|
|
Shiba
Ryotaro
Tác gia
Hiện đại Nhật Bản

Shiba Ryotaro
(1923-1996) là tác gia bậc thầy trong văn học đại chúng Nhật Bản,
tác giả của những bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng
nhất ở Nhật. Ông ngưỡng mộ sử gia Trung quốc Tư Mã Thiên nên lấy
bút hiệu Shiba Ryotaro (Tư Mã Liêu
Thái Lang)
hàm ý là một hậu sinh cách xa Tư Mã Thiên theo nghĩa thời gian,
địa lý hay tài năng.
Shiba Ryotaro
tên thật là Fukuda Tei-ichi, sinh năm 1923 ở Osaka, con thứ của
một chủ nhà thuốc. Năm 1940, ông vào học khoa Ngôn ngữ Mông Cổ ở
Đại học Ngoại ngữ Osaka (đọc Sử Ký
của Tư Mã Thiên vào thời kỳ này).
Năm 1943, bị trưng
binh, sang Mãn Châu học trường huấn luyện quân sự và trấn đóng với
chức tiểu đội trưởng. Năm 1945, trở về Nhật, đóng ở tỉnh Niigata
rồi Tochigi.
Từ năm 22 tuổi, bắt
đầu viết văn dưới hình thức thư cho chính mình. Sau Thế chiến, vào
làm ký giả cho tờ Shin Sekai rồi Nhật báo Sankei, ở đấy đã có
nhiều bài viết xuất sắc, và thăng lên các chức vụ cao cấp.
Năm 1955 xuất bản "Meigen
Zuihitsu - Sarari-man" (Tùy bút danh ngôn cho các tư chức)
với tên thật. Bút hiệu Shiba Ryotaro bắt đầu được dùng từ tác phẩm
"Perusha no genjutsushi" (Nhà ảo thuật xứ Ba Tư) năm 1956
được giải thưởng Kodan Club, mở đầu giai đoạn được độc giả yêu
chuộng tán thưởng. Cùng năm đó, đã sáng lập tạp chí văn học "Kindai
setsuwa" (Cận đại thuyết thoại).
Năm 1959, xuất bản "Fukuro
no shiro" (Thành quách của chim cú) được Giải Naoki, giải
thưởng Văn học cao quý nhất chung cho các thể loại văn học của
Nhật Bản. Hai năm sau, ông nghỉ việc ở toà soạn Nhật báo Sankei,
trở thành tác gia chuyên nghiệp.
Thoạt đầu, ông đã
viết những tiểu thuyết truyền kỳ và thử viết cả truyện trinh thám
nữa, nhưng từ năm 1962, các bộ truyện "Ryoma ga yuku" (Long Mã
lên đường), "Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy lên) đã được
nhiệt liệt hoan nghênh, mở đầu sự nghiệp lớn của một tác gia
truyện lịch sử bậc nhất Nhật Bản.
Năm 1966, được giải
Kikuchi Kan; 1972, được giải Yoshikawa Eiji với trường thiên "Yo
ni sumu hibi" (Những ngày sống trên đời); 1976, được giải
thưởng của Viện Nghệ thuật Nhật Bản; 1981, trở thành hội viên của
Viện Nghệ thuật Nhật Bản; 1991, được vinh danh là người có công
lao văn hoá đối với quốc gia; 1993 được Huân chương Văn hoá.
Năm 1996, chết vì vỡ
động mạch ở bụng, hưởng dương 73 năm. Lễ truy điệu ông đã có 3
ngàn người tham gia, và ông được truy tặng hàm Tòng Tam phẩm. Năm
1997, giải thưởng văn học Shiba Ryotaro được thiết lập, rồi năm
2001, viện bảo tàng Shiba Ryotaro được khánh thành.
Số in tất cả các tác
phẩm của ông ở Nhật Bản đã đạt mức vài trăm triệu cuốn.
Nhiều tác phẩm trường
thiên của ông: "Kunitori monogatari" (Chuyện cướp nước), "Ryoma
ga yuku" (Long Mã lên đường), "Moeyo ken" (Kiếm ơi, cháy
lên), "Saka no ue no kumo" (Mây trên đường dốc),... đã
được thực hiện thành những bộ phim lớn như loại phim-bộ Taiga
Drama (Đại Hà Drama - phim kịch tràng
giang, cần nhiều tiền quay và giờ chiếu)
trình
chiếu trên đài Truyền hình Quốc gia Nhật Bản NHK. Ông còn viết
nhiều tiểu luận về lịch sử địa dư được yêu thích, trong đó có bộ
sách những tiểu luận du ký "Kaido wo yuku" (Đi trên đường cái
quan) đồ sộ, ghi lại những tư liệu, cảm nghĩ, nhận định về các
nơi ông đã đến thăm ở Nhật Bản và nước ngoài.
