Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại

Trận quyết đấu trên gác Hôryuu trong Hakkenden (Bát Khuyển Truyện, 1814-42), 
tiểu thuyết kiếm hiệp trường thiên gồm 106 quyển của Kyokutei Bakin (Khúc Đ́nh, Mă Cầm).

Chương 14 :

Ba trăm năm tiểu thuyết Edo.

Khi văn học thị dân khai hoa kết trái.
Từ Saikaku qua Akinari, Ikku, Sanba đến Bakin

Nguyễn Nam Trân (*)

 

TIẾT I :TỔNG QUAN VĂN HỌC THỜI EDO:

A) Bối cảnh lịch sử:

Sau khi tiêu diệt các địch thủ ở trận đánh lịch sử trên cánh đồng Sekigahara (1600), Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang) thống nhất thiên hạ, trở thành Shôgun (Tướng Quân) và khai phủ ở Edo (Giang Hộ) tức thành phố Tôkyô bây giờ vào năm Keichô (Khánh Trường) thứ 8 (1603). Từ đó cho đến khi Tướng Quân thứ 15 Yoshinobu (Khánh Hỷ) trao trả [1]chính quyền nhà chúa lại cho Thiên Hoàng (1867), tính ra có đến 265 năm nghĩa là ngót 3 thế kỷ. Thời nầy thường được các nhà viết sử gọi là cận đại hay thời Edo. Đặc điểm của thể chế chính trị thời nầy là chế độ bakuhan (mạc phiên) tức là việc phân nước Nhật ra làm thành nhiều lănh địa độc lập nhưng chịu sự khống chế gián tiếp tinh vi của Mạc Phủ Tokugawa ở Edo. Dân chúng chia làm 4 giai cấp Sĩ, Nông, Công, Thương, theo chế độ mibun (thân phận = giai cấp) rất chặt chẽ. Về mặt đối ngoại, chính sách sakoku (tỏa quốc) đă khép kín cửa biển, liên lạc với bên ngoài chỉ thông qua một số thương nhân Trung Quốc, Ḥa Lan và Triều Tiên mà thôi.

B) Văn hóa đă được đại chúng hóa như thế nào?

Sau một thời Sengoku (Chiến Quốc, 1467-1568) phân tranh lâu dài và một thời Azuchi-Momoyama (1568-1600) tương đối an định hơn nhưng chính quyền không ngă hẳn vào tay ai, Mạc Phủ Tokugawa đă đem lại thanh b́nh. Thời đại nầy có thể xem như một giai đoạn lịch sử êm đềm nhất của xă hội Nhật Bản. Mạc phủ đă thực hiện chính trị văn trị dựa trên kinh điển nhà Nho của Chu Tử. Tŕnh độ giáo dục của tầng lớp thứ dân được nâng cao, văn hóa và nghệ thuật dần dần trưởng thành và mang một sắc thái độc đáo. Dạng thức sinh hoạt của người Nhật ngày nay cũng như quan niệm thẩm mỹ của họ đều đă h́nh thành vào giai đoạn nầy. Không những thế, thành tựu trong kỹ thuật in mộc bản lúc ấy đă có một ư nghĩa lớn đối với văn học.Cho đến trước đó, hăy c̣n là thời đại của sách sao chép (shahon = tả bản) mà chỉ một thiểu số đặc quyền được đọc. Giờ đây, sách in bằng bản khắc gỗ (hampon tức phản bản hay kampon, san bản) được cung cấp khắp nơi nên người thường dân lần đầu tiên đă có cơ hội tiếp xúc với văn chương.

Giáo dục được Mạc Phủ Tokugawa và các chính quyền địa phương của các phiên trấn cổ vũ suốt thế kỷ 18. Nhiều trường ốc được thành lập nhất là kể từ nửa sau thế kỷ. Con số lên đến trên 300. Giới trí thức dần dần chuyên môn hóa và sẽ là những nhân tài phục vụ cho các cơ quan hành chánh. Cửa trường đă mở cho cả giới chônin tức hạng thị dân. Có thể kể ra vài tên trường nổi tiếng như Shôheizaka Gakumonjo (Xương B́nh Phản Học Vấn Sở, 1718) và Kaiho-dô (Hội Phụ Đường, 1723) ở Edo, Kaitoku-dô (Hoài Đức Đường, 1725) ở Ôsaka. Trong đó có những trường dạy về Tâm Học, một thứ triết lư rất được người chônin hâm mộ. Quyền đi học trước đây dành cho vũ sĩ và tăng lữ (trừ trường hợp các trường nhà chùa hay terakoya) đă mở ra rộng răi và nhờ đó, tầng lớp trí thức chônin mang lề lối suy nghĩ độc đáo của giai cấp ḿnh đă bắt đầu xuất hiện.

C)    Những biến chuyển xă hội quan trọng:

Trong giai đoạn Edo hậu kỳ, có đến 67 cuộc nổi loạn của nông dân gọi là Ikki (Nhất Quỹ) hay Torikowashi (chiếm phá) đă xảy ra và đây là một trong những biến cố xă hội quan trọng ảnh hưởng đến văn học. Có những cuộc biến loạn mà con số người tham gia lên đến vài trăm ngàn như cuộc loạn Tenma (Truyền Mă) “Ngựa Trạm” xảy ra khoảng 1774-1775 ở tuyến đường Nakasendo (tuyến Nam Bắc vùng núi để phân biệt với đường Tôkaidô ven biển) trên đảo Honshuu. Tất cả đều xảy ra từ khó khăn về kinh tế lúa gạo v́ nông dân sống trong cảnh bị bóc lột hai đầu bởi Mạc Phủ và con buôn. Chính quyền đă thẳng tay đàn áp bằng vơ lực.

Một hiện tượng khác là những cuộc hành hương các đền chùa rất là đông đảo (có đến 5 triệu người trong năm 1830). Các cuộc di động quần chúng này đă xảy ra bất chấp sự ngăn cấm của nhà chức trách.

Hiện tượng thứ ba là cuộc tranh chấp giữa tư tưởng bảo thủ nội địa và tư tưởng cấp tiến đến từ phương Tây. Khi mới nắm chính quyền, tướng quân Yoshimune đă băi chức nho quan Arai Hakuseki (Tân Tỉnh, Bạch Thạch, 1657-1725) vào năm 1716 v́ ông nầy ca ngợi kỹ thuật Tây Phương như thiên văn, lịch và địa lư trong tác phẩm Seiyô Kibun (Tây Dương Kỷ Văn) “Chép việc nghe được ở phương Tây”. Lúc nầy, Aoki Konyô (Thanh Mộc, Côn Dương, 1698-1769) đă đem khoai tây vào đất Nhật (1735) và nói về cách trồng nó trong Banshokô (Phiền Thự Khảo, Nghiên cứu về khoai tây, 1735). Yamawaki Tôyô (Sơn Hiếp, Đông Dương, 1705-1762) dịch tư liệu về cơ thể học (anatomy) từ tiếng Ḥa Lan, lại mổ xẽ thây tử tù để nghiên cứu. Hai mươi năm trước khi cho ra đời bản dịch Kaitai Shinsho (Giải Thể Tân Thư) “Sách mới về giải phẩu” từ tiếng Ḥa Lan, ông cũng đă viết Zôshi (Tạng Chí, 1754) “Ghi về nội tạng” và phát biểu: “Ta có thể vứt bỏ hoàn toàn lư luận nhưng làm sao có thể vứt bỏ những sự kiện?”.

Trong giai đoạn đầu, tư tưởng Tây Phương chỉ dừng lại ở lănh vực kỹ thuật. Các nhà tư tưởng lớn lúc đó như Ishida Baigan (Thạch Điền, Mai Nham, 1685-1744), Tominaga Nakamoto (Phú Vĩnh, Trọng Cơ, 1715-46) hay kể cả Andô Shôeki (An Đằng, Xương Ích, ?-1762) đều không hấp thụ ảnh hưởng Âu Tây. Thế nhưng trong nửa sau của thế kỷ, đă thấy xuất hiện các rangakusha (học giả nghiên cứu sách vở Ḥa Lan). Các nhà tư tưởng lỗi lạc cùng thời như Yamagata Bantô (Sơn Phiến, Bàn Đào, 1748-1821), Miura Baien (Tam Phố, Mai Viên, 1723-89) và Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường, 1730-1801) không phải là những người hoàn toàn không biết ǵ về Tây Phương. Baien c̣n được biết đến như người chủ trương phối hợp tư tưởng Tây Phương với Khổng Giáo.

D) Sinh hoạt và thẩm mỹ thời Edo:

Để hiểu văn học thời nầy, phải hiểu sơ qua những nghệ thuật tương cận cũng như sinh hoạt của người thời ấy.

1) Kiến Trúc:

Trước hết ta thấy Nhật Bản đă t́m ra phong cách đặc biệt cho ḿnh. Trong lănh vực tạo h́nh chẳng hạn, các công tŕnh kiến trúc Nhật Bản như Shuugakuin ( Tu Học Viện, chỗ ẩn cư của thái thượng hoàng Go-Mizuno-ô, Hậu Thủy Vĩ, 1596-1680), hay Katsura Rikyuu (Quế Ly Cung, dựng giữa năm 1615-24, vốn là nhà mát của hoàng thân Toshihito, Trí Nhân) cho ta thấy vườn tược là chính mà cung điện là phụ. Khác với Alhambra ở Tây Ban Nha hay Versailles ở Pháp, vườn không phải là cái nối dài và phụ thuộc vào dinh thự mà bao trùm vây bọc lên dinh thự.

2) Thư Họa Trà:

Về hội họa, Tawaraya Sôtatsu (Biểu Ốc, Tông Đạt, không rơ năm sinh và mất) đă làm sống lại Yamato-e (Đại Ḥa Hội hay tranh Nhật) có từ thời Heian và làm giảm đi ảnh hưởng của hội họa đại lục. Chính văn học Heian đă là những đề tài của tranh Sôtatsu, c̣n Yamato-e sẽ ảnh hưởng lên tiểu thuyết bằng tranh và măi đến manga sau nầy. Đó cũng là thời những chủ đề xă hội gọi là ukiyo (đủ mọi đề tài từ thuyền buôn Ḥa Lan, cảnh thưởng hoa, cảnh phố buôn bán đến chi tiết đời sống kẻ giàu người nghèo ở Kyôto) được các họa sĩ phần lớn vô danh, đưa vào hội họa. Về sau, chúng c̣n đi cả vào thơ và tiểu thuyết.

Vẽ đẹp thô lậu (wabi) trong nghệ thuật uống trà được nhấn mạnh bởi những người như Furuta Oribe (Cổ Điền, Chức Bộ, tên thật là Furuta Shigenari, Cổ Điền Trọng Nhiên, 1544-1615), cao đồ của trà sư Sen no Rikyu và là tổ của chi phái trà đạo Oribe. Tuy trà đạo đă có ở Trung Quốc nhưng không gồm thâu một lượt các ngành nghệ thuật như ở Nhật (kiến trúc, viên nghệ, thư, họa, gốm sứ, hoa đạo… đều xuất hiện cùng lúc trong một hội trà). Tuy hăy c̣n những nhà thư pháp và họa gia nổi tiếng xuất thân từ cửa Phật (Shôkadô Shôjô, Tùng Hoa Đường, Chiêu Thừa, 1584-1639 và Hon-ami Kôetsu, Bản A Di, Quang Duyệt, 1558-1637) nhưng nghệ thuật đă bắt đầu thế tục hóa nghĩa là có sự phân ly giữa nó và tôn giáo từ buổi nầy. Đồng thời, nó c̣n mang màu sắc giai cấp. Nếu giới samurai cấp trên và đại phú hào chuộng họa phong của phái Kanô của Kanô Tan-yuu (Thú Dă, Thám U, 1602-74) với lối tô điểm hào nhoáng, mạnh bạo có tùng bách long ly, sơn son thếp vàng th́ hội họa của samurai cấp dưới và thương nhân điển h́nh bởi Sôtatsu (Tông Đạt, không rơ năm sinh năm mất) chỉ chú trọng vào hoa cỏ, chim muông và con người với màu sắc nhẹ nhàng nhưng táo bạo. Nó vốn bắt nguồn từ văn hóa quí tộc đời xưa.

3) Nghề in. Việc quản lư xóm b́nh khang:

Hai hiện tượng xă hội khác liên quan đến việc phát triển văn hóa dưới thời Edo là nghệ thuật in và sự quản lư các xóm b́nh khang.

Nghề in đă có ở Nhật từ xưa nhưng chỉ dưới dạng thô sơ, chỉ từ khi Hideyoshi đem kỹ thuật in từ Triều Tiên về và các giáo sĩ Ki-Tô in sách đạo ở Nhật, nó mới phát triển mạnh. Năm 1620, người ta bắt đầu có thể in nguyên một trang sách với một bản khắc gỗ và những năm tháng nầy (1620-1650) là thời điểm bắt đầu cho mối liên hệ mới giữa văn học và đại chúng.

Chính quyền Tokugawa cũng chỉ định những khu vực để khoanh vùng gái làng chơi trong các thành phố lớn: Shimbara ở Kyôto, Shinmachi và Sonezaki ở Osaka, Yoshiwara ở Edo. Vào đầu thế kỷ 18, ở Osaka có đến 8400 cô đăng kư và Yoshiwara cũng có 3000 cô. Họ đă phân chia thứ bậc, hạng cao nhất là tayuu (đại phu), sau đến tenjin (thiên thần)…, nhưng một khi khách đến kuruwa (quách = khu vực chỉ định) th́ mọi người đều b́nh đẳng, chỉ có đồng tiền làm cho họ khác nhau chứ không phải giai cấp xă hội.Trong Naniwa monogatari “Truyện Ôsaka” (tác giả vô danh, 1655) từng viết về các cô gái làng chơi có tŕnh độ văn hóa nghĩa là biết múa, đàn hát và làm thơ. Nhờ đó mà kuruwa sau này đă trở thành một đề tài bất tận cho các văn nhân đương thời.

