Trích sổ tay của Yasukichi

Yasukichi no techo kara

Akutagawa Ryunosuke

Nguyễn Nam Trân dịch

Lời người dịch:

Trong bức thư gửi cho một người bạn vào khoảng đầu năm 1919, Akutagawa đă có ư định đi t́m tự do trong diễn tả nghĩa là chọn một lối viết mới, khác với loại văn kể truyện mà ông thường sử dụng cho đến thời điểm đó. Ông không c̣n đóng khung tác phẩm trong bối cảnh thời trung cổ mà hướng về cuộc sống thường nhật chung quanh ḿnh. Bắt đầu với “Mấy Trái Quít” (1923) (xin xem bản dịch từ nguyên tác Mikan của Đinh Văn Phước), ông đă bước hẳn qua một thể loại khác bằng cách sử dụng những đoạn trích từ cuốn sổ tay của một nhân vật mang tên Yasukichi mà thân thế và phong cách vốn có nhiều điểm tương đồng với bản thân tác giả.

Đây là một chuyển biến quan trọng trong đời viết văn của ông. Có thể nói ông đă bước qua thể loại tiểu thuyết tự thuật (shi-shôsetsu) nhưng đặt ḿnh ở ngôi thứ ba thay v́ ngôi thứ nhất. Từ đấy, ông khai thác thủ pháp này và đă thành công với hai tác phẩm “Sổ Điểm Danh Những Người Đă Khuất” (Tenkibo, Lê Ngọc Thảo dịch) và “Ảo Ảnh Cuộc Đời” (Shinkiro, Phạm Vũ Thịnh dịch).

Nhân vật Horikawa Yasukichi, giáo sư Anh Văn trường Hải Quân chỉ có thể là Akutagawa v́ vừa thông minh lại có cái nh́n lạnh lùng, trào lộng giống hệt ông. Tất cả những đặc tính cao ngạo đó phải chăng chỉ là lớp vỏ ngoài dùng để che dấu nỗi tuyệt vọng sâu sắc bên trong con người trí thức hoài nghi?

Bản dịch gồm năm tiểu phẩm mang nhan đề sau đây: Gâu, Hai Người Âu, Giờ Nghỉ Trưa, Nỗi Thẹn Thùng, Chú Gác Dan Dũng Cảm. 

Nguyên tác in trong loại sách bỏ túi của nhà xuất bản Kadogawa, bản năm 1969. Độc giả tiếng Pháp có thể tham khảo bản dịch của Edwige de Chavanes “Extraits du Carnet de Notes de Yasukichi” (in La vie d’un idiot et autres nouvelles, Unesco, Gallimard, 1987).

Ngoài ra, “chùm truyện về Yasukichi”(Yasukichi-mono) trong đó nhân vật Yasukichi đóng vai chính, c̣n có những tác phẩm khác như Cúi chào (Ojigi) và Bà à à à (Obaaaa), Cuốn tiểu thuyết ái t́nh (Ren-ai shosetsu) vv… không thuộc “Trích đoạn từ sổ tay của Yasukichi”.

Gâu!

Wan

Một chiều mùa đông, trên tầng hai của cái tiệm ăn cáu xỉn, Yasukichi ngồi nhai miếng bánh ḿ nướng hoi mùi dầu. Đằng trước bàn của anh ta là một bức tường trắng đầy vết nứt. Ai đó đă dán lên trên tường mảnh giấy h́nh chữ nhật với ḍng chữ “Đây có xăng-uưt nóng (hot)”(một người đồng nghiệp của Yasukichi vốn thực thà nên không hiểu ư nghĩa câu đó khi đọc trại chữ Hot thành Hotto theo âm Nhật thành ra “Xăng uưt nóng hú hồn!”) .Từ chỗ đó về phía trái có cầu thang đi xuống tầng dưới, c̣n bên tay mặt là một cánh cửa sổ bằng kính. Yasukichi vừa gặm bánh ḿ nướng, lâu lâu đưa mắt nh́n lơ đăng về phía cửa sổ. Ngoài đó, phía bên kia đường là một cửa hàng bán quần áo cũ, mái lợp tôn, treo ḷng tḥng mấy bộ đồ xanh công nhân và vài tấm áo khoác màu ka-ki.

Theo nguyên tắc, lớp đêm dạy tiếng Anh nầy bắt đầu từ sáu giờ rưỡi chiều ở trường[1]. Yakukichi bắt buộc phải có mặt mà khổ nỗi, anh ta lại sống ngoài thành phố nên sau khi dạy xong lớp ban ngày, không có cách nào hơn là phải ngồi chịu trận ở đây cho đến sáu rưỡi. Chắc là thơ của Toki Aika[2] chứ không ai khác- nếu nhớ lộn th́ đừng có chấp nghe- có câu:

Mỏi răng nhai cơm dọc đường,

Bíp-tếch như cứt. Anh thương nhớ ḿnh.

Cứ mỗi lần đến quán là mỗi lần bài tanka của Aika lại hiện ra trong đầu.Ngay từ cái thuở anh ta hăy c̣n chưa cưới cô vợ[3] rất đổi yêu thương bây giờ. Thế nhưng, hễ ngồi nhai miếng bánh ḿ nướng hoi dầu, ngắm cái tiệm bán quần áo cũ, nh́n mảnh giấy quảng cáo “xăng-uưt nóng (hot) ” th́ cái câu “anh thương nhớ ḿnh ” không biết từ đâu bỗng trào dâng lên đầu môi.

Lúc nầy Yasukichi chợt để ư sau lưng anh ta có hai sĩ quan hải quân trẻ tuổi đang ngồi uống bia.Một trong hai người là chủ sự pḥng lương bổng ngôi trường anh dạy và anh có nhớ mặt. Vốn không hay giao thiệp với bọn lính tráng, anh ta không biết tên viên sĩ quan là ǵ. Kể cả những chi tiết khác về người ấy. Có thể người ấy mang lon thiếu úy hay trung úy ǵ đó. Yasukichi chỉ biết mỗi một điều là hằng tháng khi đi lănh lương th́ tiền bạc phải đến từ tay sĩ quan nầy mà thôi. C̣n nhân vật thứ hai th́ anh mù tịt. Mỗi lần hai người sĩ quan muốn kêu thêm bia th́ chỉ dùng “Ê” với “Nè” để sai khiến.Cô hầu bàn lại không có vẽ ǵ  bực bội mà c̣n cố gắng leo lên leo xuống cầu thang, hai tay mang mấy cốc bia đến.Chẳng bù lúc Yasukichi gọi một tách trà đỏ, khó ḷng thấy cô sốt sắng phục vụ như thế. Chuyện nầy xảy ra không chỉ riêng nơi đây. Đi đến các quán cà phê và tiệm ăn khác trong thành phố nầy, chỗ nào cũng xử sự giống nhau.

Hai người sĩ quan vừa nốc bia vừa bàn tán cái ǵ mà có vẽ hoạt náo. Yasukichi không hơi đâu lắng tai xem họ kháo nhau điều chi. Nhưng anh bỗng giật nẫy khi nghe “Gâu cái coi!”. Yasukichi không thích chó và là người từng thích thú khi nghĩ thầm trong số những nhà văn không thích chó có cả Goethe lẫn Strindberg.Cho nên khi lỗ tai bắt được câu nói đó, anh ta nghĩ ngay đến một con chó tây to cao mà người ta có thể nuôi ở những chỗ như thế nầy.Cùng một lúc Yasukichi có cảm tưởng ơn ớn như thể con chó đó đang lởn vởn sau lưng ḿnh.

Yasukichi lén nh́n phía đằng sau.Mừng quá trời ạ, chẳng có bóng con vật nào giống như chó cả. Chỉ thấy viên sĩ quan pḥng lương bổng đang nh́n ra ngoài cửa sổ, nhe răng cười. Yasukichi phỏng đoán phải có con cho nào ở dưới cửa sổ nhưng anh cảm thấy có điều ǵ hơi khác thường.Thế rồi, anh thấy người sĩ quan phát lương ấy tiếp tục:

-         Ê, gâu cái coi! gâu đi nào!”

Yasukichi hơi rướn người nhoài ra nh́n xuống phía dưới cửa sổ. Đèn quảng cáo cho Masamune ǵ ǵ[4] vẫn chưa bật, treo ở một cửa hiệu nào đó là cái đập vào mắt anh ta trước nhất, rồi đến tấm bạt che nắng được cuộn lên với mấy miếng da làm quai guốc ai phơi và bỏ quên trên mấy phuy bia cũ nay dùng hứng nước mưa.Sau đó là dăm vũng nước c̣n đọng trên phố người qua lại. Rồi ǵ nữa nhỉ, mà dẫu là ǵ cũng chẳng thấy bóng chó chiếc nào đâu.Thay vào đó là một đứa trẻ ăn mày tuổi độ mười hai, mười ba. Nó vừa đứng với dáng co ro trong cái lạnh, vừa ngước mắt nh́n cánh cửa sổ trên lầu.

-  Ê, gâu cái coi! gâu đi nào!

Sĩ quan phát lương lập đi lập lại như thế.Câu nói đó xem ra có mănh lực điều khiển được tâm trí đứa bé ăn mày. Nó hầu như đang ở trong trạng thái mộng du, bước một hai bước về hướng cánh cửa sổ, mắt th́ dĩ nhiên là vẫn nh́n lên. Lúc đó Yasukichi mới khám phá ra cái tṛ chơi ác độc của người sĩ quan phát lương xấu xa kia.Chơi ác? Hay có thể không phải như thế? Nếu không phải một tṛ chơi ác th́ có lẽ là một cuộc thí nghiệm để xem con người ta khi bụng lép có thể nào vứt bỏ cả ḷng tự trọng hay không đây thôi.Theo chỗ suy nghĩ của Yasukichi, giữa thời này có ai hơi đâu c̣n đi thí nghiệm để kiểm chứng điều đó.Xưa Esau[5] nhượng đứt quyền trưởng nam để đổi lấy miếng thịt rô-ti và nay Yasukichi cũng v́ mẫu bánh ḿ mà đi làm nghề giáo. Xem hai ví dụ đó đă đủ vỡ lẽ.Thế nhưng coi bộ nhà nghiên cứu tâm lư học kia vẫn chưa chịu thỏa măn dù có từng ấy bằng chứng. Nếu thế th́ đúng phóc cái câu hôm nay Yasukichi vừa dạy cho học tṛ: De gustibus non est disputandum[6]. Mỗi người một thích, cấm sao cho được. Muốn thí nghiệm à? Cứ việc! Yasukichi vừa suy nghĩ như thế, vừa măi nh́n đứa bé ăn mày dưới cửa sổ.

