TÂY TẠNG MÙA XUÂN

Tuỳ bút Kim Yến - H́nh ảnh Kỳ Nam

" Tặng tất cả những ai không c̣n MẸ."

 

Mẹ tôi mất đầu năm 1999 sau một thời gian dài bị bệnh nặng.

Sau khi mẹ tôi mất được bốn tháng, tháng 5 năm 1999, công ty du lịch Voyages Sài G̣n của gia đ́nh tôi tại Mỹ lần đầu tiên tổ chức cho một đoàn khách Việt kiều thăm đất nước Tây Tạng, xứ sở được mệnh danh là “nóc nhà của thế giới”

Đây cũng là một cơ hội hiếm có đối với tôi, bởi v́ Tây Tạng tuy là một khu tự trị của Trung Quốc, đất nước láng giềng của Việt Nam nhưng từ lâu Tây Tạng được biết đến là một nơi núi non hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, một vùng đất khép kín, và đầy bí ẩn. Để được vào Tây Tạng,tôi phải xin hai loại visa nhập cảnh vào Trung Quốc và khu Tự Trị Tây Tạng từ sứ quán Trung Quốc tại Mỹ.

         

Trước khi kể về chuyện viếng thăm Tây Tạng mùa xuân, một xứ sở nằm chót vót trong mây được gọi là “nóc nhà của thế giới”, một trong các thánh địa của Phật Giáo Đại thừa, mảnh đất tỉnh lặng và thanh khiết, nơi giao ḥa tuyệt diệu của Trí Huệ và ḷng Từ Bi, tôi muốn kể về Mẹ tôi, dù bà đă khuất, nhưng ở một cơi tâm linh nào đó, tôi tin chính bà là người đă “tạo duyên” rất lớn cho chuyến đi của tôi.

Mẹ tôi, thời c̣n trẻ, Bà đă là một Phật tử thuần thành, ăn chay, niệm Phật, đi chùa, kính quư các vị Tăng Ni và làm nhiều việc phướcc thiện. Đến lúc Phật nạn năm 1963, Bà chứng kiến ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của chế độ Ngô Đ́nh Diệm vào một buổi sáng tháng 5 ở ngă tư đường Lê Văn Duyệt, Phan Đ́nh Phùng (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Đ́nh Chiểu) Bà xin phép cha tôi phát nguyện ăn chay trường, cuộc sống của bà từ đó càng gắn liền với tương chao dưa muối, câu kinh tiếng kệ, và lời cầu nguyện hằng đêm cho đất nước an lạc thái b́nh, dân t́nh bớt khổ.

Là vợ của một ông chủ hăng chuyên sản xuất và mua bán nhạc cụ cổ truyền và Tây Phương khắp toàn cơi “Việt Miên Lào”, mẹ tôi giúp cha tôi rất nhiều trong công việc làm ăn, đồng thời cũng nặng gánh nuôi dạy đàn con chín đứa, đứa nhỏ nhất mới hai tuổi, mẹ tôi lại là dâu của một ḍng tộc lớn, hàng năm có hàng chục đám giỗ mẹ tôi phải đảm đương, vậy mà mẹ tôi đă từ bỏ một trong “tứ khoái” của con người là ăn ngon.Bà từ chối việc tham dự các tiệc tùng, để cha tôi đi một ḿnh hoặc đi với chúng tôi. Bữa cơm trên bàn chúng tôi th́ thịt cá ê hề, c̣n bà th́ chỉ một dĩa đậu hũ kho, rau luộc, chén tương, chén chao, vậy mà bà ăn rất ngon lành.

Với bà đúng là “ăn để mà sống, chứ không phải sống để mà ăn”. Mẹ tôi tốt bụng, hiền lành nhưng bà dạy con rất nghiêm, ngay từ nhỏ, bà dạy chúng tôi từ nết ăn nết ở, dạy phải thương người nghèo khổ, phải biết bố thí, siêng năng và cần kiệm. Bà cấm chúng tôi ăn cơm không được bỏ mứa, một hột cơm củng phải vét cho sạch, bà nói với chúng tôi “ăn cơm bỏ mứa là phải tội”. Hai tiếng “phải tội” của mẹ sao mà “trừu tượng” quá, sợ chúng tôi không nghe, bà phải “cụ thể hóa “nó bằng h́nh ảnh “địa ngục” sau khi chết đi, người phí phạm cơm, sẽ không có cơm ăn, các hạt cơm sẽ biến thành “ḍi bọ”.

