Thiền v Sn khấu N

(nhn bn về vở tuồng Yamamba)

Nguyn tc: Suzuki Daisetsu

Dịch ch: Nguyễn Nam Trn

 

Văn ha Yamamba của giới trẻ đường phố 

Dẫn nhập:  

Bi viết l một bộ phận độc lập của Chương cuối nhan đề Thiền v minh họa Thiền trong tc phẩm Zen and Japanese Culture (Thiền v văn ha Nhật Bản), bản năm 1958, trước tc của Suzuki T. Daisetsu. Đề do dịch giả mạn php đặt tạm. 

                                    *** 

Khi nghin cứu tuồng N, thực sự l ta đ nghin cứu văn ha Nhật Bản ni chung bởi v N bao gồm cả l tưởng đạo đức, lng tin tn gio v cảm hứng nghệ thuật của người dn. Thưở xưa tuồng N chủ yếu được giai cấp samurai bảo trợ cho nn khng t thời nhiều n đ được xem l linh thing, đượm một mu huyền b trang nghim. Vở tuồng dưới đy tuy được chọn từ trong số hai trăm vở được biết đến nhiều nhất nhưng mang cho chng ta một sự th vị đặc biệt.

Yamamba (cn c thể đọc l Yama-uba (Sơn Mụ, 山姥, B Chằng) l một trong những vở tuồng chứa đựng tư duy su sắc của Phật gio, nhất l tư tưởng Thiền tng. Hnh như n đ viết bởi một tu sĩ Phật gio với định truyền b gio l nh Thiền. Tuồng ny thường bị hiểu lầm nn phần nhiều những người yu N khng nắm được chnh trong đ. Yamamba, nếu dịch từng chữ một th c nghĩa l b lo sống trong ni. Người đn b ny tượng trưng cho nguyn l của tnh yu, n thường chuyển động một cch thầm kn trong lng mỗi chng ta. Thường thường, chng ta khng hiểu về tnh yu v đem sử dụng một cch sai lầm. Hầu hết chng ta đều xem n như một vật đẹp đẽ để nhn ngắm, một ci g trẻ trung, tế nhị v hấp dẫn. Thế nhưng trn thực tế th n khng phải vậy. Khng ai nhận ra sự c mặt của tnh yu nhưng n l ci vẫn lm việc v nhiều khi mạnh bạo. Chng ta chỉ nhn thấy tnh yu một cch hời hợt qua kết quả của những động thi hiện ra bn ngoi rồi nghĩ rằng n đẹp nhưng sự bộc lộ tnh yu no m lại khng đẹp? Tuy nhin, bản chất của tnh yu giống như một b lo nh nng khổ cực, thn hnh xc xơ tiều tụy. B phải lo lắng nhiều về khun mặt nhăn nheo v mi tc bạc của mnh. B c nhiều vấn đề khc mắc cần phải giải quyết. Cuộc đời của b l một chuỗi khổ đau nhưng d chịu đựng, b vẫn gượng vui. B đi cng trời cuối đất, khng hề nghỉ ngơi, khng dừng chn ở đu một khoảnh khắc. Tnh yu trong giai đoạn ny, nếu đem so snh với những cng việc lao khổ b đ cng đng khng hề mỏi mệt ấy, đ được tượng trưng một cch thch hợp bằng hnh ảnh Yamamba, b lo sống trong ni. 

Cu chuyện về Yamamba đ được truyền tụng trong dn chng Nhật Bản từ lu lắm rồi. Thực ra b khng phải l một người xấu dị dạng v thường được m tả như một b gi v b c một tấm lng nhn i, đến mỗi lng no, khi ra đi đều được chc phước. B coi như đ đi hết vng ny đến vng nọ l để lo lắng cho đm nng dn v sơn nhn. Soạn giả vở tuồng Yamamba đ đem cch nhn ny vo trong tc phẩm, xem b như một nguồn năng lực (tc nhn) v danh v v hnh tng ẩn đằng sau con người v thin nhin. Chng ta thường ni đến một nguồn năng lực như thế trong cc tc phẩm triết l, thần học hay văn chương nhưng chng ta chỉ ni để m ni v c thi độ ngại ngng khi đối diện với hnh động thực tiễn. Chng ta giống như một nh họa sĩ muốn vẽ rồng nhưng lại lăn ra bất tỉnh v kinh hi cng cực khi thấy con rồng thật hiện ra để gip mnh vẽ cho được con vật huyền b đ một cch trung thnh v hiện thực hơn. Chng ta diễn tuồng Yamamba nhưng đến khi b ta lộ nguyn hnh cho chng ta thấy được cuộc sống nội tm của b th chng ta thất sắc v khng biết phải lm g. V vậy, nếu chng ta muốn đo su vo ci v thức của chng ta đng như lời Thiền đ dạy, chng ta khng được trnh n m phải nắm lấy thực tại bằng chnh đi tay của mnh.