Ta cũng thấy ảnh hưởng văn hóa b́nh dân thời Muromachi như các h́nh thức tŕnh diễn sarugaku, renga, katarimono, kabuki, haikai… tiếp tục phát triển và đẻ ra những nhà nghệ thuật xuất thân từ giai tầng trí thức thuộc lớp b́nh dân trong xă hội. 

E) Văn học người kẻ chợ và văn học giới vũ sĩ:

Đặc điểm của thời nầy là sự xuất hiện của nền văn học kẻ chợ (đinh nhân văn học = chônin bungaku) hay văn học thị dân. Người kẻ chợ nếu nói về địa vị trong bậc thang giá trị đương thời th́ c̣n thấp kém, thua cả giới vũ sĩ lẫn nông dân. Tuy thế, với sức mạnh kinh tế đạt được, vai tṛ của họ càng ngày càng quan trọng. Họ bắt đầu đ̣i hỏi một thứ văn chương phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ, sở thích của ḿnh và cũng nhân đó tham gia cả vào việc sáng tác.Nhờ có họ mà những h́nh thức (genres) văn học và văn nghệ mang chủ đề về một thế giới hèn kém, hạ cấp như sách truyện viết bằng văn tự quốc âm kana (kanazôshi = giả danh thảo tử), truyện xă hội đương thời (ukiyozôshi = phù thế thảo tử), thơ tếu ( haikai = bài hài), tuồng búp-bê (jôruri = tĩnh lưu ly), tuồng kịch (kabuki = ca vũ kỹ) đă phất lên được. Các h́nh thức văn học nầy thể hiện đầy đủ cá tính của người kẻ chợ tức là tầng lớp thứ dân, tạo cho ḿnh một thế đứng riêng biệt, không thể lầm lẫn được nó với văn học trung cổ cũng như văn học cận kim.

Dầu nói thế, không có nghĩa là văn học người kẻ chợ một ḿnh cũng đủ đại diện văn học cận đại Nhật Bản. Cần biết là những người có công đưa vào trong nền văn học mới đặc tính của người kẻ chợ nghĩa là đặc tính của tầng lớp thứ dân lại xuất thân từ những gia đ́nh vũ sĩ. Đó là trường hợp của nhà soạn tuồng Chikamatsu Monzaemon (Cận Tùng Tả Vệ Môn,1653-1724), và nhà thơ Matsuo Bashô (Tùng Vĩ, Ba Tiêu. 1644-1694), và dĩ nhiên không chỉ có riêng họ. Giới vũ sĩ hăy c̣n nhiều đại diện xứng đáng khác trong các thể loại văn học truyền thống như văn chương kana, thơ waka, thơ chữ Hán …của thời cận đại nầy.

F) Khu phân thời đại:

Trong 265 năm của thời cận đại, nếu lấy trung điểm của thế kỷ thứ 18 làm vạch chia th́ ta sẽ có một giai đoạn văn học kinh kỳ (kamigata = thượng phương)[2] hay “bên trên”, c̣n gọi là giai đoạn Kyôto - Ôsaka, và một giai đoạn “phía dưới”, gọi là giai đoạn Edo.

Thời kỳ toàn thịnh của giai đoạn trên tương ứng với niên hiệu Genroku (Nguyên Lộc, 1688-1704) nên nó c̣n được gọi là văn học Genroku. Giai đoạn dưới lại có thể chia thành hai thời kỳ nhỏ mang sắc thái đặc biệt khác nhau là Tenmei (Thiên Minh, 1772-1789) và Kasei ( Hóa Chính bao gồm hai niên hiệu Văn Hóa, 1804-1818 và Văn Chính, 1818-1830). Do đó, văn học giai đoạn dưới bao gồm văn học Tenmei và văn học Kasei.

Gần một thế kỷ sau từ khi Nhật Bản bước vào thời cận đại (1603), văn chương thời Genroku (1688-1704) mới phô bày được tinh hoa của một nền văn học đang độ khai hoa. Trong bộ môn tiểu thuyết, Ibara Saikaku (Tỉnh Nguyên, Tây Hạc, 1642-1693) khai sáng loại truyện ukiyozôshi “truyện phù thế” phô bày cuộc sống phóng túng, buông thả theo lạc thú của người đương thời. Về thi ca, Matsuo Bashô nâng cao tính nghệ thuật cho haikai mà cho đến lúc ấy chỉ có tính cách “thủ công”và hài hước. Về tuồng như jôruri th́ qua đó, Chikamatsu Monzaemon đă diễn tả sắc bén tâm trạng bi thương của con người trong mọi cảnh đời. Ở lănh vực nào cũng thấy toàn những tác phẩm dào dạt t́nh người qua giọng văn và qua nhận xét tâm lư tinh tế của người viết. Có thể nói Genroku là giai đoạn hoàng kim của văn học cận đại Nhật Bản.

Văn học Tenmei (1772-1789) đến sau Genroku đă ra đời trong thời kỳ đại thần Tanuma Okitsugu (Điền Chiểu, Ư Thứ, 1719-88)[3] giữ quyền bính. Ông đă thi hành một chính sách kinh tế tích cực đem đến phồn vinh thương nghiệp, tạo nên một bầu không khí ăn chơi phóng túng cho xă hội Edo. Thời đó, bọn trí thức xuất thân từ giai cấp vũ sĩ đă lần lượt vẽ vời ra đủ mọi h́nh thức văn học có tính cách tiêu khiển từ kibyôshi (hoàng biểu chỉ) hay “sách b́a vàng”, sharebon (tửu lạc bản) hay “truyện trăng hoa” đến kyôka (cuồng ca) đồng nghĩa với “thơ ngông”…tức là những h́nh thức văn nghệ mang chất hài mà điểm mạnh là cách đùa cợt, cơ trí, ranh mănh. Giới trí thức vũ sĩ đă tạo ra một nền văn học đặc sắc và tinh tế mà cả người kẻ chợ cũng bị lôi cuốn vào.

Đến cuối thời Edo, hài kịch bị người cầm quyền lúc đó là Matsudaira Sadanobu (Tùng B́nh, Định Tín, 1758-1829)[4] đàn áp nên suy thoái rơ nhưng khoảng năm Bunka và Bunsei (1804-1830), nó đă hồi phục. Tuy nhiên, v́ các nhà văn xuất thân từ giới vũ sĩ không viết hài kịch nữa nên cái thâm thúy của nụ cười cơ trí (wit) đă vắng bóng trong các vở tuồng.Thay vào đó là các loại “tiểu thuyết chương hồi” yomihon (độc bản) với chủ đề khuyến thiện trừng ác, các tiểu thuyết kể “truyện buồn cười” như kokkeibon (hoạt kê bản), loại “tiểu thuyết bằng tranh đóng thành tập” gôkan (hợp quyển) và loại “tiểu thuyết luyến ái” ninjôbon (nhân t́nh bản). Chúng nặng về cảm tính, thiếu phần lư tính và chỉ được cái là dễ hiểu. Khuynh hướng ấy đưa đến sự xuống dốc về phẩm chất trong văn học nhưng nhờ dễ hiểu nên lôi kéo được một khối lượng độc giả đông đảo. Từ đó, văn học cận đại đă hoàn toàn đại chúng hóa.

TIẾT II:TIỂU THUYẾT QUỐC ÂM (KANAZÔSHI):

Tiểu thuyết quốc âm hay kanazôshi (giả danh thảo tử) là h́nh thức văn học đầu thời cận đại thể hiện qua những tập sách (zôshi=giấy để ghi chép) chủ yếu dùng văn tự kana (chữ nôm na, thứ Hán bớt nét chỉ dùng chua âm) viết cho người đọc. Nội dung của những tập sách kanazôshi được xuất bản nầy có mục đích dạy dỗ, mở mang kiến thức văn chương (trích dẫn truyện cổ, thơ cổ) hay thực dụng (dạy cách viết thư t́nh, chỉ dẫn về văn phạm) và đồng thời để tiêu khiển. Nó đă làm nhiệm vụ bắt cầu giữa “truyện giải buồn” của các tập otogizôshi thời trung cận đại và h́nh thức ukiyozôshi, “truyện phù thế”, một thể loại xứng đáng mệnh danh là tiểu thuyết hơn, ra mắt người đời trong giai đoạn sau.  

Ḍng tiểu thuyết cận đại

Niên đại

Thể loại

Tác gia tiêu biểu

Muromachi

Otogizôshi

 

Edo

-thế kỷ 17

 

 

 

 

 

-thế kỷ 18

 

 

 

 

 

-thế kỷ 19

 

 

 

 

kanazôshi

kusazôshi

ukiyozôshi

 

akahon,  kurohon, aohon

yomihon (tiền kỳ)

kibyôshi

 

sharebon

kokkeibon

 

yomihon (hậu kỳ)

gôkan

ninjôbon

 

 

Asai Ryôi

 

Ihara Saikaku, Ejima Kiseki

 

 

Ueda Akinari

Koikawa Harumachi, Santô Kyôden

Santô Kyôden

Jippensha Ikku, Shikitei Sanba

Kyokutei Bakin

Ryuutei Tanehiko

Tamenaga Shunsui

 

Những tác phẩm tiêu biểu của loại kanazôshi có tính cách giáo huấn là Truyện hai nữ tỳ kheo tức Ninin Bikuni (Nhị nhân t́ khưu ni) của Suzuki Shôsan (Linh Mộc, Chính Tam, 1579-1655) và tiểu thuyết phê phán Phật Giáo có nhan đề Kiyomizu Monogatari [5] (Thanh Thủy vật ngữ) do Asayama Irin-an (Triêu Sơn, Ư Lâm Am) viết. Theo thể văn tùy bút và phê b́nh tṛ đời th́ có Kashôki [6](Khả tiếu kư) của Joraishi (Như lỗi tử, c̣n đọc là Nyoraishi) và bản dịch truyện ngụ ngôn của nhà văn cổ đại Hy Lạp Aesopos tựa đề Isoho monogatari (Y Tăng Bảo vật ngữ) hoặc Nise monogatari (Nhị thế vật ngữ) nhại theo Ise monogatari nổi tiếng (Nise, trong tiếng Nhật, tự nó đă có nghĩa là “giả mạo” rồi). Ví dụ hai câu thơ trong Truyện Ise (Y Thế vật ngữ) có đăng lại trong Kokin waka-shuu (Cổ Kim Ḥa Ca Tập):

“Cuộc đời nếu vắng anh đào,

Xuân về ta khỏi dạt dào v́ xuân”

(Bài Yo no naka ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ vương tử Ariwara no Narihira)

đă bị bóp méo thành đồ giả như thế nầy trong Nise:

“Cuộc đời nếu vắng vợ con,

Bấy giờ ta được chút hồn thảnh thơi”

Cũng là kanazôshi nôm na nhưng viết theo phong cách truyện luyến ái của otogizôshi thời trước th́ phải kể đến Uraminosuke “Chàng Hận” nói về mối t́nh trắc trở của cặp Uraminosuke và Yukinozen đă đưa đến cái chết của cả hai, Usuyuki monogatari “Truyện nàng Tuyết Mỏng” kể cuộc t́nh ngang trái của chàng samurai tên là Sonobe no Emon và nàng Usuyuki (Tuyết Mỏng), gái có chồng, làm chàng sau đó phải bỏ đi tu. Truyện khôi hài th́ có tập “Thức cười ngủ cười” tức Seisuishô (Tinh thụy tiếu) của Anrakuen Sakuden (An Lạc Am Sách Truyền), cũng như Chikusai (Trúc Trai) trong đó Tomiyama Dôya (Phú Sơn Đạo Dă) kể truyện hài hước về chuyến du lịch trên đường Tôkaidô của ông lang vườn Chikusai. Nổi tiếng hơn cả có tác phẩm Ukiyo monogatari (Phù thế vật ngữ) “Tấn tuồng đời”của Asai Ryôi kể về cuộc đời của anh chàng buông tuồng và buồn cười Ukiyobô (Phù Thế Phường) với mục đích vạch trần thế thái nhân t́nh.

Tác giả của loại kanazôshi nầy có nhiều hạng người. Họ có thể là con cháu công khanh (kuge = công gia) bụng chứa đầy sử sách kinh điển, các nhà sư và nhà nho muốn mượn h́nh thức truyện để giáo dục dân chúng, những bọn hầu cận (già chúng = togishuu) có phận sự kiếm truyện kể để giải buồn cho các lănh chúa, bọn vũ sĩ chiến bại phải trôi nổi (lăng nhân = rônin) và mất hết bổng lộc từ sau trận quyết chiến giành thiên hạ ở Sekigahara (1600) hoặc là những thầy haikai (haikaishi) nghĩa là lớp người chọn loại thơ diễu, tượng trưng cho khí thế đang lên của nền văn học mới nầy, làm kế sinh nhai.Trong đám, tác giả đứng số một về cả hai phương diện phẩm và lượng không ai khác hơn Asai Ryôi mà tiểu sử như sau:

1) Asai Ryôi (Thiển Tỉnh, Liễu Ư, 1612 ?-1691):  

Không ai rơ gốc gác ông nhưng nhà văn này đă sống đời vũ sĩ trôi dạt khá lâu. Có người cho rằng ông là con một thầy tăng phái Tịnh độ chân tông (Jôdô Shinshuu) tu ở một ngôi đền vùng Settsuu (gần Kyôto) và bị mất chức. Chính ông về sau cũng trở thành tăng lữ trụ tŕ ở Kyôto. Gốc tích của ông giải thích tại sao ông rất rành kinh điển nhà Phật. Đoạn đời trôi dạt đă giúp ông thu lượm nhiều tài liệu để viết văn. Văn ông liên quan đến vô số chủ đề và theo nhiều thể loại: từ truyện phóng tác Trung Quốc, truyện du hành, truyện binh bị, truyện Phật giáo, truyện diễu cợt đến truyện luân lư…Ông viết rất nhiều trong gần 50 năm cầm bút, kể từ niên hiệu Manji (Vạn Trị, 1658-1661) trở đi.

