Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

Lực Đạo Sơn, Misora Hibari, Godzilla, Tezuka,
những biểu tượng của văn hóa đại  chúng Nhật Bản hậu chiến.

Chương 31 :

Văn học đại chúng Nhật Bản hiện đại (1):

Tiểu thuyết dă sử, kiếm hiệp và t́nh cảm

Nguyễn NamTrân (*)

Lịch sử văn học Nhật Bản có những giai đoạn “hạ khắc thượng” (gekokujô) tức là “dưới lấn trên” khi văn chương b́nh dân ảnh hưởng ngược lên văn chương cung đ́nh. Người viết e rằng thế giới nói chung cũng đang đi vào một thời buổi như thế khi văn học đại chúng, vốn bị coi là văn chương thấp kém, không có giá trị cho lắm lại nắm vai tṛ chủ đạo.Những quyển sách được đọc nhiều và nhớ nhiều hơn cả không phải là tác phẩm của các vị lănh giải Nobel. Nó là Harry Potter hay Lords of the Ring… những tên sách c̣n dễ nhớ hơn tên tác giả. Mà văn chương viết ra làm ǵ nếu không phải là để được đọc nên ta không thể coi thường sức mạnh của văn học đại chúng. Hơn nữa, mục đích tiêu khiển của văn chương đại chúng cũng là một điểm son v́ nó đem lại cho ta những giây phút thư giản trong một cuộc sống quá căng thẳng (mai kia sẽ có văn học manga, không chừng đă có rồi cũng nên). Chúng ta thấy rằng văn chương đại chúng c̣n có thể giải đáp được những vấn đề của thời đại mà không hề tự trao cho ḿnh một sứ mệnh hay nhiệm vụ ǵ cả. Nhiều tác giả thuộc ḍng văn chương thuần túy cũng đă có lần rời bỏ vị trí trên trước của ḿnh để cúi xuống viết văn chương đại chúng.

TIẾT I: VĂN HỌC ĐẠI CHÚNG LÀ G̀ ?

Theo Cécile Sakai,[1] từ điển Kôjien của Nhật định nghĩa văn học đại chúng như một h́nh thức văn học đối lập với văn học thuần túy và nhắm quần chúng độc giả b́nh dân. Trong loại nầy, có thể kể đến các loại tiểu thuyết lịch sử[2], tiểu thuyết trinh thám (người Nhật gọi là tantei tức “ thám trinh ”, suiri hay suy lư, deduction), tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết t́nh cảm có tính cách gia đ́nh hay yếu tố khôi hài. Kikuchi Kan (trích dẫn trong Taishuu bungakuron, “ Luận về văn học đại chúng ” của Ozaki Hotsuki, 1965) nhận định rằng trong khi văn học thuần túy là cái mà nhà văn viết theo ư ḿnh, văn học đại chúng viết theo thị hiếu của người đọc[3]. Tada Michitarô (trong Taishuu bungaku no kanôsei, Khả năng của văn học đại chúng, 1971) cho rằng trong một thời đại mà khoa học, kỹ thuật hiện đại bước những bước dài khủng khiếp, nền văn học nầy là một h́nh thức biểu hiện cần thiết để truyền bá, luân lưu những “huyền thoại của đại chúng”.

Cũng theo tác giả Sakai, từ taishuu bungaku hay “văn học đại chúng” (mass literature) bắt đầu có từ 1920 và ra đời với sự phổ cập của các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media). Trước kia, để chỉ từng lớp b́nh dân, người ta dùng những từ như minshuu (dân chúng), shomin (thứ dân), puroreteria (quần chúng vô sản) hay kokumin (quốc dân) tùy theo quan điểm xă hội của người viết.Văn học đại chúng trong bài này có nghĩa định lượng hơn định tính, nhằm chỉ một lớp người khá thuần nhất về mặt văn hóa, không có đặc tính giai cấp và hầu như cấu thành bởi lớp người trung lưu, chiếm đa số trong xă hội Nhật trong giai đoạn kỹ nghệ hóa. 

Dưới thời Edo, để phục vụ cho tầng lớp độc giả đông đảo của người kẻ chợ (chônin) và nông dân, đă thấy xuất hiện các h́nh như văn nghệ như kôdan, rakugo (thuộc văn nghệ tŕnh diễn), senryuu, kyôka (hai h́nh thức thi ca), jôruri, kabuki (nghệ thuật sân khấu) cũng như gesaku bungaku (các loại tiểu thuyết mua vui dành cho người b́nh dân) gồm có kokkeibon (truyện cười), ninjôbon (truyện t́nh cảm), sharebon (truyện ăn chơi), shunbon (truyện dâm) …Trong các h́nh thức văn nghệ thời đại mới, về mặt tiểu thuyết, ba thể loại được độc giả lưu ư nhất là tiểu thuyết dă sử (jidai shôsetsu), tiểu thuyết thời mới (gendai shôsetsu) và tiểu thuyết suy luận (suiri shôsetsu, trước kia c̣n gọi là tantei shôsetsu tức tiểu thuyết trinh thám). Những thể loại phụ thuộc của văn học đại chúng  nhưng có ít nhiều tính văn học là văn chương cho thiếu nhi (jidô bungaku), truyện bằng tranh (các loại kamishibai manga), thi ca b́nh dân, kịch bản cho sân khấu b́nh dân và điện ảnh, ca nhạc cải cách (kayôkyoku), kịch bản truyền h́nh v.v…

Thời giờ người Nhật dành ra để tiếp xúc với các phương tiện truyền thông đă tăng gấp rưỡi trong khoảng thời gian từ 1960 (3 giờ 01 phút) cho đến 1984 (4 giờ 28 phút). Nếu chỉ nói đến sách vở và truyền h́nh th́ trong năm 1960, họ bỏ ra mỗi ngày trung b́nh 30 phút để đọc sách báo và 48 phút để xem vô tuyến. Năm 1984, hai con số đó tăng lên đến 45 phút và 2 giờ 19 phút. Điều đó chứng tỏ họ dành thời giờ nhiều cho truyền h́nh hơn các phương tiện truyền thông khác. Cho nên, văn học cần phải được ảnh tượng hóa để giữ độc giả.

Một cái mốc quan trọng đánh dấu lịch sử của văn học đại chúng là tháng giêng năm 1926 khi tạp chí Taishuu Bungei “Văn Nghệ Đại Chúng” ra đời. Tuy nhiên từ “ văn học đại chúng ” có thể áp dụng cho các tác phẩm đến sớm hơn như Daibosatsu Toge “Đèo Đại Bồ Tát” ra đời năm 1917, những truyện điều tra trinh thám với bối cảnh thời Edo (torimonochô) của Okamoto Kidô (Cương Bản, Kỷ Đường, 1872-1939) đă có từ năm 1917 cho đến tiểu thuyết Hotaru Gusa “Cỏ đom đóm” của Kume Masao và Shinju Fujin “Trân châu phu nhân” của Kikuchi Kan. Thế nhưng phải đợi đến gần 10 năm sau thể loại văn học nầy mới có được cấu trúc vững chăi của nó.

Nếu chấp nhận văn học đại chúng như là văn học là có tính dân tộc, bản xứ th́ điều này có thể được chứng minh với tiểu thuyết dă sử v́ nó có những đề tài triển khai từ những sự kiện lịch sử xảy ra trong nước như cuộc tranh chấp giữa hai nhà Taira và Minamoto chẳng hạn.Nhưng ta không nên quên rằng văn học đại chúng c̣n tiếp nhận ảnh hưởng Tây Phương từ các tác phẩm dă sử của Lev Tolstoy, Victor Hugo, Alexandre Dumas Père, Federov Dostoievsky. Riêng về tiểu thuyết thời mới, ngoài những tác phẩm mô phỏng các thể loại văn chương các đời Edo, Meiji (như các thể loại gesaku ninjôbon, katei shôsetsu) th́ từ cuối Meiji đến Taishô, ảnh hưởng các nhà văn Pháp, ví dụ Emile Zola, Guy de Maupassant, Anatole France đă được phát hiện trong tiểu thuyết đại chúng của Ozaki Kôyô (trường hợp Konjiki Yasha “Con quỉ kim tiền”) và Tokutomi Roka (trong Hototogisu “Chim cuốc”), rồi sau đó đi vào các tác phẩm của Kume Masao và Kikuchi Kan. Riêng về tiểu thuyết “ suy luận ” (điều tra) th́ có thể nói nó phụ thuộc rất nhiều vào văn chương du nhập từ Tây Phương. Trước đó, trong các tiểu thuyết mô phỏng Trung Quốc và tuồng Kabuki, Jôruri thời Edo đă lấy các cuộc điều tra án mạng làm đề tài nhưng về sau, loại tiểu thuyết nầy chóng trở thành nghèo nàn nếu không có nguồn hứng đến từ các bản dịch tác phẩm trinh thám của Edgar Allan Poe, Sir Arthur Conan Doyle hay Agatha Christie.

TIẾT II : TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐẠI CHÚNG :

Nên xem năm 1920 như điểm khởi hành của văn học đại chúng tức là coi giai đoạn Edo–Mejii là nguồn cội xa xưa hay nói khác đi, thời tiền sử của nó.

A) Ảnh hưởng của Kôdan đối với tiểu thuyết dă sử thời Edo-Meiji :

Ta đă biết trước thời Meiji đă có truyền thống kể truyện kôdan (giảng đàm) và rakugo (lạc ngữ).

Trong lănh vực kôdan tức là truyện kể trước công chúng về đề tài chiến trận, vũ hiệp, báo ân báo oán, nổi tiếng nhất có soạn giả Hakuen (chính ra phải gọi là Nidaime Shôrin Hakuen, Tùng Lâm Bá Viên II [4], 1832-1905). Ông đă viết 62 kôdan, trong đó, nhiều truyện c̣n lưu hành cho đến ngày nay. Ông giỏi trong địa hạt truyện kể về các tay trộm cướp nên được gọi là “ông Hakuen ăn trộm” (Dorobô Hakuen). Ông đă đáp ứng nguyện vọng của chính quyền Meiji (Minh Trị) là dùng kôdan để giáo hóa dân chúng (với mục đích kanzen chôaku tức khuyến thiện trừng ác) nên có lần được vinh hạnh vào kể truyện hầu thiên hoàng năm 1892.

Người có thể sánh với Hakuen trong lănh vực rakugo (tức kể truyện ngắn với một kết thúc khôi hài mà không ai lường trước) là Sanyuutei Enchô, Tam Du Đ́nh, Viên Triều, 1839-1900, một nhà sáng tác và diễn xuất sinh trong gia đ́nh vũ sĩ. Ông cũng được vào giúp vui thiên hoàng Meiji. Rakugo của ông sau được chép lại in ra cho quần chúng đọc và phong cách viết theo văn nói trong đó đă ảnh hưởng tới các nhà văn chủ trương “văn ngôn nhất trí”, nói sao viết vậy, như Futabatei Shimei và Yamada Bi.myô về sau.

Nhà xuất bản Tachikawa Bunko đă đóng góp không nhỏ cho văn học đại chúng thời Meiji. Họ đă cho in các tác phẩm của các nhà văn xuất thân là thầy kôdan trong đó có Gyokuden Gyokushusai. Sự tích các nhân vật lịch sử như thiền sư Ikkyuu[5] (Nhất Hưu (1394-1481), kiếm khách Araki Mataemon (Hoang Mộc, Hựu Hữu Vệ Môn, 1598-1638) hay nhà quí tộc Mito Kômon (Thủy Hộ Hoàng Môn tức Tokugawa Mitsukuni, 1628-1700) ngày nay được mọi người Nhật biết là nhờ công lao của nhà xuất bản nầy vậy. Ngoài ra, c̣n phải kể đến các loại truyện vũ hiệp (buyuuden, vũ dũng truyện), truyện đấu kiếm (kengôtan, kiếm hào đàm), ngay cả cuộc phiêu lưu của Robinson cũng được Nhật hóa (Robinson hyôryuuki). Truyện thiền sư Ikkyuu bán được 4 vạn cuốn, truyện “Sasuke lanh như khỉ” (Sarutobi Sasuke ) 10 vạn cuốn.

Tạp chí Kôdan Kurabu (Câu lạc bộ Kôdan), đă ra mắt năm 1911 và từ đó phong trào phong trào kôdan-mới (shin-kôdan) được hưng thịnh. Giữa các thầy kôdanryôkyoku (lăng khúc, c̣n gọi là naniwabushi,) có một sự cạnh tranh rơ ràng. Ryôkyoku cũng là h́nh thức kể truyện nhưng giàu nhạc tính hơn. Những h́nh thức thoát thai từ kôdan nguyên thủy là kôdan chính trị (seiji kôdan) và kôdan xă hội (shakai kôdan), một thứ văn nghệ phục vụ cho tuyên truyền của cả hai cánh hữu và tả.

1) Nakazato Kaizan (Trung Lư , Giới Sơn, 1885-1944) :

Nói đến văn chương kiếm hiệp, không thể bỏ qua tên tuổi Nakazato Kaizan, biên tập viên của nhật báo Miyako. Ông nổi tiếng v́ cuốn truyện Daibosatsu Tôge “Đèo Đại Bồ Tát” một tiểu thuyết trường thiên đăng đứt nối suốt trên 30 năm trên mặt báo cho đến ngày tác giả qua đời. Truyện kể về một nhân vật tên Tsukue Ryuunosuke, vũ sĩ vô chủ, đi lang thang khắp nước mà không có lư do. Anh ta là mẫu người theo chủ nghĩa hư vô, làm chuyện tàn ác, giết người như ngoé và không bao giờ tỏ ra hối hận. H́nh ảnh tôge (ngọn đèo) trong tác phẩm như thể là ranh giới giữa cái vô minh và hữu minh. Hành động của nhân vật chính có thể hoặc ngă về bên nầy hoặc bên kia. Nhân vật Tsukue đứng giữa ngă ba đường lịch sử v́ vào cuối thời Edo, nếu có nhóm vũ sĩ trong tổ chức Shinsen-gumi (Tân Tuyển) ủng hộ mạc phủ th́ cũng có nhóm Tenchuu-gumi (Thiên Tru, Thiên Trung), muốn trung hưng thế lực hoàng gia[6].