Với những nhận xt sơ khởi như trn, vở tuồng Yamamba, m cho đến nay, chủ tm của người viết đ bị cc nh văn ngoại quốc cũng như Nhật Bản đnh gi một cch cực kỳ sai lệch, sẽ được hiểu một cch dễ dng hơn. Văn chương tuồng N thường kh dịch, c lẽ l khng thể dịch nữa l khc nn ti khng c tham vọng lm chuyện bất khả đ. Dưới đy chỉ l những nt rất đại cương về vở tuồng, sau khi lược bỏ những từ hoa c tnh văn chương vốn đ trang tr cho n một cch lộng lẫy.

Ở chốn kinh đ, c một con ma tn l Hyakuma Yamamba (Bch Vạn Sơn Mụ) (1) bởi v nng ma ht khc Yamamba hết sức hay, đến nỗi được thin hạ trao tặng danh hiệu đ. Nng từng nui định đến viếng cha Zenkji (Thiện Quang Tự) trong xứ Shinano nn mới dắt theo kẻ ty tng lm một chuyến hnh trnh di v gian khổ trong vng ni non thuộc miền Bắc nước Nhật. Vở tuồng kể lại chuyến đi với một văn thể bay bướm như truyền thống của văn chương đương thời. Cuối cng, hai thy tr c gi đ đến được con sng ranh giới chia đi hai xứ Etchuu v Echigo.

Ty tng: Nay chng đ đến ranh giới của hai xứ Etchuu v Echigo. Hy dừng chn nghỉ ngơi v hỏi thăm về con đường trước mặt, nghe c.

Ca nữ: Ta vẫn thường nghe ni l Ty Phương Tịnh Độ nằm ở pha bn kia hng trăm ngn Phật quốc, nhưng nay chng ta đang ở trn cn đường đi thẳng tới cha thờ Đức A Di Đ tức l người cuối cng sẽ đến rước chng ta khi chng ta lm chung. Vậy th hy bỏ xe cộ lại đy v rng đi bộ, vượt qua ngọn đo Agero để c thm cng quả v chng ta đang lm một cuộc hnh trnh khổ hạnh.

Ty tng: Lạ chưa ny! Đ chiều đu m sao trời tối mất rồi. Chng ta phải lm sao đy c? 

Lc cả hai đang lo lắng th c một người đn b hiện ra v ni với họ: Hỡi lữ khch, cho ta mời cc người đến trọ bởi v đy l ngọn đo Agero heo ht, rất xa nơi c nh dn. Hơn nữa chiều sẽ xuống nhanh. Hy qua đm trong tp lều dột nt của ta.

Đon người mừng rỡ chấp nhận lời mời. Khi họ đ yn nơi yn chỗ, người đn b kia mới đề nghị thm một chuyện khc l xin ca nữ ht cho b nghe điệu Yamamba. Đy l điều m thiết tha mong mỏi từ lu v chnh v mục đch đ m b đ lm cho trời tối thật nhanh để nơi ẩn cư của b c thể cầm chn viễn khch. Đon người rất đỗi ngạc nhin, khng hiểu v sao gia chủ lại c thể biết một cch chnh xc danh tnh của họ như vậy.

