiếp cận được bản chất của văn hóa Nhật Bản. 

Hearn c̣n giới thiệu những âm thanh khác của Matsue cũng trong chương 7 này, chẳng hạn tiếng chuông của ngôi chùa Thiền Tôkôji (Động Quang Tự) mà âm hưởng lan ra suốt một khu phố. Đó cũng là tiếng trống trầm trầm báo giờ công phu buổi sáng của Jizôdô (Địa Tạng Đường) trong xóm buôn gỗ nằm kế bên nhà trọ. Ngoài tiếng chuông và tiếng trống, c̣n lọt vào tai Hearn những tiếng rao hàng (mono.uri) ngoài đường phố.  

Cuối cùng là những tiếng rao hàng bắt đầu thật sớm. Daiko yai! Kabu ya kabu! (Ai củ cải, ai su hào không?). Đó là tiếng rao của người gánh hàng rong bán những loại rau quả lạ lẫm. Hoặc là tiếng rao buồn buồn của những người đàn bà bán những bó củi nhỏ để chụm lửa: Moya ya, moya! (Củi nhen lửa, củi đây!).  

Những âm thanh ấy báo hiệu một ngày mới đă bắt đầu trong cuộc sống. Hearn mở cửa sổ nh́n ra ngoài. Dưới mắt ông là ḍng Ôhashigawa. Rồi bỗng nhiên, tai ông bắt gặp những tiếng động lạ. Đó là tiếng chập tay vỗ vào nhau của những người đang đứng bên kè sông: 

Bọn họ mặt nh́n về hướng mặt trời. Hai tay chập lại, vỗ bốn lần vái chào. Trên chiếc cầu dài màu trắng, tôi c̣n nghe bao tiếng vỗ tương tự. Và từ những con thuyền nhẹ, đẹp đẽ với dáng cong cong như vầng trăng non của chúng cũng vọng lại âm hưởng những bàn tay chập mạnh vào nhau. Trên mấy chiếc thuyền h́nh thù khác đời này, có những anh làng chài tay chân để trần, đang đứng đó. Họ nh́n về phiá bầu trời phía Đông đang hực lên một màu vàng kim, rồi cúi đầu xuống.

Tiếng tay chụm lại và đập vào nhau mỗi lúc càng nhiều. cuối cùng tôi nghe hàng loạt thanh âm mạnh mẽ nổi lên liên tiếp. Tất cả dân thành phố đang cùng vái chào Ohisama (Ngài Mặt Trời) tức Amaterasu (Nữ Thần Thái Dương)[9]. 

Rồi Hearn cho biết thêm là nếu có người chỉ hướng về phương Đông để vái chào th́ cũng có không ít người cũng hướng cả về phương Tây, nơi có ngôi đền Thần đạo tối cổ của Nhật Bản là Đền Kitzuki (Izumo Taisha). Họ vừa niệm những cái tên trong số Bát bách vạn chư thần (Yayorozu no kami) vừa cúi đầu về những hướng khác nhau. Hearn đă diễn tả một cách sinh động tập tục của người dân vùng Matsue. Cách vỗ tay thông thường là 2 tiếng, vỗ những 4 tiếng chỉ thấy có ở Đền Izumo Taisha. Điều này Hearn đă thuật lại một cách chính xác.

Thính giác và khả năng tưởng tượng đặc biệt đă giúp Hearn ngôn ngữ hoá những âm thanh ông bắt gặp. Chẳng hạn tiếng chim oanh kêu U-ke-kyô! Ukekyô ! được ông cảm nhận như là “Pháp Hoa Kinh! Pháp Hoa Kinh![10] Khi Hearn nghe tiếng guốc gỗ (geta) của khách bộ hành dậm lộp cộp trên chiếc cầu bắc qua sông Ôhashigawa, ông thấy nó giống như một vũ khúc trên sân khấu Tây Phương[11]. Tuy sự so sánh có vẻ kỳ lạ nhưng điều đó chứng tỏ năng lực thẩm âm của Hearn rất đáng nể.

Năng lực ấy không có nghĩa là năng lực nghe được những tiếng động có âm lượng nhỏ nhoi. Đó là năng lực có thể đồng cảm với những tiếng động chất chứa sự bi thương (aikan, melancholy pensiveness) của cuộc sống, cho nó thấm vào trong trí năo và toàn thân, để có thể biểu hiện sau đó bằng ngôn ngữ. Nói cách khác, đó là một “kỹ thuật nghe” và một kỹ thuật “ngôn ngữ hoá” những âm thanh nắm bắt được thông qua trí tưởng tượng.

Ở đất nước chư thần, sau khi ngày đă trôi qua, Hearn lại lắng tai để nghe những tiếng động ban đêm của đường phố mà dư âm c̣n đọng lại trong những hàng chữ dưới đây: 

Một lúc lâu, tôi lắng tai nghe những tiếng động trong khu phố. Vẳng lên trong đêm là tiếng chuông ngân nga của ngôi chùa Tôkôji, sau đó là tiếng hát của bọn người dường như đă khá ngấm hơi men ở ngoài đường. Tiếng rao hàng lanh lănh ban đêm cũng từ đâu vọng lại:

Udon ya..i! Soba ya...i! (Ai bánh canh, ai ḿ không?)

Người bán ḿ kiều mạch nóng (soba) đang đánh một ṿng cuối cùng trước khi về ngủ.

Tiếng của ông thầy bói rong:

Uranai handan, matsu hito, endan, usemono, ninsô, kasô, kikkyô no uranai (Coi bói đây! Mất của mất người, t́nh duyên, nhân tướng, hậu vận, gia đạo, hung kiết, bói đây!).

Tiếng rao của người bán mizu.ame (kẹo mạch nha)[12], món đồ ngọt lỏng như nước có màu vàng hổ phách mà con nít rất thích, đang cất cao :

Ame....yu (Kẹo mạch nha đây)

..................................

Vừa khi ấy, tôi nghe có nhiều tiếng vỗ tay. Những người đi đường đang hướng về mặt trăng để vái chào vầng trăng. Họ đang tán tụng cảnh chị Hằng (Tsukihime) đang khoe dáng ḿnh trên chiếc cầu dài.

Rồi cũng đến lúc tôi cũng phải lên giường để nh́n thấy được trong giấc mơ của ḿnh tựa như hồi bé thơ những hồn ma bóng quỷ đang vật vờ rong chơi trong khuôn viên của một ngôi cổ tự rêu phong nào đó

 

Chúng ta c̣n có dịp thấy “kỹ năng nghe” này của Hearn trong Chương 8 nói về Đền Kitzuki bên dưới. 

*     *     * 

Thành phố Matsue có bảy khu vực và mỗi khu vực đều có một vị thần thành hoàng (Ujigami, Tutelary god). Ở Nhật hầu như mỗi làng mỗi tỉnh đều có Ujigami và ngoài ra c̣n vô số hồn ma. Hăy nghe hai mẩu chuyện tiêu biểu. Một là câu chuyện kỳ quái ở Fumon.in (Phổ Môn Viện) xóm Kitada, đông bắc Matsue, nhan đề Azukitogibashi (Cầu vo đậu), hai là chuyện nghe được về khu mộ địa chùa Dai.ôji (Đại Hùng Tự) xóm Nakahara nhan đề Mizu.ame wo kau onna (Người đàn bà mua kẹo mật). Trong câu chuyện trước, chủ đề là sự phục thù của đàn bà đối với đàn ông, c̣n trong câu chuyện thứ hai, chủ đề là t́nh mẹ yêu con c̣n vượt qua cả cái chết. Về sau hai chủ đề lớn này đă được đúc kết trong Kwaidan (Quái đàm, 1904), tác phẩm nổi tiếng của ông. 

Trước tiên, hăy nghe Hearn kể về con ma ở “Cầu vo đậu”:

 

http://blog.zaq.ne.jp/art2784/img/img_box/img20120516231849125.jpg 

Hoa Kakitsubata từng xuất hiện trong đoạn 9 của “Truyện Ise” diễm t́nh 

Đông bắc thành phố Matsue gần Fumon.in (Phổ Môn Viện) có một cây cầu được gọi là Azukitogibashi hay là “Cầu vo đậu”. Xưa kia có một con ma đàn bà ngồi dưới chân cầu (hashi) mà vo (togu) đậu đỏ (azuki) v́ thế mà cây cầu này mới mang tên ấy. 

Ở Nhật có một loài hoa xương bồ màu tím rất đẹp là hoa kakitsubata (đỗ nhược). V́ thế nên có bài hát tên là Kakitsubata no uta (Khúc hát hoa đỗ nhược). Thế nhưng người ta khuyên là hễ đến bên cầu Azukitogibashi chớ dại ǵ mà hát khúc ấy. Lư do là không hiểu v́ cớ ǵ mà con ma hiện ra ở cây cầu này mỗi khi nghe ai hát khúc ấy th́ nổi giận và và gieo tai ách cho kẻ nào dám hát khúc đó.

Một hôm có một anh chàng samurai chẳng biết sợ là ǵ đi qua cầu. Anh lớn tiếng ca khúc Kakitsubata ấy. V́ không thấy có con ma nào hiện ra nên anh cười vang rồi bỏ về nhà.

Đến trước cổng nhà anh bỗng thấy có một người đàn bà không quen biết, dáng cao cao và rất đẹp đang đứng đó. Nàng kính cẩn chào rồi trao cho anh một cái hộp sơn mài, loại hộp người ta thường dùng làm vật đựng thư từ (fubako). Anh samurai cũng lễ phép chào trả. Thế nhưng người đẹp chỉ bảo: “Tôi chỉ là sứ giả để đến gặp ông thôi. Bà chủ của tôi sai đem hộp này đến trao cho ông. Nói xong bèn biến mất.

Khi người samurai mở cái hộp ra và nh́n vào trong th́ anh thấy một cái đầu trẻ con bê bết máu me và hăy c̣n tươi rói. Lật đật chạy về nhà th́ khi vào pḥng khách, anh thấy cái xác chết không đầu của đứa con trai ḿnh đang nằm vắt ngang trên sàn.  

Có thể nói câu chuyện “Cầu vo đậu” vừa kể là một trong những tiểu phẩm điển h́nh của Hearn. Con người sống (tức anh samurai) trong truyện đă phạm vào một điều cấm kỵ (taboo) của người chết (hồn ma đàn bà) hoặc đă muốn giỡn mặt thần thánh. Nên chú ư đến quan hệ nam (samurai) nữ (hồn ma) giữa hai bên. Hearn cho thấy là có một sự giao ước giữa người cơi này và hồn ma cơi bên kia nên chi con người phạm điều giao ước th́ kẻ đó sẽ bị hồn ma trừng phạt. Chúng ta thấy mô-típ đó đă được đào sâu trong Nàng Tuyết (Yuki.onna). Nàng Tuyết đă đùng đùng nổi giận khi người chồng ngứa miệng đem thố lộ cho kẻ khác biết vợ ḿnh là tuyết thành tinh. Chẳng những thế, trong mọi trường hợp, sự trừng phạt ấy đều có thể rất tàn khốc. Hai câu chuyện trên đă cụ thể hóa được chủ đề về tương quan đối lập “giao ước / phản bội” trong văn chương Hearn 

Truyện “Người đàn bà mua kẹo mật” tiếp theo có nội dung như sau: 

Xóm Nakahara có một tiệm bán kẹo mật. Cứ đến đêm lại thấy có một người đàn bà mặc toàn đồ trắng đến mua hàng. Thần sắc người ấy rất tiều tụy nhưng dù chủ tiệm có hỏi han ǵ cũng không hề thưa thốt. V́ nghi ngờ nên chủ tiệm lén đi theo th́ thấy nàng mất dạng khi bước vào một băi tha ma.

Tối hôm sau, người đàn bà đến mua kẹo mật mời chủ tiệm đi theo ḿnh, đưa ông ta đến băi tha ma. Đến trước một ngôi mộ, người đàn bà ấy lại biến mất. Thế rồi từ bên dưới ngôi mộ ấy vọng lên tiếng khóc oe oe của trẻ sơ sinh. Chủ tiệm mở cửa mộ ra th́ thấy cạnh xác chết đă liệm của người đàn bà có một hài nhi và một cái bát gỗ nhỏ đựng kẹo mật. Hoá ra người đang bà mang thai sắp sanh này đă bị gia đ́nh đem mai táng khi c̣n chưa chết hẳn. V́ muốn có ǵ để nuôi đứa con vừa sinh ra trong mộ mới, nàng hiện hồn đi mua kẹo mật mang về. 

Do đó, Hearn mới kết luận: “T́nh yêu c̣n mạnh hơn cái chết”. Khi ông c̣n bé, Hearn đă không c̣n có mẹ bên cạnh. Kư ức đó đă ám ảnh ông không thôi. Suốt đời, ông luôn nghĩ về người mẹ Hy Lạp bất hạnh với ḷng tŕu mến và oán trách người cha Ai-Len đă bỏ rơi bà. Do đó, thiết tưởng phải dịch hai chữ “T́nh yêu” ở đây thành “T́nh mẫu tử”, đúng như lời dịch giả Ikeda Masayuki. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, chính ḷng tưởng nhớ mẹ ḿnh đă trở thành động lực để Hearn kể lại chuyện này. 

8       Kitzuki, ngôi đền Thần đạo cổ nhất Nhật Bản (Kitzuki, the most ancient shrine in Japan) 

Đây là thiên kư sự quí giá ghi lại trải nghiệm của Hearn khi ông đến viếng Izumo Taisha (Xuất Vân Đại Xă)[13], ngôi đền Thần đạo tối cổ ở Nhật. Đêm 13/09/1890, Hearn, có nhà sư trẻ Manabe Akira tháp tùng, đă đến Izumo và thăm đền. Sáng hôm sau, ông trở lại thăm nơi đó thêm lần nữa và được phép vào trong chính điện.Ngày đó cũng như bây giờ, một người thường nếu không được phép sẽ không có quyền thăng điện. Hearn là người Tây phương đầu tiên có được vinh dự này. Kitzuki Taisha là tên gốc của Izumo Taisha bây giờ. Hearn đến thăm đền này tổng cộng 3 lần v́ khi ở Mỹ ông đă được đọc bản dịch Kojiki của Chamberlain và biết rằng thần thoại Izumo có liên quan đến bí mật về sự h́nh thành của nước Nhật.

Chức chấp sự giữ đền là Senge Takanori (1860-1911) và các thần quan đă đưa Hearn đi dạo dưới những hàng cổ thụ trên lối vào đền, đưa ông viếng ngôi chính điện uy nghiêm, xem các bảo vật và các điệu múa của những nàng miko (trinh nữ phục vụ đền thần), và thăm băi biển Inasa no Obama, nơi xảy ra câu chuyện về huyền thoại Ôkuninushi no Mikoto “nhượng nước” (kuniyuzuri)[14]. Cuộc viếng thăm này đă để lại ấn tượng rất lớn trong tâm khảm ông.

Ở điểm này, Hearn khác hẳn Ernest Satow và Basil Hall Chamberlain. Lord Chamberlain có lần b́nh phẩm: “Thần đạo chẳng có giáo nghĩa hay lư luận ǵ cả nên không đáng gọi là tôn giáo!”. Trong khi đó, Hearn suy luận theo trực giác của ḿnh: ”Thực vậy, Thần đạo không phải triết học, qui luật đạo đức và không có một lư luận trừu tượng nào cả. Tuy nhiên v́ không có một thực thể nên nó mới làm được điều mà các tôn giáo Đông phương khác không làm nỗi là đề kháng được sự xâm lấn của các tôn giáo Tây phương” . Hearn cho rằng các nhà nghiên cứu phương Tây đă bám quá sát vào tư liệu và các chú thích kinh điển khi t́m hiểu Nhật Bản nên mới không nắm bắt được bản chất của Thần đạo. Hearn lại nói: “Cốt lơi của Thần đạo không nằm trong sách vở. Ngay trong nghi thức hay giới luật, người ta cũng chẳng t́m ra nó. Chỉ v́ một lẽ: nó sống trong ḷng người dân nước này”. 

Vũ khí giúp Hearn hiểu được sức mạnh của Thần đạo là văn hoá “vạn tượng hữu linh” (animism) mà ông đă thừa hưởng từ hai mẫu quốc Hy Lạp và Ai –Len, theo đó mỗi sự vật dù là nhỏ nhoi đều có linh hồn. Và chính v́ ông đă thoát khỏi giáo nghĩa Ki-Tô (độc thần, monotheism) nên mới có đủ sự tự do phóng túng để hiểu được Thần đạo.  

