TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY

Nguyên Tác: Kawabata Yasunari

Dịch: Nguyễn Nam Trân

  TẬP I  &  TẬP II

Dịch năm 2009-2010 - tu chính và bổ sung vào tháng 10/ 2018

 

Kawabata Yasunari (1899-1972)

Dẫn Nhập: Những nàng Mona Lisa cười nụ

Cái tên "Truyện ngắn trong ḷng bàn tay" đến từ tiếng Nhật "Tenohira no shôsetsu" (chưởng tiểu thuyết) như cách gọi của hầu hết các nhà văn học sử. Đó là một thể loại tác phẩm văn học có đặc điểm là ngắn, ngắn đến nỗi có thể gói trọn trong ḷng bàn tay. Thể loại này c̣n được nhà phê b́nh văn học Chiba Kameo (1878-1935), một người cổ vũ cho văn học đại chúng dưới thời Taishô (1912-26) gọi là "shôhen shôsetsu" (chưởng biên tiểu thuyết). Ngoài ra, nhà phê b́nh Hasegawa Izumi (sinh năm 1918), một người thân cận với Kawabata, đă chủ trương phải đọc là "tanagokoro shôsetsu" [1] mới đúng tuy vẫn được viết bằng ba chữ Hán "chưởng tiểu thuyết". Hasegawa kể lại ḿnh v́ thắc mắc nên đă hỏi ư kiến Kawabata và được chính nhà văn đồng ư với cách đọc này [2]. Khi dịch ra tiếng Việt, chúng tôi rất bối rối, không biết nên gọi "trong ḷng bàn tay", "một gang tay" hay "trong gan bàn tay". Sau khi tham khảo cả lối hiểu của người Tây Phương (palm [3], paume), xin tạm giữ lối gọi "trong ḷng bàn tay" cho giống mọi người. Có thể dịch là "truyện cực ngắn" nhưng làm như thế lại đánh mất cái tên rất gợi h́nh của nó.

Trước Kawabata và đồng thời với ông, đă có nhiều người viết những truyện rất ngắn từ một vài hàng đến mươi hàng hay một hai trang. Tiêu biểu nhất - về độ ngắn mà thôi - từ xưa đă có những công án hay truyện thiền (Vô Môn Quan, Bích Nham Lục hay Sa Thạch Tập). Một thoại của Vô Môn Quan (tác phẩm Trung Quốc đời Tống nhưng đă đến Nhật rất sớm, giữa thế kỷ 13) vỏn vẹn có vài gịng (ví dụ thoại "Triệu Châu cẩu tử" dài đúng có ba hàng). Những mẩu truyện của Natsume Sôseki (1867-1916) trong Yume Juuya (Mười Đêm Mộng Mị, 1908) tuy ảm đạm và huyền bí hơn nhưng rất ngắn, rất thơ, gần với tác phẩm đến sau của Kawabata. Thân thể đàn bà (Nyôtai) hay Mộng Kê Vàng (Kôryô no yume) ...cũng như những tiểu phẩm khác của Akutagawa Ryuunosuke (1892-1927) cũng ngắn gọn, thâm trầm. Một tác giả Mỹ đồng niên đại với Kawabata là E. Hemingway (1899-1961) đă để lại những truyện cực ngắn như Up to Michigan, thu được trong ḷng bàn tay.

Điều quan trọng cần nêu ra đây là hành tŕnh đi vào "truyện ngắn trong ḷng bàn tay" của Kawabata không phải là một hành tŕnh đơn độc. Ông chỉ là một người trong nhóm bút trẻ của tờ Bungei Jidai (Văn Nghệ Thời Đại) đă cùng nhau đăng trong số báo tháng 2 năm Taishô 14 (1925) một loạt truyện cực ngắn chỉ có từ mươi đến vài mươi gịng. Tên tuổi các cây bút trẻ cùng chí hướng đă thể nghiệm hay chú ư về mặt lư luận của loại tiểu thuyết cực ngắn thời đó nay c̣n được nhắc tới là hai người bạn của Kawabata: Yokomitsu Riichi (1898-1947) và Nakagawa Yoichi (1897-1994)... cũng như những người ít được biết đến hơn như Kon Tôkô, Okada Saburô, Takeno Fujinosuke, Suga Tadao, Kamiya Kiichi, Suzuki Ganjirô, Ishihama Kinsaku vv... Đặc biệt Nakagawa và Okada rất năng nổ trong việc khai triển và định hướng cho thể loại văn học này.