Mẹ tôi chữ nghĩa ít, bà không hiểu nhiều về giáo lư cao siêu, mầu nhiệm của đạo Phật, Bà đến và cảm ứng với đạo Phật bằng cái TÂM bi mẫn, chọn pháp tu đơn giản nhất là ăn chay, niệm Phật, giữ năm giới, nói và làm điều tốt. Cha tôi sau này ông thường nói Ông lo kiếm tiền nuôi chúng tôi, nhưng công lao dạy dỗ chúng tôi nên người, khơi dậy, nuôi dưỡng và phát triển ḷng nhân ái trong chúng tôi, đó là nhờ mẹ tôi.

Sau giải phóng, gia đ́nh tôi gặp nhiều khó khăn vất vả, một nửa căn nhà chúng tôi ở nhà nước trưng dụng, hăng nhạc cụ nhà tôi bị đóng cửa, đất đai cha mẹ tôi mua để dành sau này cho chúng tôi mở mang cơ sở làm ăn, người khác đến chiếm. Khu đất đó ngày nay là nơi tọa lạc của hàng chục ngôi biệt thự ở khu An Phú, Thảo Điền, quận 2 bây giờ. Anh em chúng tôi mỗi đứa phải tự bươn chải để tồn tại và sống, đứa ở lại, đứa ra nước ngoài, đứa chết ngoài biển cả. Dâu bể cuộc đời làm mẹ tôi già yếu, mỏi mệt, nhưng tuyệt nhiên mẹ tôi không hề khóc lóc than văn, tỏ sự oán hận, căm thù v́ đă bị cướp đi tất cả của cải vật chất suốt một đời lao động của cha mẹ tôi. Bà chỉ an ủi chúng tôi: “Thôi cứ coi như bố mẹ không để lại cho chúng con tài sản nào hết, các con tự ḿnh lập thân, mẹ theo bố chúng con vào Nam lúc đó chỉ với hai bàn tay trắng”. Mẹ tôi thật sự là chỗ dựa tinh thần vững chải cho cha tôi và anh em chúng tôi, trong những ngày cơ cực sau chiến tranh. Đến bây giờ khi hiểu một chút ít về Phật pháp, tôi mới “ngộ” rằng mẹ đă sống trong cuộc đời này bằng cái tâm tỉnh thức và nghiệp an lành của bà. Bà biết từ bỏ dần dần ba con rắn độc “tham, sân, si” trong thân xác, trong lời nói và việc làm. Bà tạo ra của cải vật chất, tuy cần thiết đấy, nhưng không quư trọng, không bám víu, cho nên khi mất nó bà cũng chẳng nặng ḷng, buồn khổ hay oán hận.

Khi chúng tôi đứng vững trên đôi chân của ḿnh trong cuộc sống mới, tạo ra của cải vật chất mỗi khi khoe với mẹ :con sắm cho mẹ cái này, con mua tặng mẹ cái nọ, bà vẫn b́nh thản nói: “Chúng con có được phương tiện nhiều như vậy, mẹ mừng nhưng chúng con “tu” đi, ráng làm nhiều việc phước, rồi buông bỏ lần lần, chứ hơi sức đâu mà tranh đua, bon chen hoài vậy con “.Đó là những lời mẹ tôi khuyên nhủ chúng tôi, những đứa con của bà đang như những con ngựa ô lao vào thương trường (cũng khốc liệt như chiến trường) trong những năm đất nước mở cửa.