Ngoài văn hoá tộc Celte của Ai-Len và văn hoá Hy Lạp, một yếu tố khác đă giúp Hearn hiểu về Thần đạo là kinh nghiệm sống của ông ở thành phố Matsue, ngay giữa vùng Izumo cổ xưa. Khác với thông lệ, không phải Ise Jingu (Y Thế Thần Cung) trên bán đảo Ise nơi thờ Amaterasu Ômikami (Thiên Chiếu Đại Thần) nhưng chính là ngôi đền Izumo Taisha thờ Ôkuninushi no Mikoto (Thần Đại Quốc Chủ) đă soi sáng cái nh́n về Thần đạo của ông. Sự t́nh cờ xui khiến ông đến Matsue dạy học đă hướng dẫn định mệnh của ông. 

http://art53.photozou.jp/pub/306/407306/photo/85799440.jpg

Một cảnh của Izumo Taisha 

Ngày nay Okuninushi nổi tiếng là vị thần chiến thắng trong những lần xe duyên cho người cầu khẩn nhưng trong Kojiki, ông bị xem như kẻ chiến bại. Là một vị thần trên mặt đất, ông đă phải nhường lănh thổ cho những vị thần đến từ trời cao đến o ép ông. Sau ba lần thương thuyết, Ôkuninushi rốt cuộc phải chịu phục tùng, nhường đất nước với điều kiện sẽ được hưởng một lâu đài to lớn làm nơi ẩn dật. Kết quả của cuộc thương thuyết này đă đẻ ra ngôi đền Izumo Taisha. Ôkuninushi xem ḿnh “bại mà thắng” hay “chiến thắng trong sự thất bại” v́ ông đă ǵn giữ xứ sở Izumi được ổn định, thoát khỏi hiểm họa một cuộc chiến tranh. V́ thế thay vào chữ “chiến bại” khi nói đến việc này, người Nhật thường dùng ư niệm “ḥa nhượng” để xưng tụng tinh thần yêu ḥa b́nh của vị thần sở tại. Ngày nay, chính điện của đền đă cao 24 m nhưng vào năm 2000, một công tŕnh khảo cổ đă khai quật được các hiện vật chứng minh rằng đền cũ từng cao đến 48 m.

Ông thần Ôkuninushi bị đàn áp và lép vế trong thần thoại Nhật Bản có cái ǵ tương xứng với tổ quốc Ai-Len của thân phụ Hearn. Ai-Len là một quốc gia đă bị nước láng giềng là Anh áp bức và chi phối  một thời gian dài. Nhà văn Shiba Ryôtarô trong tác phẩm “Đi trên đường cái” (Kaidô wo yuku)[15] khi nói về Ai-Len, đă hạ bút: “Đó là một quốc gia “đánh đâu thua đó” nhưng người dân họ chưa một lần thừa nhận ḿnh là bại trận”. Thực vậy, dân nước Ai-Len cũng như vị thần Ôkuninushi xứ Izumo đều là những con người quật cường, bất khuất. Không hiểu câu chuyện “nhường nước” của Ôkuninushi xứ Izumo đă có ảnh hưởng đến tâm hồn của Hearn, người mang ḍng máu Ai-Len, đến mức độ nào? Hẳn là ông phải cảm thấy gần gũi với Izumo khi đem so sánh lịch sử chiến bại của quê hương ḿnh với lịch sử thất bại của vùng đất này chăng chăng? 

Như đă tŕnh bày trong chương trước, một lần nữa, có thể chứng minh được “kỹ năng nghe” của Hearn trong chuyến viếng thăm Đền Kitzuki. Từ Matsue, để đến đền này, Hearn và những kẻ tháp tùng phải đáp tàu chạy bằng hơi nước và băng qua hồ Shishin. Khi thấy ḿnh đang đi vào khu vực thiêng liêng nơi thờ thần Ôkuninushi - người một thời đă cai trị xứ Izumo- Hearn đă buông thả để trí tưởng tượng của ḿnh tự do làm việc: 

Trong ḷng tôi lúc ấy đang chứa đầy những truyện xưa tích cũ của thời Kojiki.Nghe tiếng máy của con tàu vang lên mà cứ ngỡ như nó đang kết hợp tên các vị thần để đọc lên trong một bài chúc từ (norito)[16].

     Koto shiro nushi no kami

     O o kuni nushi no kami 

Nghe tiếng máy tàu chạy xịch x́nh xịch đơn điệu mà ngôn ngữ hoá được như vậy quả là một biệt tài. Không như Hearn, có thể chúng ta chỉ thấy nó là một chuỗi tạp âm buồn tẻ. Nhưng lỗ tai của Hearn thật lạ, đă biến tiếng máy đó thành những lời lầm rầm cầu khấn chư thần. Đây cũng là một ví dụ điển h́nh khác về khả năng thẩm âm của Hearn.

Như thế, qua những âm thanh bắt gặp, Hearn đă trực tiếp cảm thấy văn hóa Nhật Bản bằng chính thân thể của ḿnh. Từ những âm thanh, ông t́m ra mùi hương, bầu không khí của nơi ấy và cảm nhận được cái “bi thương” của nó. Thính giác bén nhạy của Hearn đă bù đắp hộ khuyết tật của đôi mắt (mắt trái mất thị lực, mắt phải cận nặng). Thế nhưng khi phải dựa vào thính giác, cách tiếp cận văn hoá Nhật Bản của Hearn lại trở nên độc đáo. Thực vậy, khi “nh́n” một vật hay một hiện tượng, chúng ta mối quan hệ của một chủ thể đối với khách thể và cũng là đối tượng quan sát. Mối liên hệ ấy đẻ ra một thái độ cao ngạo, tự xem văn hoá của ḿnh là trung tâm điểm như trường hợp các nhà nghiên cứu phương Tây đương thời khi khảo sát văn hoá Nhật Bản. Những kẻ nh́n thiên lệch như thế không phải là ít. Ngược lại, chịu “nghe” như Hearn lại là thái độ xem đối tượng mà ḿnh quan sát mới là chủ thể. Âm thanh và bầu không khí từ đối tượng phóng ra sẽ thẩm thấu vào người và hoà với ḿnh làm một. Nói cách khác, “nghe” là một hành vi rất thụ động nhưng không phải chính sự thụ động. Có thể nói đó là một trải nghiệm bằng giác quan, bằng thân thể.   

Hearn đă t́nh nguyện đến Nhật rồi tích cực du lịch khắp nơi. Trong ư nghĩa đó, ông là con người hoạt động, một chủ thể. Tuy vậy, khi đến bất cứ nơi nào, ông đă biết ḥa nhập vào đám đông, lắng tai nghe và đưa thân thể ra tiếp nhận.Mới nh́n th́ tưởng như Hearn mâu thuẫn nhưng xét kỹ mới thấy được tính tích cực ẩn tàng nơi ông. Ông có một tấm ḷng sẵn sàng thu nhận một nền văn hoá khác một cách tham lam và hoang phí nữa. Ông ghé tai nghe tất cả mọi tín hiệu âm thanh do đối tượng phát ra, vừa chủ động mà lại vừa thụ động. Làm được điều đó, Hearn chắc chắn phải là một con người đầy năng động và nhờ đó, ông đă thu được vô số cảm tưởng về Nhật Bản. 

Theo truyền thuyết, Đền Kitzuki là nơi chư thần hội họp hằng năm vào tháng 10 Âm lịch, cho nên trên toàn thể nước Nhật, tháng ấy được gọi là Kan.nazuki (Thần vô nguyệt) v́ các thần đi vắng cả. Chỉ trừ ở Izumo th́ người ta gọi là Kamiarizuki (Thần tại nguyệt) v́ các thần đều đến nơi đây dự hội. Kojiki chép rằng trên Cánh Đồng Trời có bát bách vạn chư thần nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ trong đó được tế tự ở các đền thần trên toàn quốc. Những vị thần khá đặc biệt là Thần Nghèo (Bimbôgami), Thần Đói Khát (Shokukatsushin), Thần Tham Lam (Donyokushin) và Thần Gây Trở Ngại (Shôgaishin). Da thịt họ đều đen đủi như mây một ngày trời u ám và mặt mũi của họ không khác ǵ mặt quỷ đói.

Akira không biết ǵ nhiều về các vị thần đó v́ họ nhiều quá. Anh chỉ cho Hearn nghe dăm ba giai thoại về Thần Phúc Lộc (Fuku no kami) và Thần Nghèo (Bimbôgami). Akira kể: 

Có những vị thần hay đi cặp. Đó là trường hợp của Thần Phúc Lộc và Thần Nghèo. Hai bên như bóng với h́nh. Nơi đâu có ông này là có ông kia. Khi ông Thần Nghèo đă theo ai rồi thật khó ḷng xua đuổi được. Như chuyện một vị ḥa thượng ở làng Omitsu trong vùng Omi, không xa Kyôto bao nhiêu. Bị cái nghèo bám riết, để đánh lừa thần và tống khứ ông ấy đi, một hôm ḥa thượng giả vờ đi rao khắp nơi là ḿnh sẽ lên Kyôto. Thế rồi thay v́ lên Kyôto, ông lại đi (ngược chiều) đến Tsuruga vùng Echizen. Thế nhưng khi vừa đến một lữ quán ở Tsugura, một thiếu niên ốm yếu, lem luốc như một con ma đói đă t́m đến gặp ông và bảo: “Tôi chờ thầy ở đây đă lâu rồi!”. Đó chính là hiện thân của Thần Nghèo.

Một nhà sư khác trong 60 năm đă t́m mọi cách để đuổi Thần Nghèo. Cuối cùng ông bỏ xứ đi thật xa. Thế nhưng vào một đêm, ông nằm chiêm bao thấy một đứa trẻ trần truồng và dơ dáy cầm một xâu đầy những dép rơm (waraji). Ông ta hỏi sao mi bện dép rơm làm chi mà nhiều thế th́ đứa trẻ trả lời: “Bện nhiều dép là để có thể bám theo ông hoài hoài! Tôi là Thần Nghèo đây ông ạ”

Cũng có câu chuyện về nhà sư già Enjôbô thấy chép trong Jizôkyô-Kosui (Địa Tạng Kinh Cổ Túy). Ông này và các học tṛ phái Shingon của ḿnh đă phất cành đào và đọc thần chú vào lúc cuối năm để trục được cái nghèo ra khỏi cửa. Sau đó, một đêm Enjôbô nằm mơ thấy một ông sư khẳng khiu như bộ xương khô trong ngôi chùa đổ nát đến bảo với ông: “Sau bao nhiêu năm sống khắng khít bên nhau như thế, ông nỡ ḷng nào đuổi tôi đi cho đành!” 

Chuyện về các thần tuy trang trọng nhưng nhiều khi cũng mộc mạc và hài hước như thế khi nó là sản phẩm từ trí tưởng tượng của người b́nh dân. 

9       Trong động đá những hồn ma trẻ con (In the cave of the children’s ghosts) 

Trong thời gian dạy học ở Matsue, Hearn đă dành nhiều thời giờ đi thăm viếng các vùng chung quanh. Qua đó, ông có dịp t́m hiểu quan niệm tôn giáo, cách nh́n về sự sống và cái chết cũng như tín ngưỡng dân gian cổ truyền của người bản xứ.

Chương Động đá của những hồn ma trẻ con (Kaka no kukedo) kể lại cuộc viếng thăm động đá trên băi biển Kaka (Kaka-ura), nơi thờ cúng những hồn ma thiếu nhi. Kukedo có nghĩa là “hang ngầm”. Nó nằm ở một vùng ngày nay thuộc về thành phố Matsue, nh́n ra Biển Nhật Bản (hướng bán đảo Triều Tiên) sóng to gió lớn, thuyền bè dễ gặp nạn. Hôm đó, người chèo thuyền đă hướng dẫn ông và các bạn đến thăm vùng hang động đầy thạch nhũ đó và sau khi nh́n những ḍng nước trắng như sữa nhỏ xuống từ trần động, ông đă viết như sau: 

Đây là “Con suối Địa Tạng”(Jizô no Izumi) trong truyền thuyết, nó cung cấp sữa mẹ cho những hồn ma trẻ con.Ḍng nước trắng đục này khi khoan khi nhặt nhưng rơi xuống ngày đêm không nghỉ. Các bà mẹ không đủ sữa cho con bú đến đây cầu khẩn th́ sẽ có sữa thêm, c̣n như những người nào có quá nhiều sữa, muốn chia sớt sữa của con ḿnh cho những trẻ em thiếu thốn, chỉ cần cầu bồ tát Địa Tạng th́ nguồn sữa sẽ cạn bớt. Những điều tôi biết như trên đă được người thường dân ở Izumo xưa nay truyền tụng. .

Hearn và mấy người đi cùng c̣n chứng kiến những cái hốc nhỏ trong đó chất đầy đá vụn có lẽ là do sóng đánh tan những cột đá vôi thành mảnh nhỏ rồi tấp chúng đến đó nhưng theo tín ngưỡng dân gian, tương truyền do các hồn ma trẻ con khuân tới và sắp xếp trong đêm. Tín đồ Phật giáo gọi công tŕnh này là Sai-no-Kawahara. Sau khi xem xét một ṿng những dấu vết trên cát mà người ta bảo rằng là dấu chân của những đứa trẻ ấy để lại, ông mới rời khỏi động đá Kaka no kukedo ra về. 

10  Ở Mionoseki(At Mionoseki)  

Hearn cũng có lần đến thăm Mionoseki, thành phố cảng ban đêm náo nhiệt nhất miền Tây Nhật Bản với những xóm ăn chơi và các cô geisha. Ông cho biết nơi đây người ta c̣n giữ lại một phong tục kỳ lạ là không nuôi gà, không ăn thịt gà, không ăn cả trứng. Lư do là truyền thuyết trong Kojiki có một vị thần tên là Kotoshironushino kami, con trai của vị thần quan trọng nhất ở đền Kitsuki. Ông thần con này ban đêm thích trốn nhà đi chơi bắt chim bắt cá và dặn con gà của ḿnh phải gáy lúc hừng sáng để về nhà cho kịp và khỏi ai hay biết. Thế nhưng con gà một hôm quên làm nhiệm vụ làm thần gặp khó khăn, lúc về đến thuyền, mất cả mái dầm, phải chèo bằng hai tay và bị cá rỉa. Gà v́ đó mà bị thần ghét bỏ, Từ đó thuyền bè khi đến Mionoseki, nếu chở theo dù một sợi lông gà đi nữa cũng sẽ bị băo tố làm lật ch́m. Đó là lối người ta giải thích cảnh sóng to gió lớn của vùng biển Mionoseki. Thế mới thấy sức mạnh của truyền thuyết và mê tín đă ăn khá sâu vào tâm thức người dân vùng này.  

11  Tạp kư về Kitzuki (Notes on Kitzuki) 

Sau khi người bạn trẻ Akira v́ có việc phải đi Kyôto để ông lại một ḿnh, Hearn tiếp tục t́m hiểu về Kitzuki xưa và nay. Trước tiên ông đă được mời tham dự một buổi lễ có nhảy múa để mừng mùa màng trong một ngôi đền. Điệu múa ấy tên là Hônen.odori (Phong niên = năm được mùa). Sau đó, ông đă chuyển đề tài để nói về cuộc sống của những nàng miko hay trinh nữ đền thần (maiden priestess), trong đó người nổi tiếng hơn cả là O-Kuni, một miko đă bỏ nhà theo trai nhưng sau này sẽ trở thành người nổi tiếng hơn bất cứ ai trong bọn họ. Cô đă khai sáng ra h́nh thức sân khấu Kabuki mà nghệ thuật tŕnh diễn của nó vốn bắt nguồn từ những điệu múa của miko trong dịp tŕnh diễn ca nhạc ở đền thần (Miko-kagura).

Hearn c̣n giới thiệu thêm về Kitzuki, nơi được biết tới v́ những lễ hội liên quan đến thần linh. Chẳng hạn Daikoku, thần tài lộc, Kôjin, thần đi đường, Tenjin, thần chữ đẹp, Uzume, nữ thần vũ nhạc, Thất phúc thần (bảy vị Fukurôjin) trong đó có Ebisu, thần buôn bán và đánh cá, ngay cả Đạt ma, một đệ tử nhà Phật chân bị găy v́ ngồi Thiền không nghỉ ngơi. 