Sĩ quan phát lương im đi trong giây lát. Thằng bé bỗng đâm ra lo lắng, bắt đầu đảo mắt nh́n trước nh́n sau suốt con đường.Tuy việc bắt chước tiếng chó sủa không có ǵ khác thường nhưng hẳn là nó ngại người qua kẻ lại bắt gặp.Trong khi mắt nó c̣n đảo quanh th́ sĩ quan phát lương tḥ cái bộ mặt đỏ gay ra ngoài cửa sổ, lần nầy tay lại phất phất một vật ǵ :

-  Ê, gâu cái coi! mầy gâu th́ tao cho cái nầy!

Trong khoảnh khắc, gương mặt của đứa bé ăn mày chợt bừng lên một vẽ thèm thuồng. Đôi khi Yasukichi cũng để tâm đến kiếp sống của những người ăn mày với những t́nh cảm đượm màu lăng mạn nhưng chưa bao giờ anh ta tỏ ra đồng t́nh hay thương hại họ. Anh nghĩ nếu có kẻ nào mang thứ t́nh cảm như thế th́ chắc chỉ là bọn ương gàn hay giả dối mà thôi. Nhưng nay đứng trước đứa bé ăn mày với cái đầu ngửa ra sau ngẩng lên nh́n với cặp mắt long lanh, Yasukichi không ngăn được một thoáng thương cảm. Nhưng sự thương cảm đó không vượt qua giới hạn của « một thoáng ». Có lẽ không hẳn là ḷng thương cảm mà chỉ là sự yêu thích cái h́nh ảnh đứa bé ăn mày với những nét đẹp từng thấy trong tranh của Rembrandt[7].

-  Gâu chứ hả ? Ê, gâu đi nào!

Đứa bé ăn mày hơi nhăn mặt :

-  Gâu!

Tiếng nó lí nhí không rơ.

-  To hơn chút coi!

-  Gâu! gâu!

Rốt cục đứa bé sủa hai lần liền. Vừa lúc đó th́ một quả cam Navel[8] được ném ra ngoài cửa sổ.C̣n việc ǵ xăy ra sau chắc không cần phải viết thêm. Đứa bé ăn mày dĩ nhiên phóng theo quả cam c̣n sĩ quan phát lương th́ cười hả hê.

Một tuần sau khi câu chuyện xảy ra, Yasukichi lại đi đến pḥng lương bổng để lănh tiền. Hôm ấy, người sĩ quan phát lương nói trên coi bộ bận rộn, hết mở quyển sổ nầy đến quyển sách kia. Viên sĩ quan đó ḍm mặt Yasukichi và chỉ nói cộc lốc « Lương hả?». Anh ta cũng đáp lại vỏn vẹn « Vâng, đúng!». Thế nhưng viên sĩ quan lại quá bận rộn hay sao mà không có vẽ muốn đem lương phát cho anh. Chẳng những thế, người ấy rốt cục c̣n đứng chắn trước mặt, ch́a cái mông trong lớp quân phục về phía anh và măi miết sử dụng bàn toán.

-         Thầy kế toán!

Sau khi đứng chờ một đỗi lâu, Yakukichi gọi viên sĩ quan như kêu nài. Người ấy nh́n ngoái qua vai, như muốn nói «Sắp xong rồi !».Thế nhưng Yasukichi không để câu nói của viên sĩ quan phát ra thành tiếng, anh ta bắt tiếp ngay vào một câu mà ḿnh đă sửa soạn sẵn :

-  Thầy kế toán! Tôi có cần phải gâu không? Hở, thầy kế toán!

Nếu ta tin lời của Yasukichi kể lại th́ lúc nói câu đó, giọng của anh ta nghe c̣n ngọt ngào dễ thương hơn cả tiếng của thiên sứ nữa.

 

Hai Người Âu

Seiyôjin

Trường này có mướn hai ông giáo người Âu đến để dạy đàm thoại và tác văn bằng tiếng Anh. Ông người Anh tên Townsend, ông người Mỹ tên Starlet.

Ông Townsend giỏi tiếng Nhật là một ông già đầu hói, tính nết dễ thương. Nói chung, mấy ông giáo người Âu có thói quen là đem cho bằng được Shakespeare với Goethe của họ ra để thao thao bất tuyệt dù khi đề tài câu chuyện chỉ là những thứ tầm phào. May thay, ông Townsend nầy là người không dám tự phụ chút nào về hiểu biết của ḿnh đối với văn chương. Có lần bàn luận với nhau về Wordsworth[9] th́ ông ta phát biểu:

“Tôi chả hiểu tí ǵ về thơ. C̣n tự hỏi thơ Wordsworth hay ở đâu mới được chứ!”

Yasukichi cư ngụ cùng một tỉnh nghĩ mát ven biển như ông Townsend nên mỗi ngày hai lần họ lấy chung chuyến xe lửa để đi và về. Đáp xe lửa đến trường mất chừng ba mươi phút, hai người có thời giờ ph́ phèo ống vố Glasgow và trao đổi với nhau hết chuyện thuốc lá, chuyện nhà trường đến chuyện ma quỉ. Bởi v́ ông giáo Townsend là một người tin về tâm linh, không hứng thú ǵ đối với nhân vật Hamlet nhưng ông lại quan tâm đến hồn ma của bố Hamlet cơ. Tuy vậy, hể đụng tới vấn đề bùa phép hay thuật luyện đá thành vàng, những khoa học thần bí[10], th́ dường như lúc nào nét mặt ông cũng ủ dột, đầu và ống vố cùng lắc đi lắc lại. Ông bảo:

“Những cánh cửa của cơi thần bí cũng không phải khó mở như người thường vẫn nghĩ đâu.Ngược lại, điều đáng sợ là không tài nào khép nó lại được. Mấy thứ đó chớ có rớ vào!”

Ông giáo Starlet người Mỹ kia trẻ hơn nhiều và lúc nào cũng đỏm đáng. Chẳng hạn mùa đông th́ ông mặc áo khoác ngoài màu xanh ô-liu đậm và choàng khăn quàng cổ màu đỏ đi làm. Khác với ông Townsend, h́nh như ông nầy đôi khi c̣n chịu nḥm qua mấy quyển sách mới ra. Gần đây, ông đă diễn giảng về đề tài “Những nhà viết tiểu thuyết mới nhất ở Mỹ” ở học hội về Anh ngữ của nhà trường. Khổ cái là trong bài giảng ấy, ông cho biết những cây viết tiểu thuyết lớn nhất của Mỹ bây giờ là Robert Louis Stevenson[11] và O’Henry[12]!

Ông Starlet không ở cùng thành phố nghĩ mát với Yasukichi nhưng v́ cũng sống ở một thị trấn ven đường tàu nên đôi khi họ có dịp lấy chung một chuyến.Yasukichi chẳng c̣n nhớ đề tài những mẩu đối thoại của ḿnh với ông ta, trừ một dịp, lúc họ cùng ngồi trước ḷ sưởi trong pḥng đợi để chờ tàu.Yasukichi đang nén một cái ngáp vừa than thở kiếp nhà giáo nhàm chán. Th́ lúc đó, ông Starlet với cặp kính không gọng gắn trên sống mũi và dáng dấp điển trai, bổng đổi sắc mặt mà bảo:

-  Dạy học không phải là một cái nghề. Tôi nghĩ đó là thiên chức. Ông không thấy Socrates và Platon là hai nhà giáo vĩ đại hay sao?[13].

Khẳng định Robert Luis Stevenson là dân Mỹ[14], chẳng hề chi. Thế nhưng bảo Socrates và Platon là những nhà giáo th́....kể từ ngày đó, Yasukichi chỉ c̣n biết dành cho ông Starlet nầy một t́nh bạn giới hạn trong ṿng xă giao.

Giờ Nghỉ Trưa - Một Cơn Mộng Huyễn

Hiruyasumi – Aru Kuusô

Yasukichi ra khỏi pḥng ăn ở lầu hai. Các nhà giáo dân sự ăn trưa xong thường qua pḥng bên dành cho người hút thuốc. Hôm nay Yasukichi không qua đó mà bước xuống mấy bậc thang để ra ngoài vườn. Vừa vặn, một hạ sĩ quan nhanh nhẹn nhảy ba bậc một tiến lên. Vừa nh́n mặt Yasukichi, chàng ta đột nhiên đưa tay chào nghiêm chỉnh lối nhà binh và tiếp tục phóng về phía trước. Yasukichi nhẹ nhàng chào trả nhưng cái chào của anh hụt mất đối tượng, rơi vào chỗ không người. Anh tiếp tục lửng thững bước xuống thang.

Trong vườn, giữa lùm tuyết tùng và thủy tùng, một cây ngọc lan đang ra hoa. V́ cớ ǵ không biết, dù đă nở đầy cành nhưng hoa của loại ngọc lan nầy không hướng về phía nam đầy nắng. Hoa tân di cũng cùng họ mộc lan như nó lại hướng về phía nam. Yasukichi châm lửa vào điếu thuốc lá và thầm khen cây ngọc lan cũng có cá tính. Một con chim ch́a vôi từ trời cao liệng xuống như ḥn đá rơi. Ch́a vôi là loại chim chẳng xa lạ ǵ với Yasukichi. Con chim ngoáy ngoáy cái đuôi nhỏ như thể mời mọc Yasukichi đi theo ḿnh.