Vài tháng trước khi mẹ tôi mất, tôi c̣n nhớ đó là một buổi tối rằm Trung Thu, tôi nằm với mẹ tôi trên chiếc giường của Bà, nhấm nháp miếng bánh Trung Thu mà không dám đút cho bà ăn v́ bà mắc bệnh dưỡng huyết cao và tim mạch rất nặng. Mẹ tôi nói với tôi như những lời trối trăn rằng: mẹ tôi biết mẹ tôi sẽ ra đi trước cha tôi, mẹ tôi bảo chúng tôi chăm sóc và an ủi cha tôi, cha tôi gặp nhiều đại nạn trong đời, nhưng số cha tôi đại thọ. Tôi hỏi bà có mong ước điều ǵ không, anh chị em chúng tôi sẽ thực hiện làm vui ḷng bà. Bà nói rất nghiêm trang và chậm răi rằng bà không mớ ước một điều ǵ hết, bà măn nguyện với những điều ǵ bà đă có, bà chỉ mong sau khi bà mất chúng tôi “hăy nương tựa vào Phật pháp mà sống”. Một lần nữa bà nhắc nhở chúng tôi “tu” đi.

Khi mẹ tôi mất,” tôi như mất cả bầu trời “, bơ vơ, đau đớn khôn xiết, tôi suy sụp tinh thần, lẫn sức khỏe. Lần đầu tiên tôi suy nghĩ một cách nghiêm túc lời mẹ tôi dặn:” sau khi mẹ mất các con hăy nương tựa vào Phật pháp để sống.” Tại sao mẹ tôi lại nói điều đó? Phật pháp là những ǵ? Những điều tôi hiểu về đạo Phật quá ít ỏi, mơ hồ. Phật pháp có làm tôi quên được nỗi đau mất mẹ không? Cậu em trai tôi tặng cho tôi quyển “Bước đầu học Phật” của Ḥa thượng Thích Thanh Từ trong đó có phần giải thích về luật nhân quả và luân hồi. “Thế th́ mẹ tôi chết rồi,bà sẽ đi đâu, trong vũ trụ bao la có đến tam thiên thế giới, mẹ tôi đang ở cơi nào. mẹ tôi có hạnh phúc có sung sướng không?, Những câu hỏi luôn đến với tôi mỗi khi tôi nghĩ đến mẹ tôi và khi tôi cầu nguyện cho bà. Trong tôi, thôi thúc một lời giải đáp và muốn tự ḿnh t́m thấy lời giải đáp đó dựa trên một niềm tin có cơ sở, chứng nghiệm bằng chính bản thân tôi. Tôi quyết định đi Tây Tạng nơi mà tín ngưỡng gần như tuyệt đối của dân tộc này là đạo Phật. Đối với sự luân hồi và tái sinh của con người họ không chỉ giải thích trên lư thuyết mà c̣n được thể hiện và chứng nghiệm bằng người thật việc thật. Đó là sự “hóa thân” của các vị Đạt Lai Lạt Ma, (tạm dịch Đại Dương của Trí Huệ ).

Tôi đi máy bay từ Việt Nam sang Quảng Châu, rồi từ Việt Nam đến Tứ Xuyên, quê hương của Đặng Tiểu B́nh, ông tổ của công cuộc cải cách hiện đại Trung Quốc. Theo chương tŕnh tôi sẽ gặp đoàn Việt Kiều Mỹ từ Los Angeles đến Quảng Châu, sau họ sẽ đổi máy bay đi cùng với tôi trên chuyến máy bay đi Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Chúng tôi ở Tứ Xuyên vài ngày thăm tượng Phật Lạc Sơn, lớn nhất thế giới cao hơn 80 mét tạc trong vách núi đá, ngắm nh́n tượng Phật khổng lồ ấy từ nơi hợp lưu của bốn con sông, nguồn gốc của tên gọi Tứ Xuyên. Ngày hôm sau, thăm núi nga Mi, một trong bốn ngọn núi linh thiêng nhất Trung Quốc, nơi có quần thể các chùa thờ Đức Bồ Tát Phổ Hiền, trở thành Thánh tích Phật giáo thời Đông Hán, thăm thảo đường của nhà thơ Đổ Phủ ( nhớ một câu thơ của ông về tuổi thọ con người “ Nhân sinh thất thập cổ lai hy “).