Ngoài truyện xă hội Ukiyobô monogatari (Truyện chàng Ukiyo) nói trên mà ảnh hưởng của nó đến tiểu thuyết gia Ihara Saikaku được nhận ra rất rơ ràng, ông c̣n viết nhiều tác phẩm có dư ba về sau như cuốn tiểu thuyết kinh dị Otogibôko[7] (Già t́ tử, 1666) và sách chỉ dẫn du lịch Tôkaidô Meishoki (Đông Hải Đạo danh sở kư, 1658) nói về những thắng cảnh và chuyện lạ trên trục giao thông Tôkaidô, Inuhariko (Khuyển Trương Tử) hay “Con chó bằng giấy bồi”.

Trong Otogibôko, hầu hết gồm những truyện với các nhân vật Nhật hóa mà cốt truyện th́ phỏng theo Tiển đăng tân thoại (Jiandeng xinhua) của Cù Hựu (Qu You, 1341-1427) và Kim cổ kỳ quan (Jingu qiguan), biên soạn bởi Bảo Úng Lăo Nhân. Sách của Bảo Úng tuyển nhiều truyện của văn nhân thời Minh mạt Phùng Mộng Long (1574-1646). Họ thiện về thể loại văn chương này và đă sống trước tác giả Thanh sơ Bồ Tùng Linh (1640-1715), người soạn Liêu Trai Chí Dị. Nhân đây cũng xin nói thêm là khuynh hướng đô thị hóa dưới thời Edo và những cuộc di dân của di thần Minh triều đến Nhật đă đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của thể loại văn chương truyền kỳ chí quái này.

2) Yamaoka Genrin (Sơn Cương, Nguyên Lân, 1631-1672):

Bên cạnh Asai Ryôi có thể kể thêm Yamaoka Genrin (Sơn Cương, Nguyên Lân, 1631-1672), gốc ở Ise, một người viết kana-zôshi có tiếng đầu thời Edo. Ông c̣n là nhà thơ haikai, đă theo học nhà nghiên cứu và nhà thơ Kitamura Kigin (Bắc Thôn, Quí Ngâm, 1624-1705), biên tập Hôsô (Bảo tàng), một tập haikai, lại viết biên khảo và chú thích các tác phẩm cổ điển như Tsurezuregusa của tăng nhân Kenkô.

 

TIẾT III: TIỂU THUYẾT XĂ HỘI (UKIYOZÔSHI):

Chữ ukiyo đă được người Nhật dùng từ thời Trung Cổ nhưng với ư nghĩa là cuộc đời (thế) đầy buồn khổ lo lắng (ưu), chữ Hán viết là “ưu thế” (cuộc đời đầy lo buồn). Chữ dùng này đă phát xuất từ quan điểm vô thường và tư tưởng yếm thế sinh ra từ những thế kỷ chiến tranh và ly tán. Tuy nhiên, đến thời cận đại th́ lối giải nghĩa ấy đă thay đổi. Họ mượn từ Hán “phù thế” (cuộc đời trôi nổi) để diễn tả quan niệm nầy. Cùng lúc, nội dung của chữ ukiyo (phù thế) lại được người thời Edo hiểu khác đi. Nó có nghĩa là “ lối sống tự do phóng túng trong luyến ái, sắc dục và tích cực hưởng lạc”. Tóm lại, ukiyozôshi đă xuất hiện như là loại tiểu thuyết phong tục miêu tả xă hội đương thời.  

Nếu kanazôshi chỉ là một thể loại văn chương của giai đoạn chuyển tiếp và chưa rứt ra khỏi ảnh hưởng trung cận đại, ukiyozôshi là sản phẩm đích thực của thời cận đại. Quyển tiểu thuyết đầu tiên thuộc thể loại nầy là Kôshoku ichidai otoko (Hiếu sắc nhất đại nam) hay “Một đời trai đắm sắc” của Ihara Saikaku xuất bản năm 1682.Từ đó cho đến khoảng năm Tenmei (Thiên Minh) tức là thời gian ngót một thế kỷ (1682-1789), loại ukiyozôshi đă được phát triển không ngừng, nhất là ở Kyôto và Ôsaka.

 

A) Ihara Saikaku (Tỉnh Nguyên, Tây Hạc, 1642-1693)

Saikaku, tiểu thuyết gia số một Nhật Bản

Ông sinh trong một gia đ́nh người kẻ chợ (chônin) giàu có ở Ôsaka, h́nh như tên thực là Hirayama Tôgo (B́nh Sơn, Đằng Ngũ). Ban đầu, theo học haikai ở cửa Nishiyama Sôin (Tây Sơn Tông Nhân, 1605-82) để làm thầy thơ haikai theo một phong cách mang cái tên lạ lùng là lối Aranda (A Lan Đà - lưu) vốn có thi phong rất là phóng túng, khác đời. Ông rốt cục trở thành thầy haikai tên tuổi của phái Danrin (Đàn Lâm) này, thiện nghệ về tṛ haikai yakazu (thỉ số bài hài) nghĩa là tranh nhau vịnh được nhiều bài (như số tên bắn ra = thỉ số) trong một khoảng thời gian hạn chế. Sau khi thầy là Sôin mất rồi, ông mới bắt đầu viết tiểu thuyết, theo cách viết mà ông gọi là tengôgaki (chuyển hợp thư) có nghĩa là nửa đùa nửa thật, viết để mua vui. Ông đă phát biểu như thế ở cuối quyển Kôshoku ichidai otoko, (Một đời trai đắm sắc), tiểu thuyết ông hoàn thành năm 41 tuổi, đầy tính chất du hí và hài hước. Saikaku viết rất nhiều ukiyozôshi nhưng trong số đó phải kể cả những truyện ông mượn của thiên hạ và biên tập lại rồi trộn vào tác phẩm ḿnh.

Nhân vật chính của Một đời trai đắm sắc” tên Yonosuke[8] (Thế chi Trợ, có thể hiểu bóng bẩy là …Người Đời), một gă đàn ông hiếu sắc mà sinh hoạt chốn t́nh trường đối với cả hai phái nam lẫn nữ đă được Saikaku tŕnh bày qua suốt 54 chương của cuốn tiểu thuyết dài nầy. Đồng tính luyến ái rất phổ biến ở Nhật thời xưa và câu chuyện “nam sắc” (đồng tính luyến ái giữa đàn ông) trong các tu viện Thiền Tông Ngũ Sơn[9] đă được nhắc tới trong các tác phẩm từ thế kỷ 14.

           

 

Yonosuke, 9 tuổi đầu, trèo lên mái nhà, bắt ống nḥm xem đàn bà tắm.

Sau đây là chuỗi ngày thơ ấu của Cậu Đời (Yonosuke):

Khi hoa anh đào rụng, ta chỉ biết thương tiếc, mà trăng lặn về bên kia núi rồi, th́ c̣n ǵ nữa đâu. Thay v́ phong lưu tao nhă kiểu đó, ta nên theo hai con đường “sắc đạo”(nam sắc, nữ sắc), lấy con người làm đối tượng th́ có phải thú vị hơn không. Đó là lời của người tên Yumesuke (ông Mộng) đă nói. Ở xứ Tajima (nay thuộc tỉnh Hyôgo) có một người đào trúng mỏ bạc nên nhà giàu ức vạn, không lấy chuyện đạo đức thường t́nh của người đời là trọng, ngày đêm nhậu nhẹt chơi bời ở những xóm lầu xanh. Mới vừa gặp ba nàng gái điếm hạng sang là Katsuragi, Kaoru và Sanseki đă hợp nhăn ngay, bèn lần lượt cưới đem về chưng như “hoa sống” ở ba ngôi biệt thự.Chẳng bao lâu sinh được một cậu con trai tên gọi Yonosuke (Cậu Đời) (tức là Đời Trai Đắm Sắc) vậy….

Cậu Đời lớn lên b́nh thường trong sự nuông chiều của cha mẹ. Chuyện sau đây xảy ra lúc cậu lên bảy.

Nửa đêm chợt thức giấc, nghe cậu mở then cửa và ngáp, cô bé giúp việc túc trực vội cầm mồi lửa dẫn đường cho cậu ra phía nhà xí. Khi cậu đang rửa tay, cô gái rọi sáng chỗ cậu đứng.

-Tắt lửa cho tao nhờ rồi đến cạnh đây coi.

-Cháu sợ cậu vấp mới soi cho cậu thấy đường. Tối thui để làm ǵ ạ!

Trả lời xong th́ thấy cậu gật đầu:

-Mầy không biết làm t́nh phải làm ở trong bóng tối à?

Nói xong thổi tắt mồi lửa, đưa tay kéo tay áo cô gái, vừa nói chắc vú em không thấy đâu nhỉ, vừa sấn tới.

Chẳng ngờ bà vú biết được mới mách với người mẹ:

-Cậu nhà chưa đủ lông đủ cánh mà đă quá trời rồi!

Tuy nhiên mẹ cậu gốc gác là gái lầu xanh, thay v́ mắng con, lại mừng thầm cậu đă sớm thạo đời…

(Theo Kôshoku ichidai no otoko)

Cậu Đời như thế bắt đầu bước chân vào thế giới khoái lạc, càng ngày càng bị ám ảnh mănh liệt bởi chuyện trai gái, không lúc nào quên nổi. Ḷng cậu lúc nào cũng bị chuyện ái t́nh xâm chiếm, đến năm 54 tuổi th́ cậu đă chơi 3742 cô và 725 cậu be bé xinh xinh. Chơi bời từ nhỏ tốn hao tinh dịch như vậy mà cậu sống cũng dai thật.

Năm tám tuổi cậu đến nhà thầy học việc, chưa ǵ cậu đă nhờ thầy viết hộ thư t́nh để tán một cô chị họ, nhưng bị thất bại phủ phàng. Chín tuổi, cậu dă biết trèo lên mái nhà, bắt ống nḥm sang bên hàng xóm xem đàn bà tắm. Lại hăm dọa gái là đă thấy nàng tự “làm chuyện rờ rẫm không nên”, nửa đêm lén sang đ̣i làm ăn, gái vác cậu mang về trả cho vú em, c̣n bị cậu mè nheo “cảm phiền cho tôi xin tí sữa”. Nghe sự t́nh, mấy bà vú ôm bụng cười ngất : “Mới tí tuổi đầu đă thế th́ tương lai biết ra sao!” 

Nhân vật Yonosuke chỉ biết sống theo khoái lạc, không nể thần phật, luân lư, tâm lư ǵ cả mà chỉ biết hành động.Sau khi sống hết cuộc đời đầy lạc thú, năm 1682, anh ta cùng vài người bạn, đem theo một mớ thuốc kích dâm, lên chiếc thuyền mang tên “Con Thuyền Háo Sắc”, dong buồm về hướng Đảo Đàn Bà, rồi không ai biết hành tung của anh ta nữa.

Vừa nhại theo các tác phẩm cổ điển như Truyện GenjiTruyện Ise, Saikaku đă dựa vào tài quan sát sắc bén của ḿnh về phong tục xă hội ăn chơi đương thời để miêu tả nó một cách mới mẽ và táo bạo, nên được đánh giá rất cao. Những truyện viết kiểu nầy có cái tên chung là kôshokumono (hiếu sắc vật) tức là loại truyện trai gái mèo chuột. Saikaku c̣n viết một số tác phẩm khác cùng một khuynh hướng, trong đó phải kể đến Kôshoku ichidai onna (Hiếu sắc nhất đại nữ, 1686) hay Một đời đàn bà đắm sắc, theo dấu một phụ nữ v́ t́nh ái sắc dục mà thành trụy lạc, về sau sám hối kể lại chuyện ḿnh, cũng như tập truyện ngắn Kôshoku gonin onna (Hiếu sắc ngũ nhân nữ, 1686) tức Năm người đàn bà đắm sắc, truyện về cuộc đời t́nh ái lăng loàn của năm bà tức các nàng O-natsu, O-yaoya, O-shichi, O-man và O-sen. Mỗi một người phụ nữ trong truyện đều đă sống hết ḿnh v́ t́nh ái, đến đỗi điên rồ, bỏ chồng theo trai, hay phóng hỏa đốt nhà…Đó là một cuốn tiểu thuyết ái t́nh duy nhất đáng kể dưới thời phong kiến.

Trong quăng trên 10 năm từ lúc 41 đến 52 tuổi, lúc ông mất, Saikaku viết rất nhiều. Cuộc đời của người kẻ chợ (dân chúng thành thị) vốn được sắp thành một loại đề tài gọi là chônin-mono (đinh-nhân vật). Saikaku quan tâm theo dơi sinh hoạt kinh tế của họ và khai triển nó trong loại truyện theo chủ đề (mono) người kẻ chợ (chônin).Tiêu biểu cho sách loại nầy mà ông viết có Nippon eitaizô (Nhật Bản vĩnh đại tàng = Kho hàng Nhật Bản muôn đời, 1688) nói về cách làm giàu của người kẻ chợ và Seken Mune Sanyô (Thế gian hung toán dụng = Cách Tính toán để sống được với đời, 1652) kể lại bi kịch vật lộn với cuộc sống của người trung lưu hoặc nghèo mạt ở thành phố, những mối lo toan (sanyô) trong ḷng (mune) họ vào một chiều cuối năm. Ngoài ra, Honchô nijuufukô (Bản triều nhị thập bất hiếu, “Hai mươi tấm gương bất hiếu ở nước ta”, 1686) là một cuốn tiểu thuyết của ông phúng thích chính sách khuyến khích ăn ở hiếu kính, chủ trương của nhà cầm quyền thời bấy giờ. Dĩ nhiên, tác phẩm nói trên là một phản luận có tính châm biếm của “Nhị Thập Tứ Hiếu” do Quách Cư Kính đời Nguyên viết.