-Tới đây, tới đây. Không phải đằng đó đâu ! Đây, đây mà!

Yasukichi rảo bước trên lối ṃn rải sạn theo sự hướng dẫn của con chim.Không hiểu sao, tự dưng con ch́a vôi lại bay vút lên trên nền trời.Thay vào đó, một chú lính thợ máy người to cao đang men theo c̣n đường nhỏ lừng lửng tiến về phía Yasukichi.Anh nghĩ ḿnh có lần gặp chú lính thợ máy nầy ở đâu rồi.Dĩ nhiên sau khi chào Yasukichi đúng phép tắc, chú ta đi lướt nhanh qua. Yasukichi vừa hút thuốc vừa tiếp tục suy nghĩ xem người lính đó là ai.Hai, ba, năm... rồi mười bước sau, Yakukichi bỗng thấy trong đầu loé ra tia sáng. Người lính đó là Paul Gauguin[15] chớ ai ! Hay Gauguin đầu thai trở lại.Chắc hiện nay anh chàng sắp sửa buông cái xẻng để cầm cây cọ vẽ. Và rốt cục sẽ có một thằng bạn điên khùng cầm súng lục nhả đạn vào lưng anh ta.Tội nghiệp thật nhưng làm ǵ khác được.Hết lối ṃn nầy đến lối ṃn khác, cuối cùng Yasukichi đă đi đến quảng trường trước cổng ra vào. Nơi đây, giữa đám cây tùng và mấy bụi trúc, có trưng bày hai khẩu đại bác chiến lợi phẩm. Yasukichi áp tai lên một thân pháo, anh ta có cảm tưởng nghe tiếng thở của khẩu súng từ bên trong. Đại bác chắc cũng biết ngáp hay sao ấy.Yasukichi lại ngồi xuống dưới chân pháo, rồi châm lửa điếu thuốc lá thứ hai. Trên đường ṿng rải sạn để cho xe chạy quanh, ánh lên màu xanh một con tắc kè. Con người nếu bị chặt chân th́ không thể mọc ra chân khác nhưng giống tắc kè nếu có bị chặt đuôi th́ lại mọc đuôi khác Ngay. Ngậm điếu thuốc bên mép, Yasukichi nghĩ rằng bọn tắc kè c̣n tin tưởng về tiến hóa luận của Lamarck hơn chính cả Lamarck[16] nữa. Thế nhưng ngắm một hồi th́ mới thấy con tắc kè kia đă biến thành một vệt dầu nhớt lan ra trên mặt sỏi.

Rốt cục,Yasukichi cũng đứng dậy. Men theo dăy nhà sơn xanh dùng làm pḥng học, Yasukichi đi trở lại bên kia khu vườn một lần nữa, ra đến sân vận động trước mặt biển.Trên mấy cái sân ten-nít đất nện màu đỏ, một vài thầy giáo nhà binh đang hăng hái so tài cao thấp. Trong khoảng không trung trên sân chơi, có những tiếng động khô và đều đặn giao nhau với những vệt trắng mờ lướt qua bên mặt và bên trái tấm lưới. Nhưng đó không phải là những đường bóng đang bay mà chỉ là bọt của những chai rượu sâm banh vô h́nh người ta vừa mở nút, một thứ sâm banh mà các vị thần mặc sơ mi trắng kia đang nhấp ngon lành. Vừa suưt soa ngưỡng mộ các vị thần, lần nầy Yasukichi lại đi ṿng về phía cái sân bên trong dăy pḥng học.

Cái sân nầy đầy hồng nhưng chưa có cây nào đơm hoa.Khi Yasukichi đang tản bộ anh bỗng để ư có một con sâu đầy lông trên cành hồng mọc ch́a ra phía lối đi. Chưa chi đă thấy một con sâu khác đang ḅ trên chiếc lá bên cạnh. Hai con sâu gật đầu chào nhau rồi nói chuyện ǵ như có liên quan tới Yasukichi. Anh quyết định đứng lại để nghe điều chúng đang bàn với nhau[17].

Con Sâu Số Một : Cái anh thầy giáo nầy bao giờ hóa bướm ấy nhỉ ?  Từ đời ông cố ông xơ chúng ḿnh tới giờ, lúc nào cũng cứ phải ḅ quanh trên mặt đất.

Con Sâu Thứ Hai: Giống người có khi không hóa bướm được đâu !

Con Sâu Số Một : H́nh như hóa được đấy chứ. Coi, chẳng có người đang bay trên kia là ǵ?

Con Sâu Thứ Hai: Ừ nhỉ. Đang bay thật. Thế nhưng bay kiểu ǵ mà xấu thế. Cái anh con người nầy chẳng có ư thức thẩm mỹ chút nào!

Yasukichi đưa bàn tay ngang trán, đưa mắt nh́n chiếc phi cơ đang bay ngang đầu ḿnh.

Chính lúc ấy ác quỉ mới lợi dụng thời cơ đội lốt một người bạn đồng liêu, bước về phía Yasukichi. Hắn ta đang có vẽ khoái trá về một việc ǵ. Con quỉ nầy ngày xưa chuyên môn dạy thuật luyện kim, nay phụ trách môn Hóa Học Ứng Dụng ở nhà trường. Hắn bắt chuyện với Yasukichi:

-         Ê, tối nay đi chơi nghen?

Trong nụ cười của ác quỉ, Yasukichi có cảm tưởng đọc được rành rành hai vế sau đây của Faust[18]: “Mọi lư luận chỉ tuyền mầu tro xám. Duy cây đời sinh quả vàng là măi măi tươi xanh”. Sau khi bỏ con ác quỉ ở lại, Yasukichi bước vào bên trong dăy nhà. Pḥng học vắng hoe. Đi ngang qua ghé mắt nh́n vào chỉ thấy trên bảng đen trong một lớp có một h́nh vẽ h́nh học ai để quên chưa xóa. Khi cái h́nh trên bảng đen biết có người nḥm nó, nó có vẽ sợ rằng người ta sẽ lấy giẻ chùi đi nên mới duỗi ra duỗi vào và ngơ lời với Yasukichi:

-         Người ta c̣n cần tôi cho giờ học tới !

Yasukichi lại leo lên bậc thang vừa đi xuống khi năy, bước vào gian pḥng dành cho các giáo sư dạy ngôn ngữ và toán học.Trong pḥng, ngoài ông Townsend với cái đầu sói, không có ma nào.Thế nhưng ông nầy có vẽ như đang buồn không biết làm ǵ nên mồm vừa huưt sáo vừa đi vài bước khiêu vũ một ḿnh. Yasukichi rán nhịn cười, đi về phía pḥng vệ sinh để rửa tay. Lúc đó, bất chợt nh́n vào trong kính, Yasukichi ngạc nhiên thấy không biết tự hồi nào ông Townsend đă biến thành một cậu trai trẻ đẹp, c̣n chính ḿnh th́ đă thành ông lăo lưng c̣ng với mái tóc bạc trắng như tuyết.  

 

Nỗi Thẹn Thùng

Haji

Trước khi Yasukichi lên lớp, lúc nào anh ta cũng cẩn thận xem lại giáo án.Không chỉ v́ lương tâm nhà nghề bắt buộc anh không được dạy láo lếu một khi đă nhận đồng lương của người. Tại một lư do nữa: trong sách giáo khoa, v́ là trường chuyên môn của hải quân, đầy đặc những chữ phải hiểu theo nghĩa đặc biệt. Chẳng hạn Cat’s paw, nếu không chịu tra cứu th́ có thể dịch một cách tai hại thành ra là bàn chân mèo nhưng không đúng đâu, nó chỉ là thuật ngữ để chỉ một làn gió nhẹ.

Có lần Yasukichi đem một đoạn văn ngắn nói về hàng hải dạy cho sinh viên năm thứ hai. Đoạn văn đó hết sức hắc búa. Nó tả gió hú trên cánh buồm và sóng đánh ầm vào cánh cửa bên hông tàu nhưng chẳng thấy bóng mấy chữ sónggió chỗ nào trên mặt giấy cả. Yasukichi bắt học tṛ vừa đọc vừa dịch mà chính ḿnh lại cảm thấy chán ngán trước tiên.Những lúc như thế nầy Yasukichi thấy thèm bàn căi với sinh viên những vấn đề khác như triết học hoặc là thời sự. Các nhà giáo thường vẫn thích dạy những môn học ngoài các môn bắt buộc có trong chương tŕnh. Dù môn đó mang tên là đạo đức, sở thích hay nhân sinh quan...th́ cũng mặc. Tóm lại, nhà giáo thường muốn dạy cái ǵ ông ta cảm thấy thiết thân hơn là những ǵ có trong sách giáo khoa hay trên mặt bảng đen. Tuy nhiên bọn học tṛ là thứ không muốn học thêm cái ǵ ngoài chương tŕnh bắt buộc cả. Không, không phải họ chỉ không muốn học cái khác mà c̣n thù ghét cả chuyện đó. Yasukichi chắc chắn thế nên dù khi chán ngấy như lúc nầy, anh thấy không có cách nào hơn là bắt họ tiếp tục đọc.

Thế nhưng ngay cả lúc lắng tai nghe sinh viên đọc và dịch, rồi cẩn thận sửa chữa từng chút những sai lầm của họ, nghĩa là lúc không có ǵ phải chán, Yasukichi vẫn cảm thấy có ǵ bó buộc làm sao ấy. Khi vừa xong ba mươi phút trên một tiếng đồng hồ của xuất dạy, Yasukichi bảo họ ngừng việc đọc và dịch. Thay vào đó, đến lượt chínhYasukichi đọc từng đoạn một trong bài và bắt đầu dịch.Chuyến hành tŕnh trên biển tả trong sách giáo khoa sao chán ơi là chán. Đồng thời, cả cách dạy của Yasukichi cũng đáng chán không kém. Có lúc quên các th́ của động từ, có lúc nhầm những quan hệ đại danh từ, Yasukichi như một chiếc tàu khó nhọc lê qua vùng biển đứng gió.