12  Ở Hinomisaki (At Hinomisaki) 

Hearn cũng đă dừng chân ở Hinomisaki, một ngôi làng ven biển cách Kizuki chừng năm dặm. Ở địa phương này có ngôi đền đôi rất nổi tiếng cùng thờ chung Nữ thần Thái Dương và người em ngỗ nghịch của bà là Takehaya Susano wo no Mikokoto (xin gọi tắt là Susanowo). Nơi đây c̣n có dấu viết nhiều đền chùa tục truyền do một lănh chúa họ Matsudaira vùng Izumo cho dựng lên an ủi vong linh của một tiết phụ, thà chết chứ không chịu để danh dự ḿnh bị hoen ố. Lănh chúa Matsudaira đă ép uổng bà, con gái một cận thần và cũng là vợ một quan giữ đền, về làm thiếp nhưng không được thỏa măn. Ông ta chỉ nhận được thủ cấp của bà do thân nhân đem đến trong một cái mâm (kubioke). Từ sau cái chết của bà, gia đ́nh Matsudaira đă tàn mạt. 

13  Những người chọn chết chung (Shinju) 

Hearn đề cập đến những người chọn cách chết chung để giải quyết một vấn đề nan giải và thường là v́ lư do t́nh ái. Người Nhật gọi đó là shinjuu (tâm trung) hay jôshi (t́nh tử). Ông cho rằng những người trong cuộc làm như vậy không phải v́ chán ghét cuộc sống Ngược lại, hành động đó như thể để trả nợ một lỗi lầm kiếp trước (innen) và họ mang theo hy niềm hy vọng sẽ được thỏa nguyện ḷng mong mỏi có được hạnh phúc trong một đời sau. Hearn đă kể lại một câu chuyện shinjuu có tính thời sự đăng trên báo chí địa phương. Đó là câu chuyện về nàng con gái tên Kane, một ca kỷ 17 tuổi. Cô đă t́m cách chết chung với người yêu, con trai gia đ́nh một y sĩ trong vùng. Trước đó v́ đặt t́nh yêu không đúng chỗ, chàng thanh niên đă bị cha mẹ truất quyền thừa kế. 

14  Đền Thần đạo Yaegaki (Yaegaki-Jinja) 

Một trong một địa điểm khác ở Izumo mà Hearn viếng thăm là đền Yaegaki (Tám ṿng rào). Đây là nơi có đền thờ Susanowo lẫn vợ ông, Inadahime và người con trai của họ, Sakusa no Mikoto. Cả ba vị thần thần tượng trưng cho T́nh yêu và T́nh gia đ́nh. Cuộc t́nh duyên giữa hai vị thần rất đẹp v́ theo những ǵ chép lại trong Kojiki, Sasunowo đă anh dũng giết con măng xà tám đầu để cứu Inadahime đang gặp nguy khốn. (Bảy anh chị của nàng đă phải đem dâng cho măng xà ăn thịt và nay đến lượt nàng). Do đó, rất nhiều thanh niên nam nữ ở tuổi yêu đương đă rủ nhau đến viếng đền này. Chính Hearn cũng lấy biệt hiệu Yakumo (Bát Vân hay tám vầng mây) của ḿnh từ ư một bài thơ t́nh của thần Susanowo thấy trong Kojiki: 

Yakumo tatsu / Izumo yaegaki / Tsuma gaki ni / Yaegaki tsukuru / Sono yae gaki wo (Tám vầng mây dựng là tám ṿng rào của Izumo. Ta cũng dựng nhà có tám ṿng rào cho người vợ yêu ta ở). 

Con số tám ở đây chỉ có nghĩa là nhiều. Xứ Izumo nhiều mây v́ ở bên Biển Nhật Bản, thường phải đón nhiều cơn mưa băo.

Tiếp theo đó, Hearn dành một hai trang để giải thích cách đặt tên của những nàng con gái Nhật cũng như phân biệt trường hợp dùng tên họ đầy đủ (myôji), tên thật (jitsumyô) và biệt hiệu (yobina) giữa trai gái. 

15  Chồn (Kitsune): 

Trong chương này, Hearn bàn về ư nghĩa văn hoá của tín ngưỡng thờ chồn cũng như phân loại các giống chồn. Quang cảnh một đền thần với nhiều tượng chồn bằng đá thường được thấy khắp nơi trên đất Nhật. Thần chồn nổi tiếng nhất ở Nhật là Thần chồn Inari. Cho đến nay, Inari được coi là Thần Lúa Gạo nhưng theo Hearn th́ không chỉ có thế. Inari c̣n được xem như thần chữa bệnh, thần chém ho (Seki no kami) hay thần giải cảm (Kaze no kami) tức là một thần “đa chức năng”. Đặc biệt Inari có liên hệ với giới lầu xanh. Các nàng kỷ nữ thường thờ Inari để cầu cho việc buôn bán được phát đạt.

Tại sao Chồn lại trở thành Thần lúa gạo? Theo Hearn th́ trước kia Chồn chỉ là người hầu của Thần lúa gạo Inari, sau đó đă soán chỗ và trở thành tượng trưng của Thần luôn. Cùng một kiểu đó, rùa đă trở thành đại diện cho thần Konpira, nai cho thần Kasuga, bạch xà cho thần Benten và rết cho thần Bishamon tức thần chiến tranh. Người ta c̣n phân biệt Chồn hạng cao và Chồn hạng thấp nhưng 4 loại chồn hạng cao là Byakko (Bạch hồ), Kokko (Hắc hồ), Jenko (Thiện hồ) và Reiko (Linh hồ) th́ giống nào cũng đều có phép thần thông. Những người khác muốn chia chồn ra 3 loại: Chồn đồng (Yako), Chồn người (Ninko) và Chồn Inari. Chồn Inari là chồn tốt và các loại chồn xấu đều sợ nó. Loại chồn xấu nhất là Ninko bởi v́ nó thường dùng ma thuật để hăm hại người ta.

Xưa kia ở Nhật không có tín ngưỡng về chồn. Sự tin tưởng về chồn du nhập từ Trung Quốc nhưng khi vào đất Nhật, nó đă được kết hợp với tư tưởng Thần đạo và nhuộm cả màu sắc Phật giáo. Tín ngưỡng thờ thần chồn rất phổ biến ở Izumo và Hearn đă nghe nhiều chuyện kể về sự tác yêu tác quái của chúng (tuy nhiều khi cũng có những câu chuyện dễ thương như chuyện người vợ chồn bị lộ cái đuôi phải bỏ con lại và ra đi hay chuyện ông thầy lang nọ ở Matsue được chồn mời đi đỡ đẻ và khi về được chúng tặng vàng đền ơn). 

16  Trong khu vườn Nhật (In a Japanese garden) 

Một trong những cố gắng trải nghiệm bản thân để t́m hiểu văn hóa Nhật Bản của Hearn là việc dọn về ở trong ngôi nhà Nhật giữa một khu vườn cũng kiểu Nhật. Ngày 22 tháng 6 năm 1891, hai vợ chồng Hearn đă thu vén một ít đồ đạc từ chỗ trọ chật hẹp như tổ chim của họ ở Ôhashigawa về ngôi biệt thự kiểu gia trang samurai nằm trong xóm Kitahori mà Nekishi Tateo, phụ huynh một người học tṛ của Hearn, đă cho họ mướn. Ông đă kể cặn kẽ về ngôi nhà và khu vườn trong Chương 16 này.    

Để hiểu vẻ đẹp một khu vườn Nhật Bản, trước hết phải hiểu cái đẹp của đá. Ít nhất cũng phải có một sự cố gắng t́m hiểu về nó. Đá nói ở đây không phải là đá với h́nh thù đă được con người gia công rồi mà là tảng đá trong dáng vẻ tự nhiên ban sơ. Thực vậy, v́ mỗi ḥn đá đều có cá tính, chúng khác nhau từ dáng vẻ lớn bé, màu sắc đậm nhạt cho nên ta phải t́m hiểu chúng một cách tường tận. Nếu không làm như thế th́ trong ḷng ḿnh sẽ không bao giờ cảm thấy được cái đẹp của một khu vườn Nhật Bản 

Sau đó, Hearn cho rằng quan niệm thẩm mỹ về đá của người Nhật vượt trội hơn người Tây phương. Ở Nhật những lối đi dẫn vào  đền chùa hay trong những khu vườn bao bọc chung quanh hay cả trong những công viên, người ta đều có đặt những ḥn đá trong dáng vẻ thiên nhiên và điều này đă nuôi dưỡng tŕnh độ thưởng thức vẻ đẹp của đá của người dân trong cuộc sống hằng ngày.

Cũng theo Hearn, thưởng thức phong cảnh một khu vườn, người Nhật đồng thời học được nhiều bài học luân lư đạo đức. Xem môt khu vườn, người ta hiểu ngay về nhân cách, tâm tính của chủ nhân. Có vườn rộng nhiều mẫu nhưng cũng có vườn nhỏ như cái mâm, cái chậu và đặt ở một hốc pḥng khách. Mỗi khóm cây bụi cỏ được trồng đều mang một khái niệm có ư nghĩa. Yuzuriha (Nhượng diệp, Daphniphyllum macropodum) chẳng hạn. Loài cây này có đặc tính là khi lá xanh chưa ra đầy đủ th́ lá vàng chưa chịu rụng, nó tượng trưng cho tấm ḷng cha mẹ, như ước nguyện là nếu con cái c̣n chưa trưởng thành th́ cha mẹ chưa vội đi qua thế giới bên kia. C̣n như tùng v́ là loại cây luôn luôn xanh nên nó tượng trưng cho chí khí bất khuất và tính phấn đấu của người già, cây anh đào biểu lộ lối sống v́ lư tưởng cao cả và sự trong sạch của tầng lớp samurai.

Trong những yếu tố của khu vườn, Hearn phân biệt yếu tố hijô (phi t́nh) như đất đá, giếng, suối... và những yếu tố ujô (hữu t́nh) như chim cá, côn trùng, hoa cỏ và cây cối. Hai từ này cũng được dùng trong thuật ngữ Phật giáo. Nhân đó, Hearn nhắc nhở: “ Việc cho rằng mọi cây cối đều có linh hồn có lẽ không phải là phải là một điều hoang tưởng”. Trong khi giảng giải từng yếu tố một của ngôi vườn Nhật Bản, ông đă xem nó như biểu tượng của một tiểu vũ trụ. 

17  Ban thờ gia đ́nh (The Household Shrine) 

Theo Hearn, ở Nhật Bản, có hai tôn giáo xem việc cúng tế người chết là quan trọng. Đó là Thần đạo và Phật giáo. Ông nhắc lời Herbert Spencer[17] xem việc thờ cúng người chết là nguồn gốc sâu xa nhất của các tôn giáo. Ở Nhật, người ta thờ các thần là người lập ra đất nước họ nhưng cũng thờ các nhà lănh đạo được thần thánh hoá, các anh hùng hào kiệt. Ở Izumo người ta c̣n thờ cả các lănh chúa địa phương. Do đó, bàn thờ trong gia đ́nh là một nơi có ư nghĩa đặc biệt.

Hearn đă quan sát rất kỹ lưỡng bàn thờ trong một gia đ́nh Nhật. Ông đă tỉ mỉ vẽ lại cho độc giả xem những bài vị (ihai), b́nh hương, chuông, khám thờ... Ông đặc biệt chú ư tới sự ḥa hợp giữa hai tôn giáo lớn của Nhật Bản để cùng tạo nên một ư thức hệ Thần Phật có tính tổng hợp cho dù về mặt h́nh thức, các thần xa xưa của Thần đạo được thờ trong khám thờ riêng tên là Kamidana, tổ tiên và các thành viên gia đ́nh đă chết được thờ ở một gian pḥng gọi là Mitamaya hay Pḥng Linh Hồn. C̣n như khi muốn thờ cúng những người đó theo nghi thức Phật giáo th́ phải dựng một Butsudan (ban thờ Phật).  

18  Về mái tóc người phụ nữ (Of women’s hair) 

Mái tóc đen tuyền và dài của người phụ nữ Nhật Bản là cái kích thích trí ṭ ṃ của Hearn rất nhiều. Chẳng thế mà ông đă dành nguyên một chương sách để viết về công việc phức tạp và kỹ lưỡng của những người làm nghề chải tóc, gọi là kamiyui. Ông cũng giới thiệu 14 kiểu bới tóc khác nhau của người phụ nữ Nhật Bản (có thể c̣n nhiều hơn nữa) cũng như giải thích ư nghĩa của mỗi kiểu bới theo từng lứa tuổi từ lúc bé thơ cho đến lúc lấy chồng, ngay cả lúc chết. Nhân đấy ông kể lại chuyện thành công của một kamiyui nổi tiếng ở Izumo, người đă bị đồng nghiệp v́ ganh tỵ phao tin là ma-ca-rồng (nukekubi), đêm đến để đầu ĺa khỏi cổ đi phá phách thiên hạ.Dĩ nhiên là cô được một vị đường quan anh minh gỡ mối  oan và kẻ ganh tỵ đă vu cáo việc động trời kia phải chịu sự trừng phạt thích đáng.

Hearn kết luận ở cuối chương: 

V́ mái tóc của người phụ nữ Nhật là vật trang điểm quí giá nhất của họ, nó là vận sở hữu cuối cùng mà họ chịu đánh mất. Có chuyện một anh chồng quá ghen tương, muốn trả thù, thay v́ giết chết một cô vợ lăng loàn, chỉ cần xén hết mái tóc của nàng ta. Chỉ có ḷng tín ngưỡng hay t́nh yêu sâu sắc mới có thể buộc một người đàn bà hy sinh một phần mái tóc của họ. Nh́n những sợi dây bện bằng tóc đàn bà được cúng dường cho các đền thần ở Izumo th́ rơ. Không hiểu ḷng tin đó là ǵ để họ phải hy sinh như vậy nhất là khi chúng ta nh́n thấy những sợi dây thật lớn bện bằng tóc treo trong ngôi chùa lớn Honganji (Bản Nguyện Tự) ở Kyôto. Tuy nhiên, t́nh yêu th́ hăy c̣n mạnh hơn ḷng tin tôn giáo dầu ít nó được biểu lộ cho người ngoài. Theo tục lệ xưa ở Nhật, các bà goá phụ khi chồng chết thường cắt một nhúm tóc của ḿnh vào quan tài của chồng và chôn nó theo người ấy ...Tự tay họ sẽ cắt đi và đặt mớ tóc tượng trưng cho tuổi trẻ và sắc đẹp của ḿnh và đặt lên đầu gối của người đă khuất. 

19   Trích nhật kư một nhà giáo tiếng Anh (From the diary of an English teacher) 

Như đă nói, nhiều phen, khi muốn tiếp cận văn hóa Nhật Bản, Hearn đă đặt ḿnh vào vị trí của người Nhật. Với tư cách một người thầy tiếng Anh trong thời gian dạy học ở Izumo,, ông có đủ phương tiện để làm việc đó.

Năm 1890, khi vừa tới Nhật, Hearn được bổ làm giáo sư ở Trường trung học và Trường sư phạm Shimane. Nhân đó, ông đă ghi chép cặn kẽ việc dạy học của ḿnh cũng như phản ứng của học tṛ. Nhờ vậy mà trong Glimpses of Unfamiliar Japan, chúng ta có một chương sách với phong vị đặc biệt và c̣n có giá trị lịch sử. Thực vậy,chương 19 này giúp chúng ta biết rơ hơn về không khí sinh hoạt học đường đương thời.

Như người thầy, Hearn đă biết nâng tŕnh độ tri thức của học tṛ và phát huy sự suy nghĩ và óc tưởng tượng của họ ḿnh bằng cách giảng bài sử dụng một thứ ngôn ngữ giản dị và t́nh cảm, vừa rơ ràng lại cẩn thận. Lúc đầu ông c̣n nhờ một giáo viên trẻ tên là Nishida Sentarô phụ tá, chẳng bao lâu sau, ông đă t́m ra tài liệu giáo khoa thích hợp và có thể đứng lớp một ḿnh.

Tuy nhiên, Hearn lúc đó đă vấp phải một khó khăn. Đó là sự thiếu cá tính của học tṛ Nhật. Elizabeth Stevenson, người viết truyện kư về ông (Lafcadio Hearn, xuất bản tại New York vào năm 1961) đă mô tả cách đối phó của Hearn đối với vấn đề nan giải này như sau: 

Khi biết được bản tính chất phác của đám học tṛ, Hearn đă đối phó một cách dễ thương nhưng không kém phần cương quyết. Ông bắt đầu cho nhiều bài tập, bắt học tṛ viết nhiều tiểu luận ngắn bằng tiếng Anh. Không những họ phải luôn luôn sử dụng ngữ vựng và cách diễn tả mới mà c̣n phải đưa vào đó những ư kiến riêng và thẳng thắn. Ông đ̣i hỏi họ viết ra những điều suy nghĩ của chính họ. Ông không cho phép đám thiếu niên này tự măn mà bắt họ lần đầu tiên trong đời phải thử suy nghĩ về t́nh cảm cá nhân của bản thân, về những tập quán hằng ngày và về ư kiến của người chung quanh. 