“Điểm nhấn” của chương tŕnh là chúng tôi sẽ đáp máy bay đến Lhasa, thủ đô của khu tự trị Tây Tạng, nếu tính thời gian th́ cách nơi tôi xuất phát, thành phố Hồ Chí Minh là 10 giờ, cách Thành Đô hơn 3 giờ bay. Từ cửa sổ máy bay, ngắm nh́n muôn vàn đỉnh núi phủ tuyết trắng nối tiếp nhau trùng trùng điệp điệp, tôi thực sự choáng ngợp trước một thiên nhiên quá đổi kỳ vĩ. Phi cơ đáp xuống phi trường Lhasa vào buổi trưa, theo phong tục, mỗi người được tặng một chiếc khăn lụa trắng quàng vào cổ, đó là lời chào và là lời chúc phúc của người Tây Tạng dành cho khách quư. Người hướng dẫn địa phương của đoàn là một cậu thanh niên hai mươi ba tuổi, em có tên là Chanpa, có nghĩa là “hiền ḥa”. Em nói đây là lần đầu tiên em đón một đoàn du khách gốc Việt Nam, em nói tiếng Anh rất chuẩn, rất hay, giọng British hẳn hoi, nhiều bà con Việt Kiều ngạc nhiên v́ em chưa bao giờ ra khỏi đất nước Tây Tạng, em chưa đến Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, giáp ranh với khu tự trị Tây Tạng, c̣n nói chi đến các thành phố khác, em chỉ biết qua truyền h́nh. Em nói em học tiếng Anh qua đài truyền h́nh BBC...(một thời Tây Tạng cũng bị người Anh chiếm đóng vào đầu thế kỷ 20).

         

Tây Tạng là một dăy cao nguyên nằm trên độ cao 4,000 mét so với mặt biển, phía Tây Nam là dăy núi cao nhất thế giới: dăy Himalaya. Tây Tạng là đất nước không thể dung nạp những người có thể chất yếu đuối, khí hậu ở đây cực kỳ lạnh, và đời sống hết sức khó khăn. Để du lịch Tây Tạng, sức khoẻ là mối quan tâm hàng đầu đối với du khách. Không khí loăng, áp suất không khí thấp, sự giảm thiểu oxy đi vào óc và các bộ phận trọng yếu khác trong cơ thể là nguyên nhân gây nên các triệu chứng nhức đầu, khó thở buồn nôn, tay chân uể oải. V́ vậy sau khi nhận pḥng, chúng tôi bắt buộc phải nghỉ ngơi hoàn toàn, không được làm ǵ khác, không đi lên xuống trong khách sạn, không nói chuyện nhiều, để có thể thích nghi dần với thời tiết, độ cao và không khí loăng ở đây. Bầu trời Tây Tạng đẹp nhất vào tháng 5 và 6, trong xanh, nhiệt độ ban ngày khoảng 20 độ C, không một gợn mây, cực kỳ tinh khiết và thời gian dường như trôi rất chậm.

Sáng hôm sau, chúng tôi đến thăm cung điện Potala ( núi Phật ), nằm ngay khu trung tâm của thủ đô Lhasa, thủ đô này thành lập vào thế kỷ thứ 7 bởi vua Songtsam Gampo, người có công thống nhất các bộ tộc Tây Tạng, cũng vào thời điểm này Phật giáo được truyền vào Tây Tạng. Potala là một cung điện khổng lồ được xây trên một ngọn đồi, cơ quan đầu năo để giải quyết mọi công việc chính trị cũng như tôn giáo xứ Tây Tạng. Sau một trận hoả hoạn, Potala được xây lại trên nền của cung điện cũ vào thế kỷ 17, dời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, quần thể kiến trúc rộng khoảng 41 hectares, 13 tầng và cao khoảng 117 mét, sơn bằng hai màu đỏ đậm và trắng. Sang thế kỷ thứ 8, Vua Trisong công bố Phật giáo là quốc giáo, một vị tu sĩ Phật giáo từ Ấn Độ là Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) làm quốc sư. Vị này tu theo Mật Tông nên Phật giáo Tây Tạng đặt trên cơ sở Mật Tông.