Về hình thức, họ định nghĩa loại tiểu thuyết cực ngắn gọi là “chưởng biên tiểu thuyết” này phải viết nội trong 10 hàng (theo Kon Tôkô, 1923) hay 20 hàng (theo Nakagawa Yoichi, 1924) nhưng quan trọng nhất là nội dung cần phải có mấy đặc tính như sau (theo Hashizume Ken, 1925):

1) Từ chiều ngang bước qua chiều dọc (ý nói không dàn trải mà cô đọng chăng?, NNT).

2) Từ họa tính tiến tới nhạc tính.

3) Từ tĩnh sang động.

4) Đi sâu vào kỹ xảo.

5) Biến những yếu tố triết học thành yếu tố cảm giác.

6) Từ bỏ cái gọi là lý tưởng.

7) Ngừng tính hiện thực và tiến về tinh thần lãng mạn.

8) Không đặt nặng ý thức giai cấp.

9) Có thái độ phê phán đối với những sự chống phá đến từ chủ nghĩa hư vô (nihilism).

10) Hướng về sự lành mạnh trước những đồi phế, suy thoái.

11) Hướng về chủ nghĩa duy tự ngã (egocentrism) nhưng triệt để có tính quốc tế (internationalism).

Nói gì thì nói, chúng ta vẫn thấy rằng những qui tắc kể trên vẫn chưa đủ cụ thể và cần phải được các tác giả loại truyện cực ngắn chứng minh một cách rõ ràng hơn qua sáng tác.

Không biết bản thân Kawabata có đồng cảm với những vị ấy hay không (và nếu đồng cảm thì đến mức độ nào?) nhưng giữa đám bạn văn này, ông là người đi xa và nổi bật hơn cả. Ông sáng tác nhiều nhất và đă tạo một văn phong đặc biệt cho loại tiểu thuyết trong lòng bàn tay [4]. Ngày nay, khi nói đến thể loại văn học này, người ta hầu như chỉ biết có ông. Với ông, những truyện ngắn trong ḷng bàn tay không c̣n là một thứ phác thảo (croquis) mà các nhà văn, họa sĩ, đạo diễn thường thường ghi lại để chuẩn bị cho một tác phẩm lớn sắp viết, sắp vẽ hay sắp quay. Nó đă trở thành một thể loại văn học với những nét đặc thù. Có khi, ông c̣n kư thác cho nó một nhiệm vụ đặc biệt như khi thay v́ khai triển, lại đúc kết một tiểu thuyết khá dài (Xứ tuyết, Yukiguni, 1935-47) thành một truyện ngắn trong ḷng bàn tay như Ghi chép về Xứ Tuyết (Yukiguni-shô, 1972).

Có thể bảo truyện ngắn trong ḷng bàn tay của Kawabata đứng giữa biên giới của thơ, tùy bút, hồi kư và truyện ngắn. Nhiều khi ta thấy ông như người kể lại những ǵ xảy ra trong một giấc mơ. Thay v́ làm thơ, ông lồng khung những bài thơ định viết trong tác phẩm văn xuôi. Thể loại văn chương này thích hợp với bản tính ông, một con người mơ mộng, tinh tế và nhạy cảm. Thêm vào đó, khuynh hướng mới duy tâm lư [5] trong văn học mà ông là một người đề xướng ở Nhật cũng phù hợp với lối hành văn và nội dung của các tác phẩm ấy.

Theo lời giải thích của Yoshimura Teiji [6] th́ sở dĩ Kawabata viết loại truyện ngắn này là muốn "thể hiện cái hồn thơ nơi ḿnh hồi c̣n trẻ" mà về sau ông có lần xem như là "một sai lầm" và nhiều khi "đâm ra tự ghét ḿnh" (?). Không hiểu thái độ đó bắt nguồn từ một lư do thầm kín nào hay chẳng qua là một phản tỉnh về mặt kỹ thuật, nhưng các đứa con tinh thần của ông không v́ những nhận định tiêu cực như thế của người sinh thành ra nó mà kém được độc giả yêu chuộng.