Tiểu thuyết nói trên vừa nhận ảnh hưởng của Lev Tolstoy và Victor Hugo, cùng lúc lại đậm đà mầu sắc kôdan. Cá nhân Kaizan sinh trưởng trên mảnh đất khai sanh ra cuộc vận động tự do dân chủ của nhóm thanh niên công giáo theo chủ nghĩa xă hội và chống chiến tranh. Ông c̣n là bạn của Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức, Thu Thủy) người bị chính quyền Meiji khép (oan) vào tội đại nghịch nghĩa là mưu toan ám sát thiên hoàng và bị xử tử sau đó. Dĩ nhiên Kaizan đă rất xúc động v́ vụ án nầy và sau đó đă t́m về với Phật giáo. Việc xây dựng một nhân vật không chút t́nh người như Tsukue đă xảy ra trong điều kiện xă hội như thế.

2) Shirai Kyôji (Bạch Tỉnh, Kiểu Nhị, 1889-1980) và Osaragi Jirô (Đại Phật, Thứ Lang, 1897-1973) :

Theo con đường Kaizan đă vạch ra, Shirai Kyôji viết Fuji ni tatsu Kage “Bóng đen đứng trên ngọn Phú Sĩ” nhưng nhân vật của ông hoàn toàn tương phản với nhân vật của Kaizan. Đó là Kumaki Kôtarô, một người hùng không biết sợ và có tác phong chẳng ai chê trách vào đâu được. Truyện xoay chung quanh một cuộc tranh chấp kéo dài ba thế hệ giữa hai gia đ́nh chuyên nghề xây dựng thành quách, tượng trưng cho cuộc tranh chấp giữa Thiện và Ác.

Bên cạnh Shirai Kyôji là Osaragi Jirô, một viên chức bộ ngoại giao am tường văn học Tây Phương, đă xây dựng nên nhân vật Kurama Tengu (Yên Mă Thiên Cẩu), vai chính của trên 40 cuốn truyện đăng rải rác trong 30 năm trời. Đó là một nhân vật thường thay tên đổi họ, dấu khuôn mặt dưới một tấm khăn choàng đen, chiến đấu không mơi mệt chống Shôgun để lập lại quyền hành của Thiên Hoàng. Kurama Tengu luôn luôn gặp nghịch cảnh nhưng lúc nào cũng chiến thắng vẻ vang. Vai tṛ của Kurama là trừng trị kẻ gian ác, cứu khổ pḥ nguy, lập lại trật tự xă hội. Osaragi c̣n viết Akô Rôshi (Xích Tuệ Lăng Sĩ, 1927-28), mượn sự tích 47 người samurai trung nghĩa của phiên trấn Akô báo thù cho chủ cũ, qua đó, ông tạo nên nhân vật Hotta Hayato, một tên gián điệp được gài trong hàng ngũ của họ và tŕnh bày tất cả mọi giá trị tiêu cực của con người nếu đem so với tác phong tích cực của vũ sĩ đạo. Tác phẩm của Osaragi ra đời giữa khi thế lực quân phiệt đang chi phối quần đảo, đă được đánh giá như một hành động đề kháng trước chủ nghĩa bành trướng ”Đại Nhật Bản”. Osaragi c̣n mượn những sự cố ở Âu Châu như vụ án Dreyfus [7] hay vụ tướng Boulanger [8] ở Pháp để làm đề tài cho một số truyện khác .

Osaragi đă xuất hiện đúng lúc. Xă hội Nhật Bản của thập niên 1920 đang có một cuộc khủng hoảng về văn học v́ những tác phẩm quá cao xa của văn đàn không đáp ứng được nhu cầu quần chúng. Shirai Kyôji lúc đó đă kêu gọi các nhà văn phải viết cho đại chúng và phải viết cho hay v́ chính ra lúc đó cũng thấy xuất hiện một loại văn chương đại chúng tạp nhạp và rẽ tiền. Từ đó về sau, Osaragi không ngừng để lại những tác phẩm có tầm cỡ, từ Akô Rôshi tiền chiến cho đến Kikyô “ Về quê hương ” (1948) và Tabiji “ Hành tŕnh ” (1956) hậu chiến. 

Sau trận động đất ngày 1 tháng 9 năm 1923 làm chết 90.000 người ở vùng Tôkyô, một biến cố để lại dấu ấn sâu sắc trong sinh hoạt toàn bộ xă hội Nhật Bản, có thể nói quốc gia nầy đă bước vào thời văn hóa đại chúng. Các tạp chí văn học có đối tượng là tầng lớp b́nh dân nhau thi nhau ra đời như các Kuraku (Khổ Lạc) “Sướng Khổ”, Kingu “Vua”, Shufu no Tomo “Bạn các bà nội trợ”. Có tạp chí đạt được con số tiêu thụ kỷ lục là 750.000 số báo một kỳ. Nội dung đăng tải gồm đủ các thể loại tác phẩm, từ tiểu thuyết t́nh cảm gia đ́nh đến shin-kôdan (kôdan kiểu mới).

Ngoài ra, vào thời điểm nầy, đă thấy bóng các nhà văn trẻ tuổi như Yoshikawa Eiji (Cát Xuyên, Anh Trị, 1892-1962), cây bút viết truyện dă sử hàng đầu của Nhật Bản hiện đại. Khi ấy, Yoshikawa Eiji vừa tạo nên tên tuổi với Kennan Jonan, “Họa kiếm và họa đàn bà”, 1925-26).

Năm 1926 cũng là năm tạp chí Taishuu Bungei “Văn nghệ đại chúng” ra đời. Shirai Kyôji chiêu tập một nhóm nhà văn chuyên viết truyện lịch sử và tiểu thuyết trinh thám. Họ lấy tên là Nijuuichikai “Hội 21”v́ họ gặp nhau mỗi tháng một lần vào ngày 21. Ngoài ra chữ nijuuichinichi (nhị thập nhất nhật) có thể ghép các nét thành chữ Hán đọc là mukashi (tích) có nghĩa là ngày xưa.. Trong đám 11 người tham dự buổi đầu ngoài Shirai Kyôji c̣n có những tên tuổi đáng nhớ như Naoki Sanjugo (Trực Mộc, Tam Thập Ngũ, 1891-1934) hay Edogawa Ranpo (Giang Hộ Xuyên, Loạn Bộ, 1894-1965).

3) Hasegawa Shin (Trường Cốc Xuyên, Thân, 1884-1963) và truyện giới giang hồ :

Trong loại tiểu thuyết dă sử c̣n có một chi lưu gọi là matatabi shôsetsu “dịch lữ tiểu thuyết” hay “truyện giới giang hồ” nói về các cô hát dạo và phường cờ bạc rày đây mai đó. Tuy chữ matatabi được dùng kể từ năm 1929 qua Matatabi Waraji “Đôi dép giang hồ”, kịch của Hasegawa Shin. Thế nhưng một nhà văn từ thời Meij, Murakami Namiroku (Thôn Thượng, Lăng Lục 1865-1944), đă viết về hành tung của “ bọn du đăng không nhà không cửa sống trong các thành phố ” (machi yakko). Loại truyện này c̣n được gọi là loại babichin shôsetsubabichin là kiểu tóc hớt giống đuôi ngựa (babi = mă vĩ) của bọn du côn anh chị. Vở kịch Mabuta no haha “Mẹ tôi trong đáy mắt tôi” (1931) cũng của Hasegawa Shin kể lại tấm ḷng cao đẹp và hiếu thảo của tên du đảng Banba no Chuutarô, bị mẹ và chị ruồng bỏ . “Người mẹ trong đáy mắt” có nghĩa là h́nh ảnh lư tưởng của bà mẹ mà Chuutarô tưởng tượng ra và ấp ủ trong tim.

Nhà văn Hasegawa Shin sinh ở Yokohama. Cha làm thầu khoán sắp vỡ nợ, ba năm sau mẹ là Kô bỏ nhà ra đi để lại một ấn tượng khó quên trong trí óc non nớt của ông.Nó đă là nguồn cảm hứng cho tác phẩm văn chương về sau. Ông hành nghề kư giả từ năm 1911 và nhờ tiếp xúc với Akutagawa Ryuunosuke và Kikuchi Kan mà ng̣i bút của ông ngày thêm linh hoạt, phần c̣n lại được vun đắp qua kinh nghiệm cuộc sống khi chung đụng với giới thợ thuyền, giang hồ, đĩ điếm. Tuy nhiên ông cũng có một quan điểm đạo đức rút ra từ kinh nghiệm đó và giữ cho ḿnh suốt đời sáng tác. Trong khoảng 1925-35, ông đă xây dựng tuồng tích từ cuộc đời của bọn cờ bạc matatabi và đă thành công rực rỡ với các vở Kutsutake Tokijirô (tên người, 1928) và Araki Mataemon (tên người, 1936) trong đó chủ đề “ tầm thù phục hận ” (kataki-uchi) được khai thác khéo léo.

4) Yoshikawa Eiji (Cát Xuyên, Anh Trị, 1892-1962) và kiếm khách Miyamoto Musashi :

Kiếm khách Miyamoto Musashi (Cung Bản, Vũ Tàng, 1584?-1645) là một nhân vật hầu như là thần thoại dù ông có thực, sinh ra và sống trong thời Sengoku (Chiến Quốc, 1467-1568) và đầu thời Edo (1603-1867). Ông đă giao đấu trên 60 trận mà không biết mùi chiến bại, đi khắp nước để trau dồi kiếm thuật, lập ra trường phái “hai thanh kiếm “Nitôryuu Kenpô: Nhị đao lưu kiếm pháp”. Năm 1932, khi xảy ra cuộc thảo luận về Musashi giữa các nhà văn đương thời, Naoki Sanjuugo chê bai ông ta trong khi Kikuchi Kan bênh vực. Nhân dịp đó, Yoshikawa Eiji đă viết cuốn tiểu thuyết trường thiên mang tên Miyamoto Musashi đăng liên tiếp trên tờ Journal Asahi xuất bản buổi chiều, suốt khoảng thời gian từ 1935 đến 1939.

Dưới ng̣i bút của Yoshikawa, Musashi không c̣n là một thứ “huyền thoại lưu động” nữa mà là con người bằng xương bằng thịt, biết yêu biết ghét, ngoài tài đánh kiếm c̣n có những đức tính như hy sinh, nhẫn nại, trung thành, nỗ lực, chịu đựng gian khổ …nghĩa là gồm thu mọi giá trị cao quí của Nho giáo.

Chung quanh Musashi, Yoshikawa đă vẽ ra một số nhân vật điển h́nh từ người yêu đến kẻ thù: Matahachi, anh bạn thời thơ ấu tượng trưng cho sa ngă và thất bại, Otsuu, người yêu trung thành lẽo đẽo đi t́m dấu vết của chàng, Akemi, cô gái lầu xanh, địch thủ xuân t́nh nhưng bất hạnh của Otsuu, bà mẹ của Matahachi đuổi theo chàng để trả thù v́ nuôi ḷng căm hận thay cho đứa con trai, xem Musashi như nguyên nhân những nỗi khổ của con bà (Otsuu đă bỏ rơi Matahachi để theo Musashi). Cuối cùng là Sasaki Kojirô với thanh trường kiếm và chiêu thức “trở ḿnh chém cánh én” (tsubame-gaeshi) lừng danh. Trận quyết đấu giữa Musashi và tay cao thủ tuyệt luân nầy trên băi biển hoang đảo Ganryuujima (Nham Lưu Đảo) năm 1612 trong hồi chung cục là đỉnh cao nhất của câu chuyện. Truyện có tính cách giáo huấn, được nhà cầm quyền đề cao là “quốc gia dân tộc” trong thời đại mà nước Nhật sắp bước vào cuộc chiến. Sau chiến tranh, tác giả đă phải sửa chữa nhiều chỗ để bớt tai tiếng dính líu với quân phiệt, một phần cũng v́ thành công quá lớn của tác phẩm vượt khỏi dự tưởng của ḿnh.

5) Naoki Sanjuugo (Trực Mộc, Tam Thập Ngũ , 1891-1934) :

Naoki Sanjuugo được biết nhiều v́ giải thưởng mang tên ông, giải Naoki, cấp cho tác giả có tài về văn học đại chúng, phát mỗi năm hai lần một lượt với giải Akutagawa.. Dĩ nhiên, ông là cây bút cự phách của văn nghệ đại chúng nhưng trong quá khứ, con người chính trị của ông cấu kết quá gần gũi với quân phiệt Nhật nên ngày nay người ta chỉ có thể nhắc nhở bằng vài ḍng ngắn gọn. Tháng giêng 1932, ông đă cho ra mắt tuyên ngôn “chấp nhận theo chủ nghĩa phát xít trong ṿng một năm” và tạo một x́-căn-đan vào thời đó. Ông lượm tin cả từ bộ tư lệnh quân đội Nhật khi viết những truyện dự báo chiến tranh như Taiheiyô Sensô “Chiến tranh Thái B́nh Dương” (1931). Về lănh vực truyện dă sử, ông đă miêu tả cuộc tranh chấp quyền lực của các phe phái nội bộ một phiên trấn (han) thời Edo trong Nangoku Taiheiki “Kư sự về ḥa b́nh ở phương Nam” (1930-31). May cho ông đă chết v́ chứng đau màng óc năm 1934, trước khi chiến tranh bột phát để khỏi chứng kiến những tang tóc nó gây ra mà ông không thoát khỏi trách nhiệm tinh thần.