              

Từ cung điện Potala, gần đó có một ngôi đền cổ xưa rất liêng thiêng Đền Jokhang, với bức tượng Phật Tổ Thích Ca bằng vàng ṛng, nặng cả tấn, tặng phẩm hồi môn của công chúa Bhrikuti Devi của Vương Quốc Nepal. Vua Songtsam Gampo kết hôn vơi công chúa xứ Nepal và công chúa Văn Thành đời Đường, nước Trung Hoa, vua cho xây hai ngôi đền Jokhang và Gyasa để các hoàng hậu hành lễ. Chúng tôi chứng kiến ḷng thành kính của các tín đồ Tây Tạng họ nằm sát vóc để cầu nguyện họ xua tay không cho phép chúng tôi quay phim hay chụp ảnh. Trong đền,ŕ rào tiếng niệm chú của các tín đồ cầm một pháp cụ có tay quay h́nh bánh xe (pháp luân), quay ṿng theo chiều kim đồng hồ. Tây Tạng là đất nước của các thần chú liêng thiêng. Người ta nói nếu nước Anh là một quần đảo, trẻ con sinh ra biết bơi trước khi biết đi, th́ trẻ con Tây Tạng biết đọc thần chú trước khi biết nói chuyện. Câu thần chú nổi tiếng của Tây Tạng là “ Om Mani Peme Hung” ( đọc theo âm Tây Tạng) đây gọi là “lục tự đại minh chân ngôn”, tiêu biểu cho Tâm từ bi và ân sủng của các chư Phật nhất là ân sủng của Quan Thế Âm, vị Phật của ḷng bi mẫn. Khi tụng sáu âm của thần chú này sẽ” tịnh hoá” sáu phiền năo gốc gồm kiêu mạn, ganh tị, dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ biểu hiện của vô minh khiến chúng ta tạo ác nghiệp của thân, khẩu, ư.

              

Đọc thần chú và quay bánh xe pháp ( pháp luân ) là nghi thức “tịnh nghiệp” của người Tây Tạng. Những pháp luân này được thấy nhiều nhất ở trước đền Jokhang, từng dăy đèn và nến lửa thắp lung linh, các bánh xe luân chuyển, ḍng người đi ṿng quanh trước dăy đèn, người Tây Tạng gọi đây là “Con đường giải nghiệp”. Theo họ, mọi người đều mang theo ḿnh các nghiệp ác lẫn nghiệp thiện tác tạo từ vô thỉ kiếp đến hiện tại, cho nên cần phải giải các nghiệp ác, để sau khi chết đi được tái sinh vào cơi tốt lành. Nơi đây có một khu chợ trời khá lớn gọi là chợ Bakhor bán các thức ăn, trái cây, quà lưu niệm, sản phẩm thủ công mỹ nghệ địa phương, đa số là bánh xe pháp luân, các tượng Phật đủ loại, các ṿng dây đeo bằng đá, bằng bạc. Dân Tây Tạng hiền lành chất phát, ngay cả dân “chợ búa “, tuy cũng ảnh hưởng chút ít sự “ láu cá” của người Hán đến làm việc buôn bán ở các phố lớn của thủ đô Lahsa, nói chung họ c̣n giữ nhiều bản sắc dân tộc, phụ nữ cao to, nhưng thô kệch, không đẹp, da rám nắng. không khí khô nên du khách thường bị “chảy máu cam” bởi các vi mạch máu ở mũi hay bị vỡ v́ ḍn. Rất đúng, khi nói người Tây Tạng được tạo bởi : ánh nắng mặt trời, gió và tuyết. Khí hậu khắc nghiệt và thay đổi thất thường, bốn mùa trong một ngày, đất đai cằn cỗi, đến Tây Tạng mùa xuân chúng tôi không thấy hoa nở, chỉ thấy cánh đồng đại mạch thưa thớt màu xanh lục. Linh vật ở đây là con trâu núi gọi là con Yak, con trâu núi này phục vụ dân Tây Tạng tất cả những ǵ mà nó có. Người ta dùng nó làm phương tiện chuyên chở người và đồ vật, sữa, bơ, thịt để ăn, ḅ c̣n để dùng thắp đèn, lông làm áo, khăn quàng, da làm giày ngay cả phân con trâu núi này cũng được phơi khô trộn với cỏ để làm chất đốt hoặc ḥa cùng với đất tô vách nhà. Các ngôi nhà ở đây thường xây bằng đất và đá.