Cuộc sống của giới vũ sĩ cũng được Saikaku chọn làm đề tài. Ví dụ Buke denrai-ki (Vũ gia truyền lai kư) và Buke giri monogatari (Vũ gia nghĩa lư vật ngữ, 1688) nói về sinh hoạt và đạo lư xử thế của giới đó nhưng với một cái nh́n độc đáo. Ngoài ra, c̣n có những truyện hiếm có hoặc kỳ quái thấy trong Saikaku shokoku -banashi (Tây Hạc chư quốc thoại, 1685) “Truyện các miền do Saikaku kể” mà ông thu thập từ các địa phương hay Futokorosuzuri (Hoài Thạc, 1687) “Đầy một bụng”, một tập khác của ông, chứa đựng mọi thứ chuyện trên trời dưới biển, lần lượt được xuất bản. Trong số di cảo Saikaku để lại sau khi qua đời có Saikaku Okimiyage (Tây Hạc trí thổ sản, 1693)  “Sách Saikaku để lại làm quà” không thiếu chi truyện trong đó có những chônin v́ sống đời phóng đăng nên sau phải điêu đứng lưu lạc. Ngoài ra ông c̣n dùng lối thư tín để viết “tiểu thuyết thư tín” Yorozu no Fumihôgu (1696) Vạn chi văn phản cổ” “Những chồng thư cũ” bằng cách sử dụng chi tiết từ nội dung những bức thư cũ người ta đă bỏ đi để tŕnh bày biến chuyển trong tâm lư con người.Cả hai đều là những kiệt tác.

Saikaku không chỉ nói chuyện trai gái chốn lầu xanh. Nhân vật của ông c̣n xuất thân từ giới con buôn, trưởng giả. Ông không mô tả những biến chuyển tâm lư như văn nhân thời Heian. Các nhân vật của ông là những con người hành động. Triết lư của ông là đề cao chủ nghĩa khoái lạc và sự đeo đuổi lạc thú trong t́nh dục và không cần biết tới đạo lư Phật giáo hay Khổng Mạnh. Ông đă giải phóng người đương thời ra khỏi mặc cảm phạm tội trước đam mê khoái lạc và cho người ta thấy trong sắc dục cũng có tính thẩm mỹ. Đó là điều rất hiếm v́ trong xă hội thời Tokugawa, luân lư nhà Nho vẫn là nồng cốt và các tiểu thuyết gia khi viết về thế giới lầu xanh bao giờ cũng bắt đầu với một lời tựa đầy tính cách răn đời[10]. Nhân vật Yonosuke của Một đời trai háo sắc không ngại phải xuống địa ngục như Don Juan trong xă hội Tây Phương. Sau một cuộc đời ngụp lặn trong thú vui xác thịt, anh ta c̣n cùng bè bạn mang thuốc kích dâm dong buồn ra khơi đi đến Ḥn Đảo Đàn Bà để tiếp tục hưởng lạc.

Trong cuốn Năm người đàn bà đắm sắc, truyện thứ ba về O-san lấy đề tài từ chuyện thời sự xảy ra trước đó không lâu. Sau ông, Chikamatsu Monzaemon (1653-1724) cũng lấy cảm hứng bằng cách đó để dựng nên nhân vật trong tuồng múa rối jôruri nhan đề Daikyoshi mukashi koyomi (Cuốn lịch cũ của thầy tăng, 1715). Câu chuyện t́nh giữa O-san, vợ ông thầy tăng ở Kyôto, và cậu Mohê, phụ tá của ông ta, dắt nhau chạy trốn, bị bắt và hành quyết v́ tội gian dâm vào năm 1683, đều được cả hai sử dụng. Chikamatsu chủ trương là cái “nghiệp” của hai người bắt họ bất đắc dĩ trở thành những kẻ phản bội. Cuối vở tuồng, Chikamatsu cho họ được một nhà sư cứu giúp để họ trở về đường chính. Ngược lại, Saikaku chỉ chủ ư nói lên ḷng ham sống, muốn hưởng thụ cuộc đời của các nhân vật đi trốn. Trong truyện ông viết, O-san khi đi trốn giắt theo 500 lạng bạc để sinh sống và Mohê đă giả điên nhảy xuống nước để đánh lừa người đuổi theo. Khi tả cảnh hai người trên đường đào tẩu phải ngủ qua đêm trong một ngôi đền thờ Văn Thù Bồ Tát và khi bồ tát hiện ra trong giấc mộng để khuyên họ phải buông nhau ra th́ may mà được sống c̣n th́ Saikaku đă đặt câu trả lời sau đây vào miệng Mohê:

Cho dù việc ǵ xảy ra, tôi cũng mặc.Tôi dan díu với người đàn bà nầy v́ tôi mê cô ta. Bồ Tát Văn Thù ơi, ngài chỉ rành về đàn ông chứ nào đă từng trải chuyện đàn bà đâu!”.

Tài năng của Saikaku thật đa dạng, khi th́ ông theo lối hiện thực, khi th́ hư cấu và triết lư. Nếu Một đời trai đắm sắc viết về sinh hoạt tính dục của anh đàn ông lạc quan Yonosuke, Một đời đàn bà đắm sắc lại tả cuộc sống sa đọa của một bà đang từ bậc mệnh phụ vợ lănh chúa, rơi xuống hàng đĩ rạc, ẩn dật ở vùng Saga và sám hối về cuộc đời ḿnh.Đó là một tác phẩm có tính bi quan. Tuy nhiên, dù sự biến chuyển trong tâm lư Saikaku lúc cuối đời được biểu lộ ra cả đây nhưng đúng hơn nó chỉ thể hiện cái nhận thức về bản thân đáng buồn của nhân vật một khi đă sống thỏa thuê những vui thú vật chất.

Như đă nói, Saikaku không chỉ miêu tả thế giới của t́nh dục và đam mê, Saikaku c̣n viết về tiền bạc và thương măi. Ông ca tụng sự dành dụm và cách tính toán làm tiền. Có tiền sẽ có thêm bầu bạn, bà con. Muốn có tiền phải chăm chỉ và khôn khéo làm việc. Đừng trông mong vào thần thánh v.v…Đó là những chủ trương của ông nhưng ông cũng phê b́nh một xă hội đặt đồng tiền lên trên giá trị đích thực của con người. Trong tác phẩm cuối cùng chưa hoàn thành, ra đời năm 1694, Saikaku Oridome (Bức thêu cuối cùng của Saikaku ), ông có vẻ chín chắn hơn các tác phẩm trước khi cho rằng” Sự giàu có không phải là cái điều cần tung hô v́ nó che đậy những điều xấu xa và v́ nó mà con người mất hết lư trí”. Trong khi ông hô hào “phải dành dụm tiền bạc” th́ ông tỏ ra có một thái độ khinh bỉ đồng tiền. Ở Bức Thêu Cuối Cùng, khi kết luận “ Khác với ngày xưa, chúng ta đang ở vào một thời buổi mà một kẻ tài trí trung b́nh, chỉ cần có chút vốn có thể thành công lớn hơn một kẻ có tài; quả là một thế giới tiền đẻ ra tiền”.

Saikaku bi quan vào lúc cuối đời thật đấy nhưng lúc nào cũng là một kẻ hiếu kỳ, muốn t́m hiểu con người và sự việc chung quanh ông. Nếu Arai Hakuseki (Tân Tỉnh, Bạch Thạch, 1657-1725) quan sát xă hội qua lịch sử và diễn dịch nó dưới khía cạnh thuần lư bằng ngôn ngữ Tống Nho, Saikaku đă quan sát xă hội qua sinh hoạt và chép lại trong tiểu thuyết bằng ngôn ngữ của giới chônin và cả hai đều xuất sắc trong lănh vực của ḿnh.

Cách hành văn của Saikaku có cái hay là đă kết hợp được Tục với Nhă. để thành một văn phong có tính cách chiết trung Ông sử dụng lối văn nói làm căn bản, đó là Tục. Cùng lúc, ông t́m cách cho vào truyện t́nh tiết và lối diễn tả của các tác phẩm cổ điển và yôkyoku (dao khúc, tức là ca từ của tuồng Nô), đó là Nhă. Ông đă trộn được hai thứ với nhau để tạo một phong cách đặc biệt cho ḿnh.Trong Một đời trai đắm sắc, văn ông thường bỏ bớt chủ từ (subject) và thuật ngữ (predicate) và hay sử dụng lối hăm câu nửa vời (rentai-todome). Kiểu viết nầy chịu ảnh hưởng của liên cú (renku) trong lối thơ haikai mà ông là bậc thầy, có thể khó hiểu đối với một số độc giả nhưng bù lại tạo được một văn thể tự do, thích hợp với một nội dung ca tụng sự giải phóng con người khỏi mọi khuôn khổ. V́ thế, nó đă thu được kết quả tốt đẹp. 

B) Những người nối tiếp Saikaku và thể loại Hachimonjiyabon (Bát Văn Tự Ốc bản):

Sau khi Saikaku mất, nhiều người nối tiếp bằng cách mô phỏng ông. Trong số đó, có Ejima Kiseki tuy có bắt chước Saikaku nhưng lại đưa đến thể loại ukiyozôshi một luồng sinh khí. Kiseki nhân cạnh tranh với các quyển Hachimonjiyahon (nôm na là sách của nhà xuất bản Hachimonji) mà thành ra triển khai được ukiyozôshi theo một chiều hướng khác.Trước hết đó là việc sử dụng t́nh tiết lấy từ kịch nghệ để soạn tiểu thuyết có tính lịch sử (jidaimono, thời-đại vật), sau nữa là nêu lên nhấn mạnh đến tâm lư, tính khí của con người. Ông đă có tác phẩm gần gũi với tiểu thuyết hài hước (kokkeibon) như Seken musuko katagi (Thế gian tức tử khí chất, 1725) hay Ukiyo oyaji katagi (Phù thế thân nhân khí chất), gọi chung là loại katagi-mono [11](khí-chất vật) “chân dung tính nết” hay “tâm lư”, khi th́ bàn về tính nết của của các cậu trai trẻ (musuko, 1717), khi th́ bàn về tính nết của bậc làm cha (oyaji, 1720), khi bàn về tính nết các nhà buôn (sekin tedai, 1730) vv… trong thiên hạ.

C) Ejima Kiseki (Giang Đảo, Kỳ Tích, 1666-1735):

Tên thật là Murase Gonnojô (Thôn Lại, Quyền Chi Thừa) là chủ tiệm bánh dầy nổi tiếng Daibutsu Mochiya ở Kyôto nhưng thông hiểu kịch nghệ, có viết sách nghiệp dư về phê b́nh diễn xuất. Nhờ đó, ông quen biết với hiệu sách tên gọi Hachimonji (Bát Văn Tự) và qua họ, xuất bản tiểu thuyết ukiyozôshi của ông, nhưng sau hai bên lại xích mích với nhau chung quanh vấn đề tác quyền. Ông trước đă chịu ảnh hưởng của Saikaku và hay viết loại sách kôshoku-mono (truyện hiếu sắc) như “Cuộc sống của người đẹp lầu xanh” Keiseiiro Samisen (Khuynh Thành[12] Sắc Tam Vị Tuyến) hay “Cấm người đẹp lầu xanh nổi nóngKeisei kin tanki (Khuynh thành cấm đoản khí) bàn về đĩ đực (yarô = dă lang) và gái làng chơi (keisei = khuynh thành) so sánh xem ai hơn ai kém. Dưới h́nh thức (mĩa mai, phúng thích = parody) cuộc thảo luận về tôn giáo ở Azuchi (Azuchi Mondo) cho tướng Oda Nobunaga tổ chức năm 1579 cho các nhà sư phái Tịnh Độ và Pháp Hoa tranh căi, ông đă viết nhại ra Yakei no ryôshuu Azuchi-ron (Dă khuynh lưỡng tôn An Thổ luận) “Cuộc tranh căi ở Azuchi về sự hơn kém giữa đĩ đực và gái điếm”. Ngoài ra, cuộc thảo luận về tôn giáo ở Ôhara (năm 1186?) lúc tăng Hônen (Pháp Nhiên) tŕnh bày quan điểm của ḿnh cho tăng lữ vùng Kyôto cũng bị ông đem ra chế riễu. Thay v́ viết chữ Ôhara trong Ôhara Mondo (Đại Nguyên vấn đáp) là Đại Nguyên (tên đất) như nghĩa “cánh đồng rộng” th́ ông nhại thành Ôhara là Đại Phúc hay “bụng chữa”. Nội dung sách ấy bàn về sinh đẻ và gái điếm. Loại sách nầy v́ liên quan mật thiết đến cuộc sống của người chônin và có cái ranh mănh của loại truyện cười (warai-banashi) với các câu kết luận bất ngờ (ochi) trong nghệ thuật kể truyện rakugo nên được thiên hạ khen ngợi và đưa tên tuổi nhà xuất bản Hachimonji lên cao. Về sau ông mới đổi qua truyện “tuồng tích” (jidaimono) tức tiểu thuyết dă sử và truyện về “tính nết “ (katagimono) tức tiểu thuyết tâm lư.

Sách do nhà sách Hachimonji xuất bản được người đời yêu chuộng trong một thời gian dài v́ thỏa măn thị hiếu tiêu khiển có tính cách dễ dăi. Có điểm là Ejima v́ không biết nhận xét nhạy bén và biểu hiện sống động như Saikaku nên dần dần truyện ông rơi vào chỗ khuôn sáo, làm dáng.Tuy vậy, vào giai đoạn cuối đời Edo, tác giả đang lên Ueda Akinari (Thượng Điền, Thu Thành) dưới bút hiệu Wayaku Tarô (Ḥa Dịch Thái Lang) hay “anh chàng dịch từ Hán qua Nhật”) (và là người trong tương lai sẽ mở ra thời đại tiểu thuyết yomihon) đă đem đến cho tiểu thuyết nhà Hachimonji cái nh́n châm biếm và văn tài sắc sảo qua các tác phẩm như Shodô Kikimimi Sekensaru (Chư Đạo Thính Nhĩ Thế Gian Viên) nói về những “tṛ khỉ đáng cười của người đời” được nghe thấy đó đây và Seken mekake katagi (Thế gian thiếp h́nh khí), một cuốn truyện trong loại “khí chất” (tính nết), nói về các bà vợ bé (thiếp).