Tuy vậy, phải nói rằng chỉ trong giai đoạn trước 1926, ông mới viết nhiều thể loại này (khoảng 36 truyện), sau đó ít đi và có khi lại gián đoạn không viết nó trong một khoảng thời gian dài. Thời kỳ 1944-50 rồi 1960-64, ông có vẻ sung sức hơn so với các giai đoạn khác. Thời kỳ trước tương ứng với thời điểm sáng tác Tiếng núi rền (Yama no oto, 1954) và Ngàn cánh hạc (Senbazuru, 1952), thời kỳ sau là lúc ông viết Người đẹp ngủ say (Nemureru Bijô, 1961), Cố đô (Koto, 1962) và Cánh tay (Kataude, 1965).

Hasegawa Izumi [7] thu thập được 147 truyện ngắn trong ḷng bàn tay mà Kawabata đă cho đăng tải suốt thời gian từ 1921 đến 1972, nghĩa là trên nửa thế kỷ. Đầu tiên là truyện mang tên Dầu (Abura) đăng trên tạp chí Shinshichô tháng 7 năm 1921. Ghi chép về Xứ Tuyết (Yukiguni-shô), truyện ngắn trong ḷng bàn tay cuối cùng đă được đăng trên tạp chí Sunday ngày 13 tháng 8 năm 1972. Có thể Kawabata viết với một số lượng lớn hơn nữa nhưng không đem đăng, nhiều khi c̣n gạt bớt những truyện đă đăng trên báo ra ngoài tuyển tập. Với 147 truyện trong ḷng bàn tay, chắc Hasegawa là người thu lượm được nhiều nhất. Toàn tập 37 quyển của Kawabata do nhà xuất bản Shinchô Bunko ấn hành chỉ gom được 122 truyện và cho cả vào quyển thứ nhất. Cũng cần nói thêm rằng tuyển tập văn chương đầu tay của Kawabata được in ra đă là một tập truyện ngắn trong ḷng bàn tay, nhan đề Điểm tô t́nh cảm (Kanjô sôshoku), gồm 36 truyện đăng trong Bungei Jidai số tháng 7 năm 1926.

Về mặt phân loại, nếu chúng ta đồng ư với Yoshimura Teiji [8] th́ truyện ngắn trong ḷng bàn tay của Kawabata [9] có thể chia ra thành nhiều chùm mang đặc điểm khác nhau:

1) Chùm truyện có tính cách tự thuật với những truyện liên quan đến hoàn cảnh mồ côi cha mẹ và cuộc sống bên cạnh người ông mù ḷa như Hốt cốt (Kotsu- hiroi, 1949), Hướng nắng[10] (Hinata, 1923), Mẹ (Haha, 1926), Hai mươi năm (Nijuunen, 1925) ...

2) Chùm truyện có tính cách tự thuật liên quan đến mối t́nh đầu như Món đồ dễ vỡ (Yowaki Utsuwa, 1924), Người con gái đi về phía lửa (Hi ni yuku kanojo, 1924), Chiếc dù đi mưa[11] (Amagasa, 1932), Cái cưa và sinh nở (Nokogiri to shussan, 1924), Cái huông của tác phẩm đầu tay (Shojosaku no tatari, 1927), Tấm ảnh [12] (Shashin, 1924)...

3) Chùm truyện lấy bối cảnh miền Izu thơ mộng với các bến cảng, suối nước nóng nơi đó có những nàng con gái tươi tắn, đầy sinh lực, biết vượt khó khăn trong cuộc sống. Ví dụ Tóc (Kami, 1924), Địa Tạng O-Shin (O-Shin Jizô, 1925), Bến cảng (Minato, 1924), Đôi giày mùa hạ (Natsu no kutsu, 1926), Chiếc nhẫn (Yubiwa, 1924), Mùa đông gần kề (Fuyu chikashi, 1926), Kẻ trộm quả dâu lá bạc [13] (Gumi nusutto), Lời nguyện của người trinh nữ (Shôjo ni inori, 1926), Mã nỹ nhân (Uma bijin, 1927), Có ông trời (Kami imasu, 1926), Mắt của mẹ nàng [14] (Haha no me,1928), Ghềnh đá trượt (Suberi iwa, 1925) Bàn bi-da (Tama-dai, 1925), Cám ơn (Arigatô, 1925), Biển (Umi, 1925), Cô tiểu thư ở Suruga (Suruga reijo, 1927) ...