 

http://www.anb.org/articles/img/000784.jpg

Perceval Lowell ( chụp năm 1904) 

Học giả Mỹ ngành thiên văn Perceval Lowell [18], từng đi trước Hearn trong lănh vực nghiên cứu về Đông Phương, đă viết trong tác phẩm Tâm hồn của Cực Đông (The soul of the Far East, 1888) những lời như sau: “Theo cách suy nghĩ của chúng ta, “cái tôi” là bản chất của tâm hồn thế nhưng có thể nói là ở vùng Cực Đông này, tâm hồn con người không có một cá tính nào đặc biệt”. Ta thấy khi mới đến Nhật, cách nh́n về phương Đông của Hearn có lẽ không xa quan điểm của Lowell là mấy. Tuy vậy, dần dà Hearn đă hiểu ra tại sao người Nhật lại là những con người “phi cá tính” như thế. Ông đă viết như sau trong chương 19 này: 

Đối với học tṛ các năm thứ 3, 4 và 5 trung học, tôi ra đề để các em có thể viết những bài luận ngắn. Trên nguyên tắc đề tài đều liên quan đến Nhật Bản. Nghĩ rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ quá khó đối với chúng nhưng tôi kinh ngạc biết bao khi thấy một số em đă có đủ năng lực để diễn tả những suy nghĩ của ḿnh bằng ngôn ngữ này.

Điều làm tôi thấy thú vị khi đọc những bài luận bằng tiếng Anh đó không phải là cá tính của từng em học sinh nhưng là tư duy của một dân tộc nằm bên trong. Nói cách khác, đó là sự chia sẻ giữa họ một thứ t́nh cảm có tính tập đoàn.

Cái làm tôi ngạc nhiên nhất khi là trong đó hoàn toàn không có một nét đặc thù nào. Hơn nữa, ngay cả chữ viết của cả 20 em học sinh sao mà giống nhau đến thế. Không lẽ đó là những bài được viết bởi những người ở chung nhà. V́ ít khi thấy có ngoại lệ nên có thể xem đây là một nguyên tắc.

...............................

Bất luận với đề tài nào, cách suy nghĩ, cách tưởng và cách viết của đám học tṛ không có ǵ khác nhau. Không phải những bài luận tiếng Anh ấy không có những điều đáng để ư nhưng nói chung, về mặt trí tưởng tượng, chúng không có ǵ độc đáo. Trí tưởng tượng của chúng đă được làm sẵn từ bao thế kỷ trước, một phần ở Trung Quốc và một phần ngay trên đất Nhật. 

Cái khác giữa Hearn và các nhà Đông Phương học Âu Mỹ khác là ông không phủ định sự thiếu cá tính của người Nhật và muốn vứt bỏ nó. Ông muốn lắng tai để t́m ra “tiếng nói” của người Nhật nấp đằng sau sự thiếu cá tính và thiếu độc sáng ấy.

Chúng ta nên nhớ rằng từ khóa của văn chương Hearn là ghostly (u huyền). V́ là người nhạy cảm với những ǵ huyền ảo như thế nên ông đă nhận ra đằng sau những bài luận ngắn của đám học tṛ  những yếu tố nội tâm của người viết ra nó để có thể t́m đến và cộng hưởng bằng tâm hồn ḿnh. Do đó, Hearn vẫn bền bỉ ra đề cho chúng viết. Đám học tṛ đă đáp ứng tích cực và lần hồi hâm mộ người thầy. Tuy Hearn chỉ sống ở Matsue một năm ba tháng thôi nhưng khi ông ra đi, đám học tṛ hết sức buồn v́ phải xa ông. Cả trường đă ra ngoài bến tàu để tiễn đưa. Những điều này ông đă thuật lại trong chương 27 – Sayonara (Giă từ) ở cuối quyển sách.   

20   Hai lễ hội kỳ quái (Two strange festivals) 

Dĩ nhiên đó là những lễ hội kỳ quái đối với Hearn, một người đến từ Âu châu. Trước tiên là Tết Nguyên Đán. Người Nhật cũng ăn Tết trong 3 ngày. Họ treo cờ mặt trời mọc và vẽ biểu tượng ấy trên các lồng đèn bằng giấy treo khắp đường phố. Trước mỗi nhà đều có chưng kadomatsu (bụi tùng góc nhà) để đón mừng năm mới. Chính ra đó là một khúc tùng non kèm theo cành mơ và ống trúc cắt chéo. Trước kia người ta chỉ dùng mỗi cây tùng nhưng từ niên hiệu Ôei (1394-1428) thời Muromachi trở đi th́ họ thêm cả hoa mơ và trúc. Trúc để chỉ tiết tháo c̣n hoa mơ là tượng trưng cho sự dịu dàng, ngọt ngào. Nhiều khi hoa mơ được thay thế bằng một nhánh sakaki, cây thiêng của Thần đạo. Có một câu nói của nhà Phật về Kadomatsu như sau: 

Kadomatsu / Meido no tabi no / Ichirizuka (Bụi tùng chào mừng năm mới chỉ là một cột cây số trên con đường người ta đi về cơi chết). 

Mỗi vật trưng bày trong ngày đầu năm mới đều có ư nghĩa riêng của nó. Giống dương xĩ tên là moromoki hay urajirô tượng chưng cho sự giàu có và con đàn cháu đống v́ chúng sinh sôi nẩy nở chóng vánh và tươi tốt. Loại cam đắng gọi là daidai được xem như một thứ hoa quả mang điềm lành do cách gọi đồng âm với tiếng Hán “đại đại” ư nói “đời đời kiếp kiếp”. C̣n than củi (sumi) ư? Nó tượng trưng cho sự bất biến v́ màu sắc của nó không bao giờ thay đổi cũng như niềm hạnh phúc sẽ tồn tại măi măi. Trên mâm thờ sẽ cổ cúng với cá trắm (tai) v́ nó là vua các loài cá và đem đến sự may mắn (omedetai), loài rong jinbasô là “con ngựa của thần (jinba = thần mă), tôm hùm nhiều râu tượng trưng cho sự trường thọ và hạt dẻ (kachiguri) là h́nh ảnh của chiến thắng (katsu) và thành công....

Ngày lễ đặc biệt thứ hai là Setsubun, nó đánh dấu lúc thời tiết thật sự vào xuân khi những cơn gió mùa đông dành chỗ cho ánh mặt trời mùa xuân ấm áp. Lúc đó, người Nhật tổ chức lễ Oni.yarai (Đuổi quỉ). Đêm trước ngày Setsubun, những kẻ đuổi quỉ (yaku-otoshi) sẽ chạy khắp các phố, lầm rầm đọc kinh và khua những chiếc gậy có in h́nh Thần Phật là gọi là shakujô, hô to “Quỉ ra ngoài, phúc vào nhà” (Oni wa soto, fuku wa uchi). Sau đó th́ đó tục lệ ném đậu trắng (shiro-mame) khô về bốn hướng. Không biết v́ lư do ǵ nhưng người ta bảo rằng quỉ sứ không thích đậu khô! Sau đó họ quét dọn và thâu lượm chúng lại để dành đến khi nghe những tiếng sấm mưa đầu mùa th́ đem ninh lên ăn. Sau đó, họ mới dán một cái bùa gồm một khúc gậy ngắn, một con cá ṃi khô và một lá qú trước cửa nhà để ngăn cho quỷ không trở lại.Tại sao quỷ sứ lại sợ cá ṃi khô và lá qú th́ chẳng thấy ai giải thích cho Hearn.

Ông c̣n cho biết ở Izumo, người ta c̣n có tục mê tín là khi nghe tiếng sấm đầu mùa th́ giăng màn ra rồi cả nhà chui vào trong nấp và lấy tay che rốn để pḥng thân. Họ tin rằng làm như thế sẽ được an toàn v́ Raijuu (Lôi thú) thích ... ăn rốn người nhưng chúng không vào được trong màn. 

21   Dọc Biển Nhật Bản (By the Japanese Sea) 

Hearn yêu biển.Trong đời văn, ông ta đă viết nhiều tác phẩm về biển cả.Thế nhưng phần nói về cuộc du hành ở vùng Tottori, dọc theo Biển Nhật Bản này phải xem như một trong những thành công lớn của ông.

Nơi đây, một bên, ông đă được ngắm nh́n biển rộng bao la, một bên là những cánh đồng xanh trong chuyến hành tŕnh bằng xe kéo, một trong những phương tiện du lịch hiếm hoi thời Meiji Một tối, ông đă ngủ trọ ở một lữ quán vùng suối nước nóng Hamamura và được một người tớ gái trong quán kể cho nghe câu chuyện về “Tấm nệm Tottori” (Tottori no futon) mà người địa phương truyền tụng cũng như nghe bà Setsuko, vợ ḿnh, kể lại câu chuyện “Những đứa trẻ bị vứt bỏ”. Hai câu chuyện ấy, chúng ta đă được ông đề cập đến trong chương 9 và chương 10. Về sau, Hearn đă thu thập lại chúng trong Kwaidan, tác phẩm nổi tiếng về thể loại “truyện cũ viết lại” (cố sự tân biên, người Nhật gọi là saiwa bungaku tức tái thoại văn học) buổi văn niên. Chúng làm tăng phần thi vị cho đoạn nói về chuyến đi dọc bờ Biển Nhật Bản này.

Sau đây xin tóm tắt nội dung câu chuyện “Tấm nệm Tottori”: 

Xưa kia có một người lái buôn dọc đường ngủ đỗ ở một quán trọ trong xứ Tottori. Đêm đến, khi chui vào trong chăn nệm th́ bỗng nghe th́ thào giọng nói của hai đứa trẻ con: “Anh ơi, anh lạnh lắm phải không?” “C̣n em, chắc em lạnh lắm hở em!”. Ông lái kia mới châm lửa đèn lồng lên soi một ṿng chung quanh nhưng không thấy ai cả. Ông bèn đặt ḿnh xuống định ngủ tiếp nhưng giật thót người v́ nghe tiếng nói của hai đứa trẻ phát ra từ trong tấm chăn. Ông lại sợ hăi, vội vàng thu vén hành lư rồi phóng ra ngoài.

Chủ nhà trọ lấy làm quái dị nên chính ông cũng chui vào ngủ thử trong chăn và thấy rằng tiếng th́ thào kia là có thực.Khi ông gạn hỏi người buôn chăn nệm cũ đă bán nó cho ông th́ mới biết đó là bộ chăn nệm của một gia đ́nh kia, vợ chồng mất sớm, để lại hai đứa con thơ. Để có cơm ăn, hai anh em đứa trẻ đă phải bán lần hồi những đồ gia dụng, cuối cùng chỉ c̣n sót bộ chăn nệm. Đêm đến, nằm trong chăn, hai anh em lo lắng hỏi thăm nhau xem đứa kia có lạnh hay không.Thế nhưng người cho thuê nhà đă không chút từ tâm lấy đi mất bộ chăn nệm đó, đang đêm c̣n đuổi chúng ra giữa trời tuyết giá để cho chúng phải chết rét.

Ông chủ lữ quán nghe thế mới đem bộ chăn nệm lên chùa cho nhà sư đọc kinh siêu độ hai vong hồn. Kể từ sau đó, trong chăn không c̣n vọng ra tiếng người nói nữa. 

Câu chuyện “Tấm nệm Tottori” là điểm khởi hành cho văn học về những hiện tượng kinh dị mà Hearn sẽ tiếp tục viết cho đến cuối đời.

“Truyện về những đứa trẻ bị vứt bỏ” (Kosute no hanashi) ở Mochida no ura cũng được Hearn tŕnh bày trong chương này. Câu chuyện này phát xuất từ chùm truyện răn đời của nhà Phật truyền tụng khắp vùng Izumo. Có lẽ nó đă gợi nên nguồn cảm hứng cho nhà văn Natsume Sôseki viết ra câu truyện “Đêm thứ 3” Trong “Mười đêm mộng” (Yume Juuya, 1908) [19]. Cả Hearn lẫn Sôseki đều có chung kinh nghiệm là từ thuở ấu thơ đă bị cha ḿnh bỏ bê. Câu chuyện vứt bỏ con ḿnh có thể tóm tắt như sau: 

“Ngôi làng Mochida no Ura trong xứ Izumo có một cặp vợ chồng nhà nông nghèo đến nỗi sinh con ra mà không bao giờ có đủ tiền nuôi nên khi chúng mới c̣n đỏ hỏn đă đem ra vứt dưới sông, mặc nước cuốn đi. Họ đă vứt tất cả 6 người con như vậy. Thế nhưng khi bà vợ sinh ra đứa con thứ bảy th́ cuộc sống có ổn định đôi phần cho nên ông chồng quyết định nuôi đứa bé. Một đêm mùa hè, ông bố mới bế đứa bé trai ấy ra ngoài sân: 

Đêm ấy v́ trăng thật to và rất đẹp cho nên người nông dân kia bất chợt lên tiếng:

- Ôi chao, mấy khi mà trăng đẹp như thế này!

Chính lúc đó, đứa bé trong tay ông mới nh́n lên mặt bố và nói:

-Bố ơi, lần cuối bố đem con đi vứt, trăng cũng sáng như thế này, bố nhỉ?

Sau khi nói xong câu đó th́ đứa bé - giống như những đứa bé cùng tuổi nó – im luôn, không c̣n nói thêm được câu nào.

Người nông dân kia bèn bỏ đi tu”. 

Trong những câu chuyện Hearn đă nghe trong lúc du hành, ông bảo đây là truyện để lại ấn tượng sâu xa nhất cho ông. Có lẽ ông đă đặt chồng lên nhau cái thân phận đứa con rơi là ḿnh và thân phận hẩm hiu của đứa bé kia.

 

Kết hôn với Koizumi Setsuko và viết Kwaidan 

Du hành trên đất Nhật để đào sâu tri thức về văn hoá Nhật Bản nhưng trên thực tế, Hearn chỉ bập bẹ được đôi câu và suốt đời không đọc cho suôn sẻ một trang sách tiếng Nhật. Có thể điều đó phản ánh quan niệm sống của ông chứ không phải là một sự thiếu khả năng thực sự. Tuy vậy, trong quá tŕnh t́m hiểu Nhật Bản, ông đă nhận được nhiều đóng góp quí giá của người chung quanh.

Người đầu tiên đă giúp đỡ Hearn là Manabe Akira (trong tác phẩm ông gọi là Akira), một nhà sư trẻ ông quen khi mới đến Yokohama. Akira đă làm bạn với ông trong đoạn đường đi từ Yokohama, qua Kamakura và Enoshima đến Matsue. Nếu không có Akira, chắc Hearn không thể nào viết về Nhật Bản trong giai đoạn đầu khi ông vừa đặt chân lên đất nước này. Akira đă v́ Hearn mà thu thập những tài liệu bằng tiếng Anh và đảm nhận vai tṛ thông dịch ở nhiều địa điểm viếng thăm suốt đoạn đường khá dài ấy.

Một khi đă yên nơi yên chỗ ở Matsue, người giúp đỡ Hearn một cách đắc lực hơn cả không ai khác hơn ngoài bà Koizumi Setsuko (có nơi viết là Setsu), vợ ông. Trong khi Hearn đến thăm Hang động của những hồn ma trẻ con (Kaka no kukedo) nhắc đến bên trên, bà cũng đồng hành. C̣n chuyến đi dọc bờ Biển Nhật Bản này thực ra là tuần trăng mật của hai người nhưng nó đă biến thành một chuyến đi để t́m tư liệu. Xuất xứ câu chuyện “Tấm nệm Tottori” được Hearn cho biết là ông nghe từ miệng một cô người làm trong lữ quán nhưng có thuyết khác cho rằng chính bà Setsuko đă kể lại cho ông. 

Về đầu đuôi cuộc gặp gỡ giữa hai vợ chồng th́ lúc đầu bà Setsuko chỉ là người đến giúp việc cho ông. Nhằm lúc đó, Hearn trong người không được khoẻ, một tay bà đă tận tụy chăm sóc. Bà là con gái nhà samurai nhưng gia cảnh sa sút nên có cuộc sống khó khăn, có đi làm công cho một người Tây phương để làm kế sinh nhai chẳng qua chuyện vạn bất đắc dĩ. Người chung quanh phản đối nhưng bà đă gạt qua mọi lời đàm tiếu để đến giúp việc cho ông mà bà biết là một học giả có nhân cách. Ông rất cảm động v́ t́nh cảm và sự tận tụy của bà nên đă đề nghị cưới hỏi. Tuy ngại ngùng v́ thân thế cơ hàn của ḿnh, lúc đầu bà có chần chờ nhưng qua năm 1891 th́ hai người đă thực sự thành vợ chồng. Đến năm 1896, họ chính thức làm giấy kết hôn và ông cũng vào quốc tịch Nhật. Do đó, Hearn mới đổi tên thành Koizumi Yakumo. Koizumi (Tiểu Tuyền) là họ của bà Setsuko, c̣n Yakumo (Bát Vân) nghĩa là “tám lớp mây che”, lấy ư từ bài ca dao tỏ t́nh nổi tiếng trong Kojiki vậy.