TIẾT IV: TIỂU THUYẾT ĐỘC BẢN (YOMIHON):

Danh từ yomihon[13] vốn dùng để chỉ tiểu thuyết chỉ dựa vào văn viết để đọc, phân biệt với loại sách có tranh vẽ (hội bản = ehon) và loại sách với văn từ kể truyện dùng trong tuồng búp-bê jôruri (tĩnh lưu ly). Song le, trong lịch sử văn học, nó mang một ư nghĩa chính xác hơn: Yomihon được hiểu là loại tiểu thuyết xuất hiện ở Nhật vào giữa thế kỷ 18 thay thế tiểu thuyết nhà Hachimonji xuất bản đă quá lỗi thời v́ rơi vào chỗ khuôn sáo, kiểu cách. Sau khi ra mắt ở vùng Kyôto- Ôsaka (văn học Kamigata), yomihon dần dần lan đến Edo. Yomihon ra đời trong giai đoạn Kyôto-Ôsaka được gọi là yomihon giai đoạn đầu. Yomihon ra đời ở Edo gọi là yomihon giai đoạn sau hay Edo-yomihon (yomihon của Edo). 

A) Tiểu Thuyết Độc Bản hay Yomihon giai đoạn đầu:

Người đi tiên phong trong trào lưu yomihon là Tsuga Teishô[14] (Đô Hạ, Đ́nh Chung, 1718-1794). Ông chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết bạch thoại[15] Trung Quốc rất được yêu chuộng bởi giai tầng trí thức thời ấy như giới nhà nho và thầy thuốc. Ông đă cho in những tập đoản thiên truyện kinh dị có tên Hanabusa Zôshi[16] (Anh thảo chỉ) “Tập truyện xưa nay” và  Shigeshige Yawa (Phồn dă thoại) “Tập truyện quê mùa” viết với một lối hành văn mạnh mẽ, dùng nhiều chữ Hán. Sau đó, loại yomihon do những nhà chủ trương quốc học[17] cũng đă xuất hiện và dĩ nhiên, họ viết bằng văn Nhật (Ḥa văn thể). Đó là trường hợp của Takebe Ayatari[18] (Kiến Bộ, Lăng Túc, 1719-1774) viết Nishiyama Monogatari[19] (Tây Sơn vật ngữ) và Honchô Suikoden (Bản Triều Thủy Hử truyện). Thế rồi, có thêm Ueda Akinari (Thượng Điền, Thu Thành) một người đồ đệ của nhà quốc học Kamo no Mabuchi (Gia Mậu, Chân Uyên,1697-1769), từng theo học thuốc với Teishô (Đ́nh Chung) nhập bọn. Như thế, Yomihon thời đầu đă hội đủ nhân tài.

A)    Ueda Akinari (Thượng Điền, Thu Thành, 1734-1809):

 

Cây bút tiểu thuyết truyền kỳ Ueda Akinari

Ông sinh năm 1734, con hoang kỹ nữ xóm b́nh khang Sonezaki. Bị mẹ bỏ rơi, về làm con nuôi một thương nhân tốt bụng ở Osaka. Trước nối nghiệp nhà buôn dầu và giấy sau đổi sang nghề bốc thuốc. Năm Meiwa thứ 5 (1768), Akinari đă viết tiểu thuyết Ugetsu monogatari (Vũ nguyệt vật ngữ) tiêu biểu choYomihon tiền kỳ.Bản thảo được sửa đi sửa lại nhiều lần, 8 năm sau mới đem in. Ugetsu “Truyện Đêm Trăng Mưa” mượn tên tựa đề của một yôkyoku tuồng Nô, gồm 9 truyện kỳ quái, tŕnh bày “cái cố chấp và cứng cơi của ḷng người” dưới h́nh thức truyện ma một cách khéo léo.

Trong Shiramine (Bạch Phong) đó là cái chấp nê của thái thượng hoàng Shuutoku (Sùng Đức Viện) muốn phục thù cho được đến nỗi thân bị đọa thành ma vương, trong “Cái ước cúc hoa” (Kikka no Chigiri) người vũ sĩ cố giữ bằng được tín nghĩa Nho Giáo đến nỗi phải tự sát, “Ḷng dâm của rắn” ( Jasei no in) là ái dục ham đàn ông của xà tinh làm uổng phí công tu…tất cả các nhân vật v́ muốn thỏa măn ḷng ham muốn của ḿnh mà sống ra ngoài cơi thực.Họ không hề mất nhân tính nhưng v́ quá tham lam nên đă làm lộ ra cái chấp nê vốn ẩn dấu trong chiều sâu bản tính con người.

Một cảnh trong “Ḷng dâm của rắn”

Sau đây là tóm lược truyện “Ngôi nhà trong lùm sậy” (Asaji no yado), một trong 9 truyện nói trên:

Xưa có một anh nhà nông tên Katsushirô sống ở làng Mama, quận Katsushika, tỉnh Shimousa (Chiba bây giờ).Thân thích không ai, muốn gây dựng sự nghiệp nên làm nghề bán hàng rong, cùng với một gă tên Sasabe no Sôji, rủ rê nhau lên kinh đô đi buôn.Vợ của Katsushirô là Miyaki, một người vừa đẹp vừa hiền, can gián chồng đừng đi xa nhưng ta không nghe, chỉ hẹn mùa thu th́ về.

Năm đó vùng Kantô bất ổn, các tướng Uesugi và Ashikaga Shigeuji bất ḥa. Dân chúng điêu linh v́ loạn lạc nhưng Miyaki tin lời chồng hẹn cứ chờ đợi. Khổ là nhiều người thích nhan sắc nàng cứ ngấm nghé nên ḷng nàng đâm ra bất an. Ở kinh đô, công việc buôn bán của Katsushirô cũng khấm khá nhưng nghe tin đường về đă tuyệt nên anh ta có chần chờ nán lại. Giữa lúc ấy lại bị sốt, phải nằm dọc đường ở Ômi để tĩnh dưỡng.Bảy năm trôi qua.

Lúc đó ở đất Kawachi (Ôsaka), các tướng họ Hatakeyama xâu xé nhau, đất kinh đô cũng loạn lạc, thêm dịch đậu mùa. Katsushirô nhất định về quê, mười hôm sau đă tới nơi.

Mặt trời ngă về tây , mây đen kéo xuống nhưng đă quen đường đất nên Katsushirô cứ tiếp tục đi. Rẽ cỏ mùa hạ bước tới, anh ta chỉ thấy đồng ruộng hoang vu, không lấy một bóng nhà dân. Cảnh vật hoàn toàn khác trước. Theo dấu cây tùng bị sét đánh t́m lại chốn cũ th́ thấy ngôi nhà vẫn như xưa, đằng hắng lên tiếng th́ vợ ḿnh, có già hơn xưa, cất tiếng hỏi: “Ai đó?”.

Katsushirô tạ tội đă bỏ nhà đi quá lâu, an ủi người vợ đang khóc nức nở. Cùng nằm ngủ một đêm với nhau, sáng mở mắt ra th́ thấy căn nhà đă đổ nát cả mà dây leo dây sắn ḅ lan khắp nơi, lau sậy mọc um tùm.

Nghĩ rằng nơi đây chồn cáo sinh sống lâu năm nên có thể là ma quỉ hiện h́nh thành Miyaki quấy phá ḿnh chăng nhưng chỗ ngủ chính là phần mộ của vợ, bên cạnh có bài thơ từ giă cuộc đời mà nàng để lại. Lúc đó Katsushirô mới biết rằng vợ ḿnh đă chết và người đàn bà tối qua chính là hồn ma của nàng.

Sau đó, Katsushirô mới làm lễ cúng và qua thăm ông lăo Urumano Okina, người cùng thôn, mới biết về cuộc sống cơ cực của nàng và t́nh cảnh lúc lâm chung. Ông c̣n cho biết Miyaki c̣n khổ hơn là nàng con gái đẹp tự trầm trong truyền thuyết “Mamategona từ chối cầu hôn” của làng ḿnh. Ông vừa kể mà không cầm được nước mắt.

(Theo Ugetsu Monogatari, Asaji no Yado)

Một truyện được dịch ra ngoại ngữ rất nhiều là “ Cái ước cúc hoa ” hay “ Hẹn mùa hoa cúc ” (Kikka no Chigiri) :

“ Ở trạm Kako xứ Harima (gần Kôbe bây giờ) có người hàn sĩ tên gọi Hasebe Samon, sống hẩm hút với bà mẹ già. Một hôm đến chơi nhà bạn cùng thôn, gặp một người lữ khách đang lâm bệnh.V́ biết nghề thuốc, Samon chữa chạy cho người ấy lành bệnh . Sau đó, thấy ông ta là một vũ sĩ tướng mạo đường đường, thông hiểu binh thư, mới kết nghĩa sinh tử chi giao, c̣n đưa về ra mắt mẹ già. Chẳng bao lâu người ấy có việc riêng phải lên đường đi xuống vùng Izumo, nơi ông ta có lần giảng binh thư cho Enya, quan trấn thủ ở đó. Cảm t́nh quyến luyến của Samon nên Akana Sôemon, người anh kết nghĩa ấy, hẹn đúng tiết trùng dương, khi hoa cúc nở, sẽ trở lại.

Thế rồi Akana Sôemon đi biền biệt. Đến ngày trùng dương, Samon bày tiệc thanh đạm có ṿ rượu cúc để chờ nhưng đến khuya, lúc trăng đă tàn, Sôemon măi vẫn không thấy. Samon buồn bực, than thở. Người mẹ dỗ măi không xong bèn vào ngủ trước. Lúc đó mới thấy Sôemon tới nơi. Samon mừng rỡ không xiết, mời vào chiếu rượu.

Tuy nhiên, lúc ăn uống, Sôemon có vẻ không vui Samon hỏi dzuyên cớ th́ Sooemon cho biết ḿnh không c̣n là người trên dương thế, chỉ là một hồn ma vất vưỡng nhưng v́ nhớ lời hẹn mới quay về. Nói xong, theo trận âm phong mà biến mất.

Samon mới biết chính hôm đó, Sôemon bị kẻ phản bội theo viên trấn thủ mới,, giết chủ cũ tức ngài Enya để đoạt chức, bắt giam trong ngục thất. Không sao về đúng tiết trùng dương, Sôemon đă tự sát để linh hồn vượt ngàn dặm t́m trở lại, giữ cho được cái ước cúc hoa. V́ quá xót xa, Samon bèn bái biệt mẹ già, lên đường đi xứ Izumo để báo thù cho anh. Sau đó, kể tội và giết được kẻ phản bội rồi trốn và thoát thân được v́ bè đảng kẻ địch cảm động trước ḷng nghĩa khí của ông không đuổi theo”.

(Theo Ugetsu monogatari, Kiku no chigiri)

Trong bài tựa cuốn truyện ông cho biết đă viết xong Ugetsu vào “một đêm cuối xuân năm Meiwa thứ 5, lúc mưa vừa tạnh nhưng nh́n qua khung cửa sổ trăng c̣n lu”. Ông khuyên người đời “đừng xem đây là những chuyện thật” th́ may ra con cháu ông khỏi gánh tai họa như La Quán Trung v́ viết tiểu thuyết Thủy Hử mà ba đời về sau c̣n mắc bệnh câm, hoặc như bà Murasaki Shikibu ngày xưa v́ soạn Truyện Genji phải sa vào địa ngục. Dĩ nhiên những chuyện ǵ xăy đến cho hai người viết tiểu thuyết đó th́ không ai có thể kiểm chứng nổi.

Văn Akinari lấy sự pha trộn Ḥa và Hán làm gốc, hơi văn mạnh nhưng có cái buồn man mác, gây được không khí ma quái tương xứng với nội dung Ugetsu monogatari. Trong Ugetsu, người ta nhận ra ảnh hưởng gần của Tsuga Teishô (Đô Hạ, Đ́nh Chung) từ Hanabusa zôshi (Anh thảo chỉ) và Shigeshige Yawa (Phồn dă thoại) và do đó, ảnh hưởng gián tiếp Trung Quốc đời Minh từ Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu, Cổ Kim Tiểu Thuyết, Dụ Thế Minh Ngôn, Cảnh Thế Thông Ngôn, Tỉnh Thế Hằng Ngôn Phùng Mộng Long[20]. Ông cũng sử dụng một cách khéo léo ngôn ngữ, điển cố từ Truyện Genji và các tác phẩm Nhật Bản nữa.

Ueda Akinari sống suốt quảng đời thanh xuân trong xóm ăn chơi, làm thơ haikai với bút hiệu là Gyôen (Ngư Yên).Về sau, ông theo học quốc học và từng tranh luận với Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường), nhà tư tưởng quốc học lớn thời bấy giờ về Thái Dương thần nữ. Văn châm biếm của ông cực kỳ cay độc.

Cuối đời, ông c̣n viết 10 truyện gộp lại trong Harusame Monogatari (Xuân vũ vật ngữ, Truyện Mưa Phùn, 1808) để kư thác cách nh́n về lịch sử, học vấn và tư tưởng của ḿnh. Nếu Ugetsu lấy văn chương Trung Quốc làm nguồn sáng tác th́ Harusame, ra đời 30 năm sau, t́m cảm hứng từ đề tài Nhật Bản trong quá khứ hay cùng thời đại. Văn thể cũng Nhật hóa đi nhiều so với tác phẩm trước. Trong Harusame, sáng tác và tri thức như ḥa nhập thành một. Tác phẩm nầy như thể gói trọn nhân sinh quan của tác giả lúc cuối đời.