              

Tôi luôn tự hỏi tại sao có một dân tộc chấp nhận một cuộc sống khó khăn, khép kín, lănh đạm thậm chí thù nghịch với những ǵ ngoại lai, văn minh Tây Phương như dân tộc Tây Tạng?

Sự thật là người Tây Tạng đă thấm nhuần trong máu trong xương tủy của họ một triết lư sống xem nhẹ cái gọi là“văn minh vật chất “, mà chú trọng, vun đắp cho cuộc sống tâm linh, tinh thần.

    

Phật giáo, và đặc biệt Phật giáo Tây Tạng chấp nhận luân hồi như một định luật của vũ trụ, bất cứ ai cũng đă sống nhiều kiếp, chết nhiều lần, và đầu thai trở lại, cho nên sự chết không là điều đáng sợ hăi, thân xác con người theo thời gian cũng phải hư hoại, ră rời, cơi trần mà chúng ta đang sống không phải là cơi duy nhất trong vũ trụ mà c̣n có vô số cơi giới khác nữa. Như vậy một xác chết không có giá trị ǵ cả nên người Tây Tạng không có tục lệ chôn cất hay hoả táng như các nước khác mà mang xác ra để trên núi làm mồi cho chim ăn. Phong tục “điểu táng” này có từ lâu ở Tây Tạng, đất đai ở đây cằn cỗi, đào xuống chỉ thấy toàn là đá, không chôn cất được. Gỗ là nguyên liệu hiếm quư nên không thể “hoả táng”. Tây Tạng cũng không có sông lớn chảy ra biển để “thuỷ táng”. Tóm lại chỉ có một cách là cắt xác người ra là nhiều mảnh làm mồi cho chim ăn. Phong tục này được thực hiện bí mật tối đa, có một phóng viên nước ngoài ṭ ṃ đă vào làng mạc xa xôi, định quay phim cảnh điểu táng này, chắc mẩm là sẽ có một phóng sự ảnh hấp dẫn đắt giá nhưng việc không thành th́ bị bắt giam sau đó bị đuổi về nước.

              

Ngày thứ hai ở Tây Tạng, chúng tôi rời Lhasa để đi đi Shigatze, thủ phủ của tỉnh Tsang, lănh địa truyền thống của các đức Ban Thiền Lạt Ma (Ponchen Lama), tức là các vị thầy của các đức Đạt Lai Lạt Ma. Đây là cuộc hành tŕnh bằng xe dă ngoại kỳ thú và hồi hộp nhất. Chúng tôi đi theo con đường thông thương với Ấn Độ đă được mở từ thế kỷ thứ 5, vượt qua hai ngọn đèo Kambala và Karola có độ cao trên 5000 mét, ngắm nh́n con sông Yarlung Tsanpo, dài 2057 km là con sông cao nhất thế giới, như một dăi lụa bạc ở phía Bắc, cùng mặt nước trong xanh như màu ngọc bích của hồ Yamdrok cũng là hồ nước mặn cao nhất thế giới. Người ta nói chính nơi đây hàng triệu năm trước hai lục địa nằm trên biển đă va vào nhau, tạo nên các rặng núi cao và đẩy nước biển thành hồ trên núi. Từ đây chúng tôi có thể nh́n thấy dăy núi Namjagbawa đỉnh phủ tuyết trắng lấp lánh trong ánh nắng nh́n xa như dát vàng. Phong cảnh thật là đẹp nhưng xe phải đi qua những vách núi cheo leo, dưới là vực thẳm, chúng tôi sợ quá, ai nấy nhắm mắt không dám nh́n, trong xe lâm râm tiếng niệm Phật. Quả thật chưa bao giờ tôi cảm thấy sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ đến run sợ. C̣n Chanpa, cậu bé hướng dẫn của đoàn chỉ nh́n chúng tôi cười và nói rất nhẹ nhàng: “Thưa quư vị, xin quư vị hăy mở mắt ra nh́n màu xanh của đất nước chúng tôi, màu xanh này rất đặc biệt v́ nó có pha một chút màu tím, nó thay đổi theo ánh nắng mặt trời, nó phản chiếu màu nước của hồ, đó là một màu xanh không t́m thấy ở bất cứ nơi đâu. Quư vị đừng sợ hăi, tôi đă đi trên con đèo này nhiều lần từ lúc tôi 7 tuổi, tôi chưa nh́n thấy xảy ra một tai nạn nào. Quư vị đến đây với tấm ḷng thành, Đức Phật sẽ che chở cho quư vị.”