Nhờ kết hôn với bà Setsuko, lần đầu tiên trong đời, Hearn mới có một mái ấm gia đ́nh. Từ đó, bà trở thành cộng tác viên đắc lực cho chồng trong việc sáng tác.

Đóng góp lớn nhất của bà đối với văn nghiệp ông có thể thấy qua Kwaidan, tác phẩm ông viết lúc cuối đời. Với chương Dọc bờ Biển Nhật Bản, chúng ta cũng có thể h́nh dung phần nào điều đó. Để soạn được Kwaidan, một người không nói và đọc tiếng Nhật như Hearn chỉ có thể dựa vào sự trợ giúp của vợ. Bà Setsuko đă đọc rồi thuật lại cốt chuyện của những truyện răn đời Phật giáo hay những truyền thuyết dân gian. Ông lấy cảm hứng từ đó mà viết ra hẳn hoi bằng tiếng Anh của ḿnh.

Trong tập hồi kư nhan đề Omoide no Ki (Ghi nhớ chuyện xưa) kể lại cuộc sống của hai vợ chồng ḿnh, bà Setsuko đă giúp ta có thông tin về quá tŕnh hợp tác của ông bà để sáng tác Kwaidan: 

“Khi tôi kể chuyện đời xưa cho Hearn th́ hầu như bao giờ cũng vậy, lúc đầu chỉ kể sơ qua cốt chuyện. Nếu là chuyện hay, nhà tôi sẽ đặt bút ghi lại cốt chuyện ấy. Xong ông mới bảo tôi kể thêm chi tiết. Cứ thế, tôi kể đi kể lại nhiều lần. Nếu tôi cầm sách lên đọc cho ông viết th́ ông gạt ngay: “Chớ lấy sách đọc! Hăy kể tôi nghe câu chuyện của em bằng ngôn ngữ của em và nói cho tôi biết điều em nghĩ về nó”. Hễ câu chuyện chưa được nhuần nhuyễn thành câu chuyện của tôi th́ ông thấy là vẫn chưa được. Thành thử ngay cả lúc nằm mơ, đầu tôi vẫn bị câu chuyện ấy ám ảnh”. 

Như vậy, nghe xong chuyện vợ kể, Hearn đă lấy cảm hứng từ đó để tái tạo nó. Kwaidan như thế là một tác phẩm kết tinh được trí tưởng tượng phong phú của Hearn và tài kể chuyện của bà Setsuko. Nếu bảo đó là một tác phẩm hai ông bà viết chung đi nữa th́ cũng không có ǵ quá đáng. 

22   Về một con múa (Of a dancing girl): 

Hearn dành một số trang để nói về những nàng geisha, những người làm cho những buổi tiệc tùng nghiêm trang trở thành vui nhộn bằng điệu múa, tṛ chơi, tiếng hát của họ. Hearn để ư ít khi thấy các vị khách sàm sỡ v́ người Nhật quan niệm các nàng chỉ được mướn để gây không khí cho buổi tiệc, giống những đóa hoa sống, dành để ngắm chứ không được đụng tới.

Thế nhưng các nàng không phải là kẻ vô t́nh vô cảm. Hearn kể lại chuyện quyên sinh v́ t́nh giữa Fujieda Geki, một samurai cận thần Shôgun, lương 5.000 thạch thóc, với nàng Ayaginu, con hát ở xóm lầu xanh Yoshiwara. Ông cũng thuật lại câu chuyện cảm động về nàng O-Kama, cô geisha đă trộn tro hỏa táng của người yêu vào chén rượu và uống để giữ chàng măi măi với ḿnh.

Hearn tuần tự tả lại các giai đoạn cuộc đời một geisha, cho chúng ta  biết họ đă đào tạo trong nghệ thuật như thế nào. Ông nhắc đến những shirabyôshi tức geisha mặc nam trang, đội mũ cao và biết múa kiếm như đàn ông. Họ là những geisha lăng mạn của thời xưa, khác với những người đồng nghiệp thực tế hơn vào thời nay. Hearn nhân đó kể thêm câu chuyện cũ về một chàng thư sinh trên đường du lịch, không t́m ra chỗ trọ qua đêm trên núi cao, may mắn được một shirobyôshi đă giải nghệ ân cần đón tiếp. Cô ta vốn là con múa nổi tiếng ở kinh đô nhưng v́ yêu một chàng thanh niên nên bỏ tất cả ra đi, cùng cất nhà nơi thanh vắng để sống đời ẩn dật. Chẳng ngờ người cô yêu lâm bệnh qua đời nên từ đó, đêm nào cô cũng đứng trước bài vị đặt trong khám thờ Phật, múa một điệu vũ để an ủi vong linh người chết. Bốn mươi năm sau cuộc gặp gỡ, cô gái này dưới h́nh thù của một bà lăo rách rưới đă đến t́m gặp chàng thư sinh xin ngủ trọ thuở nào nay đă trở thành một nhà danh họa giàu có. Cô chỉ xin ông vẽ lại h́nh ảnh của cô thời trẻ trong trang phục shirabyôshi mà cô c̣n giữ được nhưng từ chối mọi sự giúp đỡ tiền bạc, vật chất của ông và trở về sống trong túp lều rách nát bên bờ sông. Một hôm, nhà danh họa t́m được chỗ đến thăm th́ ông thấy nàng đă chết, xác nằm bên cạnh tơi nón đi đường và cái bát ăn xin trước khám thờ Phật, giống như cái khám thờ nơi ông từng thấy nàng đứng múa chiêu hồn trong một đêm nào trên núi.   

23   Từ Hoki tới Oki (From Hoki to Oki): 

Hai quần đảo Hoki và Oki nằm cách Matsue độ 60km, một nơi ẩn khuất và trước khi Hearn đến viếng, hầu như chưa có người ngoại quốc nào đặt chân. Oki nằm sau lưng Hoki và c̣n xa hơn nữa đối với Matsue. Người dân Oki tự hào rằng họ là những người Nhật thuần chủng v́ tổ tiên của ḿnh đă có mặt trên đảo từ thời đại các thần (kamiyo). Nơi đây trên 700 năm về trước, hai vị Thiên hoàng với ước vọng trung hưng vương thất trước sau đă bị tập đoàn quân nhân lưu đày. Đó là Go Toba ( 1180-1239) và Go Daigo (1288-1339).

Tuy nhiên, khi ghé cảng Saigô trên đảo Oki, ngoài di tích miếu mạo thờ những vị thiên hoàng số phận hẩm hiu, Hearn chỉ thấy phong cảnh núi đồi chớn chở, đồng ruộng nghèo nàn hăng mùi tanh tưởi của phân cá và ruột mực khô. Mực khô là một sản phẩm nổi tiếng của địa phương, không những được Nhật Bản yêu chuộng mà c̣n xuất khẩu qua đến Triều Tiên và Trung Quốc. Tương truyền những người dân chài thời xưa đă dấu Thiên hoàng Go-Daigo dưới đống mực khô hôi hám để tránh cặp mắt quan quân khi họ đưa ông lên thuyền trốn về đất liền để mưu đồ phục quốc.

Một trong vài mẩu chuyện thú vị mà Hearn nghe được ở Oki là truyền thuyết Địa Tạng chữa bệnh đau răng. Có người mắc chứng đau răng khủng khiếp đến mất cả quai hàm sau khi chết đă trở thành bồ tát với tâm nguyện chữa trị những người bị chứng bệnh quái ác như ḿnh. Agonashi Jizô (Địa Tạng không quai hàm) nay là tên một mỏm đất tên đảo, nhưng tên đó có lẽ đă bị thiên hạ đọc trại ra từ Agonaoshi Jizô (Địa Tạng chữa lành quai hàm).

Cũng trong thời gian ở trên đảo, Hearn đă nghe kể lại truyện một thiền sư tên Mongaku Shônin (Văn Giác thượng nhân), người đă trốn đến tận Oki sống một thời gian để sám hối về tội lỗi của ḿnh. Tục truyền ngày ở Kyôto, lúc hăy c̣n là vũ sĩ Endô Moritô, ông yêu một người đàn bà có chồng và đă âm mưu với bà ta để giết chồng khi đang ngủ. Nhưng đêm hôm ước định hành động, bà có lẽ v́ quá hối hận, đă cải dạng thành đàn ông rồi nằm thế vào chỗ của chồng. Trong bóng đêm mập mờ, Endô Morito, đă giết lầm người ḿnh yêu. Khi biết được sự thật, ông quá đau khổ, bèn vào chùa xin thú tội và xuống tóc đi tu để sám hối suốt quăng đời c̣n lại.

Trước khi về lại Matsue, Hearn trọ vài hôm ở một khách sạn trên đảo. Ông đă sống trong khoảng không gian trống trải với những cánh cửa kéo và không khoá. Người đi ra đi vào thong thả, họ chỉ lên tiếng chứ không cần gơ cửa. Từ đó, ông suy ngẫm về lối sống tự nhiên, cộng đồng, không tây riêng (privacy), không thẹn thùa... của những người Nhật chất phác nơi đây. Đảo chỉ có 10 viên cảnh sát để giữa an ninh cho một dân số 3 vạn người. Một điều hoàn toàn khác lạ với những ǵ xảy ra trong thế giới Âu Mỹ mà ḿnh từng biết. 

24   Về những linh hồn (Of souls) 

Kinjuurô, một người quen với gia đ́nh Hearn, gốc dân làm vườn đă giải thích cho Hearn về quan niệm hồn vía của người Á Đông. Trong thế giới độc thần Âu Mỹ, người ta chỉ có một linh hồn (soul). Thế nhưng theo Kinjuurô, con người vốn có nhiều linh hồn và có càng nhiều càng tốt. Sách cổ của Thần đạo cho biết con người có ít nhất 2 linh hồn: Ara-tama (linh hồn hung hăng, hiếu thắng) và Nigi-tama (linh hồn quảng đại, biết tha thứ).   

25   Về ma và yêu quái (Of ghosts and goblins) 

Trong kinh Pháp Hoa có câu nói đại ư đôi khi tùy đối tượng, Phật phải mượn h́nh yêu ma để giáo huấn đại chúng. Như thế, hồn ma và yêu quái cũng là một phần của thế giới và sự tồn tại của chúng hẳn có một ư nghĩa nào đó. Kinjuurô đă rủ rê ông đi dự hội ban đêm ở một ngôi chùa tông Nichiren, nơi đang có cuộc tŕnh diễn về ma quỷ.

Trên đường họ đă thảo luận với nhau về Con tinh của Tuyết (Yuki.onna) mà Kinju urô quả quyết người ta có thể gặp vào tiết đại hàn, lúc thời tiết cực lạnh, khi đến thăm ngôi đền thờ Thần Cảm Mạo (Kaze no kami) ở làng Yabumura, một nơi trên núi cách Matsue chừng bảy dặm. Cũng theo Kinjuurô, đó là một con tinh chỉ dọa chứ không hăm hại người. Có lẽ dựa theo truyền thuyết đó Hearn đă viết truyện “Nàng Tuyết” trong Kwaidan.

Họ đến một ngôi chùa mà khuôn viên nối liền với một băi tha ma. Ở đây họ gặp những con ma sống (Iki ningyô) do người thật giả dạng, rất linh hoạt và khác hẳn với các tượng sáp trong những bảo tàng viện phương Tây. Nào là Tanuki Bôzu, thầy tu do chồn hoá thân, nào là Mitsume Nyuudô, ông cư sĩ có 3 con mắt hay Yama-Uba (Yamamba), bà chằng trên núi... Tất cả đều là ma quái quen thuộc với họ, bước ra từ những truyền thuyết Nhật Bản. Lại có phần tŕnh diễn quang cảnh dưới Địa Ngục với tất cả sự rùng rợn. Điều ấy chứng tỏ người Nhật xem ma quỷ chẳng khác nào một phần của cuộc sống của ḿnh và việc đi xem ngôi nhà ma (obake-yashiki) trở thành một thú vui, cơ hội để tiêu khiển.  

26   Nụ cười Nhật Bản (The Japanese smile) 

Một đặc trưng khác trong cách nh́n văn hóa Nhật Bản của Hearn là ông luôn luôn t́m cách đứng ở vị trí của người bản xứ để hiểu cái hay cái đẹp nơi họ. Điều này có nghĩa là Hearn không dùng bậc thang giá trị của ḿnh để làm mực thước đi đo một nền văn hóa khác. Tuy nhiên, làm được như thế cũng không dễ dàng ǵ. Phương pháp ấy đă được đúc kết và áp dụng trong chương 26 này của Glimpses of Unfamiliar Japan khi ông miêu tả cái bí ẩn của Nụ cười Nhật Bản. Bài tiểu luận này trước khi đưa vào sách đă đăng trong tạp chí Mỹ Atlantic Monthly và được độc giả Tây phương tán thưởng.

Á Đông chúng ta có thể không lấy làm lạ nhưng Tây Phương th́ khác. Họ không thể hiểu tại sao trên khuôn mặt người Nhật thường thoáng một nụ cười. Người phương Tây ít khi mỉm cười một cách hồn nhiên và điều đó cũng làm cho người Nhật lạ lùng: 

Đây là một ví dụ điển h́nh cho thấy sự thông cảm giữa hai dân tộc thường  gặp phải khó khăn. Người ta phần nhiều suy đoán ngay ư nghĩa của hành động cũng như tâm t́nh của kẻ đứng trước mặt thông qua các thước đo của ḿnh, kết cuộc thường đưa đến sự hiểu lầm nhau. Nếu như người Nhật không hiểu được thái độ nghiêm trang của người Anh th́ người Anh cũng vậy, anh ta sẽ cảm thấy trong cái cười nhẹ nhàng của người Nhật có  ǵ khiến anh không thể tin cậy. Những người ngoại quốc được người Nhật cho là có “khuôn mặt khó khăn” ấy, khi thấy “nụ cười Nhật Bản”, sẽ đâm ra miệt thị. Như thể họ nghĩ rằng đằng sau nụ cười ấy, một sự dối trá nào đó đang ẩn nấp. 

Theo Hearn, chỉ có một thiểu số có khả năng nội quan bén nhạy mới biết đánh giá “nụ cười Nhật Bản” như là một đối tượng đáng để giải mă. Sau đó, ông đă dựa trên những kinh nghiệm sống trong thời gian ở Nhật ḥng t́m ra mối manh. Ông cho biết nếu người phương Tây sử dụng những thước đo ḿnh có sẵn th́ họ sẽ không thể nào hiểu được. Nụ cười Nhật Bản vốn là một “cử chỉ thận trọng, công phu đă được xây đắp bao đời mới hoàn thành”, v́ vậy không thể đem những khái niệm hay mực thước phương Tây mà lư giải được. Chẳng hạn như khi người Tây phương đọc văn tự biểu ư của người Tàu lại ngạc nhiên hỏi tại sao nó chẳng giống văn tự tượng thanh của nước ḿnh.

Nếu người Tây phương thấy trên mặt người Nhật có phác một nụ cười, họ sẽ nghĩ ngay rằng người đó đang có chuyện ǵ vui. Thế nhưng nụ cười tưởng như là chứng cớ của sự bằng ḷng ấy lại có thể là dấu hiệu của đau khổ, sỉ nhục và thất vọng, vốn là những trạng huống tinh thần không có ǵ đáng vui vẻ cả. Làm sao mà người Tây phương đứng trước nụ cười ấy, có thể tin cậy nó cho được?

Sau khi suy luận như thế, Hearn đă đưa ra ví dụ cụ thể về sự hiềm nghi đă phát sinh giữa một ông chủ Tây phương và một người làm công Nhật Bản, đưa đến một kết quả đau ḷng. Thế rồi, nhân đấy Hearn phân tích tại sao trong một trường hợp như vậy, người Nhật c̣n có thể cười được. 