B) Tiểu thuyết lịch sử trước và trong thế chiến :

Từ sau chính biến ngày 26/02/1936 (Ni-ni-roku Jiken) tức lạ vụ nổi dậy bất thành của nhóm sĩ quan trẻ có đầu óc phát-xít, để vỗ an quân đội, giới quân sự ngày càng được chính phủ trao thêm quyền hành chính trị. Trong khoảng thời gian đó cho đến khi Nhật Bản nhảy vào tham chiến bên cạnh phe Trục cùng với cánh quốc xă Đức và Ư, giới văn nghệ trong nước bị Cục T́nh Báo của Bộ Nội Vụ theo dơi kỹ lưỡng hơn trước. Theo yêu cầu của cơ quan nầy, trên hai mươi nhà văn được gửi đi chiến trường Nhật Trung năm 1937 để thu thập tin tức phục vụ tuyên truyền. Nhóm họ có nhiều nhà văn thuộc ḍng văn học đại chúng. Tuy nhiên không phải ai cũng vâng phục v́ có một số nhà văn thà gác bút chứ không chịu tiếp tay.

Văn học đại chúng trước và trong chiến tranh trở nên ảm đạm ngoại trừ những cố gắng của nhóm Shinshôsetsu-sha (Tân tiểu thuyết xă), tên một nhà xuất bản, với Hasegawa Shin (Trường Cốc Xuyên, Thân) và Haji Seiji (Thổ Sư, Thanh Nhị) . Từ nhóm người cộng tác với cơ sở nầy, một văn đoàn tên Shinyôkai (Tân Ưng Hội = Hội Chim Ưng Mới) được thành lập, chủ trương bám sát lịch sử để viết về những nhân vật sống thực chứ không sử dụng hư cấu. Bên cạnh họ c̣n có nhóm Bungaku Kensetsu (Văn Học Kiến Thiết) của nhà xuất bản cùng tên đă có công đưa tên tuổi của Kaionji Chôgorô đến với văn đàn. 

1) Kaionji Chôgorô (Hải Âm Tự, Triều Ngũ Lang, 1901-1977) :

Sinh ở Kagoshima, vùng cực nam Nhật Bản, Kaionji Chôgorô là một nhà giáo trẻ, bắt đầu viết từ 1929 và đoạt giải Naoki năm 1936 với tác phẩm Tenshô Onnna Gassen “Chuyện tranh chấp giữa phụ nữ năm Tenshô” đăng trên tạp chí Ôru Yomimono “ Tập đọc của đại chúng ”. Sau đó, ông chuyển qua loại tiểu thuyết có tính lịch sử hơn như Sadô Taikôki “Trà đạo thời tể tướng Toyotomi Hideyoshi”, trong đó ông đề cao vai tṛ của trà sư Sen no Rikyuu (Thiên, Lợi Hưu, 1522-1591) tượng trưng cho mẫu người trí thức. Rikyuu đă đưa nghệ thuật uống trà lên hàng triết học, là một nghệ sĩ yêu chuộng ḥa b́nh lại bị cường quyền sát hại (Hideyoshi đă buộc Rikyuu mổ bụng tự sát). Chính quyền thời ấy phê phán quan điểm của tác giả v́ họ đứng về phía Hideyoshi, ông thần chiến tranh đă từng xua quân tấn công Triều Tiên và là anh hùng đă góp công b́nh định nước Nhật hồi thế kỷ 16.

Như thế trong thời chiến cũng đă có những nhà văn t́m cách đối kháng lại chủ trương của một nhà nước chỉ muốn lôi kéo quốc dân vào cuộc chiến tranh bành trướng. Năm 1940, một số tạp chí đă ngừng đăng tiểu thuyết đăng nhiều kỳ của Kawaguchi Matsutarô (Xuyên Khẩu, Tùng Thái Lang, 1899-1985) và Osaragi Jirô (Đại Phật, Thứ Lang, 1897-1973)…là những tên tuổi của văn học đại chúng thời đó đă tỏ ra thiếu sốt sắng trong việc phục vụ chiến tranh. Một số khác như Nakazato Kaizan (Trung Lư, Giới Sơn)  hay Yamate Kiichirô (Sơn Thủ, Thụ Nhất Lang) cũng chứng tỏ tinh thần bất hợp tác một cách khá kín đáo bằng cách tuyên bố rằng nội dung truyện của ḿnh không có ǵ đi ngược lại đường lối nhà nước. Họ tiếp tục viết những truyện với đường hướng khá độc lập. Trường hợp Tomita Tsuneo (Phú Điền, Thường Hùng, 1904-1967) cũng đáng nhắc đến. Nhân vật Sugata Sanshirô trong tiểu thuyết cùng tên viết năm 1942 nói về người thanh niên có lư tưởng đă nỗ lực t́m ṭi học hỏi, đưa nhu đạo lên hàng một nghệ thuật chiến đấu và đạo lư làm người.Truyện nầy thuộc loại tiểu thuyết có tính cách giáo dục (Bildungsroman) tích cực và tươi mát nên gây được tiếng vang rất lớn trong quần chúng. Tomita Tsuneo chính là con trai của người khai sáng nên một trường phái chính của nhu đạo Nhật Bản nên có thể nói đây là một tác phẩm có tính chất tự thuật..

2) Yamamoto Shuugorô (Sơn Bản, Chu Ngũ Lang (1903-1967) :

Khi nói về các tác giả viết cho tuổi trẻ, không thể nào bỏ qua Yamamoto Shuugorô, tiểu thuyết gia văn học đại chúng người tỉnh Yamanashi gần Tôkyô, thường lấy niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống làm đề tài. Ông tên thật là Shimizu Satomu, c̣n biệt hiệu Yamamoto Shuugorô là tên người ân nhân đă cấp tiền cho ông ăn học. V́ nghèo khổ, ông đi t́m nguồn vui trong văn chương.

Ông bắt đầu cầm bút từ 1926 với Sumadera fukin “Cạnh chùa Suma” nhưng chỉ được để ư nhờ Nihon Fuudôki (Nhật Bản phụ đạo kí) “Ghi chép về phụ nữ Nhật Bản” (1943-44) tác phẩm có giọng văn nhẹ nhàng tŕnh bày về những người đàn bà can đảm, yêu chồng, thương con … đúng như truyền thống của gia đ́nh Nhật Bản nhưng cũng gài vào đó tư tưởng yêu hoà b́nh và ḥa hợp, nghĩa là khác với ḍng tư tưởng chủ lưu của thời chiến. Khi chiến sự kết thúc, Shuugorô sẽ đại diện cho một ḍng văn học lịch sử trung dung nghĩa là đứng giữa hư cấu và thực chứng với tác phẩm ăn khách Momi no ki wa nokotta “ Chỉ mỗi cây bách là c̣n lại ” (1954-56).

Ông được nhiều đề nghị trao giải thưởng văn học nhưng luôn luôn từ chối v́ cho rằng độc giả là những kẻ duy nhất có thể đánh giá ḿnh.

C) Tiểu thuyết dă sử từ sau 1945 :

Sau khi Nhật đầu hàng ngày 2/9/1945, một số tiểu thuyết gia viết truyện dă sử bị Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Chiếm Đóng cấm hành nghề trong một khoảng thời gian, trong đó có Yoshikawa Eiji với lư do nhân vật Miyamoto Musashi là sản phẩm của chế độ phong kiến. Việc Yoshikawa tôn xưng h́nh ảnh của Musashi có nghĩa tiếp tay cho chế độ quân phiệt. Nhà đương cục Mỹ đă bắt tác giả chữa nội dung bằng cách bỏ những đoạn có lập trường quốc gia quá khích trước khi cho tái bản. Nói chung, tiểu thuyết có màu sắc dă sử (jidai shôsetsu), tiểu thuyết kiếm hiệp (kengô shôsetsu) nghĩa là loại đề cao vũ sĩ đạo, khuyến khích lối suy nghĩ quân nhân, đều bị chính quyền chiếm đóng cấm tuyệt. Tuy vậy, loại truyện điều tra cảnh sát với bối cảnh thời Edo (torimonochô) cũng như loại truyện tuy nói về thời xưa nhưng với nội dung vui nhộn hoặc lạc quan th́ được dung thứ. Mặt khác, tuy Nakazato Kaizan đă mất (1944) nhưng Osaragi Jirô hăy c̣n. Ông tiếp tục viết tiểu thuyết lịch sử cho đại chúng nói riêng và thuần túy văn học nói chung C̣n lệnh cấm của chính quyền quân sự Mỹ th́ đă được rút lại từ khoảng năm 1948-49.

Trong thời gian nầy, các tác giả tiểu thuyết thuần túy văn học cũng mượn trang giấy của các tạp chí có tính đại chúng để đăng tác phẩm của ḿnh. Đó là trường hợp của Kawabata Yasunari, Mushanokoji Saneatsu, Niwa Fumio. Tác phẩm họ được đặt bên cạnh tác phẩm các nhà văn đại chúng như Hasegawa Shin, Kawaguchi Matsutarô (Xuyên Khẩu, Tùng Thái Lang) [9], Murakami Genzô (Thôn Thượng, Nguyên Tam) hay Tomita Tsuneo (Phú Điền, Thường Hùng). Sự sống chung nầy đă làm nẩy sinh ra một loại tiểu thuyết mà nội dung có tính thỏa hiệp, đứng giữa hai thể loại, tên gọi chuukan shôsetsu “tiểu thuyết trung gian”. Điều đó c̣n có nghĩa là trong các tạp chí chuyên môn về loại “tiểu thuyết trung gian”, các thể loại dă sử, t́nh cảm, trinh thám (hay suy luận = suiri), dâm t́nh được sắp bên cạnh nhau. Các nhà văn như Kikuchi Kan, Kawaguchi Matsutarô hay Osaragi Jirô đều có dịp thử tài ḿnh trong hai lănh vực. Có cả trường hợp nhà văn Hayashi Fubô (Lâm, Bất Vong, 1900-1935) nổi tiếng nhờ tiểu thuyết dă sử nhưng khi viết tiểu thuyết thuần túy văn học th́ dùng hai bút hiệu Tani Jôji (Cốc, Nhượng Thứ) và Maki Itsuma (Mục, Dật Mă). Nói một cách khác, không như giai đoạn tiền chiến khi mà các tác giả cố thủ trong lănh vực chuyên môn của ḿnh (ví dụ Kaizan chỉ viết truyện dă sử, Ranpo chỉ viết truyện trinh thám), văn học hiện đại đă qui tụ được các tác giả từ những chân trời khác nhau.

Sau vài năm im lặng, Yoshikawa Eiji xuất bản Takayama Ukon [10](1948-49), truyện nói về một lănh chúa thế kỷ 16 bị mạc phủ bắt tội v́ che chở giáo dân và Shin-Heike Monogatari (Truyện Heike bộ mới, 1950-57), trong đó Yoshikawa nh́n lại cuộc thư hùng giữa hai nhà Taira và Minamoto “in trong hai cái kính quá khứ và hiện tại”. Cái kính hiện tại ở đây là Nhật Bản của thời Mỹ chiếm đóng và thời điểm khi hai cuộc chiến tranh lạnh và chiến tranh Triều Tiên (6/1950-7/1953) bắt đầu. Mới ngày nào phái quân phiệt c̣n bị thanh trừng (1945-48) mà nay, lịch sử đổi ḍng sang trang, một cuộc thanh trừng mới đă diễn ra và nạn nhân là những người thuộc phía tả hay bị t́nh nghi có cảm t́nh với họ.

Yoshikawa Eiji tiếp tục viết lại với phong cách mới những truyện dă sử nổi tiếng thời xưa như Taiheiki (Thái B́nh Kư, 1368?-1379?) Ông cho ra mắt Shinhon Taiheiki (Taiheiki bộ mới, 1958-61) và khi ông chết năm 1962, đă để lại tên tuổi của ḿnh như nhà văn đại chúng sáng giá nhất. Quyển Miyamoto Musashi đă được in đi in lại nhiều lần và đạt được con số xuất bản khổng lồ là 120 triệu cuốn và chắc chắn hăy c̣n được tái bản.

1) Zatôichi , hiệp sĩ mù “nghe gió kiếm” :

Nhà văn Hasegawa Shin, người nổi tiếng trước chiến tranh với loại tiểu thuyết nói về giới giang hồ cờ bạc (matatabi shôsetsu), nay chuyển qua loại tiểu thuyết lịch sử có thu thập tư liệu kỹ càng hơn, tục gọi là “tiểu thuyết thực lục” (jitsuroku shôsetsu). Trước hết là loại tiểu thuyết về tù nhân chiến tranh như trong Nippon Horyoshi “Truyện tù nhân chiến tranh Nhật Bản” (1949-50), sau đến loại phục thù rữa hận như trong Nippon Katauchi Isô “Khuôn mặt khác của những cuộc phục thù Nhật Bản” với dụng ư tŕnh bày với tinh thần phê phán những hiện tượng xă hội đă bị chính quyền quân phiệt thần bí hóa trong thời chiến.