Người đn b: Lữ khch ơi, cc vị khng cần g phải dấu diếm tn họ. Người đang ngồi trước mặt ta đy khng ai khc hơn l Hyakuma Yamamba danh tiếng dậy nức kinh đ. Tiếng ht bi Yamamba của nng đ vượt qua bao nhiu l ngọn ni. Xin cho php ta được nghe điệu nhạc tuyệt vời ấy. Tuy ht bi Yamamba nhưng chắc nng khng biết số phận của người ấy by giờ ra sao. Chắc nng nghĩ đ l một con c quỷ đang ngụ ở đu đ. Thực ra Yamamba chỉ c nghĩa l một b gi sống trong ni v khng ai khc hơn l chnh lo đy. Nếu nng nhiều phen ht về người đn b đ v c lng ưu i với một con người như vậy, tại sao khng thử một lần tụng kinh niệm Phật gip b ta gic ngộ v siu sinh? Xin nng hy cng dường tiếng ca điệu ma của mnh cho Đức Phật l đấng ban vạn phc lnh. Sở dĩ ta muốn gặp nng l v cớ đ.

Ca nữ: i, qu tuyệt vời. B chnh l Yamamba đấy ?

Người đn b: Mục đch duy nhất của ta khi hiện hnh ra đy sau khi vượt qua bao nhiu ni non l được nghe bằng chnh tai mnh về những đức tnh hay ci đẹp lin quan tới ta. Hy cho ta nghe đi, hỡi người bạn nghệ sĩ yu qu, khc ht về Yamamba.

Lc đ, người ca nữ bn đồng lm vui lng gia chủ v khi nng bắt đầu cất tiếng ca v ma ln th người dn b cho biết mnh sẽ hiện nguyn hnh v cng ht theo nng suốt đm. Sau đ th b biến mất. 

( SD: Cho php thuật giả được ghi ch ở đy l chng ta, đặc biệt l triết gia hay giới tr thức, thường by tr với quan niệm chứ khng phải với thực tại. Đến khi thực tại xuất đầu lộ diện, chng ta mới sợ hi v qunh qung đem chng lồng vo những khun mẩu c sẵn của khi niệm. Điều ny chỉ đng đến một chừng mực no thi bởi v, l những kẻ ngoan cố bm theo cch suy luận bằng khi niệm, nn hiện tại c rn la ku khc g chng ta cũng để mặc. Tuy nhin phải nhận thấy rằng c một ci g đ (something) khng chịu khp mnh vo một phạm tr no cả, d l l tưởng chủ nghĩa hay hiện thực chủ nghĩa. Ci g đ lại l điều m chng ta phải đối đầu để c thể tm đến nền tảng cơ bản nhất của cuộc đời chng ta). 

Giữa hai mn kịch (Nakairi) 

Giữa khi ca nữ v người ty tng của c bắt đầu chuẩn bị để trnh diễn thể theo lời yu cầu tha thiết của Yamamba (Sơn Mụ, B Chằng), họ được nghe lời độc thoại của b đại như sau:

Lũng su biết l bao! Vực thẳm như khng đy! Nơi đy ta nhn thấy người người đang đau khổ v nghiệp chướng của họ trong qu khứ, nơi đy ta nhn thấy người người hn hoan hưởng thiện duyn lm ra từ tiền kiếp. Thiện với c d sao cũng chỉ l tương đối v chng đến từ cng một căn nguyn. C g đng để họ phải buồn khổ hay vui sướng? Hy nhn su vo trong vầng nh sng của tr tuệ bt nh (transcendental widsom) để c thể thấy rằng trước mặt chng ta, thế giới của mọi sự phn biệt đang by ra, khng g c thể dấu diếm. Ka những dng sng uốn khc trong thung lũng, ka những ghềnh đ đang chống chọi với sng gi trn biển lớn. Ai đ tạc ra những mỏm đ cao đen thẫm nguy nga kia? Ai đ đem nhuộm mu xanh ngọc bch cho ln nước dưới nh sng lấp lnh của mặt trời?