Ông là một tác gia có
sức sáng tác mạnh, đọc nhiều hiểu rộng, có quan sát và suy luận
tinh tế, đã đưa ra nhiều quan điểm mới có tính thuyết phục về
những sự kiện lịch sử Nhật Bản, đặc biệt là các giai đoạn loạn lạc,
chuyển biến kinh thiên động địa như thời Chiến quốc, cuối thời Mạc
phủ, hay thời Minh Trị Duy Tân.
Trọng tâm của phần
lớn các tác phẩm của ông là những anh hùng thời loạn, tự lập thân
từ cảnh ngộ khốn cùng, có cá tính mạnh mẽ, đầu óc sắc bén và hành
động cách mệnh. Ông mô tả những nhân vật anh hùng ấy với lòng
ngưỡng mộ lẫn yêu mến thân cận, truyền nhiễm sang độc giả. Ông
chuộng lối dùng sự kiện để mô tả nhân vật chứ không tập trung
trình bày tâm lý hay cá tính. Chi tiết chính sử luôn luôn kèm theo
những giai thoại dân gian, truyền thuyết, cả những kinh nghiệm và
kiến giải sử quan của tác giả giúp cho tác phẩm thêm sống động.
Lắm lúc, những chi tiết bên lề hay sự việc xảy ra trong thời hiện
đại có dính dáng ít nhiều đến nhân vật hay con cháu của họ cũng
được đưa vào, như để giữ sự liền lạc giữa lịch sử và hiện thực.
Các địa phương, các dữ kiện địa lý được ông điều tra nghiên cứu
thật kỹ để dùng làm bối cảnh rất thuyết phục cho câu chuyện ông kể.
Có thể nói Shiba
Ryotaro có sắc thái học giả đậm đà hơn là nhà tư tưởng, bởi ông
chuộng việc khảo chứng sự thật lịch sử bằng tư liệu, di tích, di
vật, kiến văn, hơn là lý thuyết hay quan niệm về lịch sử. Bất bình
với lập trường của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai, ông thiên về
chủ nghĩa hợp-lý-hoá đối lập với những xu hướng giải thích lịch sử
ra dáng triết học theo chủ nghĩa thần bí mà ông cho là phi luận lý
và bất hợp lý. Vì thế mà ông ưa chuộng những nhân vật thể hiện
được chủ nghĩa hợp-lý-hoá ấy, chẳng hạn trong tác phẩm "Moeyo ken"
(Kiếm ơi, cháy lên), tuy cùng là đầu não của Shinsengumi
(đội võ trang truy diệt chí sĩ Cần
Vương cuối thời Mạc Phủ)
cả, nhưng nhân vật chủ tướng Kondo Isami đến cuối đời vẫn còn băn
khoăn về sự lựa chọn giữa tư tưởng Cần Vương
(phò Thiên hoàng)
và Tá Mạc (phò Mạc Phủ Tokugawa),
không được Shiba Ryotaro chú trọng bằng nhân vật phó tướng
Hijikata Toshizo là người có đầu óc thực dụng triệt để.
Trong một cuộc phỏng
vấn của đài ti-vi NHK, ông cho biết thời trẻ đã thấy tình trạng
Nhật Bản chiến bại mà mang nghi vấn tại sao người Nhật Bản lại trở
nên kém khôn ngoan như thế, hẳn là ngày xưa phải khôn ngoan hơn,
do đó từ năm 22 tuổi (1945),
đã bắt đầu viết văn dưới hình thức thư cho chính mình, trong cố
gắng tìm hiểu bản chất của người Nhật Bản từ những sự kiện và nhân
vật lịch sử, từ đó mới có các tác phẩm "Ryoma ga yuku" (Long Mã
lên đường), về thời động loạn dẫn đến Minh Trị Duy Tân, hay "Saka
no ue no kumo" (Mây trên đường dốc) về chiến tranh Nga Nhật,...