Một nụ cười Nhật Bản 

Hearn cho rằng người Nhật đă được dạy cho nụ cười ấy như một cử chỉ lễ phép và rèn luyện về nó từ thời thơ ấu. Đối với bậc trên trước hay người ngang hàng th́ bất luận là ai và bất luận khi nào, phải giữ sao cho được nụ cười ấy để biểu lộ phong cách sống của người “có ăn học” và tránh mọi va chạm. Ngoài ra, giữa khi đau khổ hay tuyệt vọng mà c̣n giữ được nụ cười là v́ tỏ ra lễ phép đối với kẻ đứng trước mặt. Lư do là người Nhật không muốn những ai có hảo ư, thương mến ḿnh lại phải lo lắng và khổ muộn v́ ḿnh.

Lúc đầu, khi Hearn thấy một người đàn bà giúp việc cho ông đến thông báo có đứa con vừa chết mà vẫn để một nụ cười tỏa nhẹ trên khuôn mặt, ông đă không dấu được sự ngạc nhiên. Thế nhưng sau khi quen với nếp sống Nhật Bản, ông đă hiểu ra điều đó và có thể biện hộ cho thái độ của người đàn bà giúp việc. 

Nụ cười này là một cử chỉ lễ phép. Người mang nụ cười ấy dằn nén bản thân đến biên giới của mức độ họ có thể chịu đựng. Nụ cười hàm chứa nội dung như sau: “Cho dù đối với ông với bà, chúng tôi đang gặp phải một điều bất hạnh nhưng xin chớ quan tâm. Xin thứ lỗi cho chúng tôi đă dám quấy rầy sự yên tĩnh của ông của bà khi đến đây để báo tin buồn này”.  

Hearn kết luận rằng nụ cười thoáng nhẹ đó là biểu tượng cho quan niệm đạo đức của người Nhật. Ông xem nụ cười của người trong cuộc chẳng khác nào nụ cười từ bi của Daibutsu (Đại Phật) ở Kamakura. Ngày xưa, nụ cười ấy là do nhà điêu khắc Nhật tạo ra để tượng trưng cho sự b́nh yên trong tâm hồn của đồng bào ông mà theo Hearn th́, đúng như Kinh Pháp Cú đă nói: “Không có hạnh phúc nào lớn cho bằng sự b́nh yên trong tâm hồn”. Hearn đă t́m cách giải mă được nụ cười bí ẩn của người Nhật, đúng như điều ông từng viết trong đoạn văn sau: 

Muốn hiểu được nụ cười Nhật Bản, chúng ta phải đi vào cuộc sống của người b́nh dân tự ngàn xưa trong dáng vẻ đơn sơ của nó. Nếu quan sát theo kiểu Tây phương nghĩa là từ trên ngó xuống th́ sẽ không học hỏi được điều ǵ.

Nói về cảm xúc của một dân tộc và cách biểu lộ cảm xúc đó, giữa Tây phương và Cực Đông rơ ràng có một sự dị biệt. Chúng ta cần để ư đến sinh hoạt thường nhật của người b́nh dân vốn phong phú và đa dạng. Những ai khi đứng trước sự sống và cái chết cũng như trong t́nh yêu, luôn luôn giữ trên môi một nụ cười, luôn luôn có sự b́nh yên cùng với một tấm ḷng nhân hậu, thân ái và ấm cúng th́ có thể t́m thấy niềm vui trong sự đồng cảm với người Nhật. Rồi một khi đă có t́nh thân ái và sự đồng cảm, nụ cười Nhật Bản sẽ không c̣n là điều bí ẩn nữa. 

Như thế, Hearn đă gạt giá trị quan Tây phương của ḿnh sang một bên để mà “nh́n cuộc sống của người thường dân Nhật Bản như nó là”. Ông đă nhẫn nại trong một thời gian lâu mới t́m ra phương pháp giải mă nụ cười ấy. Khi ông không c̣n căn cứ vào bảng giá trị sẵn có mà đặt ḿnh vào vị trí của đối tượng, thể nghiệm cách thức suy tư của họ th́ ông mới hiểu được bản chất của cử chỉ nói trên. Phương pháp của Hearn thời đó phải chăng cũng là phương pháp chúng ta cần có để t́m hiểu tha nhân ngay cả trong thế giới ngày nay?   

27   Giă từ (Sayonara) 

Những ngày vui rồi cũng phải chấm dứt. Có ǵ tồn tại được lâu trong thế giới vô thường của chư thần. Được bổ nhiệm ở một trường công lập ở Kumamoto, Hearn đă rời Matsue với tất cả sự quyến luyến. Thế nhưng khi hậu ấm áp của Kumamoto mới thích hợp cho sức khoẻ của ông. Ban giáo chức và học tṛ hai trường đă tặng Hearn một cái độc b́nh cao gần một mét và một thanh kiếm Nhật làm quà lưu niệm. Hai bên đă trao đổi nhiều diễn từ nói lên t́nh cảm của họ với nhau trước ngày Hearn và gia đ́nh ra bến cảng để lên đường. Hearn sẽ không hề gặp lại các bạn đồng liêu cũ cũng như những Ishihara, Otani, Adzukikawa..., các học sinh ưu tú của ông. Yokogi và Shida đă qua đời trước đó v́ bệnh tật, để lại cho ông bao nỗi tiếc thương. Thế rồi 13 năm sau (1904), Hearn cũng tạ thế ở Tokyo, chấm dứt một cuộc đời phiêu bạt ở cái tuổi 54 và được chôn trong một nghĩa địa Nhật Bản. Sống là Lafcadio Hearn, ông đă chết như Koizumi Yakumo. 

II - Từ thế giới hiện thực của Glimpses of Unfamiliar Japan đến thế giới huyền ảo của Kwaidan: 

Trong thời gian 1 năm 7 tháng sống ở Matsue, ngoài công việc dạy học, Hearn đă đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, đồng thời thu lượm được nhiều câu chuyện cổ và truyền thuyết lưu hành trong dân gian. Trong ngôi nhà cổ kiểu gia trang samurai ở Matsue, Hearn giống như một đứa trẻ con ṿi mẹ chuyện đời xưa, đă nhờ vợ là bà Setsuko kể cho ḿnh nghe những câu truyện truyền khẩu của người Nhật đương thời

Thực ra, trước khi đến Nhật, Hearn đă từng quan tâm đến truyền thuyết và truyện răn đời của các vùng đất khác. Khi sống ở Mỹ, ông đă thu thập truyện cổ và truyền thuyết của Ai Cập, Ấn Độ, của các đảo Nam Thái B́nh Dương, của các chủng tộc Inuit (một sắc dân sống ở xứ lạnh như Alaska, Greenland và Canada), Do Thái, Ả Rập rồi dùng ngôn ngữ của ḿnh để chuyển hoá chúng và ghi lại trong tập (Phi hoa lạc diệp, hay Những điều nghe thấy từ những nền văn hóa khác, 1884). Sau đó, ông c̣n gom góp truyện truyền kỳ Trung Quốc để viết theo lối “cố sự tân biên” trong (Trung Quốc Quái Đàm Tập, 1887)[20]. Điều đáng để ư là trong 2 tập sách này có xen vào những truyện cổ của liệt cường Tây Phương. 

Tương quan giữa Glimpses of Unfamiliar Japan và Kwaidan  

Trong Glimpses of Unfamiliar Japan, chúng ta đă được nghe Hearn kể về “Tấm nệm Tottori”, một câu chuyện kinh dị ông nghe được khi đi dọc bờ biển Nhật Bản (Chương 21) cũng như một số chuyện khác lượm lặt trên đường du hành. Thế nhưng ông đă dành nguyên một cuốn sách nhan đề là Kwaidan (Quái đàm, Truyện kinh dị, 1904)[21]. Cuốn truyện này đánh dấu giai đoạn nhuần nhuyễn trong lối viết truyện kinh dị của ông. Thực vậy, danh tác Kwaidan tuy ra đời vào năm 1904 nhưng đă manh nha từ năm 1891 trên mảnh đất Matsue. Ngược lại, ta cũng có thể khẳng định rằng nếu không có những câu chuyện đời xưa trong tập Glimpses of unfamilar Japan như Cầu vo đậu, Người đàn bà mua kẹo mật, Tấm nệm Tottori, Những đứa trẻ bị vứt bỏ ... mở hộ sẵn cánh cửa thế giới u linh cho th́ Hearn sẽ chẳng bao giờ có được Kwaidan 13 năm về sau. Thủ pháp sưu tập và ngôn ngữ hoá của chúng như thế đă được tôi luyện trong thời gian ở Matsue để cho nghệ thuật “cố sự tân biên“ của Hearn mà người Nhật gọi là saiwaka (tái thoại hoá) đạt được sự hoàn chỉnh. 

Năm chủ đề của Kwaidan 

H́nh thức văn nghệ truyện cũ viết lại có thể hiểu là sự xào nấu, tái tạo một nguyên bản đă có (remake, recycle) dưới một h́nh thức nào đó. Ví dụ đơn giản nhất là truyện nhi đồng của anh em nhà Grimm[22], một bộ phận tác phẩm của Andersen[23], Akutagawa Ryuunosuke[24] hay Nakajima Atsushi [25]vv...

Như họ, Hearn muốn phủi lớp bụi thời gian trên những truyền thuyết và truyện răn đời hoang đường đă rơi vào quên lăng[26] và giúp chúng hồi sinh. Ông đă trân trọng và bỏ công mài giũa chúng giống như người thợ kim hoàn mài những viên ngọc thô phác. Ông dùng tài ngôn ngữ của ḿnh để phả vào đó một luồng sinh khí. Tài nghệ kể chuyện của Hearn giống như tài nghệ của một kataribe (người kể chuyện nhà nghề) trong xă hội Nhật Bản ngày xưa, biết cách bắt nắm kỹ thuật ǵn giữ và phát huy một di sản văn hóa sắp sửa tàn lụi.

 

http://www.bfi.org.uk/films-tv-people/sites/bfi.org.uk.films-tv-people/files/styles/gallery_full/public/bfi_stills/bfi-00n-aa6.jpg?itok=0C0yG9Gy

Người lạ mặt hiện ra từ đáy chén trà (In the cup of tea) 

Nếu thời gian đầu ở Nhật, Hearn tập trung sức lực vào văn chương du kư như trong Glimpses of Unfamiliar Japan th́ trong giai đoạn sau, ông dành thời gian để làm sống lại những truyện truyền kỳ qua Kwaidan. Quá tŕnh của ông đi từ quan sát ngoại giới bước qua trầm tư nội tâm, từ những cuộc du hành để hiểu đất nước, cảnh vật, phong tục tập quán rồi chuyển qua việc t́m hiểu tâm hồn, cuộc sống tinh thần của con người trong bối cảnh xă hội đó. Tóm lại, ông đă di hành từ một chủ đề, một quan điểm này sang một chủ đề, một quan điểm khác. Nếu trong tác phẩm trước, ông miêu tả lại những con người sống thực, những đền chùa lầu gác, nghĩa là giao lưu với ngoại giới th́ trong tác phẩm sau, đối tượng của ông toàn là kẻ chết, thần thánh, hồn ma và yêu quái, và như thế, ông hướng về thế giới nội tâm của ḿnh. Phải chăng nhờ bước ngoặc này mà Hearn đă có thể chữa lành những vết thương trong tâm hồn (trauma) vốn đeo đẵng ông từ thời thơ ấu. Đọc Kwaidan, ta cảm thấy tác phẩm này giống như một thiên tự truyện v́ có nhiều chi tiết đến từ động cơ cá nhân của tác giả. Những ai biết rơ tiểu sử của Hearn đều có thể phỏng đoán là nó là ǵ. 

 

http://i15.photobucket.com/albums/a380/dstead/dstead2/Kwaidan10.jpg

 Hôichi dạo t́ bà cho ma nghe trong nghĩa địa 

Sau đây là những truyện xuất hiện trong Kwaidan, ấn bản năm 1904 (chú thích NNT là truyện đă được Nguyễn Nam Trân dịch, c̣n QC là truyện do dịch giả Quỳnh Chi dịch và in trong Nàng Tuyết): 

1-     Truyện chàng Hôichi cụt tai (The story of the earless Hôichi, NNT), 2-Đôi chim uyên ương (Oshidori), 3- Truyện nàng O-Tei (The story of O-Tei), 4- Hoa anh đào của nhũ mẫu (Ubazakura, QC), 5- Đấu trí (Diplomacy, QC), 6- Tấm kính và cái chuông (Of a miroir and a bell), 7- Thực nhân quỷ (Jikininki, QC), 8- Quỷ mặt phẳng ĺ (Mujina), 9- Ma cà rồng (Rokuro-kubi), 10- Chôn chặt niềm riêng (A dead secret, QC), 11- Nàng Tuyết (Yuki-onna, QC), 12- Con tinh cây liễu (The story of Aoyagi), 13- Cây anh đào ngày mười sáu (Jiu-rokuzakura, QC), 14- Giấc mộng của Akinosuke (The dream of Akinosuke), 15- Đứa trẻ bạo tợn (Riki-baka), 16- Hoa hướng dương (Himawari), 17- Bồng Lai (Hôrai). Ngoài ra tập truyện c̣n kèm theo một phụ lục nói về những chuyện hiển linh chen lẫn thơ haiku liên quan đến các côn trùng như bướm, muỗi và kiến.    

Một cuốn phim mang tên Kwaidan (Truyện kinh dị) với 4 mẩu chuyện (Mái tóc đen[27], Nàng Tuyết, Chàng Hôichi cụt tai và Trong chén trà) đă được đạo diễn Kobayashi Masaki và hăng phim Tôhô dựng lên vào năm 1964 nhưng chỉ có 2 phần về Nàng Tuyết và Hôichi cụt tai là có liên hệ trực tiếp với tập truyện Kwaidan ra đời năm 1904. 

Ta thấy nội dung Kwaidan (1904) có thể coi như được viết theo 5 chủ đề:

1)     T́nh yêu.

2)     Sự tin cậy.

3)     Lời giao ước.

4)     Sự đồng cảm.

5)     Sự bất hợp lư 

T́nh yêu ở đây bao gồm t́nh luyến ái nam nữ, t́nh mẫu tử cũng như t́nh huynh đệ. Tin cậy và giao ước có hơi gần gũi với nhau. Nói chung, 4 chủ đề đầu tiên nhấn mạnh mối quan hệ tích cực và hợp lư với tha nhân trong khi chủ đề thứ 5 không đi chung một hướng. Ví dụ truyện Đấu trí (Wakai, Diplomacy) và Trong chén trà (Chawan no naka, In a cup of tea)[28] là 2 truyện nói lên cái bất hợp lư ấy. Chúng đều mang những yếu tố có tính phá hoại và phủ định. Tuy vậy, không những trong truyện kinh dị của Hearn, nơi các tác giả khác, chúng ta đều có thể gặp trường hợp những người lương thiện bị lừa dối hay thất bại.

Năm chủ đề của Kwaidan có lẽ gộp lại từ quan niệm sống và những giá trị đạo đức mà Hearn đề cao. Ông đă đúc kết những giá trị ấy trong các truyện kể của ḿnh. Chủ đề ”T́nh yêu” phải chăng liên quan đến t́nh thương của ông đối với mẹ ḿnh, “sự tin cậy” và “lời giao ước” cũng là một điều ông hết sức quan tâm v́ ít nhất trong đời ḿnh, ông đă hai lần bị phản bội. Lần đầu, hồi c̣n ở Anh, bà trẻ của ông bị người ta lừa đảo nên ông mất sạch số tiền đáng lẽ được thừa kế từ bà. Lần thứ hai, ở Mỹ, người bạn chung vốn mở quán ăn với ông đă cuỗm sạch số vốn kinh doanh nên quán ấy vừa mới ra đời được 21 ngày đă phải tuyên bố phá sản. Do đó, qua các câu chuyện Hearn kể lại, chúng ta thấy phảng phất đâu đó những yếu tố tự sự về cuộc đời của chính ông.

Tuy vậy, những giá trị đạo đức Hearn đem vào trong truyện không chỉ liên quan đến ông mà thôi. Đó cũng là những giá trị phổ quát dù là ở phương Đông hay phương Tây mà người Anh, người Pháp, người Đức hay người Trung Hoa đều có thể hiểu được.

Cốt truyện của Kwaidan đến từ những thư tịch bà Setsuko t́m ra ở những tiệm sách cũ trong khu Kanda ở Tokyo. Bà đọc cho ông nghe và ông đă chọn lựa những chuyện phù hợp với độc giả của ḿnh để cho tất cả, dù là người Nhật hay ngoại quốc, đều thấy hay và cảm động. (Theo nguồn tin của giáo sư Ikeda Masayuki, ở Ai-Len cũng có một câu truyện nội dung giống như Mujina). Có thể nói điều này tượng trưng cho tính phổ quát, nhân loại của văn chương “ truyện cũ viết lại” dưới ng̣i bút Lafcadio Hearn. 