              

Cảm ơn Chanpa, chúng tôi thật sự xúc động và cảm thấy trong ḷng rạt rào một sự b́nh yên, vô uư thanh khiết mà một cậu bé 23 tuổi, người con của Tây Tạng, vùng đất nghèo nàn lạc hậu, huyền bí xa xôi đang “truyền” cho chúng tôi, những du khách đa phần đến từ nước Mỹ biểu tượng của một nền văn minh vật chất thuộc loại siêu cường. Nghe lời em, chúng tôi lục đục bước xuống xe tay cầm b́nh oxy nhỏ kích thước như b́nh keo xịt tóc để... thở, giá mỗi b́nh khoảng 12 Nhân dân tệ, hơn 1 USD. Ở đây không khí cực loăng, không có những b́nh này, oxy không đủ lên năo, có người bị xây xẩm chóng mặt và có thể ngất xỉu. Đứng trên một con đèo cao gần 6000 mét chung quanh là màu xanh lục của nước hồ, cây cỏ, màu xám của đá, màu vàng của đất và màu trắng của núi tuyết và trên nữa là bầu trời xanh biếc, không một gợn mây, không thể diễn tả hết cảm giác diệu kỳ trong tôi lúc ấy, trong một “sát – na”, một chớp mắt, tôi cảm thấy tôi, thật nhỏ bé đang hoà tan trong vũ trụ bao la, không c̣n biên giới giữa tôi và đất trời. Tâm tôi thật b́nh an, b́nh an tuyệt đối.

O Shigatze, hôm sau chúng tôi có dịp đi thăm Đại Tu Viện Tashihunpo, đi theo con đường hành hương dẫn đến bức tượng cao chín tầng treo Tranh Phật (Thangka) khổng lồ và thăm khu chợ trời lớn nhất Shigatze, buổi tối có chương tŕnh ca nhạc dân tộc Tây Tạng và ẩm thực kiểu Tây Tạng.

Thú thật, những ngày qua, chúng tôi ăn uống theo thực đơn Quảng Châu, Tứ Xuyên, lần đầu tiên được chiêu đăi buffet Tây Tạng, ai cũng háo hức nhưng quả là không có ǵ đặc sắc, ngon lành cả, rất ít rau củ tươi, món chính là thịt con Trâu núi, nướng, xào, rô ti, mỡ trâu béo đến phát ớn, thức uống là trà sữa trâu thêm bơ, đường, các thức ăn này có ích cho dân địa phương v́ nhiều calorie, chống được lạnh, c̣n chúng tôi về khách sạn phải ăn thêm ḿ gói: dễ nuốt và ngon hơn nhiều.

Tuy nhiên, chương tŕnh văn nghệ rất đáng xem. Diễn viên nữ, cao to, khoẻ, giọng tenor cao vút, tuy không chuyên nghiệp lắm nhưng được cái thân thiện, nhiệt t́nh tŕnh diễn các điệu múa dân tộc Tạng cùng với các loại đạo cụ, nhạc cụ khác nhau khá độc đáo.

Chúng tôi trở lại thủ đô Lahasa tiếp tục thăm Cung Norbulingka, cung điện mùa hè của các Đức Đạt Lai Lạt Ma, dạo chơi trong Vườn Bồ Đề thanh tịnh, đại Tu viện Sera vào vườn Tranh Luận để xem các vị Lạt ma Tây Tạng tranh luận Thần học với nhau theo cách tụ tập rất ngoạn mục, độc nhất vô nhị. Một vị ra câu hỏi,vị kia trả lời nếu trả lời đúng và hợp lư th́ ḷng bàn tay người này vỗ vào ḷng bàn tay người kia. Khu vườn khoảng vài ba chục vị tu sĩ trở nên xao động, vui nhộn, bởi những cánh tay đưa lên và tiếng vỗ của ḷng bàn tay chan chát, và cả tiếng cười ḍn dă của họ, tất nhiên chúng tôi chẵng ai hiểu họ nói ǵ nhưng theo Chanpa đây là những câu hỏi thuộc về triết học, tôn giáo Tây Tạng và các nước, cách tu tập này chắc cũng giống như cách học sinh “truy bài” trong trường.