Hasegawa mất năm 1963 nhưng phong cách sáng tác “ lập một cái bia tưởng nhớ những người bị lịch sử bỏ quên ” của ông vẫn c̣n được tiếp nối. Nhân vật lịch sử thời Duy Tân như bá tước Katsu Kaishuu (Thắng, Hải Chu), cha đẻ của hải quân Nhật Bản, hay kiếm khách mù, trọc tóc, làm nghề đấm bóp “nghe gió kiếm” Zatôichi (Tọa Đầu Thị) đă được đưa vào văn học bởi Shimozawa Kan[11] (Tử Mẫu Trạch, Khoan, 1892-1968). Zatôichi được hăng Daiei (Đông Ảnh) khai thác thành một loạt phim vào khoảng thập niên 1960-70 với nam tài tử Katsu Shintarô (Thắng, Tân Thái Lang) chủ diễn. Sau khi Shimozawa mất, Sasazawa Saho (“Thế” Trạch, Tả Bảo, sinh năm 1930) đă nối tiếp truyền thống ḍng văn học matatabi, với nhân vật trung tâm là chàng lăng tử Kogarashi Monjirô rày đây mai đó không phục tùng ai, không theo một luân lư đạo đức nào, đă khơi dậy lên được một phong trào xă hội với sự tiếp sức của những kịch bản truyền h́nh và tác phẩm điện ảnh.

2) Ninja và văn học :

Từ năm 1946, Osaragi Jirô đă sáng tác trở lại trong nhiều lănh vực một lúc với những đề tài có tính cách quốc tế hơn. Ông lấy bối cảnh ở Pháp (Paris) hoặc Nam Mỹ (Panama) và sử dụng sự thực lịch sử nhiều hơn để làm tư liệu cho tác phẩm.Trong khi đó các nhà văn lớp trẻ đi t́m nguồn cảm hứng mới với loại ninja (nhẫn giả) tức loại hiệp sĩ cứu khổn pḥ nguy, gián điệp hay đặc công “đánh thuê”, đă từng xuất hiện trong các kôdan từ thời Edo và Meiji. Ba tác giả nổi tiếng trong lănh vực “ văn học ninja ” nầy là Gomi Yasusuke (Ngũ Vị, Khang Hựu, 1921-80), Yamada  Fuutarô (Sơn Điền, Phong Thái Lang, sinh năm 1922) và Nanjô Norio (Nam Điều, Phạm Phu, sinh năm1908).

Gomi Yasusuke, c̣n gọi là Kôsuke đă cho đăng tên tuần san Shinchô Yagyuu Bugeichô “Bí kíp vũ nghệ phái Yagyuu” trong khoảng thời gian từ 1956 đến 1958. Phái Yagyuu (Liễu Sinh, tên một vùng đất) là nhóm gián điệp giỏi về kiếm thuật và ninpô (nhẫn pháp hay kỷ thuật ninja) được các Tướng Quân nhà Tokugawa dùng để tiêu diệt phe phái đối lập. Loại truyện nầy được khán giả hâm mộ một phần v́ t́nh tiết ly kỳ, một phần v́ cách nh́n của tác giả về những người nầy rất độc đáo. Ninja không phải là những cá nhân độc lập, họ chỉ là những con nộm rối bị mạc phủ khuynh đảo. Cảnh ngộ họ giống như những người salaryman trong thời đại mới tuy có tài nhưng bị chủ điều khiển và nội dung của truyện như thể tấm gương “phản chiếu ”cuộc sống thường nhật của con người hiện đại.

Yamada Fuutarô th́ viết về ninja nhưng nội dung truyện ông chứa một bầu không khí điên loạn, đầy bạo lực và dâm t́nh. Nanjô Norio cũng không đi ra ngoài chủ đề bạo lực, thường miêu tả khoái cảm khi hành động tàn ngược hoặc bị ngược đăi (sado-masochism).

Có thể xem loại văn học nầy gần gủi nhất với các h́nh thức nghệ thuật sử dụng phương tiện truyền thông, đặc biệt điện ảnh và truyện tranh họa (manga).

3) Shibata Renzaburô (Sài Điền, Luyện Tam Lang, 1917-1978) :

Trước thế chiến, ta đă làm quen với những nhân vật tiêu cực kiểu Tsukue Ryuunosuke trong tác phẩm của Nakazato Kaizan, kiểu Tange Sazen của Hayashi Fubô hay Hotta Hayato của Osaragi Jirô. Sau 1945, loại nhân vật nầy lại xuất đầu lộ diện trong tác phẩm của Shibata Renzaburô qua h́nh ảnh Nemuri Kyôshirô (Miên, Cuồng Tứ Lang). Truyện nhan đề Nemuri KyôshirôBurai Hikae “Ghi chép về cuộc đời lăng tử của Nemuri Kyôshirô” của Shibata Renzaburô đă được đăng trong tuần báo Shinchô khoảng 1956-58..

Con trai vô thừa nhận của một nhà truyền giáo Bồ Đào Nha sa đọa và một công nương Nhật Bản, Nemuri v́ cớ nguồn gốc “nhơ nhớp” của ḿnh đă đâm ra nỗi loạn đập phá xă hội. Vũ sĩ vô chủ, anh ta lang thang khắp nơi để xem có ai đánh kiếm giỏi hơn ḿnh không và bê tha t́nh ái suốt dọc đường. Lối chiến đấu của anh ta tên gọi Engetsu sappô “Yển nguyệt sát pháp” là một thủ đoạn không quang minh chính đại v́ lợi dụng cả thuật thôi miên để hạ địch thủ.Lần đầu tiên trong lịch sử tiểu thuyết Nhật Bản có được một nhân vật phân nửa Nhật Bản mà thôi và câu chuyện được kể chẳng có tính cách luân lư, tôn giáo hay lịch sử mà chỉ có tính cách tiêu khiển.

4) Yamamoto Shuugorô hậu chiến :

Trong khi đó, Yamamoto Shuugorô vẫn giữ phong cách dă sử cổ điển nghĩa là đặt vị trí tác phẩm của ḿnh giữa hai yếu tố lịch sử và hư cấu. Sau thế chiến, ông viết Momi [12] no ki wa nokotta “ Chỉ mỗi cây bách là c̣n lại” (1954-56) với bối cảnh cuộc tranh chấp việc kế nghiệp của ḍng họ lănh chúa Date ở Sendai (Đông Bắc Nhật Bản) vào thế kỷ 17. Nhân vật Harada Kai vốn bị xem như là người có trách nhiệm trong biến cố nầy, dưới ng̣i bút của Shuugorô, chỉ là nạn nhân của Mạc Phủ muốn tiêu diệt một phiên thần quá mạnh. Ông ta tượng trưng cho một cá nhân cứng cơi như tùng bách, chống trả lại những sức ép quá to lớn so với bản thân (mạc phủ, phiên trấn, liên hệ chính trị xung quanh và xă hội) để cố giữ vững cơ nghiệp của chủ ḿnh.

Sau đó, Shuugorô c̣n viết Akahige Shinryôtan “Truyện Akahige chẩn bệnh” (1958) nói về ông thầy thuộc thời Edo với tác phong dị thường có cái hỗn danh Râu Đỏ (Akahige), đă được đạo diễn Kurosawa Akira dựng thành phim, và Nagai Saka “ Quăng dốc dài ” (1964-66).

Nhân vật kiếm khách Miyamoto Musashi của Yoshikawa cũng không phải không có địch thủ. Gomi Yasusuke đă viết Futari no Musashi “Hai người tên Musashi”(1956-57), trong đó, ông tạo nên một Musashi thứ hai đi theo giúp nhân vật chính mỗi khi gặp biến cố. Mục đích của ông là chống lại sự thần thánh hóa người kiếm khách nầy.

5) Murakami Genzô (Thôn Thượng, Nguyên Tam, sinh năm 1910) :

Murakami Genzô (sinh năm 1910) cũng theo chiều hướng đó khi ông cho ra đời Sasaki Kojirô (Tá Tá Mộc, Tiểu Thứ Lang, 1949-50), trong đó Sasaki, đối thủ bất hạnh của Musashi trong trận quyết đấu ở hồi chung cuộc mới là. nhân vật chính. H́nh ảnh của Kojirô là người hưởng lạc, tương phản với lối sống khắc kỷ của Musashi.

Người ta c̣n nhớ đến Murakami Genzô như nhà văn đă làm sống lại nhân vật Mito Kômon (Thủy Hộ, Hoàng Môn) , ông chú của tướng quân Tokugawa. Mito Kômon tên thật là Tokugawa Mitsukuni, một học giả Khổng Giáo và là người hiền đức, được tŕnh bày như viên quan ngự sử vi hành trong dân gian, cùng bộ hạ thân tín vũ nghệ tuyệt luân trừng trị tham quan ô lại, cứu vớt dân đen. Truyện Mito Kômon (đăng năm 1956-1959 và 1961-62  trên tuần báo Sandei Mainichi ra ngày chủ nhật) đă được dựng thành kịch bản truyền h́nh chiếu suốt mấy mươi năm.

6) Yamaoka Sôhachi (Sơn Cương, Trang Bát, 1907-1978) :

Là một trong những tác gia gần gủi với Hasegawa Shin, Yamaoka Sôhachi cũng đi theo ḍng văn học đại chúng chính thống như Murakami Genzô. Ông là con nhà nông vùng Niigata, lúc đầu đi buôn, chỉ đến với văn chương từ năm 1934 nhưng trong giai đoạn 1940-45 đă nổi tiếng. Do đó, sau chiến tranh ông cũng nhà cầm quyền Mỹ cấm viết. Từ năm 1950, ông cho đăng tiểu thuyết trường giang (roman-fleuve) Tokugawa Ieyasu nói về ông Tướng Quân khai nghiệp cho một triều đại gần ba trăm năm (1600-1867). Ieyasu khi là cậu bé Matsudaira Takechiyo từ một lănh địa Mikawa nhỏ và mong manh xen kẻ giữa hai thế lực láng giềng vững mạnh là họ Oda và Imagawa, đă leo lên mọi bậc thang từ thấp đến cao, vượt mọi khó khăn, nhiều khi phải hy sinh cả đồng bọn để giành được thiên hạ. Đó là một tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (feuilleton) dài chưa từng có v́ nó kéo dài từ 1950 đến 1967.Qua câu chuyện lập thân và ḷng kiên tŕ dẫn đến thành công của Ieyasu, ông muốn gieo một niềm hy vọng vào ḷng người Nhật đă mất niềm tin từ ngày bại chiến.Yamaoka là một nhân vật có đầu óc chính trị bảo thủ nên ông muốn kín đáo khuyến khích lớp người trẻ thời đó nên noi theo cách quản lư kinh tế và nhân sự của Ieyasu để xây dựng lại nước Nhật.

7) Kaionji hậu chiến :

Bên cạnh Yamaoka Sôhachi nhưng với ư thức hệ đối lập, Kaionji Chôgorô vẫn tiếp tục sáng tác sau chiến tranh. Tác giả của tác phẩm nói lên ước vọng ḥa b́nh Sado Taikôki (Trà Đạo Thái B́nh Kư, 1940) lần nầy cho ra mắt Taira no Masakado (B́nh, Tướng Môn, trên nhật báo Sankei, 1954-57) kể lại cuộc phản loạn của tướng Taira no Masakado (?-940) thời Trung Cổ và thời gian nắm chính quyền ngắn ngủi của ông. Sự thực lịch sử đă được tôn trọng cho ta thấy Kaionji cũng nằm trong trường phái thực chứng như Shuugorô và Sôhachi. Ông c̣n viết thêm Saigô Takamori (Tây Hương, Long Thịnh, trên Journal Asahi, 1961-65) và Ten to Chi to “Cùng với Đất Trời” (trên Shukan Asahi, 1960-62).Truyện trước kể lại cuộc đời của tướng Saigô Takamori (1827-1877), người đồng hương Kagoshima với tác giả. Saigô là nhân vật kiệt xuất, một trong những quốc phụ của thời Duy Tân tuy cuộc đời kết thúc với định mệnh bi đát khi ông khởi binh chống lại thiên hoàng ở vùng Tây Nam (1877) và thất bại phải tự sát. Truyện sau nói về Uesugi Kenshin (Thượng Sam, Khiêm Tín, 1530-1578), danh tướng giàu ḷng nghĩa hiệp và đầy thao lược của thời Chiến Quốc Nhật Bản (Sengoku, 1467-1568).

8) Shiba Ryôtarô (Tư Mă, Liêu Thái Lang, 1923-1996) :

Shiba Ryôtarô tên thật là Fukuda Teiichi, lúc c̣n nhỏ đă ham lục lọi sách vở thư viện. Đang đi học khoa Mông Cổ ở Đại Học Ngoại Ngữ Osaka th́ bị bắt lính gửi đi chiến trường Trung Hoa (1941). Về nước làm kư giả cho báo kinh tế Sankei và bước vào làng văn hơi trễ (1960). Ông đoạt được giải Naoki với Fukurô no Shiro “ Thành chim cú ” đăng trong nhật báo Chuugai (1959-60), nói về giới ninja. Trong nhiều năm, ông chuyên viết về loại tiểu thuyết nầy trước khi chuyển qua đề tài về những nhân vật lịch sử sống trong hoàn cảnh đất nước biến loạn, ví dụ như Sakamoto Ryôma (nhân vật chính của Ryôma ga yuku, “ Ryôma xông pha ” (1962-66) trước thời Mnh Trị Duy Tân. Ryôma tức Phản Bản, Long Mă (1835-1867), vũ sĩ phiên trấn Tosa, cùng với Saigô Takamori có công tập hợp các thế lực cần vương chống Mạc Phủ. V́ có nhiều ư kiến quá táo bạo so với thời buổi, Ryôma đă bị địch thủ không rơ là ai ám sát khi sự nghiệp duy tân chưa thành.