Thế rồi Yamamba đi từ khu rừng dy dưới bng ni đến hiện nguyn hnh trước mặt hai thy tr lm cho cả hai hoảng sợ. Tiếng của b ta l tiếng người trần nhưng tc tai th bạc trắng, hai cặp mắt chiếu rờ rỡ như hai ngi sao, khun mặt đỏ bầm, trng chẳng khc no vin ngi tạc mặt quỷ dng để lợp đền. Tuy nhin b bảo hai người chớ nn lo u v bề ngoi của mnh. Sở dĩ b phải hiện hnh ra để cho hai người biết những hoạt động b lm m khng ai biết, giống như những điều trong cuộc sống ta chỉ thấy hời hợt bề ngoi . B cũng muốn gip cho họ cảm nhận sức mạnh tinh thần của mnh khi được biểu tượng ha sẽ c kết quả như thế no. Thế rồi tiếp đến l phần trnh diễn một khc gio đầu của bi Yamamba do chnh b v người ca nữ đến từ kinh đ. Thực ra, khng ai c thể phn biệt đu l giọng của b đang ht về mnh v giọng của người ca nữ ht về b. Hai lời ca như quyện vo nhau lm một. Trước con mắt của thế nhn đang xem tấn tuồng đời (world drama) diễn ra mỗi ngy, những kẻ đng tr Yamamba như vẫn cn cho chng ta nghe tiếng ht như thế. 

Bi ht bắt đầu với đi lời gợi về cuộc gặp gỡ hiếm c ny giữa nng ca nữ v Yamamba, nghĩa l giữa tưởng tượng v thực tại, giữa tuồng kịch v tuồng đời:

Thi nhn c bao lời hay đẹp khi ni về một buổi tối ma xun hoa cỏ đưa hương v trăng trn vằng vặc. Họ bảo rằng một khoảnh khắc như vậy đng gi nghn vng (xun tiu nhất khắc trị thin kim). Thế nhưng cuộc tao ngộ giữa Hyakuma Yamamba v con người thật của Yamamba cn nhiều gi trị hơn thế nữa. Chng ta hy cng ht với nhau về dịp may hn hữu ny như thể ngn từ của chng ta đủ sức chứa đựng hết nghĩa của n.

Chng ta hy cất tiếng ht như chim vỗ cnh, chng ta hy đập trống  như thc đổ, chng ta hy nng tay o ma như những đa hoa hay hạt tuyết phấp phới trước ln gi nhẹ. Mỗi m thanh, mỗi động tc đều pht xuất từ Đạo php. Ngay cả chuyện Yamamba phải lang thang từ ni ny qua ni nọ với biết bao nhiu gian lao khổ nhọc vốn cũng đ bắt nguồn từ Đạo Php

Sau đ l đến đoạn miu tả ngi nh của Yamamba, tượng trưng bằng ni non v biển cả:

Nguyn lai ni non chỉ do ct bụi tụ lại m thnh, thế nhưng khi n chất mi ln đến độ cao hng nghn thước, đỉnh ni sẽ khuất trong my. Biển cả c g hơn l nơi tụ hội những hạt sương rơi trn ru nhưng nếu cứ xảy ra như thế suốt thin nin vạn kỷ, n sẽ biến thnh một vng nước rộng v bờ bến với những lớp sng cồn. Khi chng vỗ vo ghềnh đ, cả trung lũng đều nghe như sấm động; hang hốc chất chứa tiếng vang rồi vọng mi về chốn xa vời.

Chốn ny l chỗ nương nu của ta, nơi c những đỉnh cao bao vy v nhn xuống vực su thăm thẳm, trong khi đ xa xa l một dải nước mnh mng uốn khc về pha bn kia dy ni trng điệp. Khi nh trăng của Chn Như (Suchness, Tathat) mọc ln ở chn trời, ci bng của n sẽ chiếu ln trn lớp sng mun đời giờ đy đang lấp lnh nh bạc. Khi một ln gi nhẹ thoảng đến từ pha khu rừng đằng sau ngi nh ta ở, tiếng reo đủ mạnh để đnh thức những linh hồn cn say trong giấc mộng thường trụ của v minh (thường lạc). Giữa phong cảnh như thế, với nh trăng thanh chiếu trước mặt v tiếng gi th tho trn những hng cy sau nh, ta thấy mnh như đang ngồi một mnh ở giữa một php đnh thời xưa, tai khng nghe một tiếng tranh tụng, mắt khng thấy bng ai tra khảo tội nhn.