Bất chợt lúc đó Yasukichi mới để ư đoạn dịch mà ḿnh soạn sẵn chỉ c̣n bốn, năm hàng nữa là hết veo. Đi hết phần nầy th́ anh ta sẽ vào một vùng biển sóng gió mà không cẩn thận là không được v́ nó đầy thuật ngữ hiểm hóc của hải quân, chúng nhan nhăn như những lớp đá ngầm. Yasukichi liếc nh́n đồng hồ. Mấy cây kim báo cho biết từ đây đến hồi kèn tan lớp c̣n những hai mươi phút. Yasukichi cố gắng dịch hết bốn, năm hàng đă chuẩn bị c̣n sót lại một cách càng từ tốn càng tốt. Dịch xong đoạn đó rồi mà nh́n kim đồng hồ th́ chỉ mới có ba phút trôi qua.

Yasukichi cảm thấy kẹt quá rồi.Bây giờ chỉ c̣n mở được đường máu bằng cách cho học tṛ hỏi và ḿnh giải đáp thắc mắc. Nếu làm thế mà hăy thừa thời giờ th́ cho họ tan sớm vậy. Yasukichi đặt sách xuống, định mở mồm : « Có câu hỏi nào không?» th́ tự nhiên mặt bỗng đỏ bừng. Mắc mớ ǵ mặt lại đỏ bừng như thế nhỉ ? – Anh không tài nào giải thích lư do. Tại sao mặt Yasukichi phải đỏ bừng khi anh là người trên nguyên tắc vẫn xem chuyện lừa dối lũ học tṛ là điều không có ǵ phải bận tâm. Dĩ nhiên đám sinh viên không tài nào đoán được ư nghĩ trong đầu anh. Họ chỉ ngước mắt chăm chú nh́n thầy. Yasukichi bèn nh́n đồng hồ lần nữa rồi cầm quyển sách giáo khoa lên và đọc như bay như biến.

Đoạn sau của chuyến hành tŕnh đường biển tả trong sách giáo khoa h́nh như cũng không thú vị hơn đoạn trước.Thế nhưng cái cách thức dạy học của Yasukichi th́.......bây giờ anh vẫn chắc mẫm: nó hùng tráng oanh liệt c̣n hơn cả cuộc chiến đấu của chiếc tàu buồm đang chống trả băo táp.

Chú Gác Dan Dũng Cảm

Isamashii Shuei

Không nhớ rơ trời vào cuối thu hay đầu đông, chỉ biết lúc đó đi đến trường đă phải mặc thêm áo khoác dày. Đến giờ Yakukichi vào bàn cơm trưa, ông giáo nhà binh trẻ ngồi bên cạnh mới tiết lộ cho một chuyện hiếm có vừa xảy ra. Số là mấy hôm trước, vào giữa khuya, hai ba tên ăn trộm thép đă dùng thuyền để vào ngơ sau nhà trường. Phác giác ra chuyện đó, một người gác dan trong lúc tuần đêm đă một ḿnh một thân định vây bắt chúng.Thế nhưng sau một trận ẩu đả kịch liệt, ngược đời là bọn trộm lại ném được người bắt trộm xuống biển. Chú gác dan ướt như chuột lột, loay hoay măi mới ḅ lên tới bờ. Trong khi ấy th́ thuyền của bọn trộm đă tếch ra khơi và khuất vào bóng đêm.

-         Chú gác dan Ôura đấy ! Hôm ấy nằm nhà phải sướng hơn không !

Người sĩ quan miệng đang nhồm nhoàm bánh ḿ, cười một cách chật vật.

Yasukichi biết Ôura là ai: một trong những người gác dan đóng đô ở các trạm gác ở lối vào trường để thay nhau canh pḥng. Khi gặp các giáo sư ra vào, bất luận quân sự hay dân sự, các người gác đều đưa tay lên chào đúng phép nhà binh. Yasukichi vốn không thích được ai chào và chẳng thích chào trả lễ nên lần nào cũng cố t́nh đi thật nhanh qua khỏi trạm gác, không cho họ có đủ thời giờ đứng nghiêm chào. Thế nhưng mỗi cái chú gác dan Ôura nầy th́ Yasukichi không cách chi đánh lừa mắt cho được. Chú ta trấn ở trạm gác đầu tiên, mắt đăm đăm nh́n không chớp một khoảng mươi, hai mươi thước từ trong ra ngoài cửa trường cho nên khi Yasukichi mới vừa xuất hiện và chưa đi đến gần th́ chú ta đă ở trong tư thế nghiêm chào rồi. Yasukichi rốt cuộc chỉ c̣n biết phục tùng số mệnh. Không những nghĩ thế thôi, hễ thoáng thấy Ôura th́ Yasukichi đă giở nhanh mủ ra chào trước, như con thỏ bị rắn rung chuông hớp hồn.

Theo như câu chuyện vừa nghe th́ người gác dan đó bị bọn trộm ném xuống biển. Yasukichi tuy thấy tội nghiệp chú ta nhưng không khỏi buồn cười. 

Thế rồi năm sáu hôm sau, Yasukichi chợt thấy Ôura trong pḥng đợi của nhà ga. Ôura vừa nhận ra Yasukichi th́ không cần biết là ḿnh đang đứng ở đâu, đột ngột đứng nghiêm và đưa tay lên chào đúng phép nhà binh. Yasukichi có cảm tưởng đang thấy sau lưng chú ta cánh cửa ra vào của trạm gác.

Sau một đỗi im lặng, Yasukichi lên tiếng hỏi :

-         Hôm trước có phải chú.....

-         Vâng, suưt nữa cháu bắt được trộm.

-         Khổ thân cho chú quá nhỉ !

-         May là không bị xây xát ǵ cả ạ.

Ổura nở một nụ cười cay đắng và nói như thể tự trào :

-         Nếu thực t́nh muốn bắt th́ cháu cũng tóm được ít nhất một thằng. Thế nhưng bắt được chăng nữa, ḿnh cũng chẳng xơ múi ǵ!

-         Sao, cái ǵ mà chẳng xơ múi ?

-         Thưa nghĩa là chẳng được thưởng thiếc ǵ cả. Bởi v́ trong luật lệ ngành gác dan của tụi cháu, không có câu nào rơ ràng cho biết có được ǵ không.

-         Trường hợp chết v́ công vụ cũng thế hử ?

-         Vâng, có chết v́ công vụ cũng vậy thôi.

Yasukichi đưa mắt nh́n trộm Ôura. Cứ theo cách ăn nói của người gác dan, chú ta không phải là một con người can trường, xă thân bắt trộm tí nào. Chú ta chỉ tính toán tùy theo có tiền thưởng hay không và đă để vuột đi mấy tên trộm lư ra chú có khả năng tóm được. Thế nhưng... Yasukichi vừa kéo ra điếu thuốc, vừa làm đủ cách vui vẻ để biểu đồng t́nh với chú ta.

-  Nếu chú nói thế th́ vô lư quá. Ai đời chỉ gánh nguy hiểm mà không có lợi lộc ǵ.

Ôura trả lời « Vâââng » hay một chữ ǵ giống như vậy nhưng gương mặt không dấu được vẽ thất vọng.

-  Phải chi có chút đỉnh tiền thưởng nhỉ !

Yasukichi nói với một giọng rầu rầu.

-         Thưa, hễ có tiền thưởng th́ ai cũng dám lănh nguy hiểm sao, thầy ? Điều đó thật cháu cũng c̣n ngờ.

Hết câu, Ôura giữ im lặng. Tuy nhiên khi Yasukichi đặt điếu thuốc lá lên môi ḿnh th́ chú ta vội vàng đánh diêm và đưa mồi lửa đến trước mặt anh. Áp mặt ḿnh sát vào mồi lửa đỏ tươi đang tỏa sáng đầu điếu thuốc, để khỏi lộ ư nghĩ của ḿnh, Yasukichi nén một nụ cười sắp nở trên môi.

-  Cám ơn chú !

-         Thưa không dám.

Sau câu trả lời b́nh thường như vậy, Ôura lại cho hộp diêm vào túi. Tuy vậy, hôm nay Yasukichi tin chắc ḿnh vừa khám phá được sự bí mật của người gác dan. Chú ta không chỉ đánh que diêm kia mồi lửa cho mỗi Yasukichi thôi đâu. Thật ra, Ôura đă đánh diêm cho tất cả những vị thần ở dưới đáy cơi u minh đang ngầm quan sát xem chú ta có giữ đúng tác phong của vũ sĩ đạo hay không. 

 Tháng 3 năm 1923

 

Cánh Đồng Khô

Kareno shô

 Akutaga Ryuunosuke

Nguyễn Nam Trân dịch

 

Lời Người Dịch:

Cánh Đồng Khô (ra đời năm tháng 9 năm 1918) là một trong ba tác phẩm mà Akutagawa đă viết với bối cảnh thời Edo (1603-1867). Hai tác phẩm kia là “Một ngày trong đời Oishi Kuranosuke” (Aru hi no Oishi Kuranosuke, 1917) nói về thủ lănh của 47 người samurai trung thành, trả thù cho chủ, và “Hứng sáng tác” (Gesakuzanmai, 1917) liên quan đến quan điểm viết văn của tiểu thuyết gia Takizawa Bakin (1767-1848).

Thi hào Matsuo Basho (Tùng Vĩ, Ba Tiêu, 1644-1694), nhân vật chánh của Cánh Đồng Khô, có công đưa thơ haiku từ một tṛ tiêu khiển lên hàng nghệ thuật. Ông rất nhiều học tṛ, trong đó mười đệ tử nổi bật hơn cả được gọi là Tiêu môn thập triết (Shomon jittetsu). Một số sẽ lần lượt xuất hiện trong truyện.