Sau đó, Shiba chuyển qua đề tài các nhân vật thời Chiến Quốc Nhật Bản với Kunitori Monogatari “ Truyện đoạt nước ” (đăng trên Sandei Mainichi, 1963-1966), Kômyô ga tsuji “ Ngă rẽ công danh ” (1965). Ông là đại biểu cuối cùng của trường phái chính thống của tiểu thuyết lịch sử nhưng khác với Kaionji Chôgorô, ông nghiêng về khía cạnh tiêu khiển của văn chương, biết giải thích lịch sử và hành động của các nhân vật bằng cái nh́n phóng khoáng và độc đáo.   

Cần nói thêm là Shiba đă hoàn thành một tác phẩm đồ sộ trong lănh vực tùy bút. Kaidô wo yuku “ Đi trên đường cái ” là một bộ gồm nhiều tập văn du kư nhưng đă bộc lộ được quan niệm lịch sử và cái nh́n phê phán có tính cách xây dựng của ông đối với xă hội Nhật Bản. Ngoài ra, ông c̣n để lại Saka no ue no kumo “ Mây trên con dốc ” nói về mối giao t́nh giữa hai quân nhân lập được chiến công trong trận Nhật Nga và nhà thơ Masaoka Shiki, mô tả không khí tuổi thanh xuân thời Meiji (1969-72), cũng như Yo ni sumu hibi “ Những ngày sống trên đời ” (1971), Tobu ga gotoku “ Như bay bỗng ” (1975-76).

D) Tiểu thuyết lịch sử những năm 1970 :

Đặc điểm của thời nầy là những nhà chuyên môn viết tiểu thuyết lịch sử càng ngày càng bị các tác giả “ đa năng ” thay thế. Có lẽ một phần việc viết tiểu thuyết lịch sử thực chứng (khuynh hướng gần đây) đ̣i hỏi qua nhiều công sức t́m ṭi tài liệu. Do đó, tương lai của loại tiểu thuyết lịch sử quả là một nghi vấn.

Điểm thứ hai cần lưu ư là các tiểu thuyết đăng dài hạn trên báo chương đă nhường chỗ cho kịch bản truyền h́nh, phần lớn dựa vào các tác phẩm có tiếng trước kia như Katsu Kaishuu hay Shinsen-gumi Shimatsuki vv…nói về những nhân vật lịch sử thời Minh Trị chứ không phải các tác phẩm hiện đại. Tiểu thuyết đăng dài hạn cũng bị sách khổ bỏ túi đánh bại v́ loại nầy gọn gàng và rẻ tiền hơn.

Các người viết tiểu thuyết lịch sử như Yamaoka Sôhachi, Yamamoto Shuugorô, Kaionji Chôgorô, Shibata Renzaburô, Gomi Yasusuke, Yamate Kiichirô vv…..lần lượt qua đời trong thập niên 1970. Thay thế vào đó là Inoue Yasushi (Tỉnh Thượng, Tịnh, 1907-1991), Nitta Jirô (Tân Điền, Thứ Lang, 1912), Minakami Tsutomu (Thủy Thượng, Miễn, 1919) và các nhà văn nữ như Nagai Michiko (Vĩnh Tỉnh, Lộ Tử, 1925), Sugimoto Sonoko (Sam Bản, Uyển Tử, 1925) và Ariyoshi Sawako (Hữu Cát, Tá Ḥa Tử , 1931-1984) đă tiếp nối sự nghiệp của họ. Tất cả đều trở thành nhà văn đa năng, không ai c̣n có thể xứng đáng với danh hiệu tiểu thuyết gia lịch sử thuần túy nữa.

TIẾT III: TIỂU THUYẾT ĐẠI CHÚNG TÂN THỜI:

Thật không dễ ǵ phân biệt tiểu thuyết thuần túy với tiểu thuyết đại chúng khi nó không thuộc một phạm vi đặc biệt như lịch sử hay trinh thám. Hơn nữa, e rằng việc phân giai cấp của tiểu thuyết như thế sẽ trở thành một “vấn đề giả” (faux problème) trong tương lai. Nếu lấy tiêu chuẩn là được đăng liên tiếp trên mặt báo nghĩa là một phương tiện truyền thông đại chúng để xác định tính đại chúng của nó th́ e không có tiểu thuyết nào có thể được mệnh danh là tiểu thuyết thuần túy nữa (v́ hầu như chẳng có tiểu thuyết nào là không đăng báo) . Do đó, kể từ đây người viết chỉ nhắc qua tên tuổi chứ không đi vào chi tiết về các tác phẩm hay tác giả văn học đại chúng đă có lần nhắc tới bên trên trong phần văn học thuần túy.

A) Tiểu thuyết đăng dài hạn (rensai) đầu tiên :

Có thể nói tiểu thuyết hiện đại đă bắt đầu từ khi người ta đăng tiểu thuyết trên mặt báo.Trong những năm đầu thời Meiji, báo chí được chia làm ba loại:

-Báo lớn (ô-shimbun hay đại tân văn) nhắm độc giả trí thức, nặng về chữ Hán, b́nh luận chính trị thời thế.

-Báo nhỏ (ko-shinbun hay tiểu tân văn) cho độc giả ít học, viết bằng quốc ngữ hiragana, đăng tin lặt vặt.

-Báo nhỡ (chuu-shinbun hay trung tân văn) nhắm số độc giả càng đông càng tốt. Số người biết chữ càng tăng th́ độc giả loại báo nầy càng tăng. Tiêu biểu cho loại nầy có tờ Yomiuri, ra đời năm 1874, đă kư khế ước độc quyền với nhà văn Ozaki Kôyô năm 1889. Kôyô đă cộng tác với tờ báo cho đến lúc chết (1903).

Những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (romans-feuilletons) trước tiên đăng trên loại báo nhỏ nhưng sau đó đă ăn lan qua các loại khác khi kiểu thương măi nầy chứng tỏ được độc giả yêu chuộng.

Theo Cécile Sakai (sđd, tr. 95), tiểu thuyết đăng nhiều kỳ đầu tiên  có lẽ là Kinnosuke no hanashi “Truyện anh chàng Kinnosuke” trên tờ Tôkyô E-iri, nhật báo có kèm tranh vẽ, vào năm 1878. Truyện do tác giả vô danh miêu tả mối t́nh của anh chàng Kinnosuke với người con gái làng chơi tên Kochô, vượt qua mọi nghịch cảnh để thành vợ chồng.

Thế rồi, như ta đă biết, Tsubouchi Shôyô (1859-1935) đă đặt nền móng lư luận cho tiểu thuyết Nhật Bản hiện đại và nhóm Kenyuusha chiếm lĩnh văn đàn thời Meiji như thế nào.

B) Tiểu thuyết gia đ́nh :

Konkiki Yasha “Con quỉ kim tiền” (được nhắc đến khi nói về văn học Meiji) là một cuốn tiểu thuyết ái t́nh hơn là một tiểu thuyết gia đ́nh (katei shôsetsu) nhưng thường được coi nhưng khuôn mẩu của tiểu thuyết gia đ́nh, ở chỗ lần đầu tiên có cuốn tiểu thuyết hấp dẫn đến độ lôi cuốn được các nữ độc giả đến với Yomiuri, tờ báo đăng tải nó. Bên cạnh, c̣n phải kể đến Hototogisu “Chim Cuốc” của Tokutomi Roka trên tờ Kokumin từ 1898 đến 1899, lúc ấy ra 150.000 số báo mỗi ngày.

Đại gia đ́nh kiểu phong kiến đă phải nhường bước cho gia đ́nh mà cốt lơi là cặp vợ chồng và điều đó có thực hiện được cũng nhờ báo chí đă làm phận sự quảng bá tư tưởng mới với đại chúng qua tiểu thuyết. Một tác giả thuộc thể loại nầy cần được nhắc tới là Kikuchi Yuuhô (Cúc Tŕ, U Phương. 1870-1947), kư giả báo Ôsaka Mainichi. Ông đă viết Ono ga Tsumi “Tội của tôi” (1899-1900) và Chichi shimai “Chị em chung bầu sữa” (1903), có tính cách ướt át nhưng có tác dụng tốt là mang nhiều nữ độc giả đến với tờ báo.

Trong Ono ga Tsumi, nàng Tamaki bị t́nh phụ khi có mang, đẻ con trai gửi một nhà chài lưới nuôi.Sau cô lấy một nhà quí tộc và có thêm mụn con khác.Một hôm đi chơi biển nàng suưt chết đuối. Nàng thoát nạn nhưng cậu trai cứu nàng th́ lại chết. Cậu đó không ai khác hơn là đứa con trai mà năm xưa cô đă gửi cho người chài lưới. Chồng cô tuy giận về quá khứ nhưng thấy thương cảnh ngộ của cô nên lại làm lành.

Sự tha thứ và kết cục tốt đẹp như thế không thể thấy trong tiểu thuyết viết theo giá trị đạo đức phong kiến.

Trong ḍng tiểu thuyết gia đ́nh c̣n có loại tiểu thuyết nữ sinh (jogakusei shôsetsu), được ái mộ khoảng năm 1905. Tiêu biểu cho loại nầy có Makaze Koikaze “Gió ma, gió t́nh” (1903) của Kosugi Tengai (Tiểu Sam, Thiên Ngoại, 1865-1952) và Seishun “Tuổi Xuân” (1905-06) của Oguri Fuuyô (Tiểu Lật, Phong Diệp, 1875-1926). Cả hai đều được đăng trên tờ Yomiuri, nội dung nói về vui buồn đời học tṛ của các cô nữ sinh viên.

Tiểu thuyết chiến tranh (sensô shôsetsu) cũng góp mặt, phần lớn là phóng sự chiến trường Nhật Nga (1904-05).

Các tác giả thuần văn học cũng có tác phẩm thuộc ḍng tiểu thuyết gia đ́nh. Izumi Kyôka (Tuyền, Kính Hoa, 1873-1939) viết về những mối t́nh ngang trái của các cô geisha với các cậu xuất thân con nhà tử tế trong Onna Keizu “Số phận đàn bà”, (1907) và Shirasagi “C̣ trắng” (1909-1910). Bên cạnh ông, ta thấy Kinoshita Naoe (Mộc Hạ, Thướng Giang, 1869-1937) đem vào tiểu thuyết gia đ́nh chủ đề chính trị như Ryôjin no Jihaku “Lời thú nhận của người chồng” (1904-06) nói về những t́nh cảm vị tha cao thượng hướng về xă hội. Kinoshita là một nhà văn công giáo có đầu óc xă hội và tinh thần bác ái nhưng từ khi có vụ án đại nghịch, ông không làm được ǵ hơn là giữ im lặng.

C) Tiểu thuyết t́nh cảm tân thời :

Các tác giả viết tiểu thuyết t́nh cảm kiểu mới đầu tiên là những người trẻ qui tụ chung quanh Natsume Sôseki. Họ vốn được xem như những nhà văn thuần túy nghệ thuật nhưng một vài người trong bọn đă dần dần xa lánh ḍng văn học nầy để xây dựng một loại văn học đại chúng mới cho giai đoạn Taishô (1912-26) và Shôwa tiền kỳ (1926-45). Hai tên tuổi đáng được nhắc tới: Kume Masao và Kikuchi Kan.

1) Hotarugusa (Cỏ Đom Đóm) của Kume Masao (Cửu Mễ, Chính Hùng, 1891-1952) :

Kume là cây viết đa tài, một trong những trụ cột của nhóm Shinshichô. Ông suưt nữa đă trở thành con rể của văn hào Natsume Sôseki. Sau khi cô gái đi lấy chồng, một bạn văn khác, ông xúc động mạnh và viết Hotarugusa “ Cỏ đom đóm ”, (1918), tiểu thuyết t́nh cảm có nhiều chi tiết có tính tự thuật : Nomura, nhân vật chính, một bác sĩ ở Mỹ về biết tin vị hôn thê bỏ anh để đi lấy người khác. Buồn t́nh, anh lao đầu vào nghiên cứu y khoa và nhờ kết quả nghiên cứu, anh đă cứu được mạng người yêu cũ. Trong khi anh làm lại cuộc đời với cô gái một nhà quí tộc, vị hôn thê cũ của anh khi biết ḿnh đă được chính người ḿnh phản bội cứu sống, bèn tự tử chết.

Tiểu thuyết của Kume phản ánh thực trạng thời đó khi người phụ nữ xuất hiện nhiều hơn trong xă hội (đại học phụ nữ , tuần san phụ nữ lần lượt ra đời) và đóng những vai tṛ quan trọng và phức tạp hơn trước.

Sau đó. vẫn với chủ đề như trong Hotarugusa, Kume viết Hasen “ Thuyền đắm ” in năm 1922 trong tờ báo phụ nữ Shufu no tomo. Trước thế chiến , ông c̣n có vài tiểu thuyết t́nh cảm khác chẳng hạn Tsuki yori no shisha “ Sứ giả đến từ cung trăng ” (1933). Kume cùng với Kikuchi Kan là hai nhân vật then chốt của loại tiểu thuyết gọi là “ thông tục ” nghĩa là không có nội dung cao kỳ, ai đọc cũng hiểu, một cái tên giúp phân biệt với tiểu thuyết “ đại chúng ”, vốn tập trung vào tiểu thuyết có tính lịch sử. 