C) Tiểu Thuyết Độc Bản hay Yomihon giai đoạn sau:

Bước qua thế kỷ 19, trung tâm xuất bản đă dời từ vùng kinh kỳ (Kamigata) tức là Kyôto và Ôsaka để về Edo ở miền đông. Người đặt nền móng cho yomihon thời sau là Santô Kyôden (Sơn Đông, Kinh Truyền, 1761-1816). Tên thật của ông là Iwase Samuru (Nham Lại, Tinh), sinh ra trong một gia đ́nh làm nghề cầm đồ ở khu Fukagawa, một khu của cư dân kẻ chợ ngoại thành Edo. Ông c̣n là thầy vẽ tranh ukiyo-e với biệt hiệu là Kitao Masanobu (Bắc Vĩ, Chính Diễn). Ông quan sát và thấy được cả mặt tốt của thế giới lầu xanh Yoshiwara[21] (Cát Nguyên), cái gọi là “mặt ẩn dấu” (ugachi) bên trong, đem nó vào các tiểu thuyết thông tục có tính chất hoạt kê và để lại nhiều kiệt tác. Về thể loại sharebon, ông có “Truyện Xóm Lầu XanhTsuugen Sômagaki (Thông Ngôn Tổng Ly)[22], loại sách b́a vàng kibyôshi th́ có “Tập Truyện Chơi Bời Trai Gái Đất EdoEdo-umare Uwaki no Kabayaki (Giang Hộ Sinh Lệ Khí Hoa Thiêu, 1785) là những tác phẩm tiêu biểu. Sharebonkibyôshi của Kyôden bán chạy như tôm tươi nhưng từ khi chính quyền có cuộc thẩm tra buộc ngành xuất bản theo đúng tinh thần cuộc cải cách năm Kansei, ông phải chuyển hướng qua yomihon và để lại những tác phẩm thuộc loại đao kiếm như “ Truyện Đạo Tặc Trung NghĩaChuushin Suikoden (Trung Thần Thủy Hử Truyện, 1799) và Mukashigatari Inazuma Byôshi (Tích Ngữ Đạo Thê Biểu Chỉ, Ánh Chớp Thời Xưa, 1806).

 

D)    Kyokutei Bakin (Khúc Đ́nh Mă Cầm, 1767-1848):

 

Kyokutei Bakin, tác giả Hakkenden (Bát Khuyển Truyện)

Người nối gót Kyôden trong giai đoạn Yomihon hậu kỳ là Kyokutei Bakin, học tṛ của ông. Bakin chẳng mấy lúc vượt cả Kyôden, trở thành nhà văn yomihon tiêu biểu. Ông đă bỏ ra 28 năm trời để hoàn thành “Tám Con Chó nhà Satomi ở Chiba” Nansô Satomi Hakkenden (Nam Tổng Lư Kiến bát khuyển truyện, 1814-1842), một bộ tiểu thuyết kiếm hiệp trường thiên gồm 106 quyển..

Bakin tên thật là Takizawa Toku (Lũng Trạch, Giải), xuất thân từ một gia đ́nh vũ sĩ hạng thấp ở một phiên trấn thuộc thành phần trung kiên (hashimoto) của mạc phủ. Ông theo học viết văn ở cửa Kyôden. Lúc về già bị mù, nhờ vợ giúp sức, ông đă hoàn thành Hakkenden, tác phẩm để đời của ông. Truyện nầy dựa theo Thủy Hử truyện của Trung Quốc và lấy bối cảnh vùng Nansô (thuộc Chiba bây giờ) của thế kỷ 15 thời kỳ cuối mạc phủ Ashikaga. Cốt truyện giàu t́nh tiết và gay cấn đưa người ta phiêu lưu với tám người dũng sĩ trung nghĩa của ḍng họ Satomi (con của một công nương với một con linh khuyển) mang tên 8 đức tính Nho Giáo là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Trung, Hiếu, Để. Từ cuối đời mạc phủ bước qua thời Duy Tân, truyện nầy đă làm dân chúng say mê. Ngoài ra, Bakin c̣n có những tác phẩm đáng kể khác như “Giấc mộng Nam Kha của Sanshô và Hanshichi” Sanshichi zenden Nanka no yume (Tam Thất toàn truyện Nam Kha mộng, 1808) và “Dương cung như vành trăng” Chinsetsu yumiharizuki (Thung[23] thuyết cung trương nguyệt), cùng với Hakkenden (Bát khuyển truyện) được xưng tụng như ba quyển kỳ thư đương thời. Truyện đầu nói về tấm gương trung hiếu tiết nghĩa của hai người tên Kasaya Sanshô và Akane Hanshichi, theo đúng quan điểm vũ gia có tinh thần Nho Giáo.Truyện sau kể lại hành tung của chàng Chinzei Hachirô (Trấn Tây Bát Lang) tức là Minamoto no Tametomo (Nguyên, Vi Triều), một vũ sĩ giỏi nghề cung tiễn, bị thua trận sau cuộc loạn Hôgen (Bảo Nguyên, 1156) đă trôi nổi xuống vùng Izu Ôshima, đảo Kyuushuu và quần đảo Ryuukyuu như thế nào. Truyện này đă được họa sư Hokusai minh họa.

Đặc điểm của yomihon của Bakin là tư tưởng khuyến thiện trừng ác của nhà nho theo quan điểm Chu Tử học và tư tưởng nhân quả ứng báo của nhà Phật mà ông dùng để “che chở” cho cốt truyện đồ sộ và kết cấu chặt chẽ của ông để khỏi bị cấm đoán. Và để cho tổ chức của cốt truyện có tính hợp lư, ông không những đă dựa vào lư luận tiểu thuyết của Trung Quốc mà c̣n sử dụng lư luận bảy nguyên tắc của haishi [24](bại tử = tiểu thuyết) trong quá tŕnh sáng tác.

 

Trận quyết đấu trên gác Hôryuu trong Hakkenden (Bát khuyển truyện, 1814-42),
tiểu thuyết kiếm hiệp trường thiên gồm 106 quyển của Kyokutei Bakin (Khúc Đ́nh, Mă Cầm).

E) Đặc điểm của Tiểu Thuyết Độc Bản (Yomihon) mỗi thời kỳ:

Kiyoto Noriko và Nagashima Hiroaki [25]cho rằng cái khác nhau giữa yomihon của hai thời kỳ là tính cao sang của tác phẩm tiền kỳ và tính tiêu khiển của tác phẩm hậu kỳ. Truyện của Tsuga Teishô, Takebe Ayataki và Ueda Akinari không đặt trọng tâm vào độc giả cho bằng Santô Kyôden hay Kyokutei Bakin. Các tác giả thời kỳ đầu là những tay tài tử trong khi lớp sau là những người chuyên nghiệp nên không thể cùng có một tác phong cầm bút. Khi họ viết, những nhà văn yomihon lớp trước có mục đích bày tỏ quan điểm của ḿnh cho những người có học vấn cùng tầm cỡ trong khi lớp sau nhắm độc giả đại chúng nên thường dệt nên những t́nh tiết éo le và cổ xúy luân lư đạo đức.

TIẾT V: TIỂU THUYẾT DÂM T̀NH HAY TRĂNG HOA (SHAREBON) :

Sharebon[26] lấy các xóm ăn chơi làm bối cảnh, quan hệ giữa khách làng chơi với gái buôn hương làm đề tài. Ngày nay chữ share (tửu lạc) có nghĩa là “ư nhị”, “thanh lịch” hay “làm dáng” nhưng thời đó dùng để chỉ chuyện phong t́nh chốn lầu xanh mà theo Sieffert[27], gần như là chuyện dâm ô (pornography). Tuy mang tiếng là h́nh thức văn học nói chuyện trăng hoa nhưng nó có hiệu năng phô bày mặt ẩn dấu trong phong tục xă hội đương thời. Trong khoảng năm Hôreki (Bảo Lịch, 1751-1764), có thêm thể loại văn chương phóng túng gọi là kyôbun[28] (cuồng văn) do bọn trí thức tinh thông Hán học đề xướng và nhờ loại tác phẩm như “Đọan đường phóng đăng” Yuushi Hôgen [29](Du tử phương ngôn) của một người tên có thể hiểu là một “lăo nhà quê tầm thường” Inaka Rôjin Tada no Jijii (Điền Xá Lăo Nhân Đa Điền Gia). Với đặc điểm miêu tả chi li, tinh tế qua văn từ và tranh vẽ, sách sharebon đă xác định được chỗ đứng. Các kiệt tác khác trong thể loại nầy là “Truyện xóm lầu xanh” Tsuugen Sômagaki (Thông ngôn tổng ly) và “ Bốn mươi tám cách mua người đẹp lầu xanh ” Keiseigai yonjuuhachite[30] (Khuynh thành mại tứ thập bát thủ) của Santô Kyôden (Sơn Đông, Kinh Truyền), cả hai đều miêu tả chi tiết về cách làm ăn trong những nhà chứa ở vùng Yoshiwara.

Tuy thế, sau đó, h́nh thức của loại tác phẩm nói trên không đi xa hơn được nữa. Khoảng năm Tennei-Kansei (Thiên Minh & Khoan Chính), có cuộc cải cách Kansei (1787-1793) của chức Rôjuu[31] là đại thần Matsudaira Sadanobu chống xa xĩ đồi trụy cho nên các tập sharebon của Kyôden trở thành đối tượng của cấm đoán và xử phạt. Từ đó thể loại nầy mới suy thoái đi.    

Kyôden, cũng là họa gia Kitao Masanori, tự minh họa tác phẩm ḿnh.

Sau đây là một đoạn ngắn trích từ “ Bốn mươi tám cách mua gái lầu xanh ” :

Khách: Sao em quấy phá anh như vậy? (anh chàng kéo nàng sát vào người).

Gái: (Cười): Ai biểu anh làm em mê anh chi!

(Nàng luồn tay dưới gối của khách và hôn lên môi anh ta)

Em không thấy kinh hai tháng nay rồi đó! Em lo quá anh ơi!

(Nàng ṿng tay ôm lưng của khách)

Ê, đồ không biết mắc cỡ ḱa. Cởi thắt lưng ra đi!

(Nàng cởi thắt lưng khách , kéo nó khỏi tấm áo rồi cởi cả giải lưng của ḿnh. Hai người ôm nhau, trần truồng…Khi đó, chuông đă điểm sáu tiếng).

Tác giả (Kyôden) bàn: Cái tụi dễ ghét!

Sau đó tác giả viết thêm lời b́nh “Đứng ở ngoài nh́n vào th́ thấy hành động như thế chẳng đâu vào đâu nhưng nếu bạn ở trong hoàn cảnh đó th́ sẽ thấy hoàn toàn hợp lư”.

TIẾT VI: TIỂU THUYẾT HÀI HƯỚC (KOKKEIBON):

Như tên tiếng Hán của nó cho ta thấy, đây là loại tiểu thuyết có mục đích làm cho người ta cười.Loại nầy được chia làm hai tùy theo giai đoạn xuất hiện: loại sách hoạt kê nằm trong phong cách dangibon (đàm nghĩa bản) ra đời giữa khoảng năm Hôreki (Bảo Lịch, 1751-1764) gọi là tiểu thuyết hoạt kê tiền kỳ và những sách phát hành sau khi “Chuyến phiêu lưu trên đường Tôkaidô” (Tôkaidôchuu hizakurige, Đông Hải Đạo trung tất lật mao) ra mắt vào năm Kyôwa thứ 2 (1802), gọi là hoạt kê hậu kỳ.

Tiểu thuyết hoạt kê giai đoạn đầu thường mang màu sắc giáo huấn và phúng thích. Ta biết loại dangibon (đàm nghĩa bản) vốn là sách dùng để giảng nghĩa đạo Phật cho dân chúng bằng cách thức dể hiểu dưới dạng tiểu thuyết. Đi tiên khu cho loại nầy có “Lời quê bàn chuyện đời nay” Imayô heta dangi (Đương thế hạ thủ đàm nghĩa, 1752) của Jôkanbô Kôa (Tĩnh Quan Pḥng, Hảo A, không rơ năm sinh năm mất).

Sau đó có “ Cánh Bèo” Nenashigusa (Căn nam chí cụ tá) và “Truyện phong lưu của Shikôden” Fuuryuu Shidôken-den (Phong lưu Chí Đạo Kiên truyện, 1761) do một người mang bút hiệu Fuurai Sanjin (Phong Lai Sơn Nhân) viết với cốt truyện kỳ dị và văn thể phóng túng được coi là tiểu thuyết hoạt kê xuất sắc, châm biếm xă hội không thương tiếc. “Cánh Bèo” lấy bối cảnh xóm chơi bời và tuồng hát hay chốn địa ngục mà nhân vật chính nh́n thấy trong giấc mộng. C̣n Shikôden, nhân vật của tác phẩm thứ hai là một lăo già sống bằng nghề kể chuyện hài hước trong xóm b́nh dân Asakusa ở Edo, tự cho ḿnh hồi nhỏ đă học được phép phù thủy để rong chơi (như cánh bèo đến) những xứ sở lạ lùng nơi có những con người dị thường. Trong những chốn lăo ghé qua có ḥn đảo đàn bà (Nyogo no Shima), nơi mà đàn ông bắt buộc làm đĩ cho các bà, nghĩa là cuộc đời lộn ngược nếu so sánh với những ǵ đang xảy ra ở Edo. Người phù thủy thầy của lăo nhân “lêu bêu” đó giải thích cho Shidôken “lẽ tương đối” ở đời và khuyên hăy trở lại Edo để giáo hóa dân chúng, bảo họ đừng sống theo luân lư Khổng giáo chỉ xài được ở Trung Quốc mà phải sống với t́nh cảm đích thực của con người Nhật Bản..