Để đi t́m hứng thơ và phong cách sáng tác mới, thi hào Bashô đă lên đường du hành và từ đó đi măi không ngừng. Ông thuộc vào loại nhà thơ “thèm đi” như Lư Bạch, Đổ Phủ của Trung Quốc, Saikyo và Sogi của Nhật Bản. Sau chuyến đi Đông Bắc (1689) để lại giai tác “Đường ṃn miền Oku” (Oku no hosomichi), ông về sống ở Edo rồi năm 1694, trong chuyến đi thăm cố hương Iga-Ueno, ốm và mất ở Osaka lúc mới 51 tuổi. Với tâm sự vĩnh viễn làm người lữ khách, ông viết bài thơ từ giă cuộc đời gửi đến đám môn nhân vây quanh giường bệnh và có nhắc đến “cánh đồng khô”, thiên nhiên cằn cỗi hoang sơ mà hồn ông luôn vương vấn.

Trong tác phẩm này, vinh quang, kính phục, tôn thờ…bỗng một ngày đă tiêu tan thành tro bụi trước bàn tay của định mệnh. Cảnh chờ chết của Basho tượng trưng cho giây phút một thần tượng sụp đổ. Vị tôn sư mất hết uy lực, nằm bẹp trên giường bệnh và sắp sửa trở về với cát bụi để trả lại tự do cho đám đệ tử cũng có thể là h́nh ảnh văn hào Natsume Soseki (1867-1916), người hướng dẫn tinh thần tôn kính mà Akutagawa và các bạn văn khác vừa mới đưa ma, hay chính bản thân tác giả, nhà nghệ thuật cô đơn, « thấy người nằm đó biết sau thế nào ?».

Nguyên tác trích từ tập truyện khổ bỏ túi Gesakuzanmai. Ikkai no Tsuchi của Akutagawa do nhà xuất bản Shincho, ấn bản năm 1999. Đă tham khảo Lande Morte (in La vie d’un idiot et autres nouvelles, Unesco, Gallimard, 1987) do Edwige de Chavanes dịch sang Pháp văn.

                        *

Tôn sư gọi Joso[19] và Kyorai[20] đến và bảo: Tối hôm qua, trong khi trằn trọc không ngủ được, tứ thơ chợt đến và ta đă nhờ Donshu[21] ghi lại. Các tṛ hăy ngâm thử xem:

Lữ thứ thân nằm bệnh,

Hồn lang thang đồng khô.

Trích Nhật Kư Hanaya [22](1811)

 

Đó là buổi trưa mười hai tháng mười năm Genroku thứ bảy[23].Từ lúc sáng dậy mở mắt ra, dân buôn bán ở Osaka đă lo lắng theo dơi bầu trời  ửng một màu đỏ ối đằng xa sau mấy lớp nhà lợp ngói, ḍ xem có mưa rào như hôm qua nữa không.May quá, trên mấy cḥm liễu lá xào xạc, chưa thấy những đợt mưa dày như khói mù. Hôm đó chỉ là một ngày mùa đông tẻ nhạt, dầu có mây giăng nhưng trời hăy c̣n đủ sáng.Ngay cả nước của ḍng sông len giữa xóm nhà dân xếp thành hàng cũng biếng chảy, hôm nay nó bơ thờ, mất đi vẽ óng mượt của mọi ngày. Có cảm tưởng mấy cọng lá hành rác rưỡi trôi nổi trên ḍng cũng không thấy mang màu xanh lạnh mắt thường nhật. Thêm vào đó, khách bộ hành trên bờ, từ kẻ bịt khăn nồi đến người xỏ dép da, ai cũng như đă quên những cơn gió đông đang quét qua cái cơi trần ai nầy mà cứ lơ đăng bước đi. Màu sắc của các rèm cửa hiệu, âm thanh ngựa xe qua lại, tiếng đàn samisen ở một rạp diễn tuồng múa rối từ xa vọng về…ngay cả bụi bặm đường phố bám trên những cái nắm bằng đồng h́nh trái châu đặt trên thành cầu, tất cả đều như bất động để giữ y nguyên cái b́nh lặng cho ngày mùa đông…

Lúc ấy, ở gian buồng nhà trong của Hanaya Nizaemon xóm Midomae Minami-kyutaro, kẻ được người đời tôn sùng như bậc đại tôn sư của thơ haikai, thi hào Matsuo Tosei, am chủ am Basho, đang được chư đệ tử đến từ khắp nơi canh giấc bên giường bệnh. Thi hào gần đến chặng cuối của cuộc đời 51 năm làm người, thân thể ông như “đốm lửa đang nguội dần dưới lớp tro tàn[24] và sắp lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng. Lúc đó có lẽ gần giữa giờ Thân…trong căn pḥng rộng thênh nhờ những bức vách ngăn di động được đă được tháo ra, một thỏi hương tỏa lên làn khói mỏng nhẹ trên đầu nằm của người đến giờ lâm chung. Lớp giấy c̣n mới dán lên cánh cửa kéo nh́n ra vườn được đóng kín ngăn cái lạnh mùa đông ngoài trời, lại để riêng chỗ đó một cái bóng sẫm mà màu sắc lạnh lẽo như ngấm vào da thịt. Basho yên lặng nằm, đầu  hướng về cánh cửa kéo, bên cạnh ông trước tiên có Mokusetsu[25], người thầy thuốc, một tay đang luồn xuống dưới tấm chăn, cau mày lo lắng bắt nhịp mạch đă rời rạc của con bệnh. Co ro đằng sau Mokusetsu là người năy giờ vẫn ŕ rầm niệm Phật không dứt, chắc không ai khác hơn Jirobe, người lăo bộc[26] từ thời ở Iga, đă theo chân tôn sư trên bước du hành. Bên cạnh Mokusetsu là Shinshi Kikaku[27], người mà ai cũng nhận ra dễ dàng v́ to béo đồ sộ, thân h́nh núc nác làm chật ních tấm áo thụng tay vuông vức. Kikaku cũng như Kyorai với đôi vai lực lưỡng và dáng dấp uy nghi trong chiếc áo nhuộm in hoa văn nhỏ kiểu Kenpo, đều đăm đăm ngắm sắc diện vị tôn sư của họ. Đằng sau lưng Kikaku là Joso, tướng như ông thầy cúng, chuổi bồ đề trên cổ tay, dáng điệu nghiêm trang. Otokuni[28] chiếm chỗ bên cạnh, mũi thút thít liên hồi như thể không ngăn chận được nỗi buồn thương đang trào dâng. C̣n người tướng nhỏ thó giống thầy tăng trong chiếc áo bạc màu mà ống tay đầy chỗ vá víu đang cḥng chọc nh́n cảnh đó và ch́a cằm ra đằng trước với vẽ khó chịu là Izenbo[29]. Ông ta ngồi đối diện thầy thuốc Mokusetsu, một hàng với Shiko[30], người có nước da tái thâm, tính cứng cơi. Ngoài ra là một vài đệ tử đang im phăng phắc, thiếu điều nín thở. Bọn họ ngồi cả bên mặt bên trái quanh giường bệnh, tỏ niềm tiếc thương vô hạn v́ sắp phải vĩnh viễn chia tay sư phụ. Trong đám chỉ có mỗi một người là phủ phục trên mặt chiếu ở góc buồng và khóc như ri. Chắc là Masahide[31] chứ chẳng ai !Thế nhưng tiếng khóc của ông ta như bị cái yên lặng đến lạnh lẽo của căn pḥng d́m xuống nên không thể vang lên để khuấy động được làn hương đang tỏa nhẹ trên đầu nằm của người bệnh.

Trước đó một lúc, sau khi vừa nói dăm câu di chúc không rơ ràng v́ cái giọng ho đàm khàn khàn, Basho hai mắt vẫn khép hờ mà h́nh như đă đi vào t́nh trạng hôn mê. Khuôn mặt của nhà thơ, sót lại chút dấu vết của bệnh đậu, thật gầy guộc. Ngoài hai g̣ má xương xẩu hăy c̣n nhô lên chứ tất cả màu hồng của sự sống đă biến mất trên cặp môi bọc quanh bằng những chuỗi nếp nhăn.Nhưng đau ḷng nhất là cái nh́n của ông, đôi mắt chỉ c̣n loe loé chút ánh sáng mơ hồ như đang bám víu vào vật ǵ ở măi xa như khung trời mùa đông bên kia những mái nhà, lạnh lẽo và trăi rộng đến vô cùng:

Lữ thứ thân nằm bệnh,

Hồn lang thang đồng khô

Có lẽ trong phút giây nầy, trong cái nh́n không ḍ hỏi được đó, đă hiện ra h́nh ảnh cánh đồng khô mênh mông trong ánh chiều tàn, sắp ch́m vào bóng tối một đêm không trăng, trôi nổi bồng bềnh trong mộng - đúng là cái h́nh ảnh chính Basho đă cho ghi lại ba bốn hôm trước trong vần thơ từ giă cơi đời.

- Đem nước tới!

Rốt cuộc Mokusetsu mới lên tiếng nhờ Jirobe đang ngồi lẳng lặng phía sau.Người lăo bộc đă soạn sẵn bát nước với cái que bằng lông gà để chấm, thận trọng đẩy hai thức ấy về bên gối chủ nhân, rồi như thể chợt nhớ ra, lại nhanh nhanh tiếp tục niệm Phật.Trong ḷng con người chất phác, sinh trưởng giữa rừng núi như Jirobe, một niềm tin đă bám rễ. Ông cho rằng dù Basho hay là ai chăng nữa cũng phải nương tựa vào sự từ bi của Phật A Di Đà mới có thể thác sinh về bờ bên kia để đến cơi Tịnh Độ.