2) Shinju Fujin (Trân Châu phu nhân) của Kikuchi Kan (Cúc Tŕ, Khoan, 1888-1948) :

Ngoài những tác phẩm đă được nhắc đến trong chương 8 (tiểu thuyết và kịch nghệ thời Taishô), Kikuchi Kan c̣n là người đi đầu trong lănh vực tiểu thuyết thông tục. Shinju fujin (Trân Châu phu nhân, 1920) tuy được coi là tác phẩm nghệ thuật thuần túy nhưng cũng có thể xếp vào loại tiểu thuyết t́nh cảm thông tục, đă được đăng trên báo Ôsaka MainichiTôkyô Nichinichi. Tác phẩm nầy là tiểu thuyết thành công nhất của ông. Trong Shinju Fujin (Trân Châu phu nhân, 1920), ông kể cuộc đời của nàng Ruriko, một trang tiểu thư đẹp như hạt trân châu, bị mắc mưu gian phải làm vợ kẻ thù và vĩnh viễn xa người yêu là chàng Sugino. Nàng thành công trong việc lập mưu xui người con ghẻ mắc bệnh tâm thần giết được ông chồng gian ác. Dù mang tiếng góa bụa, nàng hăy c̣n là trinh nữ và được nhiều người săn đón. Một chàng trai thất vọng v́ quá yêu Ruriko đă đâm chết nàng rồi tự tử theo. Lúc đó, người ta mới biết nàng vẫn giữ tấm ảnh người t́nh đầu (Sugino) trong áo lót ḿnh

Câu chuyện ca ngợi tinh thần phản kháng của người phụ nữ trước mănh lực kim tiền, được sự đồng t́nh của quần chúng vốn đứng về phía chính nghĩa. Kể từ sau Shinju fujin, Kikuchi hướng về tiểu thuyết thông tục và tác phẩm của ông nhờ có cốt truyện dựng rất khéo và quan điểm đạo đức lành mạnh nên được độc giả hoan nghênh.

Trong loại tiểu thuyết t́nh cảm đăng dài hạn trên mặt báo như Shinju fujin, c̣n có thể kể đến Daini no seppun “Cái hôn thứ hai”(1925), Teisô mondô “Đối đáp về chữ trinh” (1934).

D) Ḍng văn học “hiện thực nhân bản” :

Các nhà văn đại chúng chịu ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo và chủ nghĩa Marx đă gây được tiếng vang dưới thời Taishô khi chính trường Nhật Bản chưa bị giới quân nhân khuynh loát. Kagawa Toyohiko (Hạ Xuyên, Phong Ngạn, 1888-1960) chẳng hạn, nhà văn xuất thân linh mục các giáo phận b́nh dân trong thành phố Kôbe, đă đăng tiểu thuyết nhiều kỳ tên Shisen wo koete “Bên kia lằn sinh tử” trên tờ Kaizô năm 1920 nói về cuộc tranh đấu của giới thợ thuyền và vai tṛ của một thanh niên linh mục ủng hộ những người ấy. Ông cũng tham gia các tổ chức bảo vệ nông dân, người tiêu thụ và hô hào tranh đấu thành lập một …liên bang thế giới. Về phần Shimada Seijirô (Đảo Điền, Thanh Thứ Lang, 1899-1930), ông có tập truyện dài Chijô (Địa Thượng) “Trên mặt đất”, gồm bốn phần ra đời trong khoảng 1919-22, kể lại câu chuyện lập chí của một thanh niên muốn trở thành nhà hoạt động xă hôi, chính trị, bài trừ tập tục cũ.. Truyện có nhiều yếu tố tự thuật và được quần chúng tán thưởng, nhất là trí thức cánh tả. Tuy nhiên, về sau v́ bệnh tật, tâm tính ông mất b́nh thường và chết khá trẻ.

Có thể nói các tác phẩm được các nhà văn học sử mệnh danh là ḍng “hiện thực nhân bản” sẽ châm ng̣i cho cuộc vận động văn học b́nh dân và vô sản (puroretaria bungaku) phát động từ 1925 cho đến khi bị trấn áp dữ dội vào thập niên 1930.

E) Cánh cửa mới : văn học “tài liệu” :

Phong cách thu thập tài liệu để viết những chuyện “người thật việc thật” của giới kư giả nhà báo đă khai sinh ra một ḍng văn học mới. Nhiều nhà văn đại chúng, nhất là từ đời Shôwa (bắt đầu năm 1926) trở đi, đă chọn con đường ấy. Có thể đơn cử Muramatsu Shôfuu (Thôn Tùng, Sao Phong, 1889-1961) thành công trong việc miêu tả giới xướng ca kỹ nữ (karyuukai) từ 1917, các bậc đại sư trong các ngành nghề (meishô) từ 1923 và nhất là cho đăng trường thiên tiểu thuyết Kinsei meishôfu monogatari “Truyện những cuộc phân tranh thắng bại nỗi tiếng những năm gần đây”, nó kéo dài trên mặt nhật báo Yomiuri từ 1952 đến 1961.

Mục Zeien (bắt chước tên Thuyết Uyển, tác phẩm của Lưu Hướng đời Hán) trên tờ Chuô Kôron (Trung Ương Công Luận) là nơi để các tác giả như Tanaka Kôtarô (Điền Trung, Cống Thái Lang, 1880-1941) kể lại những biến cố thời Duy Tân hayYamanaka Minetarô (Sơn Trung, Lĩnh Thái Lang, 1885-1966) thuật cho độc giả trẻ những cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Đó là chưa kể Joyuu jôshi “Đời t́nh ái các cô đào” 1929) trong đó ông đàm tiếu về đời t́nh ái riêng tư của các nữ diễn viên đương thời. Có thể xem đây là loại truyện đời tư của các nhân vật nổi tiếng (gossip literature) để thoát măn tính ṭ ṃ và sự thèm muốn của người đời. Thể thao cũng là lănh vực giới trẻ chú ư và loại tiểu thuyết thể thao nhờ đó đă thành thời thượng của thập niên 1950.

F) Tiểu thuyết t́nh cảm xă hội trước chiến tranh :

Tiếp nối con đường của Kume Masaovà Kikuchi Kan có một số tên tuổi như Nakamura Burafu (Trung Thôn, Vũ La Phu, 1886-1949), Katô Takeo (Gia Đằng, Hùng Phu, 1888-1956), Satô Kôroku (Tá  Đằng, Hồng Lục, 1874-1949) và Yoshiya Nobuko (Cát Ốc, Tín Tử, 1896-1973). Cách viết của Nakamura và Katô giống nhau ở chổ giọng văn đơn sơ và t́nh tiết “ dựng đứng ” nên tuy có kết quả nhất thời nhưng không bền. Ví dụ Yobukodori “Chim cu gáy” của Katô bỏ vào đó đủ thứ từ hiếp dâm, con hoang, đám cưới của giới trưởng giả, du lịch Âu Châu với những cảnh đảo ngược t́nh thế khôn lường…Người đọc bị choáng ngợp, có khi không theo kịp diễn biến của sự kiện nhưng hiệu quả của loại văn chương nầy chỉ thoáng qua chốc lát chứ không để lại dư vị dài lâu. Satô th́ chuyên viết cho thanh thiếu niên trong khi độc giả của Yoshiya là các cô gái trẻ. Sau nầy (1937)Yoshiya cũng được gửi ra chiến trường làm công tác tuyên truyền và được tặng danh hiệu Nữ-Kikuchi Kan.

Cuộc chiến tranh bành trướng của Nhật qua Măn Châu, Trung Quốc, cuộc khủng hoảng kinh tế đă làm văn học đại chúng thời đó rẽ ra thành hai nhánh: một bảo thủ, phong kiến và hoài cựu, một đi theo lối hưởng thụ của Âu Mỹ qua h́nh ảnh các moga (modern girl) và mobo (modern boy). Các nhà tiểu thuyết thuộc loại thứ hai có Hayashi Fubô (Lâm, Bất Vong, 1900-1935) lúc th́ viết tiểu thuyết trinh thám với bút hiệu Maki Itsuma, lúc th́ viết tiểu thuyết lịch sử kư tên Tani Jôji như đă nói nhưng đều có đặc điểm là pha tiếng Mỹ. Các tác phẩm loại đó được gọi là Meriken Jappu mono nghĩa là “nửa Nhật nửa Mỹ” mang những tựa đề lai căng như Yangu Tôgô (Young Togo, 1925), Modan Decameron[13] (Modern Decameron, 1927) v.v.....

Dù thuộc khuynh hướng bảo thủ hay tân tiến, văn đàn Nhật Bản trong thập niên 1930 đă trải qua một cơn khủng hoảng v́ khuynh hướng tiểu thuyết tự thuật lâm vào chỗ bí đề tài nên các nhà văn trụ cột của văn đàn bắt buộc t́m nguồn cảm hứng trong xă hội và ở nơi  một tầng lớp độc giả rộng răi hơn. Tiêu biểu cho sự tiếp cận đó là các nhà vănYamamoto Yuuzô[14] (Sơn Bản, Hữu Tam, 1887-1974), tác giả Onna no Isshô “Đời đàn bà” (trên nhật báo Asahi, 1932-1933) và Kishida Kunio[15] (Ngạn Điền, Quốc Sĩ, 1890-1954) với Danryuu “Ḍng triều ấm” (Nhật báo Asahi, 1938). Trong khi Yamamoto mở một chân trời sáng tác rộng răi hơn th́ Kishida chí thú sống với kịch và để tiểu thuyết rơi vào quên lăng.

Một nhóm các nhà văn khuynh hướng văn học vô sản v́ để tránh đàn áp (1930-32) đă núp dưới bóng các tác phẩm đại chúng. Họ không muốn hoàn toàn “chuyển hướng” (tenkô) tức là từ bỏ đường lối cách mạng. Một người từng tuyên bố “ chuyển hướng ” là Kataoka Teppei[16] (Phiến Cương, Thiết Binh, 1894-1944) đă trở lại với văn chương bằng tiểu thuyết Hanayome Gakkô “Trường học các nàng dâu” (1934-35), Shu to Midori “Son và Lục”. Với giọng văn nhẹ nhàng và khôi hài, Kataoka đă được giới phụ nữ đặc biệt yêu thích qua Shu to Midori, tả mối t́nh nồng nhiệt giữa bà giám đốc một tờ báo phụ nữ và ông chủ hăng. Takeda Rintarô (Vũ Điền, Lân Thái Lang, 1904-1946) cũng thuộc nhóm “nghệ thuật vô sản” nhưng văn ông ít chính trị hơn các người đồng chí hướng. Ông viết về đời sống những người tầm thường (loại truyện gọi là shisei mono = văn chương thị tỉnh) của những xóm như Ginza, Asakusa trong thành phố Tôkyô. Riêng Asakusa là đề tài mà nhiều người trong đó có một khuôn mặt lớn của văn đàn, Kawabata Yasunari, và Hamamoto Hiroshi (Tân Bản, Hạo, 1891-1959) khai thác.

G) Đặc điểm của văn học đại chúng trước ngày lâm chiến :

Tiểu thuyết t́nh cảm được ăn khách cho đến khoảng năm 1930, nhờ ở những cây bút mới không xuất thân từ trường phái của Kume Masao và Kikuchi Kan. Có thể kể ra Kawaguchi Matsutarô (Xuyên Khẩu, Tùng Thái Lang, 1899-1985) và Ishizaka Yôjirô (Thạch Phản, Dương Thứ Lang, 1900-1986).

Kawaguchi được trao giải Naoki năm 1935 là tác giả của tiểu thuyết liên tải Aizen Katsura “Cây khắc chữ t́nh”(1937-38) trong đó, cô khán hộ Takaishi Katsue goá chồng và có con riêng, đă phấn đấu trở thành ca sĩ nổi tiếng và nhờ thế, phá được bức rào xă hội để có thể kết hôn với người yêu là một bác sĩ trẻ tuổi. Luận đề của tiểu thuyết là lối sống tích cực của lớp trẻ đă biết t́m cách vượt trở lực và nhờ đó chuyển bại thành thắng.

1) Ishizaka Yôjirô (Thạch Phản, Dương Thứ Lang, 1900-1986) :

Ishizaka nhận giải thưởngcủa tạp chí Mita Bungaku năm 1935 nhờ tiểu thuyết nhiều kỳ nhan đề Wakai Hito “Lớp Người Trẻ” (1935-37) đăng ở đó. Cuốn truyện nói trên đánh dấu mốc lịch sử một thể loại của tiểu thuyết hiện đại có tên là “ tiểu thuyết tuổi trẻ ” (seishun shôsetsu). Tác giả vốn là nhà giáo một trường tỉnh, có cơ hội tiếp xúc với tầng lớp thanh niên sinh viên nên hiểu rơ cuộc sống t́nh cảm cũng như suy tư về chính trị của họ. Nhân vật tiểu thuyết của Ishizaka là những người công dân gương mẫu, thuận theo thời cuộc nhưng có ḷng yêu mến chính nghĩa, như h́nh ảnh của đại đa số quần chúng độc giả. Có điều trong giai đoạn mà Nhật sắp tham chiến, hể có tư tưởng phóng khoáng là có thể bị t́nh nghi theo cộng sản nên Ishizaka phải từ bỏ nghề giáo để chuyển qua viết văn chuyên nghiệp.