4) Chùm truyện với bối cảnh của xóm b́nh dân Asakusa nơi c̣n đọng cái duyên thầm của thành phố Edo lịch sử. Phần này tuy không nhiều nhưng có thể kể đến Anna người Nhật (Nihonjin Anna, 1929), Con gà mái và cô đào hát (Tori to Odoriko, 1930), Phấn và dầu xăng, Oshiroi to gasolin, 1929), Anh chồng bị cột (Shibarareta Otto, 1930)...

5) Chùm truyện giống như những bức ảnh bắt chụp quang cảnh thời hậu chiến, nói đến những thể nghiệm tâm lư trong sinh hoạt bản thân và con đường đi về cơi người già như trong Người đàn ông không cười (Warawanu otoko, 1929), Những con thuyền lá tre (Sasabune, 1950), Hoa mơ hồng (Kôbai, 1948), Những quả trứng (Tamago, 1950)...

6) Chùm truyện mô tả thế giới huyền ảo của những giấc mơ. Chiếc xe tang (Reikyuusha, 1926), Lũ cá vàng trên sân thượng (Okujô no Kingyo, 1926), Chết chung v́ t́nh (Shinjuu, 1926), Vượt qua cái chết (Bất tử, Fuji, 1963) ... là những ví dụ.

Loạt bài “Mười lăm truyện ngắn trong lòng bàn tay” tập I và II sau đây trích dịch từ nguyên tác theo bản bỏ túi Tenohira no Shôsetsu do nhà xuất bản Shinchô Bunko thực hiện năm 1971, tái bản lần thứ 25 vào năm 1983. Tập này chỉ có 111 truyện. Nếu muốn dịch trọn vẹn 147 truyện, phải t́m thêm nguyên tác bên ngoài. Cách đánh số truyện dịch từ 1 đến 147 tuân theo thứ tự thời gian xếp đặt rất công phu bởi Hasegawa Izumi. Chỉ tiếc rằng nhiều truyện được ông liệt kê ngày nay rất khó kiếm nếu không moi móc những số báo cũ trong thư viện.

Nói về nghệ thuật viết đoản thiên, chúng ta biết ở phương tây có những tên tuổi lớn như Guy de Maupassant, Anton Tchekhov, thế nhưng theo Yoshimura Teiji [15], người đáng kể hơn cả trong lănh vực truyện ngắn có tính cách tâm linh [16] hay tâm lư là L'Isle-Adam [17]. Ông là một nhà văn Pháp thế kỷ 19, xuất thân quí tộc, sống phóng đăng, vượt khỏi thế t́nh, từng được các thi nhân từ Baudelaire, Mallarmé đến Verlaine kính nể. Chính ông mới là người đă để lại dấu ấn trong các tác phẩm của Mishima và nhất là chùm truyện ngắn trong ḷng bàn tay của Kawabata. Điều đó có thể thấy được qua Mặt trời lặn (Rakujitsu, 1925) hay Tiếng chân con người (Ningen no ashioto), hai tác phẩm với âm hưởng của thơ siêu thực và là những tác phẩm sắc sảo, tươi mới, vạch ra được những ǵ mang ư nghĩa độc đáo, chưa ai khám phá ra nơi tâm hồn con người.

Xin thú thực là công việc dịch thuật từ nguyên tác đ̣i hỏi một khả năng ngôn ngữ cao mà bản thân người dịch chưa đạt đến, không kể sự khó khăn khi muốn truyền đạt cái tinh tế trong lối hành văn ngắn, gọn, hàm súc của Kawabata. Chưa nói đến việc có người c̣n cho rằng những truyện ngắn trong ḷng bàn tay của Kawabata tự chúng đă mơ hồ và bí ẩn như nụ cười của người đẹp Mona Lisa. Nó làm cho vai tṛ tham gia của độc giả trong việc thưởng thức tác phẩm của Kawabata rất đáng kể.
 