C̣n Mokusetsu, khi xin miếng nước, chỉ trong một sát-na thôi ông đă tự hỏi ḷng ḿnh, với tư cách là người thầy thuốc, ông đă làm hết cách để cứu con bệnh chưa. Nghi vấn đó ông đă từng đặt cho ḿnh nhiều lần. Nhưng lúc này, ông ta lấy lại được ngay sự b́nh tỉnh trong tâm hồn và quay về phía Kikaku đang ngồi bên cạnh, không nói không rằng mà chỉ ra dấu.Trong ḷng tất cả những người vây quanh giường bệnh của Basho lúc ấy chợt có một sự căng thẳng như đoán biết giờ phút cuối cùng sắp điểm. Đồng thời họ cũng cảm thấy một thứ thư giăn nếu không bảo là nhẹ nhỏm. Nói cách khác, họ biết cái ǵ phải đến đă đến và t́nh cảm giống như yên tâm này sẽ không ai đoạt lại được.T́nh cảm nầy chính ra hết sức tinh tế đến nỗi những người trong cuộc không thể khẳng định ḿnh đă ư thức được lúc đó. Cho nên ngay cả Kikaku, kẻ thực tế nhất trong bọn, cũng không khỏi sửng sốt khi ánh mắt ông ta và của Mokusetsu chợt giao nhau và trong đôi mắt của hai người, họ đă lo âu khi đọc được cùng một thứ t́nh cảm. Kikaku bèn lăng qua một bên để tránh tia nh́n, cầm que lông gà lên như không có việc ǵ:

- Cho tôi được làm người đầu tiên…

Ông ta quay sang Kyorai xin phép. Sau khi nhúng que lông gà vào trong bát nước, ông lết bằng hai đầu gối mập mạp tới gần và nh́n xoi mói vào mặt ông thầy. Thực ra, mới đây thôi, ông c̣n tưởng tượng rằng cái ngày không được thấy mặt thầy trên đời chắc ḿnh sẽ đau xót biết chừng nào.Thế mà bây giờ, khi nhúng que vào bát nước cúng cho người sắp chết, t́nh cảm đích thực của ông chỉ là sự dửng dưng và lạnh lùng. Nó tương phản với những chi tiết mà ông tưởng tượng gần như là dàn cảnh trước đây. Chẳng những thế, điều Kikaku không thể đoán trước được là h́nh dung tiều tụy da bọc xương của tôn sư trước phút lâm chung làm ông cảm thấy ghê tởm, khinh ghét mănh liệt đến độ thiếu điều quay mặt không nh́n. Bảo rằng mănh liệt thôi th́ vẫn chưa hết ư. Nó c̣n là một thứ ghê tởm tựa hồ phản ứng sinh lư của cơ thể muốn cưỡng lại sự lan tràn của một chất độc ḿnh không chịu nỗi và không rơ h́nh thù. Lúc này, phải chăng ông ta đă biểu lộ ra tất cả sự khinh ghét đối với mọi vẽ xấu xí trên đời t́nh cờ qui tụ lại trên thân xác bệnh hoạn của vị tôn sư ? Họặc giả trước mắt cái con người yêu « cuộc sống », thích hưởng lạc như Kikaku, thực thể của « cái chết » bày ra giống nhưng lời thiên nhiên đang hăm dọa, điều mà ông nguyền rủa hơn bất cứ cái ǵ khác.Dù sao, khi nh́n khuôn mặt chờ chết của thầy ḿnh, Kikaku chỉ thấy ghê tởm không tả xiết. Ông ta đưa phớt que lông gà chấm ướt vành môi mỏng khô tím của Basho mà không có chút buồn thương, rồi thối lui với vẽ sượng sùng. Khi đang lùi ra sau, trong một thoáng, ông cảm thấy ḷng gợn lên một t́nh cảm tựa hồ sự trách móc đối với bản thân nhưng cái ghê tởm cảm thấy lúc năy c̣n mạnh mẽ hơn và lấn át được đôi chút suy nghĩ có tính cách đạo đức ấy.

Sau Kikaku, đến phiên Kyorai, người không c̣n giữ được b́nh tĩnh từ lúc Mokusetsu ra hiệu, cầm que lông gà. Tiếng đời đồn ông là kẻ khiêm cung quả không sai v́ Kyorai có hơi cúi đầu thi lễ mọi người xong mới lê về đầu nằm của thầy. Nhưng vừa khi nh́n thấy khuôn mặt bị bệnh hoạn tàn phá của vị tôn sư thơ haikai, trong ḷng ông ta bỗng chen lẫn hai thứ t́nh cảm: thỏa măn và hối hận. Chừng như có mắc mớ ǵ nhau mà hai t́nh cảm đó cấu kết tựa bóng với h́nh và từ mấy bữa nay đă làm xáo trộn tâm trí của một người thận trọng như Kyorai. Ông ta chẳng đă tức tốc từ Fushimi lấy thuyền về ngay khi vừa nghe tin thầy lâm bệnh nặng, ông ta chẳng đă nề hà đêm hôm khuya khoắt đến đập cửa nhà Hanaya nầy, và từ dạo ấy chầu chực bên giường thầy không chút trễ biếng là ǵ ! Không những thế, ông hết cậy Shido[32] phụ giúp ḿnh lo mọi việc, hết gửi người đến đền Sumiyoshi cầu thần cho thầy chóng lành, lại c̣n bàn bạc với Hanaya Nizaemon sắm sanh bao vật dụng cần thiết. Hầu hết mọi công việc đều do một tay ông sốt sắng lo. Phải nh́n nhận sự thật là mỗi ḿnh ông chủ động và không hề mượn ai cảm ơn. Tuy nhiên trong khi lo cho thầy đến quên ăn quên ngủ, trong đáy ḷng ông cũng không phải không nhen nhúm một sự măn nguyện về ḿnh.V́ sự măn nguyện ấy không cảm nhận được rơ ràng, nó chỉ kích thích cho Kyorai vui trong công việc chứ hầu như chẳng quấy nhiễu ông trong lúc đi đứng nằm ngồi.Nếu không phải thế th́ tại sao một đêm trong khi canh giấc con bệnh bên cạnh ngọn đèn dầu và măi mê nói chuyện trên trời dưới biển với Shiko, nhân bàn đến ư nghĩa chữ hiếu, ông đă tránh né việc tŕnh bày cách ăn ở thế nào cho phải đạo và không kể lể dài ḍng về ư định hầu hạ thầy như hầu hạ cha mẹ của ḿnh.Có cái trong khi ông ta đang hợm hĩnh th́ trên gương mặt của anh chàng Shiko đa nghi kia thoáng hiện một nụ cười chế nhạo: nụ cười ấy bất chợt phá mất sự yên ổn trong tâm hồn mà ông đă giữ được đến giờ. Nguyên nhân làm ông mất yên ổn là việc lần đầu tiên ông khám phá ra ḿnh có măn nguyện thật. Thêm nữa, càng ư thức rơ ràng về sự măn nguyện đó, Kyorai càng cảm thấy đôi lúc khó chấp nhận sự bần tiện của chính bản thân.

Mấy ngày liền cứ như thế nên hôm nay bên gối thầy, lúc phải chấm giọt nước lên môi để tiễn người sắp ra đi, quả thấy tội nghiệp nhưng không ai ngạc nhiên tí nào nếu thấy con người lúc nào cũng tuân thủ đạo đức một cách chặt chẽ nhưng thần kinh vô cùng nhạy cảm ấy trở thành luống cuống trước mâu thuẩn nội tâm. Kyorai cầm que lông gà đưa lên mà cảm thấy thân thể cứng nhắc.Khi cái que thấm nước lướt trên môi Basho th́ điểm trắng đầu que không ngừng run rẩy làm như Kyorai đang bị xúc động mạnh. May quá lúc đó mắt của ông ra rưng rưng rồi một giọt lệ ứa trên bờ mi làm cho lũ đệ tử đang theo dơi, có thể cả cái anh chàng Shiko đa nghi kia nữa, cũng ngỡ rằng sự xúc động phát xuất từ nỗi buồn thương.

Vén khéo tư thế trong lớp áo có hoa văn kiểu Kenpo xong, Kyorai nơm nớp về lại chỗ ḿnh ngồi. Que lông gà được chuyển đến tay Joso. Con người, ngày thường vẫn được xem là cúc cung tận tụy, lặng lẽ quệt ướt môi thầy, cặp mắt lim dim ra chiều kính cẩn c̣n miệng lầm thầm tụng niệm điều chi. Trước cảnh đó, ai mà không cảm thấy trang trọng.Tuy nhiên, giữa giây phút nghiêm trang như thế bỗng lạ quá, từ góc nhà có tiếng phá lên cười. Ít nhất đó là cảm tưởng của mọi người khi nghe âm thanh ấy phát ra. Nó tựa như một tiếng cười to từ phía dưới bụng bật lên, bị ém lại giữa cổ họng và môi, nhưng v́ thấy cảnh kỳ khôi đến độ không nhịn nỗi nên nó đă ngắt từng quăng một theo đường lổ mũi tuôn ra.Dĩ nhiên trước t́nh cảnh này nào ai có ḷng dạ mà cười, chẳng qua đó là tiếng khóc của Masahide bị dồn nén từ năy giờ đă bục ra và trào khỏi lồng ngực. Nhất định tiếng khóc đó là dấu hiệu của sự bi thương đă đến cực độ. Trong đám học tṛ Basho, không thiếu ǵ những kẻ từng nghe tôn sư ngâm bài thơ nổi tiếng của người :

Mồ ơi, hăy dậy nghe đây

Gió mùa thu đă khóc thay ta rồi[33]

Dầu đang nghẹn ngào v́ những giọt lệ của chính ḿnh nhưng Otokuni không thể chịu nổi khi thấy trong tiếng khóc không cầm được của Masahide có một cái ǵ có vẽ phô trương hay ít ra, Masahide đă không  đủ nghị lực đè nén xuống. Có điều là sự khó chịu mà Otokuni cảm thấy chỉ ở trong phạm vi nhận xét của lư trí. Trong đầu ông ta tuy nghĩ khóc to như thế là không nên nhưng con tim của ông đă bị tiếng gào than của Masahide lung lạc ngay nên không biết tự bao giờ, nước mắt ông cũng đă lưng tṛng. Dù vậy, ông vẫn cảm thấy khó chịu v́ tiếng khóc bi thảm của Masahide và ngay cả những giọt lệ mà ông cho là thiếu thành thực của chính ḿnh. Những giọt lệ ấy lại mỗi lúc tuôn ra càng nhiều, rốt cục, Otokuni hai tay cứ chống lên đầu gối, để mặc cho cổ họng ḿnh phát ra những âm thanh nức nở.Thật ra th́ đến lúc nầy, không chỉ mỗi ḿnh Otokuni là kẻ không kềm nổi tiếng khóc. Vài người trong đám đệ tử đang khép nép bên giường Basho bỗng đồng loạt cất tiếng thút thít, phá vỡ từng chập bầu không khí buồn lắng và lạnh giá của gian pḥng.