Nàng Tuyết (Yuki Onna): H́nh tượng người đàn bà muôn thuở  

Tính cách tự truyện của Kwaidan có thể t́m thấy qua nhiều ví dụ. Trước tiên là truyện Mujina nói trên. Ngày nhỏ, “người chị họ tên Jane” (cousin Jane) v́ quá sùng đạo nên mắng nhiếc ông đă làm cho ông ghét lây cả đạo Công giáo của cô và khiến ông không c̣n muốn nh́n mặt cô nữa. Một buổi chiều trời chạng vạng, khi gặp lại người chị ấy (thực ra bà chị đă chết mà ông không biết), ông chỉ thấy cô ta có khuôn mặt phẳng ĺ (nopperabô) như mặt con quái Mujina. Cũng vậy, khi viết về Hôichi cụt tai có khả năng giao lưu với những hồn ma của vong linh tập đoàn Heike, Hearn phải chăng đang vẽ chân dung cái con người thích tiếp xúc với cơi âm là ḿnh. Rồi khi có một một nhân vật nữ nào hiện ra trong tác phẩm th́ người ấy thường phảng phất h́nh bóng bà Rosa, mẫu thân ông.Ta thấy đó là h́nh ảnh người phụ nữ đột ngột bỏ chồng, bỏ con ra đi như sương khói. Nàng Tuyết (Yuki.onna, The Snow Woman) hay Aoyagi trong Con tinh cây liễu (Aoyagi Monogatari, The story of Aoyagi) đều như thế cả. Cả hai đă hành động giống bà Rosa cái ngày bà để cậu Lafcadio lại Dublin để về quê hương Hy Lạp một ḿnh.  

Nói về Nàng Tuyết th́ Hearn đă mượn mô típ “hôn nhân khác loài” trong truyện dân gian. Nàng Tuyết là con tinh sinh ra từ tuyết, đă lấy một chàng trai trần gian nhưng bị phản bội để lộ tông tích, đành phải trở về thế giới bên kia. Nhân v́ câu chuyện này đă quá phổ biến ở Nhật nên người Nhật ít có ai lấy làm ngạc nhiên khi họ thấy tác giả nhân cách hóa một hiện tượng thiên nhiên như tuyết, biến nó thành đàn bà. (Cách tưởng tượng và gán ghép này có thể thấy ở các quốc gia Tây phương nhiều hơn[29]). Riêng ở Nhật th́ việc nhân cách hóa một hiện tượng thiên nhiên khá hiếm. Hơn nữa, khái niệm nữ tính (onna rashisa) trong truyền thống Nhật Bản rất đơn thuần,  không phải là nữ tính đa diện thấy trong tác phẩm của Hearn. Nàng Tuyết của Hearn tuy biểu hiện sự tươi mát, màu mỡ, tĩnh lặng và bí mật nhưng cũng tượng trưng cho sự dũng mănh,, bản chất phá hoại của thiên nhiên, hai mặt khác nhau của nữ tính ấy. Ngoài ra, ta thấy Nàng Tuyết của ông dù đă sống lâu ở cơi nhân gian mà lúc nào cũng giữ được sự đẹp đẽ, tươi nhuận, trẻ trung. Phải chăng đây là h́nh ảnh tổng hợp của người mẹ đă bỏ đi mà Hearn vẫn giữ măi trong tim?

 

Yuki-Onna from the movie Kwaidan (1964)

Yuki.onna trong phim Kwaidan (1964) 

Cũng như bà Rosa chồng bỏ chồng chê, Nàng Tuyết cũng bị người chồng nuốt lời hứa để lộ tông tích của ḿnh cho một đệ tam nhân (trong trường hợp này là chính Nàng dưới cái lốt người vợ). Khi người chồng, Minokichi, khoe là khi c̣n trẻ anh đă từng thấy được Con tinh của Tuyết (mà ai đă thấy là phải chết) th́ nàng đột ngột thay đổi thái độ v́ thấy ḿnh vừa bị phản bội. Nàng trở thành hung hăn và chực giết cả chồng. Như từng thấy trong những truyện truyền kỳ khác, anh chồng đă phạm vào điều cấm kỵ (taboo) là không được tiết lộ về một điều ǵ ḿnh không có quyền tiết lộ. Nơi đây, Nàng Tuyết đă biểu lộ mặt trái của nữ tính là tàn phá, đạp đổ một khi đă mang ḷng thù hận. Nàng bị lộ chân tướng, dù đau khổ, buộc ḷng phải t́m về thế giới của nàng cũng như bà Rosa Kassimatti bỏ con để về quê hương Hy Lạp. Hearn đă tả lại tâm t́nh đó trong đoạn văn sau (do Quỳnh Chi dịch): 

Ô-Yuki bỗng đặt đồ khâu xuống, đứng vùng lên, khom người cúi xuống Minokichi đang ngồi, mà nói như thét vào mặt chàng:

-                Người đó chính là ta, là Ô-Yuki đây. Ta đă dặn ngươi rằng ta sẽ giết ngươi nếu ngươi kể cho ai nghe một câu nào về điều đó rồi mà. Nhưng v́ các con, ta tạm tha chết cho ngươi. Ngươi phải hết ḷng lo nuôi nấng các con. Nếu có đứa nào kêu ca điều ǵ về ngươi th́ ngươi biết tay ta.

Tuy là nàng đang nói như thét, nhưng giọng nàng vẫn mơ hồ như tiếng gió thoảng qua. Thế rồi nàng tan vào làn sương trắng sáng loá đang cuốn lên chiếc xà ngang trên mái nhà, và theo ống khói luồn ra khỏi nhà. Từ đó không ai c̣n gặp lại nàng nữa..  

Rốt cuộc, Nàng Tuyết đă không nỡ giết Minokichi, người chồng,  cũng như các con trước khi bỏ đi. Nàng đă trở thành một con yêu tinh bị dằn vặt đau khổ và đầy...nhân tính. Tính luân lư và sự bi thương trong đó thể hiện được đặc sắc của văn chương Hearn. Điều đó cho thấy những mẩu chuyện kinh dị tập hợp lại trong Kwaidan không phải với mục đích làm cho người ta sợ hăi mà chỉ để nói lên cái lo âu, sự cô độc, nỗi buồn và t́nh yêu..., những t́nh cảm căn bản tiềm tàng trong cuộc sống con người. Tuy độc giả nhận ra ở đây tính tàn nhẫn đáng sợ trong hành động của ma quỷ yêu tinh nhưng đồng thời cũng cảm thấy trong lối hành xử của những yêu tinh như Nàng Tuyết có cái ǵ hiện thực và bức bách làm cho ḿnh phải xúc động mạnh mẽ. 

Thế giới vạn vật hữu linh trong “Con tinh cây liễu” 

Cũng vậy, trong khi đề cập đến t́nh yêu, tư tưởng “vạn vật hữu linh” (animism) trong “Con tinh cây liễu” (The story of Aoyagi, Aoyagi Monogatari) đă là phương tiện để thể hiện được chủ đề đó một cách trọn vẹn hơn cả.Trong câu chuyện này, Hearn đă mô tả cuộc đời của con tinh cây liễu. Tinh linh ấy đă hóa thân thành một người đẹp, quen biết rồi lấy một chàng trai ở cơi nhân gian làm chồng, có con rồi sau đó là tử biệt. Đồng thời, qua đó, tác giả đă kết án một xă hội chỉ biết nghĩ đến lợi lộc. Họ đă đốn đi không chút tiếc thương một cây liễu lâu năm. Đó là một hành động phá hoại thiên nhiên vô ư thức. Qua tác phẩm này, với cái chết của vai chính là Aoyagi (Thanh Liễu), Hearn đă phê phán xă hội ích kỷ đó.

Xuất xứ của truyện Con tinh cây liễu là chương nhan đề Ryuujô reiyô (Liễu t́nh linh yêu) trong quyển 3 của Tama.sudare (Rèm ngọc, 1704), một tập truyện ma quái có kèm theo tranh vẽ của Tsujidô Hifuushi đời Edo. Khi nhân cách hóa cây liễu để biến nó thành một người đàn bà, Hearn đă theo lối tưởng tượng kiểu Tây phương như ông đă làm trong Nàng Tuyết.

Trong tác phẩm này, cũng như trong phần cuối truyện của Nàng Tuyết, Hearn đă miêu tả với tất cả ḷng xót thương những lời trối trăng của Aoyagi khi cây liễu tạo nên h́nh nàng đang bị người ta nhẫn tâm chặt đi. 

Xin chàng hăy tha thứ cho em đă gào khóc loạn lên như thế này. Cũng chỉ v́ đột nhiên, em cảm thấy đau như xé!

Chàng ơi, chuyện vợ chồng chúng ḿnh gặp gỡ nhau là duyên tiền định từ kiếp trước đấy.Thôi th́ cái duyên này, em xin hẹn chàng ở một kiếp lai sinh. C̣n như trong cuộc đời này th́ xin cắt đứt từ đây.Giờ vĩnh biệt đă đến rồi chàng ạ!...

Em xin chàng hăy niệm Phật cho em. Em biết ḿnh sắp chết.

Tomotada kinh hoảng:

-Đừng nói bậy nào. Có lẽ em không được khoẻ trong người. Nằm xuống nghỉ một chút th́ sẽ đỡ ra thôi mà.

Aoyagi trả lời:

-Không đâu chàng ạ! Em chết mất. Em không nói như thế v́ hốt hoảng đâu. Em hoàn toàn ư thức lời ḿnh nói. Có t́m cách dấu diếm cũng không được việc ǵ. Thực ra em không phải loài người nhưng là tinh linh cây cỏ. Hồn em là hồn cây cỏ. Tinh linh cây liễu là bản mệnh của em. 

Ngay lúc này đây đang có kẻ tàn nhẫn chực đốn thân cây nơi em ngụ. Cho nên em phải chết. Em không c̣n có sức để mà than khóc nữa rồi.

Chàng hay mau mắn niệm Phật cho em.Mau đi, mau! Ôi chao!

-Sau khi Aoyagi bật ra tiếng than ra chiều đau đớn khổ sở, nàng gục cái gáy xinh đẹp của ḿnh xuống một bên vai, muốn lấy ống tay áo che khuôn mặt.Tuy nhiên vừa dợm làm như thế th́ thân thể nàng chợt xiêu xiêu dần, mất thăng bằng rồi ngă xuống sàn như một thân cây đổ và từ từ khuất dưới mặt sàn.

Tomotada bật dậy định vực người vợ lên nhưng tay anh như chụp vào khoảng không. Cái trơ lại trên mặt chiếu chỉ là bộ kimono xinh đẹp của Aoyagi và một số đồ trang sức mà nàng vẫn cài trên mái tóc kiều diễm. C̣n như thân thể của nàng th́ không biết đă biến đi đâu. 

Nàng Tuyết biến thành làn sương trắng lung linh bay lên rường nhà rồi bay mất như khói nhẹ tan trong không gian. Nàng Liễu th́ biến mất dưới mặt sàn và không lưu lại h́nh ảnh, c̣n chăng là áo xống, trâm thoa. Dù là Nàng Tuyết Yuki.onna) hay Nàng Liễu (Aoyagi), đối với Hearn họ nào có khác bà mẹ ruột yêu dấu gần gũi bên ḿnh ông một ngày bỗng bỏ đi biệt tăm.Trải nghiệm thương đau của thời niên thiếu đó bao lần sẽ là nốt chủ âm (keynote) của văn chương ông, văn chương của sự đánh mất đối tượng.

Giáo sư Ikeda Masayuki cho biết mỗi lần đọc truyện Con tinh cây liễu, ông không thể nào không liên tưởng tới những cây tuyết tùng (sugi) trong khuôn viên Kobudera bị người ta đốn ngă. Kobudera là tên cúng cơm của ngôi chùa Jishôin Enyuuji (Tự chứng viện Viên dung tự) ở xóm Tomihisa khu Ichigaya (Tôkyô) không xa nơi trú ngụ của Hearn là mấy. Vào những buổi chiều Hearn thường tản bộ dưới những tàng cây tuyết tùng cổ kính đó. Có thể nói là lúc ông không có nhà hay đi dạy, chỉ cần ra chùa Kobudera là thấy ngay. Kobudera đă nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ của Hearn. Nó như một chốn ẩn dật đă đem đến cho ông sự thư giăn cần thiết giữa Tokyo đô hội.

Thế nhưng về sau người ta đă chặt hàng cổ thụ xanh tốt đó, hết cây này đến cây khác.Theo lời kể th́ ḥa thượng trẻ mới đến trụ tŕ thay cho vị lăo ḥa thượng bạn ông, v́ thiếu ngân sách nên đă cho phép chặt cây. Hearn mất chỗ để tản bộ và trầm mặc và trong ḷng, ông không bao giờ tha thứ sự phá hoại thiên nhiên ấy. Có lần Hearn đă lên tiếng xin mua cuộc đất nói trên để tránh cho cây khỏi bị chặt nhưng người ta không thèm đáp lời ông.

Sự kiện đốn cây đă xảy ra vào năm 1901 c̣n Hearn viết truyện Con tinh cây liễu vào năm 1903 trước khi đặt nó vào tập Kwaidan (1904) nên người ta thấy có nhiều xác xuất là việc chặt cây và viết truyện đi đôi với nhau.

Có lẽ qua việc viết Con tinh cây liễu, Hearn đă muốn trở về với chủ thuyết vạn tượng hữu linh (animism), dùng nó như một vũ khí để phê phán xă hội cận đại. Nỗi buồn và sự uất ức trước cảnh cây xanh bị chặt có thể là yếu tố cấu tạo của truyện Con tinh cây liễu này. Hearn đă muốn thác ngụ vào câu truyện ấy một “thông điệp bảo vệ môi trường” đến bọn hậu sinh như chúng ta chăng? 

Matsue và Izumo: từ trường của trí tưởng tượng 

Tuy việc viết Kwaidan là một hành động giúp Hearn nh́n lại nội tâm và chữa lành vết thương thời niên thiếu của riêng ông nhưng Kwaidan cũng đă giúp cho độc giả đạt được những t́nh cảm tương tự. Thực vậy, sống ở trên đời, ai ai cũng đều có những nỗi khổ tâm, những mối hận ḷng. Chúng ta thấy rằng qua những câu truyện kinh dị, Kwaidan tiềm ẩn một sức mạnh bí mật chia sẻ được cho độc giả của nó. Độc giả của Kwaidan có thể chữa lành vết thương trong tâm hồn ḿnh, phục hồi sức lực và lên đường chiến đấu trở lại.

Thế nhưng, làm sao Hearn đă có thể viết được một tác phẩm hay như Kwaidan? Lư do trước tiên là con người của Hearn - từ nhiều năm mang theo một t́nh cảm mất mát lúc sống ở Âu châu và ở Mỹ - đă t́m được trên đất Nhật người bạn đường tốt đem đến hạnh phúc cho ông. Sau khi rời Matsue, Hearn sống ở Kumamoto, Kobe rồi cuối cùng trở thành giảng sư Đại học Đế quốc Tôkyô (Todai ngày nay), định cư ở vùng thủ đô cho đến cuối đời. Tuy cuộc sống không b́nh lặng như ta tưởng nhưng bên bà Setsuko và 4 người con, Hearn đă có những năm tháng hạnh phúc. Niềm vui gia đ́nh đă làm ông quên được một tuổi thơ đầy băo tố và tuổi thanh niên trải qua nhiều lừa đảo làm ông mất ḷng tin ở con người. Vai tṛ của phu nhân Setsuko ở đây có tính quyết định. 

             

http://nichirei-ohaka.jp/wp-content/uploads/2015/11/koizumi-yakumo003.jpg

 Mộ của Hearn: chết như một người Nhật 

V́ thế, Kwaidan tuy là một tập truyện kinh dị, đầy dẫy yêu ma nhưng thế giới miêu tả trong đó lại hết sức trong sáng. Cách hành văn tiếng Anh của Kwaidan giản lược và ít tu sức hơn so với Glimpses of Unfamiliar Japan. Hearn dần dần được giải phóng khỏi lối viết kỹ xảo, tô chuốt ngày trước, trung thành hơn với nội dung các mẩu chuyện được bà Setsuko kể lại bằng ngôn ngữ đời thường. 