2) Shishi Bunroku (Sư Tử, Văn Lục, 1893-1969) và Câu lạc bộ U-Mặc :

Không khí trước thời chiến cũng đẻ ra một thể loại văn học đặc biệt có tính hài hước gọi là tiểu thuyết u-mặc (yuumoa shôsetsu). Một nhóm nhà văn trường phái nầy đă kết thành đoàn thể năm 1936 và tạp chí Câu Lạc Bộ U-Mặc (Yuumoa Kurabu) ra đời ngay năm sau. Trong bọn họ, ngoài Sasaki Kuni (Tá Tá Mộc, Bang) là nhà văn lăo luyện, phải kế đến Shishi Bunroku (Sư Tử, Văn Lục, 1893-1969), một nhân tài mới đăng đàn, người sẽ chủ tŕ phong trào u-mặc[17] thời hậu chiến. Năm 1934, ông bắt đầu viết với Konjiki Seishunfu nhại Konjiki Yasha của Ozaki Kôyô. Sau đó Etchan (1936-37) nói về cô gái đầy nhiệt huyết mang cái tên gọi thân mật Etchan, và Minami no Kaze “Gió Nam” (1941) là những tác phẩm tiêu biểu.Cái u-mặc của Bunroku tuy không lấy thế đứng rơ ràng nhưng cũng làm dịu được cái không khí căng thẳng của những bài diễn văn chính trị đương thời.

H) Tiểu thuyết chiến tranh :

Các loại tiểu thuyết phong tục, t́nh cảm và hài hước đă chiếm đóng văn đàn cho đến khoảng năm 1938 và sau đó nhường chỗ cho loại văn chương mang tên “tiểu thuyết chiến tranh” (sensô shôsetsu), thường thường có tính cách phóng sự chiến trường. Ḍng văn học nầy, trái với dự tưởng của mọi người, c̣n kéo dài đến cả sau khi chiến tranh kết thúc.

Tác giả tiêu biểu cho ḍng văn học nầy là Hino Ashihei (Hoả Dă, Vi B́nh, 1907-1960). Tác phẩm Fun-nyôtan (Phẩn Niệu Đàm)  “Truyện Cứt Đái”giúp ông đoạt giải Akutagawa năm 1937 và từ đó , ông kể lại những kỷ niệm tùng quân trên chiến trường Trung Hoa. Cái đặc biệt nơi ông là ba tác phẩm nói về đời lính mà ông viết đều khác với văn chương phóng sự ở chỗ kể lại những kinh nghiệm của bản thân người lính. Sau khi bị cấm viết từ 1948 đến 1950, ông cầm bút trở lại cũng để viết về đề tài chiến tranh. Ông tự sát năm 1960.

Bên cạnh Hino c̣n có Yamaoka Sôhachi (1907-78), tiểu thuyết gia viết truyện lịch sử mà ta đă nhắc đến ở trên với tác phẩm lớn (1950-67) viết về đời tướng quân Tokugawa Ieyasu. Tiểu thuyết đăng nhiều kỳ Mitate “Cái thuẫn linh thiêng” (1943-45) mô tả những hy sinh và chiến công của quân đội thiên hoàng đă bị cắt ngang lúc Nhật bại trận và tác giả của nó phải ngưng hoạt động giữa giai đoạn 1947-1950. Tóm lại, khi Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện năm 1945 th́ loại văn chương nầy coi như bị sổ toẹt.

I) Tiểu thuyết đại chúng kiểu mới kể từ 1945 :

Như dă tŕnh bày, biên giới giữa văn học thuần túy và văn học đại chúng dần dần bị xóa bỏ. Hiện tượng đáng nêu ra về khuynh hướng đại chúng sau chiến tranh có thể là sự ra đời của “tiểu thuyết trung gian” (chuukan shôsetsu). Chính ra cái tên “trung gian” đă có từ năm 1941 để chỉ một loại tiểu thuyết thực dụng (ôyô = ứng dụng), nói trắng ra là để phục vụ chính trị. Sau chiến tranh, nói đến “ tiểu thuyết trung gian” lại có nghĩa là nói đến thể loại đứng giữa tiểu thuyết thuần túy và tiểu thuyết đại chúng hay b́nh dân.

Ḍng chính của thể loại này có tên là “tiểu thuyết phong tục” (fuuzoku shôsetsu). Sau khi văn chương cánh tả (v́ bị đàn áp) và trào lưu tiểu thuyết tự thuật (v́ quá riêng tư nên hạn hẹp) thoái trào, các nhà văn xoay ra viết tiểu thuyết t́nh cảm. “Tiểu thuyết phong tục” được xem như là một phân nhánh của tiểu thuyết t́nh cảm, nó nhấn mạnh đến thực tế ngoài đời, mô tả phong tục, thế thái của thời đại, nhất là trong khu vực đô thị, môi trường sinh hoạt của đa số người Nhật. Những tên tuổi trong trào lưu nầy là là Yokomitsu Riichi, Niwa Fumio và Funahashi Seiichi. Yokomitsu đă được nhắc tới cùng với Kawabata trong phong trào Tân Duy Cảm (Shin-kankakuha) trong phần nói về văn học thời Taishô.

Dưới thể chế chiếm đóng vàng thau lẫn lộn và trong một thời buổi vật tư thiếu thốn, giá trị tinh thần hoàn toàn băng hoại, đô thị là sân khấu của trăm ngh́n tấn kịch đời. Nhà văn đă cố gắng cung cấp cho độc giả những thông tin kịp thời nhất. Nó trải rộng như một nan quạt từ “tiểu thuyết nhục thể” (nikutai shôsetsu) với Tamura Taijirô (1911-?) đến “tiểu thuyết tuổi trẻ” (seishun shôsetsu), “tiểu thuyết hài hước”, “ tiểu thuyết giáo dục”, “tiểu thuyết kinh tế” vv…

Tamura Taijirô đă được nhắc đến nhiều trong bài viết về “ Đoạn Đường Vượt Thoát Hậu Chiến ” (bài viết số 29). Nhân vật cần khai triển thêm ở đây phải là Ishizaka Yôjirô (Thạch Phản, Dương THứ Lang, 1900-86), cây viết cho tuổi trẻ, đă có tiếng từ trước chiến tranh với tiểu thuyết trường thiên Wakai Hito “Lớp người trẻ” (1935-37). Sau 1945, ông viết Aoi Sanmyaku “Rặng núi xanh” (1947), Ishinaka Sensei Gyôjôki “Ghi chép về hành tung của ông giáo Ishinaka” (1948-49) và Hi no ataru Sakamichi “Quăng dốc nắng tràn” (1956-57). Trước sau, nhân vật của Ishizaka bao giờ cũng là lớp người trẻ tuổi, những người công dân dễ thương, tốt bụng và dễ thông cảm mà ông đặt hết ḷng tin yêu vào sức sống của họ. Truyện của ông thường xuyên được dựng thành phim.

1) Ishikawa Tatsuzô (Thạch Xuyên, Đạt Tam, 1905-1985) hậu chiến :

Một nhà văn tiêu biểu cho văn học b́nh dân của giai đoạn sau chiến tranh là Ishikawa Tatsuzô. Ông theo học Đại Học Waseda nhưng ngưng nửa chừng. Khi viết văn, ông hay chọn chủ đề thời sự và sinh hoạt hằng ngày. Sôbô (Thương manh)Dân lành” được giải thưởng Akutagawa năm 1935. Trong thời gian tham dự chiến trường Trung Hoa, ông viết Ikiteiru heitai “Những người lính đang sống” kể về cảnh cơ cực đời lính. Kết quả là chính quyền quân sự không chấp nhận sự thực nên xử phạt tờ Chuô Kôron đă đăng tác phẩm và bỏ tù tác giả của nó. Ishikawa nhân đó sau chuyển sang hướng khác mà viết các tác phẩm phong tục ăn khách hơn như Kekkon no Seitai “Chuyện đời sống vợ chồng”(1939). Trong Nozomi naki ni arazu “Không thể không có hy vọng” (1947), Ishikawa mô tả xă hội tan hoang thời hậu chiến đang đi t́m lẽ sống, Shijuuhassai no teikô “Bốn mươi tám tuổi c̣n son” (1955) nói lên sự cố gắng t́m khoái lạc thể xác nơi một người đàn ông đứng tuổi. Trong Ningen no kabe “Bức tường người” (1958-59), ông đề cập đến hiện trạng giáo dục cần cải tổ. 

2) Tiểu thuyết u-mặc (hài hước) từ sau Shishi Bunroku :

Shishi Bunroku (Sư Tử, Văn Lục) tiếp tục viết tiểu thuyết u-mặc (humour, hài hước). Tác phẩm chính của ông trong giai đoạn nầy là Jiyuu Gakkô “Trường Học Tự Do” (1951) đăng trên nhật báo Asahi, có nội dung như sau : Kamako, người vợ xỏ mũi chồng. một ngày quá chán nản, đuổi anh ta ra khỏi cửa. Sau khi trải qua một số phiêu lưu t́nh cảm với dư vị chua chát, cô bèn gọi chồng về. Qua tiểu thuyết nầy, Bunroku muốn xét lại khuynh hướng theo mới của giới phụ nữ thời đó mà ông nghĩ là không hợp với lối sống của quần chúng Nhật Bản nói chung. Tiếp nối Bunroku có các tác giả trẻ như Kita Morio (sinh năm 1927), Endô Shuusaku (sinh năm 1923), Inoue Hisashi (sinh năm 1935). Họ đều có tác phẩm viết theo kiểu nầy nhưng riêng Inoue Hisashi, một tác gia sở trường về sân khấu và truyền h́nh, có lúc đi xa thành ra châm biếm.  

3) Genji Keita (Nguyên Thị , Kê Thái, 1912-85) và tiểu thuyết “ salaryman ” :

Gần gũi với tiểu thuyết u-mặc là tiểu thuyết nói về dân tư chức, giai tầng vũ sĩ của thời đại mới. Salaryman nghĩa là những người ăn lương tháng. Họ tạo nên một tập thể cốt cán của xă hội kỹ nghệ và doanh thương. Tiểu thuyết tư chức (salariiman shôsetsu) hưng thịnh trong giai đoạn 1950-60, tŕnh bày loại người vô danh và đồng phục nầy và là một chủ đề văn học đặc biệt đến nay chưa từng có.

Ông được xem như nhà văn điển h́nh viết về giới người nầy. Ông là một cây viết hài hước từ trước chiến tranh nhưng năm 1951 mới được giải Naoki nhờ tuyển tập truyện Eigoyasan “Cái ông biết tiếng Anh” tŕnh bày cuộc đời những tư chức gương mẫu. Santô Juuyaku “Cụ thường vụ cấp ba” mô tả cảnh thay bậc đổi ngôi trong một hăng buôn ở Ôsaka đang có cuộc cải tổ cơ cấu tổ chức do chính quyền Mỹ áp đặt.

Như thế, cả tiểu thuyết u-mặc (yumoa shôsetsu) lẫn tiểu thuyết tư chức (sarariiman shôsetsu) đều có mục đích giúp độc giả giữ được khoảng cách với thực tế hằng ngày và đem đến cho họ một niềm an ủi trong thời buổi khó khăn nên được đông đảo quần chúng yêu chuộng nhất là khi nó được dựng thành kịch truyền h́nh (home drama) len lỏi vào tận pḥng khách của mọi gia đ́nh.

J) Tiểu thuyết chiến tranh từ thập niên 1950 :

Như muốn trấn yểm chiến tranh không cho nó bùng lên nữa, tiểu thuyết nói về chính đề tài chiến tranh đă ra mắt công chúng rất nhiều sau khi chiến sự kết thúc. Với nội dung chỉ trích thậm tệ sách vở tuyên truyền thời chiến, các nhà văn tŕnh bày những cái chết vô lư, những nỗi khổ trong do chiến tranh mang lại. Trong số đó, trội hơn cả là Ningen no jôken “Thân phận con người” (1956-60, sáu cuốn) của Gomikawa Junpei, một tác phẩm đă bán 4 triệu rưỡi cuốn trong ṿng có vài năm.

Gomikawa Junpei (Ngũ Vị Xuyên, Thuần B́nh, sinh năm 1916) nói về thân phận con người :

Ningen no jôken tŕnh bày sự tàn ác không nương tay giữa con người đối với con người trong chiến tranh qua câu chuyện anh lính Kaji, v́ có đầu óc thiên tả và ước vọng ḥa b́nh nên bị trăm điều cay đắng khi tùng quân ở chiến trường Nga. Oái oăm hơn nữa, anh bị kẻ địch là Hồng quân Liên-Xô bắt cầm tù, vượt ngục được nhưng cuối cùng sức mơn, nằm chết giữa trời tuyết trong khi hồn mơ về người vợ hiền ở quê nhà. Tác giả Gomikawa Junpei cũng đă từng bị gửi ra mặt trận Nga nên truyện của ông không thiếu những chi tiết có tính cách tự thuật. Ningen no Jôken không phải là loại tiểu thuyết được đăng liên tiếp trên báo mà lại thành công như thế quả là một phép lạ đối với một tác phẩm văn học đại chúng. Sau đó, Gomikawa tiếp tục viết về chủ đề chiến tranh trong Sensô to Ningen “Chiến tranh và con người” (1965-67).

K) Tiểu thuyết t́nh cảm đại chúng hậu chiến :

Ôoka Shôhei và Yukio Mishima cũng có lần bước vào văn học đại chúng dù chỉ thoáng qua. Ôoka viết Musashino Fujin “Người đàn bà  ở Musashino” (1950) và Bitoku no yoromeki “ Đùa với lửa t́nh” (1957) trong thể loại nầy. Tác phẩm thứ hai đă bán được ba trăm ngh́n cuốn, một con số đáng kể.

Funahashi Seiichi (Chu Kiều, Thánh Nhất, 1904-76) được nh́n nhận là nhà văn tiểu thuyết t́nh cảm đại chúng với Yuki Fujin Ezu “Số phận của phu nhân Yuki” (1948-50), một người đàn bà bất hạnh đă phải tự sát sau khi hôn nhân tan vỡ. Ông cũng viết về đời các cô geisha như trong Geisha Onatsu “Onatsu, cô geisha “(1952-61).