 

TẬP I

1. Hướng nắng

2. Món đồ dễ vỡ

3. Tóc

4. Đôi chim hoàng yến

5. Bến cảng

6. Cám ơn

7. Mẹ

8. Lập trường đứa con

9- Lũ cá vàng trên sân thượng

10- Móng tay buổi sáng

11- Hoa huệ

12- Chiếc dù đi mưa

13- Trang điểm

14- Quê nhà

15- Nước

 

 

TẬP II

16. Người con gái đi về phía lửa.

17. Chết chung vì tình.

18. Tro cốt linh thiêng.

19. Cô tiểu thư ở Suruga.

20. Những con thuyền lá tre

21. Mưa thu.

22. Hàng xóm.

23. Công chúa Long Cung

24. Người mù và cô gái trẻ

25. Tiếng sấm mùa thu

26. Anh chồng bị cột

27. Mặt trời lặn

28. Thói quen trong giấc ngủ

29. Trong vòm cây.

30. “Người đẹp dưới trăng”.

 

 

CHÚ THÍCH:

[1] - ta= âm cổ của te=tay; na=âm cổ của no= của. gokoro =âm đục của kokoro=ḷng. Như thế tanagokoro nghĩa là "ḷng bàn tay", cũng như tenohira hay tenoura.

[2] - Xem Khảo Luận về Kawabata (Kawabata Ronkô, 1991) của Hasegawa Izumi, Meiji Shôin xuất bản, trang 481.

[3] - Palm-of-the-hand Stories như Lane Dunlop và J. Martin Holman (Tuttle Publishing, Tokyo, 1988) đă dùng. Palm = the inner surface of the hand between the wrist and fingers. (Oxford)

[4] - Nhà phê b́nh Hasegawa Izumi dùng chữ "cổ kim độc bộ" (kokondoppo) để nhấn mạnh vai tṛ quan trọng của Kawabata trong việc phát triển thể loại văn chương này.

[5]- Khuynh hướng gọi là Shin-Shinri-ha (Neo- Psychologism) chịu ảnh hưởng của tâm phân học, chủ trương miêu tả và giải thích một cách chủ quan những vùng sâu kín trong tâm lư con người như bản năng, tiềm thức...Ở Anh có James Joyce, Virginia. Wolf, Pháp có Marcel Proust. Nhật có Itô Sei, Kawabata Yasunari, Yokomitsu Riichi và Hori Tatsuo (theo từ điển Kôjien). Những nhà văn học sử khác lại đặt Kawabata vào nhóm Shin-Kankaku-ha (Neo-sensualism) với Nakagawa Yoichi, Kataoka Teppei, Yokomitsu Riichi và những người chủ trương tạp chí Bungei Jidai. Dầu sao, hai phái nói trên đều chủ trương duy mỹ và vị nghệ thuật.

[6] - Xem lời bạt của ông trong Truyện Ngắn Trong Ḷng Bàn Tay (Tenohira no Shôsetsu), Shinchô Bunko xuất bản, 1971, tái bản lần thứ 25 vào năm 1983, trang 485.

[7]- Xem sách đă dẫn, trang 486-498.

[8] - Xem sách đă dẫn, trang 497-498.

[9] - Nhiều truyện trước đây đă được các dịch giả Nhật Chiêu, Hoàng Long, Đào Thị Thu Hằng ... giới thiệu với độc giả Việt Nam.

[10]- In đậm là những chuyện được dịch lần nầy.

[11] - Sẽ dùng lai trong Lửa phương nam (Nanpô no hi).

[12] - Sẽ được làm sống lại trong Thủy tiên (Suisen). Xem bản dịch của Quỳnh Chi.

[13] - Tạm dịch từ chữ Gumi (Alaeagnus commutata = silverberry), một loại dâu lá bạc, cành nâu đỏ, thường thấy ở Bắc Mỹ.

[14] - Xem bản dịch của Quỳnh Chi trên mạng CVCN.

[15] - Sách đă dẫn, trang 498-499.

[16] - Spritual, spriritualistic.

[17] - Auguste de Villiers de l'Isle-Adam (1838-1889).

 

 

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com