Thêm một lư do để cho một tác phẩm danh tiếng như Kwaidan có thể thành h́nh là sự tồn tại của linh vực Matsue và Izumo. Đây là một không gian thần thánh mà tín ngưỡng có mặt khắp nơi trong cuộc sống mỗi người. Hearn lại là một “linh môi”có thể giao tiếp với thế giới bên kia nên thành phố Matsue và vùng Izumo chung quanh là mảnh đất lư tưởng đối với ông. Đây cũng là nơi ông tiếp xúc được với cái đẹp Nhật Bản và tính chân thực của con người Nhật Bản. Kwaidan đă đưa tên tuổi của Hearn vào lịch sử văn học nhưng cũng là tác phẩm tôn vinh di sản văn hóa tinh thần của Izumo.

Tuy Hearn chỉ sống ở Matsue có 1 năm 3 tháng nhưng từ ngày đó về sau, Matsue và Izumo đối với ông vẫn là một thế giới lư tưởng tuy không bao giờ ông trở lại sống nơi đó nữa. Có phải chăng chính v́ vậy mà mảnh đất ấy mới trở thành suối nguồn của trí tưởng tượng cho việc sáng tác. Nếu tiếp tục sống ở Matsue, chưa chắc Kwaidan có thể ra đời! Chính sự xa cách đẻ ra trí tưởng tượng. Rời khỏi Matsue và Izumo rồi, lần đầu tiên hai nơi đó mới trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho Hearn. Cách nói này có vẻ nghịch lư nhưng trong trường hợp của Hearn th́ không hẳn thiếu khả năng. Khoảng cách địa lư vừa nẩy sinh ra một khoảng cách tinh thần (detachment) đồng thời với một t́nh cảm qui thuộc (belonging) và người sáng tác thường t́m ra từ nơi ḿnh vừa bỏ ra đi, một từ trường cảm hứng (inspiration) lớn hơn bao giờ hết.   

Tấm ḷng rộng mở và nhân cách đa căn cước 

Chúng ta vừa bàn về ư nghĩa của khoảng cách trong quá tŕnh sáng tác của Hearn. Cuối cùng, thử xem chúng ta có thể học hỏi được điều ǵ khác hơn nữa qua nhân cách ông.

Giáo sư Ikeda Masayuki đặc biệt nhấn mạnh “tấm ḷng rộng mở” (open mind) và “nhân cách đa căn cước” (multi-identity) t́m thấy nơi ông. Tấm ḷng rộng mở là thái độ không kép kín, biết chấp nhận người khác. Vào thời của Hearn, liệt cường Âu châu đang phô trương sức mạnh, những ai có “tấm ḷng rộng mở” là người biết nh́n văn hoá của một nhóm thiểu số không chút thiên kiến như ông vậy. Trước tiên, người ấy biết để giác quan ḿnh được thoải mái trong khi tiếp xúc với tha nhân, hai là có một ánh mắt nhân hậu hướng về đối tượng. Hearn chẳng hạn, dù là đứng trước những ǵ nhỏ bé như một nền văn hoá thiểu số, trước đám trẻ con hay ngay cả động thực vật, không hề phân biệt và luôn luôn ân cần. Ba là biết   đồng cảm và hoà mục với người khác. Khi gặp gỡ một nền văn hoá xa lạ đối với ông như văn hoá Nhật Bản, qua sự giao cảm với cơi u huyền (ghostly), Hearn đă biết để ḷng ḿnh cùng rung động với họ  để đi đến một sự đồng cảm và ḥa hợp.

Đứng ở vị thế đó, h́nh như Hearn đă gửi đến chúng ta một số thông điệp. Ví dụ trước câu hỏi “Làm cách nào để tiếp cận một nền văn hoá khác?” th́ ông khuyên chúng ta hăy để ngỏ cửa ḷng và xem việc sống chung với nhau (cộng sinh, co-existence) như một điều thiết yếu. Phải sống vượt lên mọi rào cản quốc gia, dân tộc. Không những sống chung giữa con người nhưng sống chung cả với mọi loài động cũng như thực vật. Văn chương của Hearn đă sửa soạn sẵn cho chúng ta một cách nh́n về khả năng sống chung đó.   

Ngoài ra, phải nói Hearn là người có một nhân cách đa dạng và đa tầng. Ông là một người “đa căn cước” (multi-identity). Ông từng cho rằng “lên đường du lịch là tạo ra cơ hội khám phá chính ḿnh”. Trên thực tế, ông đă đặt chân lên nhiều vùng đất và nơi đâu cũng biết ḥa ḿnh vào trong xă hội ở đó. Ngày c̣n trẻ, ông đă được đặt cho danh hiệu “Cameleon Lafcadio” ư nói ông giống như một con kỳ đà hay đột ngột thay đổi màu sắc. Tuy nhiên thay đổi như ông chỉ là sống theo một bản năng tự vệ, nó giúp ông tránh mọi va chạm để chung đụng được với bất cứ ai.

Căn cước của Hearn không có tính nhất nguyên. Một gă con lai mang hai ḍng máu Ai-Len và Hy Lạp như ông, có mù mờ về căn cước th́ cũng là một chi tiết chẳng đáng bàn tới. Tuy nhiên nhờ đó ông lại có khả năng biến hoá để ḥa hợp trong bất luận xă hội nào, dù là Ai-Len, Hy Lạp, Anh, Mỹ hay Nhật Bản. Nói cách khác, Hearn không thể tự hạn chế ḿnh trong một căn cước duy nhất.

Như vậy, đối với căn cước lưu động, đa nguyên của Hearn th́ căn cước của chúng ta thường là cố định, nhất nguyên. Điều đó thúc bách chúng ta phải thẩm tra lại về ḿnh. V́ sao?

Thế kỷ 20 là thế kỷ của thế giới lưỡng cực, của chiến tranh lạnh. Bức tường Đông Tây nay đă sụp đổ, chúng ta đang sống trong thời kỳ đầu của thế kỷ 21 với một thế giới đa cực hoá. Sự đối lập càng phức tạp, phân tranh xảy ra ở mọi nơi. Chúng ta phải có một “tấm ḷng” như thế nào? Phải chăng câu trả lời đă nằm sẵn trong cách sống “đa căn cước” của Hearn?  

http://www.naniwa-i.com/dandan_blog/img/koizumi1.JPG

 Hearn, con người phiêu bạt đầy tính nhân văn 

Hearn giống như một kẻ phiêu lưu và một công dân thế giới (cosmopolitan) cho nên trong tâm hồn ông có vô số kênh (multi-channels) ăn thông giữa các nền văn hoá. Riêng người Nhật vào thời Meiji th́ họ muốn mau mở mang để có thể chạy đua với liệt cường, chóng thành quốc gia hàng đầu, đă tự khép ḿnh trong một căn cước nhất nguyên. Người Nhật từ nay cần tạo ra nhiều kênh khác, phải tiếp xúc với Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á, Trung Đông ... th́ mới mở rộng tầm nh́n văn hoá của ḿnh.

Không phải ai cũng có điều kiện như Hearn là thừa hưởng hai ḍng máu trong người rồi c̣n có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá. Thế nhưng trong một thời đại quốc tế hoá, ai cũng có thể nuôi dưỡng nơi ḿnh sự hiểu biết và ư thức về một khả năng đa căn cước. Đọc Hearn cũng như t́m hiểu về cuộc đời Hearn chính là tạo ra cơ hội để thông cảm với những người đa căn cước và mang về cho ḿnh một thế giới quan khai phóng hơn.

 

Biên dịch xong tại Tôkyô ngày 29 tháng 6 năm 2016 

Nguyễn Nam Trân

 

Thư Mục Tham Khảo:

 

1)     Ikeda Masayuki, 7/2015, Nihon no omokage (Glimpses of Unfamiliar Japan của Koizumi Yakumo), NHK Telebi Tekisuto, NHK, Tokyo, xuất bản.

2)     Lafcadio Hearn, 1894, Glimpses of Unfamiliar Japan, Tuttle Co, Tokyo, Rutland, Vermont, Singapore, xuất bản 2007.

3)     Ikeda Masayuki dịch Lafcadio Hearn, 2000, Nihon no Omokage (Glimpses of Unfamiliar Japan) hai tập I và II, Kadokawa Bunko, Kadokawa xuất bản.Tái bản lần thứ 18 năm 2015.  

4)     Nguyễn Nam Trân chủ biên, Nàng Tuyết, 2016, Tuyển tập 10 nhà văn và 2 nhà thơ Nhật Bản cận đại, Nxb Tổng Hợp, TPHCM (phần nói về Lafcadio Hearn của NNT và QC).


 

[1] Ám chỉ các cô hầu gái làm việc trong phủ đệ các nhà quí tộc hay quan lại.Khác với các tiểu thư con quan kín cổng cao tường, họ thường ra bên ngoài để chạy việc.

[2] Xin xem bản dịch của Nguyễn Nam Trân trong Vườn Cúc Mùa Thu, Nxb Trẻ, năm 2007.

[3] Xin xem bản dịch của Quỳnh Chi trong Nàng Tuyết, Nxb Tổng Hợp TPHCM, năm 2016.

[4] Hattori Ichizô (1851-1929), sĩ tộc phiên Chôshuu (tỉnh Yamaguchi), từng du học ở Mỹ. Sau làm ở Bộ Giáo Dục Nhật rồi Khoa trưởng Luật khoa Đại Học Tôkyô, nghị sĩ Quư Tộc Viện.

[5] Basil Hall Chamberlain (1850-1935), nhà ngôn ngữ học ngưới Anh. Đến Nhật năm 1873, dạy ở Khoa Văn Đại học Đông Kinh. Đă đem khoa Ngữ học vào đất Nhật. Năm 1890, có viết “Things Japanese” (Những điều nghe thấy về Nhật Bản). Ở lại nước này đến năm 1911.  

[6] Sinh năm 1946, giáo sư Đại học Waseda và Giám đốc cơ sở nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá quốc tế của đại học này. Lafcadio Hearn là một chủ đề nghiên cứu sâu của ông.

[7] Hearn cũng cho biết một quan chức ở Izumo đă giải thích với ông rằng tục vỗ tay (kashiwade) để chào như thế cũng có nơi Thần đạo và đă chép trong Kojiki.

[8] Ernest Satow ( 1843-1929), nhà ngoại giao người Anh, có tên Nhật là Satô Ainosuke. Đă hai lần đến Nhật giữ chức vụ Công Sứ ở Ṭa Lănh Sự Anh.Nghiên cứu về Nhật Bản và Đông Phương. Để lại nhiều trước tác, trong đó có “Cuộc Duy Tân thời Meiji dưới mắt một nhà ngoại giao”.

[9] Tiếng chào Ohisama (Ngài Mặt Trời) được Hearn ghi lại là Kon.nichi-sama! (Cảm ơn Ngài đă cho chúng tôi ánh mặt trời để có thế giới đẹp đẽ như thế này). Từ đây ta không thể không liên tưởng tới tiếng chào buổi sáng và trong ngày của người Nhật ngày nay là Kon.nichi wa v́ hi và nichi đều là cách đọc của cùng một chữ Hán.

[10] Chu Mạnh Trinh từng viết: Chim cúng trái, cá nghe kinh!

[11] Không cần đợi đến xen (scene) tap dance của đạo diễn Kitano Takeshi trong một cuốn phim gần đây.

[12] Starch syrup. Nơi khác dịch là Caramel Candy. Có thể là có hai loại (theo British Britannica)

[13] Izumo Taisha c̣n được gọi là Kitzuki Taisha v́ nằm ở phiá đông Kitzuki tỉnh Shimane. Nơi đây thờ Ôkuninushi no Mikoto và là đền thần đạo tối cổ của Nhật. Kiến trúc hiện có chỉ được xây nên từ năm 1744 mà thôi.

[14] Theo truyền thuyết, một lôi thần trên Cánh Đồng Trời (Takamanohara, nơi cư trú của Amaterasu, nữ thần Thái Dương, tổ tiên các thiên hoàng hiện tại, ước định là ở miền Nam đảo Kyuushuu)) đă được cử đến đây để gây sức ép, buộc Ôkuninushi no Mikoto, chủ nhân của Cánh Đồng Lau (Ashihara ni Nakatsukuni, địa phương Izumo, phía Tây đảo Honshuu), phải nhường đất nước của ḿnh để đổi lấy sự an toàn và dinh thự đẹp đẽ.

[15] Tác phẩm chủ yếu của nhà văn Shiba Ryôtarô (1923-1996) phản ánh cách nh́n lịch sử nhu nhuyển của ông thông qua những công phu thu thập sử liệu và những chuyến đi quan sát.

[16] Thoạt đầu là một lời khấn trước đền thần, sau phát triển ra thành một loại h́nh văn học như tụng thần ca.

[17] Triết gia và nhà xă hội học người Anh Herbert Spencer (1820-1903), chịu ảnh hưởng Darwin và bàn nhiều về xă hội tiến hoá luận. Ảnh hưởng lớn lên tư tưởng thời Meiji.

[18] Perceval Lowell (1855-1916), nhà nghiên cứu người Mỹ, đă đến Nhật 5 lần, viết Tâm hồn của Cực Đông (1888) với tiền đề là sự phát triển của cá tính vốn song hành với sự phát triển trong đời sống tinh thần của một dân tộc. Đó là lối suy nghĩ rất phổ biến ở Tây phương vào thời cận đại. Tương truyền Hearn đă đọc bài báo của Lowell trên Atlantic Monhthly và nhờ đó bắt đầu quan tâm đến nước Nhật.

[19] Đă được dịch sang tiếng Việt bởi Đinh văn Phước trong Vườn Cúc Mùa Thu và Quỳnh Chi trong Nàng Tuyết.

[20] Về hai tác phẩm này, chúng tôi chưa t́m ra nhan đề gốc bằng tiếng Anh. Riêng tập thứ hai có thể là Some Chinese Ghosts?

[21] Kwaidan là tựa tiếng Anh, viết theo chữ Hán là Quái đàm (Truyện kinh dị). Người Nhật hiện đại đọc là Kaidan v́ âm cổ Kwa như Qu của Việt Nam ngày nay họ không c̣n phát âm được nữa.

[22] Anh em ông Grimm trong khoảng 1812-57 đă tái tạo truyện cổ và truyền kư của Đức trong đó nổi tiếng nhất là Cô bé quàng khăn đỏ, Bạch Tuyết và 7 chú lùn, Cô bé Lọ Lem... 

[23] Nhà văn và nhà thơ Đan Mạch Hans Christian Andersen (1805-75) đă để lại khoảng 150 truyện nhi đồng trong đó có Nàng tiên cá, Con vịt xấu xí và Công chúa bé như ngón tay cái.

[24] Nhà văn Akutagawa Ryuunosuke đă đăng nhiều truyện nhi đồng trên Tạp chí Akai Tori (Con chim đỏ) như Đỗ Tử Xuân phỏng theo truyền kỳ đời Đường. Ông cũng đă viết lại Rashômon (1915) từ Konjaku Monogatari của thời Heian. Rashômon đă được Quỳnh Chi dịch và in trong Trinh Tiết, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2006.

[25] Nakajima Atsushi (1909-42) là tác giả Gào trăng trong núi (Sơn nguyệt kư) phỏng theo truyền kỳ đời Đường. Xem bản dịch của Nguyễn Nam Trân trong Vườn cúc mùa thu, nhà xuất bản Trẻ, TP HCM, 2007..

[26] Theo lời tựa đề cho Kwaidan năm 1904, Hearn cho biết ông đă dựa váo tư liệu từ các tác phẩm Nhật Bản cổ điển như Yaso kidan, Bukkyô hyakuwa zensho, Kokon Chumonjuu, Tama Sudare, Hyakumon-gatari). Tuy nhiên The dream of Akinosuke viết theo truyền kỳ Trung Quốc (Giấc mộng Nam Kha). Ngoài ra, The Snow Womman (Yuki Onna) là truyện được một người nông dân ở làng Nishitama, thuộc Chôfu (Chiba) kể lại và Riki Baka đến từ kinh nghiệm cá nhân ông. 

[27] Mái tóc đen (Kurokami) có nội dung tương tự truyện Ngôi nhà trong lùm sậy (Asaji ga yado) của Ueda Akinari ( xem Ugetsu Monogatari, 1768).

[28] Hai truyện Đấu trí và Trong chén trà đều đă được Quỳnh Chi dịch và đăng trong Nàng Tuyết, nhà xuất bản Tổng Hợp TP HCM, 2016. Trong chén trà không thuộc nội dung Kwaidan ra đời năm 1904, nó đă được đăng trong Kottô: Curious, with Sundry Cobwebs (1902).

[29] Thực ra ở Việt Nam trường hợp này cũng rất phổ biến như khi ta nói ông Thiên Lôi, bà Hỏa ...

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com