Osaragi Jirô, rời bỏ tiểu thuyết lịch sử để viết tiểu thuyết mới như Kikyô “Về quê” (1948) Munakata Shimai “Chị em nhà Munakata” (1949). Đó là chưa kể tác giả văn chương thuần túy và thành danh như Tanizaki Jun.ichirô cũng đă cho đăng tiếp Sasameyuki “Mong manh hoa tuyết” (1947-48), một tác phẩm bắt đầu trước chiến tranh, hội đủ điều kiện lư tưởng của một tiểu thuyết t́nh cảm đại chúng.

Dù có sự chen chân của các nhà văn bên ngoài, ḍng văn học t́nh cảm và đại chúng vẫn có những tác giả “truyền thống” như Kikuta Kazuo (Cúc Điền, Nhất Phu, 1908-73), tác giả của Kimi no na wa “Tên cô là ǵ?” (1952-54) nói về một cuộc chơi cút bắt t́nh cảm giữa hai người trẻ, yêu nhau mà v́ những cảnh ngộ tréo cẳng ngỗng nên không lấy được nhau. Nhà văn nữ Harada Yasuko (Nguyên Điền, Khang Tử, sinh năm 1928) cũng có một thành công lớn là Banka “Khúc hát đưa tang”(1956), kể lại một câu chuyện ngoại t́nh. Sách bán được hơn 700 ngh́n cuốn.. Miura Ayako (Tam Phố, Lăng Tử) viết Hyôten “Điểm đông lạnh” với chủ đề cổ điển thời Meiji về “tội tổ tông” cũng là một hiện tượng văn học đáng chú ư.

L) Tiểu thuyết giáo huấn và thể thao :

Tu luyện và hoàn thành mục đích, hai điều đó luôn luôn là một chủ đề thấy trong tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết thời mới.

1) Ozaki Shirô (Vĩ Kỳ, Sĩ Lang, 1898-1964) và “ Sân khấu Cuộc Đời ” :

Sau chiến tranh, Bộ tiểu thuyết đồ sộ nhất về loại nầy có Jinsei gekijô “Sân khấu cuộc đời” của Ozaki Shirô, thực ra bắt đầu đăng trên nhật báo Miyako từ 1933. Tuy đứt nối nhiều phen nhưng nó đă kéo dài đến 1961 trên tờ Sankei. Thông điệp “khắc kỷ, can đảm, tin tưởng” lồng trong Jinsei gekijô phản ánh hệ tư tưởng truyền thống và được sự đồng t́nh rộng răi của độc giả. Nhiều yếu tố tự thuật của cuộc hành tŕnh dài ba thập niên của tác giả đă được đóng khung trong đó.

2) Itsuki Hiroshi (Ngũ Mộc, Khoan Chi, sinh năm 1932) 

Theo chân Ozaki Shirô có Itsuki Hiroshi, người đoạt giải Naoki năm 1966 nhờ tác phẩm Aozametta Uma wo miyo “Hăy nh́n bầy ngựa tái mét”. Tác phẩm tiêu biểu của Itsuki là Seishun no mon “Lối vào tuổi trẻ”, được xem như lập lại chủ đề của Jinsei Gekijô “ Sân Khấu Cuộc Đời ”. Itsuki biết sử dụng các phương tiện truyền thông, nhờ các cuộc phỏng vấn và tham dự vào các chương tŕnh truyền h́nh mà đă trở nên một người dẫn đầu dư luận.

Itsuki thời trẻ theo cha mẹ qua Triều Tiên, học ở B́nh Nhưỡng (Pyongyang) và chỉ về nước năm 1947. Ông có vào Đại Học Waseda nhưng không tốt nghiệp được v́ thiếu tiền học. Sau khi kết hôn, ông về sống ở vùng Kanazawa rồi viết văn.Về văn chương, ông chịu ảnh hưởng các tác giả Nga như Tolstoy và Gorki, chú trọng đến khía cạnh mua vui (entertainment) cho đại chúng, biết chiều ư người đọc.

Như đă nói ở trên, Nhật Bản c̣n đẻ ra một h́nh thức đặc thù gọi là tiểu thuyết thể thao (suppôtsu shôsetsu). Có lẽ Inoue Yasushi (Tĩnh Thượng, Tịnh, 1907-1991) là người khai sinh ra nó với Hyôheki “Vách băng” (1956-57), nói về một vụ án mạng xảy ra khi hai người bạn cũng là hai nhà thể thao, cùng leo núi. Inoue Yasushi từng đoạt giải Akutagawa năm 1950 với Tôgyuu “Đấu ḅ” (1949) và được các phương tiện truyền thông chú ư đến. Một nhân vật khác, Nitta Jirô (1912-80) cũng nổi tiếng trong lănh vực tiểu thuyết thể thao. Sự thành công của họ có lẽ bắt nguồn từ truyền thống gắn bó của người Nhật đối với với sự trui rèn thân xác.

M) Tiểu thuyết thông tin: tín hiệu của những năm 1970 :

Ba loại tiểu thuyết nằm trong phạm vi nầy: tiểu thuyết kinh tế (keizai shôsetsu), tiểu thuyết xă hội (shakai shôsetsu) và tiểu thuyết chính trị (seiji shôsetsu).Các loại tiểu thuyết nói trên đă ra đời từ thập niên 1970, lúc xă hội Nhật trải qua nhiều biến động về ba mặt ấy.

1) Shiroyama Saburô (Bạch Sơn, Tam Lang, sinh năm 1927) :

Shiroyama sở trường về loại “tiểu thuyết xí nghiệp”(kigyô shôsetsu), lấy hăng xưởng làm bối cảnh. Ông được trao giải Naoki nhờ tác phẩm Sôkaiya menjô “Giấy phép của bọn Sôkaiya” (1958). Sôkaiya là những kẻ đại diện cổ đông thiểu số để vào bắt bẻ những nhà quản trị kinh doanh trên nội dung bản kết toán đưa ra ở các đại hội đồng cổ đông (sôkai) họp thông qua kết quả cuối năm. Những người nầy thường làm theo mệnh lệnh của giới “giang hồ” muốn bắt nạt với mục đích bấu xấu tiền bạc của hăng. Hai mươi năm sau, ông cho ra mắt Kanryôtachi no yoru “Đêm của mấy ngài công bộc dân” (1975), bán được trên một triệu cuốn và được đưa lên truyền h́nh. Tiểu thuyết kinh tế thoả măn nhu cầu ṭ ṃ t́m hiểu của độc giả và cũng bộc lộ tinh thần của các nhà văn muốn điều tra những sự thật sự thật bị dấu diếm.

2) Yamazaki Toyoko (Sơn Kỳ, Phong Tử, sinh năm 1924) và Ariyoshi Sawako (Hữu Cát, Tá Ḥa Tử, 1931-1984) :

Nhiều nhà văn nữ cũng có mặt trong thể loại tiểu thuyết thông tin (jôhô shôsetsu) nầy. Yamazaki Toyoko và Ariyoshi Sawako chẳng hạn. Yamazaki viết về thế giới bệnh viện và các bác sĩ giải phẩu trong Shiroi Kyotô “Cái tháp trắng lớn” (1963) cũng như Daichi no ko “Con của đất lành” với đề tài cuộc sống phong trần của những cô nhi Nhật Bản rơi rớt lại Trung Quốc sau khi quân Nhật rút về năm 1945. Xuất thân kư giả nhật báo Mainichi, bà quan tâm đến những vấn đề thời sự như sự khan hiếm nguyên liệu như dầu hỏa, cuộc đời rày đây mai đó, luôn luôn phấn đấu, của người tư chức Nhật xây dựng hăng xưởng ở nước ngoài…và đem nó vào tác phẩm. Ariyoshi c̣n quan tâm đến sự lăo hóa của xă hội hậu hiện đại nên đă viết về việc chăm sóc những người già yếu trong Kôkotsu no hito “Người lẩm cẩm” (1972), về ô nhiễm môi trường sinh thái trong Fukugô Osen “Ô nhiễm kép” (1974-75), lên án các hăng xưởng v́ tham lợi phá hoại môi sinh. Loại văn chương nầy, gần với phóng sự báo chí và điều tra khoa học, cũng đă trả lời một thắc mắc thực tế của con người thời đại.  

 

Tạm Kết :

Rời lănh vực tiểu thuyết dă sử, kiếm hiệp, t́nh cảm xă hội, ta thử bước qua địa hạt truyện trinh thám và khoa học giả tưởng để nh́n thấy một hướng tiến khác của văn học đại chúng..


 

[1] Cécile Sakai, Histoire de la littérature populaire japonaise (1900-1980), L’Harmattan, Paris, 1987, soạn từ luận án tiến sĩ của tác giả bảo vệ năm 1983 tại Đại Học Paris VII mà chúng tôi sử dụng làm nồng cốt để viết chương nầy.

[2] Chúng tôi hiểu tiểu thuyết lịch sử như tên gọi chung của tiểu thuyết lịch sử thực chứng (có kiểm thảo tính chất đích thực của lịch sử) và tiểu thuyết dă sử mà hư cấu đóng vai tṛ quan trọng.

[3] Biên giới giữa văn học có tính nghệ thuật thuần túy và văn học đại chúng thực ra không thể phân biệt được một cách rành rẽ. Điều đó hăy c̣n đúng cho đến nay.

[4] Tên thật là Wakabayashi Yoshiyuki, (Nhược Lâm, Nghĩa Hành,  biết dùng kôdan để diễn thuyết về tư tưởng tự do dân quyền. Sở trường loại shiramono (truyện trộm cướp).

[5] Thiền tăng thời Muromachi, Ikkyuu theo phái Rinzai (Lâm Tế). Có thuyết cho ra con cháu rơi rớt của thiên hoàng Go-Komatsu. Ông chống lại sự hủ bại của cửa thiền, được truyền tụng v́ có hành tung kỳ dị. Có tập thơ Kyôun-shuu (Cuồng Vân Tập), ngoài c̣n viết kịch, tiểu thuyết.

[6] Làm ta liên tưởng đến tác phẩm Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mousquetaires , 1844) của Alexandre Dumas Père trong đó d’Artagnan và 3 người bạn ngự lâm pháo thủ Athos, Bothos và Aramis bảo vệ hoàng gia chống thế lực của Hồng Y Richelieu.

[7] Nghi án phản quốc gán cho đại úy Dreyfus v́ gốc gác Do Thái của ông ta.

[8] Tướng Georges Boulanger (1837-1891) cầm đầu thế lực hữu khuynh , lợi dụng tinh thần chống Đức (Phổ) của người Pháp để lập chế độ độc tài.

[9] Tiểu thuyết gia sinh ở Asakusa, xóm b́nh dân Tôkyô, Kawaguchi Matsutarô ( Xuyên Khẩu, Tùng Thái Lang, 1899-1985) từng đoạt giải Naoki. Viết tiểu thuyết đại chúng với bối cảnh thời Meiji và xóm Asakusa.Nhiều tác phẩm được dựng thành phim.

[10] Takayama Ukon (Cao Sơn Hữu Cận, 1552-1615) nhân vật lịch sử thời Azuchi-Momoyama. Ông là lănh chúa đă chịu phép rữa tội theo đạo Ki-Tô và cũng là một nhà trà đạo (chajin) có tiếng. Bị trục xuất khỏi Nhật sau khi có lệnh cấm đạo. Chết ở Manille (Phi Luật Tân).

[11] Sinh ở Hokkaidô, tốt nghiệp đại học Meiji, Shimozawa làm sống động những sự tích do các cố lăo kể lại. Ông được biết với Shinsengumi shimatsu-ki (Tân tuyển tổ thủy mạt kư) “ Truyện hưng vong của nhóm vũ sĩ mới Shinsengumi ” một tập thể nông dân có tham vọng trở thành vũ sĩ t trong buổi giao thời khi mạc phủ suy vong. Shimozawa đă mở ra một trào lưu tiểu thuyết lịch sử mới mẽ.

[12] Momi, tiếng Anh dịch là Fir, một loại tùng bách, đặc biệt thấy ở Nhật, tàng lá h́nh viên trụ, thân cao khoảng 30 mét, gỗ chắc chắn, dùng đóng thuyền, dựng nhà, làm giấy.

[13] Tập truyện của nhà văn Ư Boccacio viết khoảng năm 1348-53, gồm 10 truyện do 10 nhân vật nam nữ thi nhau kể nên c̣n gọi là “ Truyện Mười Ngày ”. Nội dung phúng thích xă hội đô thị thời Trung Cổ Tây Phương với nhiều yếu tố bi hài kịch và sắc dục.

[14] Yamamoto Yuuzô, tiểu thuyết gia, kịch tác gia, tốt nghiệp Đại Học Tôkyô, miêu tả những con người tích cực xây dựng xă hội. Tác phẩm có Nami “ Sóng”, Shinjitsu Ichiro “Ngay thẳng một đường”, Robô no Ishi “ Ḥn đá bên đường ”.

[15] Kishida Kunio, tốt nghiệp Pháp văn Đại Học Tôkyô, nghiên cứu sân khấu Pháp. Ngoài viết kịch c̣n cầm đầu phong trào cải cách kịch nghệ, viết tiểu thuyết và dịch thuật.

[16] Kataoka Teppei, người tỉnh Okayama, trước cùng với Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi có chân trong phái Tân Cảm Giác. Sau chọn đường văn học vô sản, bị đàn áp phải chuyển hướng và cuối đời vào chùa tu.

[17] U-Mặc, phiên âm chữ Humour có thể dịch là hài hước nhưng c̣n bao gồm một số đặc tính không t́m thấy trong khái niệm hài hước.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com