Khi ngồi một mnh ở một nơi xa thẳm khng vướng vu vo ci thế tục, ta thường lắng nghe xem c tiếng chim ku đu đ hay nht ba một tiều phu đơn độc v thức được sự tĩnh lặng tuyệt đối đang bao quanh mnh. Khi ta ngước mắt nhn ln đỉnh cao nhất của sự Gic ngộ, ta suy nghĩ về việc con người chng ta l những kẻ mi mi đi tm chn l tối thượng; khi ta ci xuống nhn vực thẳm kinh hong bn dưới, trong đầu ta hiện ra hnh ảnh ci hố su của sự Ngu muội (V minh, avidy) nơi mọi người đang chm đắm v nhận ra rằng ci Nghiệp (2) của ta khng biết bao giờ mới chấm dứt.

Người c thể hỏi thế th ta đến từ đu nhưng thực ra, ta khng đến từ nơi no cả. Ta cũng khng c chỗ định cư (thường trụ). Ta đi theo ln my tử ni ny sang ni nọ, in dấu chn mnh ở những nơi cuối đất cng trời. Ta khng thuộc về thế giới người trần nhưng sống với thn xc chuyển ha (transformation-bodies, nirmnakya) (3) của ta. Nay hiện ra đy với hnh ảnh của một mụ gi trong ni l thể theo nghiệp (will-karma) của mnh. Khi nhn theo quan điểm đồng nhất tuyệt đối (absolute identity) th thiện v c chỉ l hai hnh thi của tương đối. Sắc tức thị Khng, Khng tức thị Sắc (Ruupan eva Suunyat, Suunyat eva Ruupam).Gio l thing ling của Đức Phật đ ha lẫn vo mọi vật trn đời. Phải đi tm sự gic ngộ (Bodhi = Bồ đề) giữa lng dục vọng v đam m (Bonn = Phiền no). Ở đu c vạn vật l Phật tm đến, nơi vạn vật tồn tại Yamamba sẽ xuất hiện. Chm liễu tươi xanh v những đa hoa sắc mu rực rỡ đều đn xun về. Đ l cuộc đời hiện ra trước mắt v cũng l lẽ Đạo. 

Khi ta đang ở trong thế gian v sống với mọi người, nhiều khi ta gip đỡ dn lng khi họ ln ni kiếm củi. Nặng gnh trn vai, họ c thể ngồi dưới bng cy đơm hoa nghỉ ngơi đi pht cho qua cơn nhọc mệt v lc đ, ta chia sẻ nỗi khổ bằng cch bước theo họ dưới nh trăng tiễn họ đến tận nh, nơi họ sẽ c giấc ngủ bnh yn sau một ngy lao động. Đi khi ta cũng tỏ ra c ch đối với những người dệt vải d họ khng bao giờ hay biết chuyện đ. Khi họ đặt khung cửi bn cửa sổ v bắt đầu bận rộn đưa thoi th tiếng chim oanh bn ngoi sẽ ru rt ht ha theo nhịp guồng cửi v bn chn đạp. Cng việc của họ sẽ tự n tiến hnh một cch nhẹ nhng như được du dắt bởi một bn tay v hnh. Khi sương gi bắt đầu thay đổi mặt đất vo tiết trọng thu, những người nội trợ bn nghĩ đến việc dệt những tấm vải dy hơn cho một ma đng lạnh lẽo sắp ko đến nhanh. Từ mọi nh sẽ vang ra tiếng chy đập vải hay đập lụa dưới nh trăng mờ. Họ no hay l c bn tay của Yamamba đang nhịp theo từng động tc của họ.

Khi trở về kinh đ, xin nng hy ht hộ ta về vai tr của Yamamba trong những cng việc kể trn. D vậy, khi cn mong ước những điều ny, ta thấy mnh hy cn nhiều vọng chấp. Cho d nng c bảo sao ta cũng mặc v con đường của ta l thế đ. Ta sẽ rong ruổi khng ngừng từ ngọn ni ny sang ni nọ, cho d cng việc ấy c gian khổ đến đu.

Ngay cả việc chia sẻ với nhau bng rm một thn cy hay mc nước uống từ cng một dng sng đều ty thuộc vo ci Nghiệp (karma) của mnh trong tiền kiếp. Giữa hai ta th n cn nhiều hơn thế nữa. Khng phải tnh cờ m ngươi nổi tiếng v ht về ta. Mọi m thanh, cho d l tiếng ht về những chủ đề tầm thường v thiển cận, cuối cng đều đưa về việc tn dương cng đức của Đức Phật. Thi, cho nng, người ca nữ của kinh đ, v giờ chia tay của chng mnh đ điểm. Chc nng mạnh giỏi!