Giữa những đợt âm thanh bi thương như thế th́ Joso, vẫn với chuỗi hạt bồ đề đeo trên cổ tay, lặng lẽ trở về chỗ cũ. Đến lượt Shiko, đang ngồi đối diện Kikaku và Kyorai, xít dần lại đầu giường thầy. Nhưng cái ông có bút hiệu là Tokabo nầy vốn nổi tiếng là người thích nhạo báng, rơ ràng không phải là hạng yếu bóng vía có thể nhỏ nước mắt khơi khơi nếu chỉ để làm giống như kẻ chung quanh.Khuôn mặt tái thâm cố hữu của ông ta vẫn giữ nguyên cái điệu bộ xem thiên hạ chả ra ǵ. Ông ta lơ đăng chấm nước lên môi thầy. Dĩ nhiên cũng khó quả quyết rằng một con người như ông ta đứng trước cảnh nầy lại không có măy may cảm khái.

Rồi ra xương trắng vệ đường
Gió mưa lạnh buốt, buồn vương hành tŕnh[34]

Chính tôn sư bốn năm ngày trước đây c̣n lập đi lập lại như một lời cảm ơn bọn ḿnh : « Xưa nay vẫn tưởng phải trải cỏ làm giường, lấy đất làm gối mà nằm chết, nay ta được có được giường êm nệm đẹp để ra đi trong toại nguyện như thế này th́ có niềm vui nào bằng ».

Nhưng nói cho cùng, có ǵ khác nhau rơ rệt giữa « cánh đồng khô » và cái pḥng phía sau nhà trọ Hanaya nầy đâu. Thật ra, trước đây ba bốn hôm, ngay kẻ đang chấm nước lên môi thầy là ông ta đây chỉ có mối lo  sao chưa thấy tôn sư viết bài thơ từ giả cuộc đời[35]. Thế rồi hôm qua ông nầy lại nẩy ra cái ư gom góp những hokku[36] của thầy để làm thành thi tập một khi tôn sư quá văng. Cuối cùng đến hôm nay, từ năy đến giờ, ông chỉ chăm chú quan sát những diễn biến trên khuôn mặt người thầy mà giờ nhắm mắt mỗi lúc gần kề. Nếu mạnh miệng thêm tí nữa th́ ta có thể ngờ rằng đằng sau cái nh́n kiểu như ḍ xét kia, có cái dự tính ḿnh sẽ là người đặt bút viết ít nhất một đoạn văn mô tả về giây phút cuối của thầy. Như thế mới biết trong khi đang chầu chực bên giường bệnh, cái điều đang chi phối tâm trí của Shiko chỉ là tiếng tăm của môn phái, lợi lộc của đám đệ tử cũng như tính toán hơn thiệt của riêng ḿnh, tóm lại toàn là những điều chẳng dính dáng ǵ đến ông thầy đang nằm đợi chết. Do đó, đúng y như tôn sư đă khéo tiên tri trong những bài thơ thường làm trước đây, kết cục là khi chết đi người sẽ bị bỏ rơi để trở thành một trận mưa giông lang thang trên cánh đồng khô mênh mông của cuộc đời. Tất cả lũ đệ tử có ai khóc thương cho thầy đâu, họ chỉ khóc cho bọn họ từ đây không c̣n thầy bên cạnh nữa.Họ không than thở cho người lănh đạo tinh thần kiệt sức chết giữa cánh đồng khô, họ chỉ thở than cho chính họ mất đi ông thầy giữa khi chiều xuống. Nhưng đem đạo đức ra phê phán bọn họ nào có thay đổi được ǵ ! Bạc bẽo chẳng phải là bản chất của con người đó sao ?...Shiko vừa chấm nước lên môi thầy, một ḿnh ch́m đắm trong một niềm cảm khái đượm màu sắc yếm thế mà ông tự cho rằng khả năng trầm tư được thế nầy là cái bằng chứng hơn người của ḿnh. Chấm xong, ông để lại que lông gà chỗ bát nước, nh́n quanh một ṿng với ánh mắt khinh thị những người đệ tử khác c̣n đang nghẹn ngào, xong thủng thỉnh quay về chỗ cũ. Cái lạnh lùng trong hành động của Shiko đă đập vào mắt của con người tốt bụng là Kyorai ngay từ giây phút đầu tiên.Trong ḷng Kyorai, sự lo âu khi năy lại trở về. Riêng Kikaku có vẽ như cười khinh khỉnh, ư như khó chịu trước cái cố tật lúc nào cũng muốn ta đây hơn người của Tokabo.

Shiko vừa xong th́ đến lượt Izenbo. Người khẳng khiu, ông phải trườn ra, tay áo tu hành nhuộm đen lết trên mặt chiếu. Khi ấy th́ thần chết như đă đến sát Basho rồi. Sắc mặt tôn sư nhợt nhạt hơn lúc năy, trên làn môi đẫm nước, hơi thở lắm lúc như quên bẵng, không thấy phát ra.Mới tưởng thế th́ bất đồ như chợt nhớ trở lại, cổ họng ông co thắt mạnh rồi một làn hơi nhẹ thoảng. Trong cổ họng có tiếng đàm kéo hai ba lần, nhưng rơ ràng đường hô hấp dường như yếu dần.Lúc đó Izenbo, người đang đặt que lông gà cho đúng chỗ trên môi thầy, bất chợt cảm thấy  hoảng sợ - một t́nh cảm không liên quan đến nỗi buồn tử biệt – ập vào tâm hồn ông ta. Đó là nỗi sợ hăi phi lư khi ông nghĩ rằng hết lượt thầy, ḿnh sẽ là người chết trước tiên.Cho dù nỗi lo sợ đến không lư do nhưng một khi xâm chiếm ông rồi th́ làm ông tê liệt không cách nào chịu đựng hay chống cự được. Số là đối với cái chết, Izenbo có một sự khiếp sợ đến bệnh hoạn. Tự ngày xưa ông đă từng trải qua cái cảnh, ngay cả khi đang rong chơi vui vẻ, cứ mỗi lần nghĩ đến cái chết của ḿnh là sợ hăi đến toàn thân mướt mồ hôi. Do đó, khi nghe nói đến cái chết của ai, ông cũng mừng rơn v́ họ không phải là ḿnh. Đồng thời ngược lại ông lo lắng đặt câu hỏi nếu đó là trường hợp của ḿnh th́ biết tính sao đây ? Dĩ nhiên ngay cả trường hợp Basho cũng không được Izenbo xem như ngoại lệ. Lúc đầu, khi cái chết của thầy hăy c̣n chưa đến kề bên - một ngày mùa đông tạnh ráo, trời hăy c̣n sáng sủa, những tia nắng chiếu lên cánh cửa phết giấy và hương thơm dịu dàng của hoa thủy tiên mà bà Sonojo[37] tặng c̣n tỏa ngát trong pḥng, lúc tất cả đệ tử tụ tập bên giường c̣n ngâm những bài thơ để giúp thầy khuây khỏa - th́ tâm trạng của Izenbo hăy c̣n khác cái tâm trạng hiện nay như ánh sáng đối với bóng tối. Tâm trạng cũ đă lần hồi nhường chỗ cho tâm trạng mới và khi hồi chung cuộc gần kề - làm sao quên được hôm có trận mưa rào đầu mùa ấy - nh́n thấy thầy ḿnh không c̣n ăn nỗi miếng lê, thứ quả ngày thường người vẫn thích, Mokusetsu đă lắc đầu lo lắng, vâng, kể từ giờ phút đó, cái yên trí lần lần đă bị nỗi lo âu gậm nhấm và biến nó thành một thứ khủng hoảng tinh thần khi ư nghĩ « hết phiên thầy là đến phiên mầy đấy » như một cái màng mỏng lạnh lẽo cứ lan dần ra làm buốt thấu tim. V́ vậy, khi ngồi cạnh đầu nằm để chấm nước lên môi thầy một cách cẩn thận th́ Izenbo cảm thấy nỗi khiếp hăi ấy bao vây đến độ không dám nh́n thẳng vào mặt người đang hấp hối. Không, có một giây ông đă có thể nh́n thẳng mặt tôn sư đấy nhưng cũng vào lúc đó, tai ông bỗng nghe tiếng thở th́ thào v́ nghẽn đàm trong cổ họng Basho. Nó làm mọi can đảm của ông co rụt lại. Tiếng nói « Thầy chết rồi tính ra chắc là lượt mầy đấy » cứ lập đi lập lại trong lỗ tai ông như một lời dự ngôn khi Izenbo đang rúm ró lết cái thân h́nh gầy yếu về chỗ ngồi. Ông ta chẳng thèm ḍm ai chung quanh mà cứ ngước mắt ngó lên. Gương mặt đă không mấy cảm t́nh lại làm cho khó thương thêm.