Trước Shiba Ryotaro,
tiểu thuyết lịch sử Nhật Bản phần nhiều nhắm vào mục đích mua vui
cho độc giả bằng cách cường điệu những chi tiết ly kỳ thậm chí
huyền thoại hoá. Shiba Ryotaro đặc biệt chú trọng việc khảo chứng,
dùng sử liệu khả tín yểm trợ để tiểu thuyết lịch sử của ông có thể
được cả giới độc giả trí thức Nhật Bản tin cậy mà thưởng lãm. Ông
được biết là tác gia điều nghiên dẫn dụng một số tư liệu lớn lao
cho mỗi tác phẩm của mình. Tác phẩm của ông, nhất là các bộ phim
ti-vi tràng giang trên đài NHK, đã khiến độc giả, khán giả ưa
chuộng và tin tưởng đến mức dễ đồng lòng với lối giải thích lịch
sử nay đã nổi tiếng là "sử quan Shiba". Và mặc dù Shiba
Ryotaro đã khẳng định tác phẩm của mình là "tiểu thuyết", nhưng
nhiều chi tiết truyền thuyết trong tác phẩm của ông lắm khi cũng
được độc giả tin tưởng như sự thực lịch sử, là điều mà các nhà phê
bình lên án, nhưng cũng phần nào cho thấy mức độ thành công của
Shiba Ryotaro là một tác gia tiểu thuyết lịch sử.
Shiba Ryotaro là tác
gia được giới doanh gia Nhật Bản hâm mộ nhất; họ tìm thấy trong
tác phẩm của ông sự khích lệ, động viên tinh thần, và nhiều chiến
thuật chiến lược có thể áp dụng vào kinh doanh.
Ông là người có tài
biện thuyết, thường được mời đến các buổi đàm thoại, hội thảo văn
học, lịch sử. Lòng ham mê thu tập tư liệu của ông đã trở thành
huyền thoại. Người ta đồn khi nào Shiba Ryotaro tìm kiếm tư liệu
về đề tài gì thì sách cũ về đề tài đó biến mất hết từ các nhà sách
cũ. Có lần ông đã mang xe tải nhỏ đến tiệm sách cũ, vào trong tiệm
lục lọi, đọc loạn lên rồi chất đống lên xe tải mà mua về.
Shiba Ryotaro đã xuất
bản hàng trăm tác phẩm, trong đó vài chục tác phẩm đã được quay
thành phim-bộ ti-vi và phim chiếu ngoài rạp.
"Ryoma ga yuku"
(Long Mã lên đường) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Shiba
Ryotaro, viết về con người và cuộc đời của nhà cách mệnh Sakamoto
Ryoma (Long Mã),
một trong
những chí sĩ đã mở ra kỷ nguyên Duy Tân, trong bối cảnh cuối thời
Mạc Phủ Tokugawa, áp lực của các nước ngoài khuấy động xã hội và
thể chế chính trị của Nhật Bản, khiến nảy sinh hai khối tư tưởng
và thế lực Cần Vương Nhương Di (phò
Thiên hoàng đánh đuổi người ngoại quốc)
đối lập với Tá Mạc (phò Mạc Phủ
Tokugawa nhân nhượng ngoại quốc).
Ryoma đã là một sĩ phu của phiên trấn Tosa, chuyển từ việc lập
thân bằng kiếm thuật sang việc sáng lập tập đoàn mậu dịch tổng hợp
Kaientai, qua chuyện kinh doanh mà liên kết các phiên trấn
Satsuma, Choshu, Tosa,... xây dựng thành liên minh Cần Vương, cuối
cùng đánh đổ Mạc Phủ, chấm dứt gần 300 năm cai trị của nhà
Tokugawa, mở đường cho Minh Trị Thiên hoàng bắt đầu công cuộc Duy
Tân. Ryoma đã sớm nhận thức được là phải bỏ ý hướng đánh đuổi
người ngoại quốc mà mở cửa du nhập học vấn, kỹ thuật Tây phương
vào Nhật Bản. Ông dâng "Thuyền trung bát sách" (8 kế sách nghĩ
từ trong thuyền) làm nền tảng cho các cải cách chính trị kinh
tế thời Minh Trị Duy Tân. Tư tưởng Cần Vương của Ryoma còn hàm ý "vạn
dân bình đẳng", dưới Thiên hoàng chỉ có thần dân, không còn sự
phân chia giai cấp "sĩ nông công thương" ngặt nghèo thời trước nữa.