Ni xong, Yamamba chia tay Hyakuma v người ty tng của nng. Cũng vo lc ấy, bng dng b lo biến mất khỏi tầm mắt của họ, khng biết về đu. Tiếng ht bi Yamamba nhỏ lại rồi chm dần vo trong ni non.

Thi, xin cho, ta sẽ trở về với ni rừng nơi mỗi ma xun, cy cnh lại trĩu hoa. Ta sẽ rong ruổi hết ni ny qua ni nọ. Vo ma thu, ta sẽ lang thang dưới nh trăng tm một nơi no thật đắc địa để c thể thưởng thức n. Ta sẽ phiu lưu trn con đường ni tuyết đ trm ln trắng xa. Định mệnh của ta l di chuyển khng ngừng. Chnh v vọng chấp của ta đối với mun loi m cuối cng ta đ mượn hnh tướng của Yamamba trong một lc v trở thnh chủ đề cho nghệ thuật của nng: 

Hy nhn xem, b c mặt ở đy trong pht chốc,
Nhưng giờ đy, đ bay ngang qua ni v mất ht..
Chỉ cn tiếng ca ngn vang trong thung lũng.
B sẽ lang thang hết ni ny qua ni nọ,
Rồi vĩnh viễn đi vo miền v thủy v chung
(4). 

Ch thch: 

(1) Hyakuma được phim m bằng nhiều chữ Hn khc nhau như Bch Gian, Bc Ma hay Bch Vạn. Tuy nhin để thống nhất xin dng m Nhật Hyakuma 

(2) Nghiệp: nguyn văn tiếng Anh của Daisetsu l task tức cng việc, nhiệm vụ hay sứ mệnh. Chng ti dịch l Nghiệp theo Kitagawa Momo.o v hiểu rằng cng việc, nhiệm vụ hay sứ mệnh ấy đối với Yama-uba cũng l ci Nghiệp của b.  

(3) Theo Phật gio Đại thừa, Đức Phật được xem như c Tam thn (Trikya). Một l Dharmakya (Php thn) tức l Đức Phật như ngi l, trong trạng thi đồng nghĩa với Chn l, Đạo php (Dharma). Hai l Sambhogakya (Hỷ thn), nếu dịch thẳng th c nghĩa l thn thể thỏa nguyện. Khi Đức Phật cn ở trnh độ bồ tt, qua nhiều tiền kiếp, ngi đ lm được những cng việc đng ca ngợi nn đ đạt đến được một cuộc đời khc, tốt đẹp v thỏa nguyện hơn đời những kẻ cn ở trong vng sinh tử như chng ta. N ph hợp với lẽ lun hồi (karmic causation), theo đ việc lnh hay dữ sẽ ảnh hưởng đến ci Nghiệp của mnh. Ba l Nirmnakya (Chuyển thn). Nguyn l của Phật gio gồm trong Prajna (Tr tuệ bt nh) v Karuna (Lng từ bi). V lng từ bi (Karuna) của ngi đối với chng sinh, để cứu vớt họ, Đức Phật c thể chuyển ha nhiều cch, ngay cả mượn lốt sc vật hay c quỷ. Ở đy Yamamba c thể xem như l một vị Phật nấp đằng sau bề ngoi xấu x v hung c. 

(4) Ci Bất Khả Hữu (Thế giới bn kia, Muk).

Cập nhật ngy 3 thng 9 năm 2019 (NNT)

 

 


* Nguyễn Nam Trn :

Một trong những bt hiệu của Đo Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đ Lạt. Nguyn qun Hương Sơn, H Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) v Đại Học Sư Phạm Si Gn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đng Kinh (University of Tokyo) v Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thng. Gio sư đại học. Hiện sống ở Tokyo v Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

"Khi pht hnh lại bi viết của trang ny cần phải c sự đồng của tc giả (dhdungjp@yahoo.com)
v ghi r nguồn lấy từ www.erct.com