Tám ngày ở Tây Tạng đă trôi qua, đă đến lúc chúng tôi tạm biệt Chanpa, mọi người đều xúc động, những ngày qua em đă đón tiếp, phục vụ chúng tôi thật chu đáo bằng một phong cách lịch sự mà không kiểu cách, thân thiện mà rất ư tứ. Như thường lệ, lúc tạm biệt cả đoàn đều có nhả ư tặng tiền “ trà nước” ( tip, hay pourboire ) cho hướng dẫn, chúng tôi góp lại khoảng hơn 100 USD tặng em, em tỏ vẻ ái ngại, miệng luôn nói :

“ Xin đừng bận tâm, đây là công việc của tôi, tôi được vinh dự phục vụ quư vị “. Cuối cùng, anh trưởng đoàn cởi cái áo khoác anh đang mặc trên người để tặng em, ( cái áo cũng không mới mà cũng không đẹp lắm, ) vậy mà em nở nụ cười thật tươi, hàm răng trắng bóc nói với anh Trưởng đoàn: “ Cái áo này có hơi ấm của anh, chúng ta đă là bạn, tôi xin nhận “.

Trước khi bước lên xe, tôi nh́n vào mắt em, hỏi em rất chân thành :

"Chanpa, em có ư định trở thành tu sĩ không ?". Vẫn nụ cười trẻ trung, và cái nheo mắt hóm hỉnh ẩn sau đôi kính cận, em nói : “ Life is not frequent, everything may happen “ ( tạm dịch : cuộc sống vô thường, tất cả mọi điều đều có thể xảy ra ). Chanpa ơi, em mới 23 tuổi mà sao em “ngộ” được điều này sớm thế, điều mà sau rất nhiều năm, nhiều đau khổ mất mát tôi mới “sáng “ ra, em có biết không ? Chúng tôi vẫy tay chào em, chào đất nước linh thiêng của em, chúng tôi rời “ nóc nhà của thế giới “ trong màn sương mù và cơn mưa rào hiếm hoi của mùa xuân Tây Tạng. Từ Lhasa, chúng tôi bay đến Thành Đô, rồi đổi máy bay đi Quảng Châu, nơi đây chúng tôi chia tay nhau,người về phía Nam trở lại quê nhà, người bay ngược lên phía Bắc đến Sài G̣n, nhưng là một Sài G̣n nhỏ (Little Saigon) trong ḷng nước Mỹ.

         

Sau chuyến đi Tây Tạng, những suy nghĩ về con người,về cuộc sống và về cả thế giới bao la này ở nơi tôi có nhiều thay đổi,thậm chí thay đổi rất lớn. Tôi không thể diễn tả mà chỉ có thể cảm nhận sự thay đổi diệu kỳ đó như một người uống nước chỉ tự ḿnh biết nóng hay lạnh. Nghĩ đến sự ra đi vĩnh viễn của những người thân yêu nhất là cha mẹ tôi, tôi không c̣n bi lụy, suy sụp sức khoẻ lẫn tinh thần, tôi an tâm về nơi cha mẹ tôi đang đi và sẽ đến. Gần 80 năm thọ mạng trên thế gian này, mẹ tôi đă gieo duyên lành, tạo nghiệp tốt, tôi chắc chắn bà sẽ tái sanh vào cơi tốt lành.

Mỗi buổi sáng thức dậy, được nh́n thấy mặt trời, được hít thở không khí trong lành, tôi vui mừng là ḿnh có thêm một ngày để sống, bởi tôi hiểu mỗi ngày qua đi, cuộc sống ngắn lại, được làm thân người, được có Cha Mẹ hiền đức, có Thầy Cô ân cần dạy bảo và sau này dược các vị Ân Sư hướng dẫn, tu tập những điều Thiện, được hiểu Đạo (thế gian và cả xuất thế gian), thật là phước báu, muôn kiếp khó gặp.

KIM YẾN ( bài viết ) & KỲ NAM (ảnh chụp )