1) Hiraga Gennai (B́nh Hạ, Nguyên Nội, 1728-1779)

Người mang cái tên Fuurai Sanjin không ai khác hơn là Hiraga Gennai, một con người tài trí và đặc sắc sống dưới thời đại thần Tanuma Okitsugu (Điền Chiểu, Ư Thứ, 1767-1786) cầm quyền. Ông sinh trong một gia đ́nh samurai chức phận khiêm tốn ở vùng Takamatsu, đă được hứa hẹn một chức thư lại nhỏ trong phiên nhưng từ nhỏ ông đă có tính hiếu kỳ, tư tưởng tiến bộ và ư hướng sống đời phiêu lưu. Bỏ hết để lên Edo, ông không những chỉ ăn học, vẽ tranh, mà c̣n làm đủ mọi thứ nghề để mưu sinh và có nhiều ư kiến lạ lùng xuất sắc đi trước thời đại như thí nghiệm đan len, làm đồ sứ, máy phát nhiệt điện, hàn thử biểu, quảng cáo bột đánh răng và thịt lươn nướng, làm da giả. Phần nhiều việc ông đề xướng hay thực hiện đều đi đến thất bại.

Ông vừa là nhà bác học (đương thời gọi là honzô gakusha hay bản thảo học giả) lại là nhà Lan học (người nghiên cứu kỹ thuật của Ḥa Lan). Ông đă viết phần đầu của “ Cánh Bèo” Nenashigusa và sau đó là “Truyện phong lưu của Shikôden” Fuuryuu Shidôken-den. Một tác phẩm phúng thích của ông mang cái tên lạ lùng là Luận về đánh rắm (Hôhiron = Phóng thí luận). Ông c̣n có tài viết bản tuồng búp-bê jôruri . Tiếc thay, trong một lần nổi cơn điên, ông gây thương tích trí mạng người khác, bị giam vào ngục và chết v́ bệnh trong đó (1779).

Về tiểu thuyết hoạt kê giai đoạn sau, nó đă bắt đầu khi Jippensha Ikku (Thập Phản Xá Nhất Cửu) cho ra đời Tôkaidôchuu Hizakurige [32](Đông Hải Đạo Trung Tất Lật Mao).

2) Hai nhà tiểu thuyết Ikku và Sanba (Nhất Cửu và Tam Mă)

Chuyến phiêu lưu trên đường Tôkaidô” hay Hizakurige là truyện nói về Yarirôbê (Di Thứ Lang Binh Vệ) và Kitahachi (Bắc Bát hay Hỉ Đa Bát), hai nhân vật phiêu lưu giang hồ, trên bước lũ hành đă gây nên hết trớ trêu này đến trớ trêu khác và có khi lại trở thành nạn nhân chính ḿnh chỉ v́ cái tính quỉ quái tinh ma của họ. Tiểu thuyết sử dụng h́nh thức thơ phóng túng kyôka (cuồng ca) chen lẫn với văn đối thoại để thuật chuyện một cách hài hước, rất được người đương thời tán thưởng. Từ đó, các tục biên (86 tập) cùng thể loại Hizakurige-mono (Tất-Lật-Mao vật) đă thi nhau ra đời trong ṿng 20 năm trời (1802-1822). “Tất “có nghĩa là đầu gối, “lật mao” là lông ngựa hung đỏ. “Tất lật mao” có ư nói “lết bằng đầu gối”, “du lịch bằng chân thay ngựa”, nghĩa bóng là “lê la khắp nơi”.

 

 

Yarirôbê và Kitahachi, hai gă giang hồ đại náo 53 nhà trạm dọc đường Tôkaidô.

a) Jippensha Ikku (Thập Phản Xá, Nhất Cửu , 1765-1831):

Jippensha Ikku tên thật là Shigeta Sadakazu (Trọng Điền, Trinh Nhất), sinh trong một gia đ́nh vũ sĩ cấp dưới ở Shizuoka và đă sống quăng đời thanh niên ở Ôsaka. Sau đó ông lên Edo nương nhờ một ông chủ nhà xuất bản kiêm phát hành sách và trở thành nhà viết tiểu thuyết hài hước đầu tiên “sống được bằng ng̣i bút” sau thời gian thử soạn tuồng cho sân khấu jôruri với bút hiệu Chikamatsu Yoshichi (Cận Tùng, Dư Thất). Ông là nhà văn biết diễn đạt khéo léo, đă để lại nhiều tác phẩm thuộc loại b́a vàng kibyôshi và truyện dâm sharebon. Ông biết đón ư độc giả nên rất ăn khách. Văn chương của ông giúp người kẻ chợ mua được một trận cười để quên đi những khó nhọc trong cuộc sống của họ và cũng cho họ du lịch bằng trí tưởng tượng đến những nơi xa lạ, điều mà bản thân họ không có phương tiện thực hiện.

b) Shikitei Sanba (Thức Đ́nh, Tam Mă, 1776-1822)

 

 

Shikitei Sanba, viết tiểu thuyết hoạt kê sau khi quan sát kỹ lưỡng hiện trường

Sanba đi sau Ikku một ít lâu trong lănh vực tiểu thuyết hoạt kê. Ông xuất thân từ Edo, cha chuyên nghề mộc bản. Ông vào làm công trong hiệu sách từ bé, nhân đó theo con đường viết tiểu thuyết. V́ hâm mộ tài năng Santô Kyôden nên ông lần hồi thử viết đủ các lối từ kibyôshi qua gôkan đến sharebon. Samba đă viết Ukiyoburo (Phù Thế Phong Cung, 1809-1813) và Ukiyodoko (Phù Thế Sàng, 1812-1814) miêu tả cảnh đời của giới b́nh dân Edo khi đi nhà tắm công cộng (sentô hay furo) hoặc lúc đến tiệm bới tóc (kamiyuidoko). Nhà tắm[33] và tiệm bới tóc là chỗ đi lại, gặp gỡ của người dân Edo thuở ấy. Sanba đă bộc lộ được tính t́nh, cách phát âm, lời ăn tiếng nói của nam nữ già trẻ gặp nhau ở đó lên trên mặt giấy một cách hiện thực. Cuộc sống thanh b́nh của người dân Edo được mô tả ra sống động trong tiếng cười. Chỉ có thiên thứ 3 của Ukiyodoko là không phải ông viết mà do một người tên gọi Ryôtei Rijô (Liễu Đ́nh, Lư Trượng) chấp bút và được xuất bản năm 1823.

Sanba đă thử viết càng trung thực chừng nào hay chừng nấy cách ăn nói ngày thường của người dân Edo mà ông đă ghi chép nguyên văn từ cách phát âm trở đi. Do đó, Sanba đă ảnh hưởng lên trên các h́nh thức nghệ thuật tŕnh diễn trước công chúng như rakugo (lạc ngữ, tức là kể truyện khôi hài bằng cách chơi chữ hoặc với kết luận bất ngờ) hay ukiyomane (Phù thế vật chân tự) tức là tṛ nhái y giọng người khác (mane = chân tự = giống như thật) để chọc cười khán giả.

TIẾT VII: TIỂU THUYẾT ÁI T̀NH (NINJÔBON):

Ninjôbon có nghĩa là truyện nói về t́nh người (ninjô) nhưng ở đây phải hiểu trong nghĩa truyện luyến ái của người đương thời.Nó vừa sử dụng phương pháp viết tiểu thuyết thông tục của loại yomihon hậu kỳ vừa đưa thêm vào đó màu sắc hiện thực và miêu tả phong tục của sharebon. Sân khấu của loại truyện nầy khác sharebon ở chỗ không cứ là xóm b́nh khang mà ở bất cứ nơi nào có trai gái mê nhau. Đối tượng chủ yếu của nó là loại độc giả phụ nữ mơ tưởng đến chuyện phiêu lưu t́nh cảm. Phải kể đến các tác phẩm có tính cách tiêu biểu như Shunshoku umegoyomi (Xuân sắc mai nhi dự mỹ) tạm dịch “Cuốn lịch cảnh hoa mơ mùa xuân” và Harutsugedori (Xuân cáo điểu) có nghĩa là “Chim báo tin xuân”của tác giả Tamenaga Shunsui.

Tamenaga Shunsui (Vi Vĩnh, Xuân Thủy, 1790-1843)

Shunsui tên thật là Sasaki Sadataka (Tá Tá Mộc, Trinh Cao). Ông c̣n có hiệu là Echizenya Chôjirô (Việt Tiền Ốc, Trường Thứ Lang), trước bán sách rong, sau mở hiệu sách. Ông từng kể truyện chuyên nghiệp (kôshakushi: giảng thích sư), một nghề thịnh hành dưới thời Edo, nhất là kể về những trận đánh (guntan = quân đàm) nổi tiếng hào hứng. Tuy ông theo học danh sư Shikitei Sanba thật đấy nhưng khi viết, ông hay cậy người khác giúp sức. Loại sách ông viết từ đầu chí cuối tương đối hiếm. Tác phẩm Shunshoku umegoyomi “Cuốn lịch hoa mơ mùa xuân” (1832-1833) gồm 20 hồi dài cả thảy 50 quyển viết mất 10 năm của ông xoay chung quanh con người lẳng lơ Tanjirô (Đan Thứ Lang) và 3 nàng con gái. Anh chàng con nuôi một mụ Tú Bà nầy tuy đă hứa hôn với nàng Ochô rồi mà c̣n vung vít với các cô t́nh nhân khác như Yonehachi và Adakira, cả hai đều là geisha ở khu Fukagawa. Câu truyện đầy t́nh tiết ly kỳ và hấp dẫn, miêu tả cảnh tượng trớ trêu nầy và sự ghen tuông của cô vợ chưa cưới. Ngoài cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho loại ninjôbon này, ông c̣n có Harutsugedori (Xuân cáo điểu) “Chim báo tin xuân” nữa.

Cuộc cải cách năm Tenpô (Thiên Bảo, 1841-1843) do chức Rôjuu là Mizuno Tadakuni (Thủy Dă, Trung Bang) đề xướng nhằm chấn hưng phong tục đă lấy tác phẩm của Shunsui làm đối tượng để trừng trị (phạt tác giả mang gông 50 ngày, c̣n sách th́ bị đem ra đốt và cấm lưu hành). Tuy rằng đây là cuộc cải cách cuối cùng của mạc phủ Edo trước ngày diệt vong nhưng nó hăy c̣n đủ sức để bóp chết ninjôbon. Đến đời Meiji, người ta mới t́m lại được trong tác phẩm của nhóm bạn văn Ken.yuusha (Nghiễn Hữu Xă) ảnh hưởng to lớn của văn chương ninjôbon. 

TIẾT VIII: TIỂU THUYẾT MINH HỌA (KUSAZÔSHI):

Chữ kusazôshi [34]dùng để chỉ loại sách ra mắt người đọc khoảng năm Enbô (Diên Bảo, 1873-1881) trở đi. Cách trang trí bên ngoài sách lẫn nội dung đều đă thay đổi so với những tác phẩm trước đó. Nó là những tập sách mỏng in khổ trung b́nh (chuuhon) tức khổ xếp đôi cho nhỏ đi, dày khoảng mươi trang, với b́a đủ màu, chêm tranh ảnh. Nào b́a đỏ (akahon), b́a đen (kurohon), b́a xanh (aohon), b́a vàng (kibyôshi), nào tập đóng thành quyển (gôkan). Sách b́a đỏ là loại cổ tích hay truyện nhi đồng viết cho trẻ em xem như Shitakire suzume (Truyện con chim sẻ đền ơn) hay Sarugani gassen (Viên giải hợp chiến) “Cua và khỉ đánh nhau”. C̣n loại b́a xanh và đen th́ thường xuất bản song song, vốn không khác nhau bao nhiêu nhưng đều có đặc tính là viết cho người lớn hơn là cho con nít, có tính cách sáng tác và có lớp lang như kịch bản. Loại b́a vàng phần lớn được xuất bản thành 3 tập thượng, trung, hạ, tất cả dày cỡ mười lăm trang (3 x 15). Quyển b́a vàng đầu tiên được biết đến là “Giấc mộng vinh hoa của thầy KinkinKinkin sensei eiga no yume[35] (Kim Kim tiên sinh vinh hoa mộng) của Koikawa Harumachi [36](Luyến Xuyên, Xuân Đinh, 1744-1789) ra đời kể từ năm An-ei (An Vĩnh) thứ tư (1775).

 

Anh nhà quê Kinbê lên tỉnh, nghĩ chân cửa hàng bánh nướng bột kê

Loại kusazôshi này, dần dà với h́nh thức văn chương và tranh ảnh bổ túc cho nhau (song tử) thêm vào nội dung nói về phong tục tập quán người đời, đă dần dần biến thành truyện minh họa dành cho người lớn.Thêm thắt vào kỹ xảo phúng thích tinh vi nữa là đủ tạo ra những tác phẩm như “Truyện chơi bời trai gái đất EdoEdo-umare Uwakinokabayaki [37](Giang Hộ sinh diễm khí hoa) của Kyôden và “Phật Quan Âm đi mượn tay” Daihi no senroppon [38](Đại Bi Thiên Lộc Bản) của Shiba Zenkô[39] (Chi, Toàn Giao, 1750-1793). Thế nhưng sau khi có sự kiện tác phẩm Bunbu Nidô Mangokudôshi (Văn vũ nhị đạo vạn thạch thông) của Meiseidô Kisanji[40] (Minh Thành Đường Hỉ Tam Nhị, 1735-1813) bị đặt vấn đề v́ không theo đúng mực thước của cuộc cải cách năm Kansei (Khoan Chính), loại tiểu thuyết b́a vàng vốn có đặc tính nh́n thấu (ugachi) cái kệch cởm của tuồng đời bị áp lực chính quyền đă phải thối lui. Thay vào chỗ của nó là loại văn chương đạo đức có khuynh hướng tâm học[41] và loại tiểu thuyết phục thù rữa hận.