Otokuni, Masahide, Shido, Mokusetsu…đám môn nhân kẻ trước người sau đến quây quần bên giường bệnh, lần lượt chấm nước cúng lên môi thầy. Trong khi đó, hơi thở của Basho càng lúc càng mỏng manh và  cách quảng lâu hơn.Yết hầu cũng thôi di động. Khuôn mặt nhỏ rỗ huê, dấu vết lên đậu, trông tiều tụy như bọc sáp, đôi mắt đă lạc thần cố bám víu vào một khoảng không gian xa vời, râu bạc trắng như cước bó   quanh hàm.. đă đông cứng, không c̣n cảm giác ǵ của thế giới con người nữa.Tất cả đều như đang mơ về một cơi đời sau đầy ánh sáng yên lành mà người chết sắp sửa bước vào. Chính vừa lúc đó th́ Joso, đang ngồi sau lưng Kyorai, cúi đầu xuống ra dáng trầm tư. Joso, con người cúc cung tận tụy, một khách thiền môn, cảm thấy từ từ bên trong ḷng ḿnh dậy lên một nỗi buồn vô bờ bến xen lẫn với một sự an tâm cũng vô bờ bến khi hơi thở tôn sư yếu dần. Về nỗi buồn th́ chẳng cần phải mất thêm thời giờ để giải thích lư do. Thế nhưng tại sao Joso lại cảm thấy sự an tâm lan rộng trong ḷng ḿnh như ánh sáng đang xua dần bóng tối.Hơn thế nữa, cứ mỗi khắc qua đi th́ những ư nghĩ vẩn vơ dần dần tiêu tán, rồi những giọt nước mắt cũng biến dạng thành nỗi buồn trong sáng không mảy may làm đau đớn con tim. Phải chăng v́ trong ḷng Joso đang chan chứa niềm vui khi biết linh hồn tôn sư đă thoát ra ngoài ṿng sinh diệt để về cơi Niết Bàn siêu sinh tịnh độ ? Không đâu ạ, ngay cả Joso cũng không hiểu được v́ sao. Nếu thế th́, ôi thôi,…cái thằng ngu ngốc măi măi chần chừ không dám tiến lên và cứ tự dối ḿnh là ai vào đây ? T́nh cảm an tâm trong ḷng Joso chẳng qua là niềm vui của một tâm hồn bấy lâu bị cái h́nh bóng quá to lớn của Basho chèn ép, khuất phục, rốt cục thoát cũi sổ lồng, duỗi được tay chân, đoạt lại tự do và sức mạnh cố hữu của ḿnh. Đó là niềm vui được giải phóng. Choáng ngợp bởi niềm vui và nỗi buồn ấy, Jocho tay lần tràng hạt, trong đáy mắt của ông, h́nh ảnh bọn đệ tử hăy c̣n khóc thút thít chung quanh đă tan biến đi mất. Với nụ cười nhẹ nhàng thoáng trên bờ môi, ông cung kính cúi đầu thi lễ trước tôn sư vừa trút linh hồn.

Và như thế, bậc đại tôn sư thơ haikai danh quán cổ kim, Matsuo Tosei, am chủ am Basho, đột ngột thở hơi cuối cùng trong niềm « xót thương vô hạn » của bầy đệ tử chung quanh gối người.

Tháng 9/1918.

Đăng trong tờ Shin Shosetsu số tháng 10 năm Taisho thứ 7 (1918)



[1] Akutagawa dạy học ở trường Hải Quân Yokosuka phía nam Tokyo từ năm 1915 đến 1919. Gia đ́nh vẫn cư trú ở Kamakura và có thời ông phải ở trọ ở chỗ đi dạy.

[2] Toki Aika (Thổ Kỳ, Ai Quả) tên thật Toki Zenmaro (Thổ Kỳ, Thiện Lữ, 1885-1980), tốt nghiệp khoa Anh văn đại học Waseda, sau viết báo, làm thơ tanka khuynh hướng hiện thực và viết tùy bút. Thiện nghệ về lối thơ cắt 31 âm thành ba hàng.

[3] Người vợ nhà mà Akutagawa liên tưởng đến khi đọc thơ Aika tên là Tsukamoto Fumiko, cưới nhau năm 1918, lúc ông 26 tuổi và bà 18.

[4] Tên một hiệu rượu sake vốn có nhiều loại cùng tên, ví dụ Kiku Masamune, Sakura Masamune...

[5] Theo Cựu Ước trong Kinh Thánh, Esau, con trai Isaac đă bị em sinh đôi là Jacob dùng mưu đoạt mất quyền trưởng nam

[6] Tiếng La Tinh có nghĩa là « Người ta không thể bàn cải về sở thích của nhau » (v́ nói đến sở thích là nói đến chủ quan).

[7] Rembrandt Harmenszoon van Kijin (1606-1669), họa gia Ḥa Lan , cùng với P.Rubens và D.Velazquez tiêu biểu cho hội họa phương Tây thế kỷ 17. Bậc thầy về tranh chân dung cũng như cách sử dụng ánh sáng, đối chọi sáng tối và bố màu.

[8] Loại cam to, ngọt và đẹp, đáy quả h́nh cái rốn lồi.

[9] William Wordsworth (1770-1850) thi nhân lăng mạn, yêu thiên nhiên Anh, sống ở vùng hồ (Lake District) miền trung nước Anh, nổi tiếng cùng với S. Coleridge, PB Shelley, Lord Byron vv...

[10] Occult sciences (nguyên văn viết bằng tiếng Anh).

[11] Robert Louis Stevenson (1850-1894), tiểu thuyết gia người Anh (Tô Cách Lan), tác giả Đảo Kho Tàng, Bác sĩ Jekyll và ông Hyde.

[12] O’Henry (1862-1910), nhà văn Mỹ chuyên về truyện ngắn, viết nhiều nhưng không mấy đặc sắc.

[13] Nguyên văn viết bằng tiếng Anh: You know, Socrates and Platon are two great teachers, etc…

[14] Yankees (Nguyên văn viết bằng tiếng Anh)

[15] Họa sĩ người Pháp, thuộc phái ấn tượng, Paul Gauguin (1848-1903) cuối đời sống ở Tahiti.

[16] Lamarck (1744-1829), nhà động vật học người Pháp chủ trương các giống động vật tự nó có khả năng tiến hóa khác nhau.

[17] Đoạn này tác giả mô phỏng theo ư của nhà văn Pháp Jules Renard (1864-1910)

[18] Câu nói mà ác quỉ Mephistopheles đội lốt Faust dạy cho học tṛ (xem Faust, ,quyển 1, ḍng 2038-2039).

[19] Joso (Naito Joso, Nội Đằng,Trượng Thảo, 1662-1704) một trong thập triết, thơ trong trẻo, thanh đạm. Sau lập am tu thiền.

[20] Kyorai (Hướng Tỉnh, Khứ Lai, 1651-1704) một trong thập triết. Người đôn hậu trung thực, thơ cao nhă, u buồn.

[21] Donshu (Thôn Châu), người chăm sóc Basho bên giường bệnh.

[22] Tập sách ghi chép những ngày tháng cuối cùng ở quán trọ Hanaya. Đời sau cho là một tập sách giả.

[23] Vào niên hiệu Genroku (Nguyên Lộc, 1688-1704). Tức là năm hôm trước khi Basho mất.

[24] Trích văn của chính Basho.

[25] Mokusetsu (Mochizuki Mokusetsu, Vọng Nguyệt, Mộc Tiết) thầy thuốc người Osaka, cũng là học tṛ Basho.

[26] Người chú giải cho nhà xuất bản Shincho nghi rằng Akutagawa đă lầm. Jirobe không phải là lăo bộc mà là con bà Juteini, một người t́nh của Basho. Có thể chính là con đẻ của ông.

[27] Shinshi Kikaku (Tấn Tử, Kỳ Giác) tên thật là Enomoto Kikaku (1661-1707), người đứng đầu thập triết. Sau khi thầy chết, nổi tiếng ở Edo với thi phong trào lộng.

[28] Otokuni (Kawai Otokuni, Xuyên Tỉnh Ất Châu, 1657-1720), cùng với chị là nữ thi nhân Chigetsu (Trí Nguyệt) đều là học tṛ Basho.

[29] Izenbo (biệt hiệu của Hirose Izen, Quảng Lại, Duy Nhiên, ? – 1711. E. de Chavanes đọc là Inenbo) đệ tử đă theo Basho trong cuộc du hành cuối cùng và chầu chực bên giường bệnh. Thơ tiêu sái, nhẹ nhàng, sử dụng văn nói và chủ trương bỏ khái niệm mùa trong haikai.

[30] Shiko (Kagami Shiko, Các Vụ Chi Khảo, 1665-1723), một trong thập triết. Thơ b́nh dị, đại chúng.

[31] Masahide c̣n đọc là Seishu (Mizuta Seishu, Thủy Điền, Chính Tú, 1658-1723) cũng là một môn đệ của Basho. Sau hành nghề thầy thuốc.

[32] Shido tên thật là Emoto Shido, hiệu Fuchiku (Phóng Trúc), buôn dược thảo ở Osaka, một nhân vật quan trọng trong đám môn sinh của Basho.

[33] Bài Tsuka mo ugoke này có chép trong tập Oku no hosomichi. Tương truyền Basho viết năm 1689 để thương khóc Issho (Nhất Tiếu), một môn đệ của ông ở vùng Kaga, người ngưỡng mộ và hằng ao ước được gặp tôn sư nhưng mộng chưa thành đă chết vào mùa đông trước.

[34] Ư câu thơ mào đầu viết năm 1684 trong Koshi Ginko (Giáp Tư Ngâm Hành) về nỗi lo âu phải chết bỏ xương trắng dọc đường trong chuyến lữ hành.

[35] Người Nhật có tập quán làm thơ tuyệt mệnh (từ thế thi) trước khi chết.

[36] Hokku (phát cú) c̣n gọi là hoku hay ageku là câu thơ mào đầu trong chuỗi haikai renga, kỹ thuật làm thơ liên tục của Nhật. Về sau, câu đầu tiên này đứng riêng và thành một câu thơ độc lập gồm 17 âm tiết, sắp xếp theo h́nh thức 5.7.5. Haiku bây giờ tức là haikai hokku (câu đầu của thơ haikai) vậy

[37] Sonojo (Tư Ba, Viên Nữ, 1664-1726), một nữ đệ tử của Basho, tính cứng cơi như đàn ông nhưng lời thơ đơn sơ, có phong thái phụ nữ.

 


® "Mọi trích dẫn hay đăng tải cần phải có sự đồng ư của dịch giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

..........