TIẾT IX: TIỂU THUYẾT ĐÓNG TẬP (GÔKAN) :

Loại văn chương “báo thù rửa hận” nhờ được truyền bá rộng răi sau đă chuyển sang truyện dài, in ra nhiều tập nhỏ đóng thành quyển tên gọi gôkan (hợp quyển) tức “truyện đóng tập”. “Truyện hung bạo của Ikazuchi Tarô” Ikazuchi Tarô Gôaku Mongatari (Lôi Thái Lang Cưỡng Ác Vật Ngữ) của Shikitei Sanba là tác phẩm chuyển tiếp giữa kibyôshigôkan. Tuy nhiên, đại biểu cho loại gôkan phải là “Murasaki giả, Genji ruộng” Nise Murasaki Inaka Genji [42](Giả Tử Điền Xá Nguyên Thị) của Ryôtei Tanehiko[43] (Liễu Đ́nh, Chủng Ngạn, 1783-1842) ), lấy sinh hoạt trong hậu cung của Tướng Quân Ienari (Gia Tề) làm đề tài. Nhân vật chính của cuốn truyện là Ashikaga Mitsuuji (Túc Lợi, Quang Thị), một nhân vật thời mạc phủ Ashikaga. Nên để ư chữ Mitsuuji (Quang Thị) c̣n có thể hiểu là Hikaru Genji tức ông hoàng Genji (Quang, Nguyên Thị), nhân vật phong t́nh đời xưa. Sách viết với giọng văn dễ hiểu và đầy kịch tính. Trong vụ cải cách năm Tenpô, tác giả đă bị khép tội và bị trừng trị nên quyển truyện nầy phải bị ngưng nửa chừng. Tuy nhiên, các loại gôkan về sau trở thành trường biên và xuất bản hàng loạt, được bạn đọc yêu chuộng đến măi đầu đời Meiji.

 

TẠM KẾT :

Tiểu thuyết đời Edo rất đặc sắc, đa dạng và phong phú, kéo dài măi đến sau khi thời Meiji đă bắt đầu và có ảnh hưởng lớn lên tiểu thuyết Nhật Bản hiện đại. Đó là một điều chắc chắn.


 

[1] Sử Nhật gọi là Taiseihôkan (Đại chính phụng hoàn) nghĩa là “ trao trả ” quyền hành nhưng trên thực tế, quân đội nhà chúa đă bị quân nhà vua đánh bại.

[2] Trước thời Duy Tân, các thiên hoàng có cung điện ở Kyôto nên đất kinh kỳ ám chỉ Kyôto, Osaka và vùng phụ cận, đối chọi với Edo.

[3] Chức Rôjuu (Lăo Trung, như Thượng Thư) vào giai đoạn giữa thời Edo. Xuất thân tiểu đồng của Tướng quân Ieshige (Gia Trọng, tại vị 1745-60). Lên cầm quyền từ 1772. Con là Tanuma Okitomo cũng giữ chức vụ cao, cả hai cha con đă làm nên “ giai đoạn chính quyền Tanuma ”.

[4] Giữ chức Rôjuu (Lăo Trung) vào cuối đời Edo.Cũng là một nhà văn hóa có tầm cỡ. Đă thi hành tích cực cuộc cải cách năm Kansei nhằm phục hồi thuần phong mỹ tục, giáng một ngón đ̣n trí mạng vào sinh hoạt thẩm mỹ đương thời.

[5] Kiyomizu Monogatari (1638) là tác phẩm đứng trên lập trường Nho gia để phê phán nhà Phật, gây tiếng vang và bị Phật tử phản ứng mạnh. Do đó lại có Gion Monogatari (Kỳ Viên vật ngữ) được soạn ra để phản bác. Kiyomizu và Gion là hai cái tên có liên quan đến Kyôto và Phật Giáo.

[6] Kashôki (Khả tiếu kư, 1636) do một vũ sĩ trôi dạt tên Saitô Chikamori (Trai Đằng Thân Thịnh, 1603?-1674), người gốc gác ở phiên trấn Nihonmatsu miền bắc nước Nhật. Ông viết với bút hiệu Nyoraishi (Như Lỗi Tử). Gồm 5 quyển, 280 đoạn, phê phán một cách  thống thiết và bi phẫn tṛ đời. Được nhiều người đọc, trong đó có Asai Ryôi, đă thích đến độ viết thêm Kashôki hyôban (Khả tiếu kư b́nh phán) để thích nghĩa nó.

[7] Otogibôko (1666), tập hợp 68 truyện chí quái, đă có ảnh hưởng rất lớn đến tập Kaidan (Quái đàm) về sau.

[8] Không nói cũng hiểu là cách đặt tên của Saikaku chỉ là theo tên mượn của những người lui tới xóm lầu xanh.

[9] Tiêu biểu thể loại nầy có Shinden Shiko (Tâm điền thi cảo, thế kỷ 15), Ryuusuishuu ( Lưu thủy tập, cuối thế kỷ 15), San.eki enshi (Tam ích diễm từ, đầu thế kỷ 15) và Shinyuuki (Tâm hữu kư, 1643).

[10] Việc này đă có trước bên Trung Quốc như trường hợp của Nhục bồ đoàn “ Nệm thịt ”, tác giả đă viết rất khiêu dâm nhưng trong phần cuối truyện, đă cho các nhân vật bị quả báo nặng nề.

[11] Katagi-mono viết về những mẫu tính t́nh thường thấy ở một hạng người cùng hoàn cảnh, cùng nghề nghiệp, cùng giai cấp. Sau đó cường điệu lên, dựng thành khuôn mẫu (pattern) tâm lư và hành động và theo đó mà miêu tả. Ta thấy chữ ” khí chất ” (katagi) hăy c̣n rơi rớt về sau khi các tác gia như Shikitei Sanba (Thức Đ́nh, Tam Mă) và Tsubo-uchi Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao) dùng nó trong tựa sách của họ.

[12] Keisei (khuynh thành) tiếng thời Edo ám chỉ gái làng chơi hạng sang.

[13] Theo Fujimori Bunkichi (trong Dictionnaire de Littérature Japonaise) th́ yomihon dễ được nhận ra v́ chỉ có hai khổ. Khổ lớn (ô-hon) tương đương với khổ giấy A5 (148 mm x 210mm) thường là truyện đứng đắn viết với giọng văn cổ kính, và khổ vừa (chuu-bon) tương đương với khổ giấy B6 (128 mm x 182 mm) với nội dung thông tục mà ngôn ngữ lại b́nh dân.

[14] Tsuga Teishô, nhà nho và thầy thuốc ở Ôsaka. Viết yomihon với biệt hiệu Kinro Gyôja (Cận Lộ Hành Giả). Ông thông thạo tiếng Trung Quốc, đă dịch yôkyokujôruri ra tiếng Trung, lại c̣n hiệu chú Khang Hi Tự Điển và xuất bản nó ở Nhật.

[15] Bạch thoại là văn nói của Trung Quốc. Tiểu thuyết bạch thoại viết theo thể văn nói, có ảnh hưởng lớn đối với Yomihon. Trường biên phải kể tới Trung Nghĩa Thủy Hử Truyện, Kim Cổ Kỳ Quan.

[16] Hanabusa zôshi (1749) chính ra phải đọc là Kokin Kitan Hanabusazôshi (Cổ kim kỳ đàm anh thảo tử) “ chùm truyện ” (hanabusa) gồm 9 truyện dịch từ tiểu thuyết bạch thoại. C̣n Shigeshige Yawa là phần kế tiếp của nó)

[17] Môn học nghiên cứu tư tưởng và văn hóa Nhật Bản có sẳn vào thời nước Nhật chưa tiếp thu ảnh hưởng ngoại lai đến từ lục địa.

[18] Takebe Ayatari, ḍng dơi chức Karô, quan lớn của phiên trấn Hirosaki (Hoằng Tiền), phía Bắc Nhật Bản. Bỏ phiên mà đi, ), trở thành thầy Haikai lấy hiệu là Ryôtai (Lương Đại). Sau đó lại đề xướng thể loại kata-uta (phiến ca). C̣n vẻ tranh kiểu Trung Quốc với hiệu Kanyôsai (Hàn Diệp Trai). Là người lắm nghề lắm tài.

[19] Nishiyama Monogatari dựa trên một câu chuyện thực xăy ra năm Meiwa (Minh Ḥa) thứ 5 (1768) ngoại thành Kyôto. Ueda Akinari cũng có tiểu thuyết hóa câu chuyện nầy.

[20] Phùng Mộng Long ( 1574-1646), tự là Do Long, người Tô Châu, văn nhân đời Minh, chuyên về văn học thông tục, giỏi cả về thơ, tiểu thuyết bạch thoại và văn kịch.

[21] Xóm ăn chơi tụ tập các lầu xanh rải rác trong thành phố Edo vào một chổ, bắt đầu lập ra vào năm 1617. Trước ở vùng Nihonbashi, sau bị cháy rụi phải dời về Taitô-ku, cả hai nơi đều thuộc trung tâm Tôkyo ngày nay. Bị phế bỏ từ khi có luật cấm măi dâm.

[22] Tsuugen Sômagaki (Thông Ngôn Tổng Li, 1787), tiểu thuyết viết về kỹ nữ ở cửa hàng lầu xanh Matsuba (Tùng Diệp) xóm ăn chơi Yoshihara, dựa trên tài liệu sống.

[23] “ Thung thuyết ” cũng như “ trân thuyết ” đọc cùng âm chinsetsu có nghĩa là “ kể về việc lạ lùng hiếm có ”

[24] Haishi shichihôsoku (Bại tử thất pháp tắc) do bọn ông Karakuni Genmin (Đường Sơn, Nguyên Minh) soạn ra tức là 7 phép để viết tiểu thuyết, trong đó có phép chủ khách, phép phục tuyến, phép chiếu ứng, phép tỉnh bút vv...

[25] Nihon no Kindai Bungaku (Văn học Nhật Bản cận đại) tr.134.

[26] Theo Fujimori Bunkichi, sharebon được tŕnh bày trên giấy khổ nhỏ cở A6, 105 mm x 148 mm nên c̣n được gọi là kohon hay kobon.

[27] René Sieffert (sđd)

[28] Kyôbun (Cuồng văn), lối viết thời Edo hậu kỳ (thế kỹ 18), pha lẫn văn nhă và thông tục, với phong cách hài hước, phúng thích.

[29] Yuushi Hôgen (Du tử phương ngôn (1770) kể về cuộc hành tŕnh đến ngủ qua đêm ở xóm thanh lâu Yoshiwara của bọn khách làng chơi (du tử) Edo.

[30] Keiseigai Yonjuuhachite (Khuynh thành mại tứ thập bát thủ, 1790) tác phẩm miêu tả tâm lư kỹ nữ và khách làng chơi trong nhiều t́nh huống khác nhau.

[31] Trong chế độ mạc phủ Tokugawa, chức Rôjuu (Lăo Trung) ngang với Thượng Thư hay Tổng Trưởng, nhận lệnh trực tiếp từ Shôgun nhưng làm việc có tính tập đoàn, do một nhóm 4-5 người thay phiên nhau mỗi tháng. Thường tuyển từ lănh chúa (công tước) cấp cao có bổng trên 3 vạn thạch thóc.

[32] Dôchuuhizakurige (Đạo trung tất lật mao, phát hành trong khoảng 1802-1822) ban đầu gồm có 8 biên nói về chuyến lữ hành trên đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo). Sau có thêm 12 tục biên cùng loại nhưng với bối cảnh là những chặng đường khác như Konbira, Miyajima, Kiso.

[33] Nhà tắm c̣n là nơi có các yuna hay “ thang nữ ” một loại gái măi dâm trá h́nh.

[34] Theo Fujimori Bunkichi (in Dictionnaire de Littérature Japonaise) th́ kusa (cỏ, viết tháu) có ư khinh miệt. Do đó, ông dịch kusa-zôshi là tiểu thuyết ba (bốn) xu (récits à quatre sous).

[35] Kinkin sensei eiga no yume kể truyện anh chàng nhà quê Kanemuraya Kinbê (Kim Thôn, Kim BinhVệ) lên tỉnh, dọc đường nghĩ chân ở hàng bánh nướng bột kê, nằm mơ thấy cuộc đời vinh hoa phú quỉ, tỉnh dậy mới biết chỉ là ...giấc kê vàng.

[36] Koikawa Harumachi tên thật là Kurahashi Tadasu (Thương Kiều, Cách), con nhà samurai phiên trấn Kojima ở Tsuruga, v́ viết Ômugaeshi bunbu no futamichi (Anh vũ phản văn vũ nhị đạo) đem chuyện cải cách Kansei ra làm đề tài nói kháy mà bị mạc phủ gọi về hỏi tội, phải tự sát.

[37] Kể chuyện chàng công tử Enjirô (Diễm Thứ Lang) bị các cô chê nên t́m đủ cách để được yêu, rốt cục bị nhiều vố đau. Truyện “ nh́n thấu ” hạng người đă không biết ǵ c̣n làm bộ thông hiểu.

[38] Ư nói người đời gặp cảnh túng quẩn, Phật Quan Âm ngàn tay từ bi không đủ tay giúp phải bỏ tiền ra mượn thêm tay.

[39] Shiba Zenkô tên thật là Yamamoto Tôjuurô (Sơn Hạ Đằng Thập Lang), nghề là thầy kyôgen phái Ôkura (Đại Tàng).

[40] Meiseidô Kisanji tên thật là Hirasawa Tsunemasa (B́nh Trạch Thường Phú), c̣n là thầy kyôka.

[41] Tâm Học dưới thời Edo là giáo nghĩa kết hợp tư tưởng Nho-Thích-Lăo giăng giải theo lối dễ hiểu thông tục dạy dân chúng tu dưỡng đạo đức. Không nên hiểu theo nghĩa Tâm Học của Vương Dương Minh.

[42] Nise Murasaki Inaka Genji (1829-1842) gồm 40 biên. Câu truyện được đặt vào khung cảnh thời Muromachi. Toàn truyện nói về những cảnh rắc rối trong gia đ́nh. Tranh Ukiyo đính kèm do họa sư Utagawa Kunisada (Ca Xuyên, Quốc Trinh, 1786-1864) vẽ nên rất diễm lệ và ăn khách.

[43] Ryôtei Tanehiko tên thật Takaya Hikoshirô, ḍng dơi hạng Hatamoto, vũ sĩ phên giậu của mạc phủ.

 


* Vài hàng về tác giả:

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

 

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com