"Moeyo ken" (Kiếm
ơi, cháy lên) là chuyện đời của Hijikata Toshizo, phó tướng
của Shinsengumi là đội võ trang do Mạc Phủ chiêu mộ các võ sĩ mất
chủ tướng (ronin)
mà lập ra để truy lùng tiêu diệt các chí sĩ Cần Vương mượn cớ đánh
đuổi người ngoại quốc để mưu đồ đánh đổ Mạc Phủ, thực tế là đã
khuấy động kinh đô Kyoto. Về sau, Mạc Phủ yếu thế phải giao trả
chính quyền lại cho triều đình, rồi bị thảo phạt, quân Mạc Phủ
thua trận, phải chạy về Edo. Chiến tranh giữa quân triều đình thảo
phạt và quân cựu gia thần của Mạc Phủ bùng nổ khắp vùng phía đông
Nhật Bản; Kondo Isami, chủ tướng của Shinsengumi đầu hàng và bị xử
tử; phó tướng Hijikata Toshizo lưu lạc theo bại binh phe Mạc Phủ
lên Hokkaido tiếp tục kháng chiến rồi tử trận ở đấy.
"Yo ni sumu hibi"
(Những ngày sống trên đời) viết về thầy trò Yoshida Shoin và
Takasugi Shinsaku. Yoshida Shoin là một trong những nhà trí thức
nổi danh nhất cuối thời Mạc Phủ, đã mở trường dạy binh học và
chính trị, đào tạo nhiều chí sĩ sau này đã góp sức hữu hiệu vào
việc đánh đổ Mạc Phủ và đổi mới nước Nhật. Takasugi Shinsaku là
học trò cưng của Yoshida Shoin, đã cải tiến quân đội phiên trấn
Choshu trong liên minh Cần Vương đánh đổ Mạc Phủ, và khởi đầu việc
lập các lực lượng võ trang từ những người chí nguyện không thuộc
giai cấp võ sĩ. (Ito Hirobumi 4 lần
làm Thủ tướng Nhật Bản, cũng là học trò của Yoshida Shoin).
"Kashin" (Thần hoa)
là chuyện đời của Omura Masujiro
(Murata Zoroku),
con của một thầy lang vườn ở Suo, phiên trấn Choshu, đã theo đuổi
y học Hà Lan, sau này vừa dạy kiến thức Tây phương vừa xây dựng,
cải tiến binh bị của phiên trấn Uwajima, rồi trở thành phiên sĩ
(sĩ phu, võ sĩ có chức vị)
của phiên trấn Choshu, làm cố vấn cải cách binh bị theo kiểu Tây
phương. Thời Minh Trị, làm đến chức Thứ trưởng Bộ Hải-Lục quân,
ông được xem là người khai sáng quân đội hiện đại Nhật Bản.
"Kunitori monogatari"
(Chuyện cướp nước) thuật chuyện thời Chiến quốc, Nhật Bản
loạn lạc vì nạn các sứ quân tranh đoạt lãnh thổ, Saito Dosan lập
thân từ một nhà sư chuyển sang buôn dầu rồi cướp chính quyền xứ
Mino, thành Lãnh Chúa một phiên trấn lớn. Sau này con rể của ông
là Oda Nobunaga đã thực hiện được giai đoạn đầu của việc thống
nhất Nhật Bản, chấm dứt thời Chiến quốc của các sứ quân.
"Saka no ue no kumo"
(Mây trên đường dốc) là chuyện lớp người trẻ Nhật Bản thời
Minh Trị Duy Tân đã ý thức được nghĩa vụ xây dựng quốc gia đồng
thời xây dựng chính mình, trong hoàn cảnh lịch sử cam go khi nền
tảng quốc gia cũ đã đổ vỡ hoàn toàn. Với khí phách của những người
tiên phong khai phát, họ đã cần mẫn và dũng cảm đối đầu với mọi
khó khăn để khai thông những đường tiến mới, cải cách hải quân, kỵ
binh, văn học nghệ thuật hiện đại, đặt nền tảng mới xây dựng một
quốc gia Nhật Bản tân tiến. Chiến tranh Nga-Nhật chiếm một phần
quan trọng trong tác phẩm, như thực chứng cho thành quả của công
cuộc Duy Tân. Những quan điểm của tác giả trình bày trong tác phẩm
này (sử quan Shiba) rằng chiến tranh Nga-Nhật thực chất là
chiến tranh tự vệ của Nhật Bản; trong trận tấn công Lữ Thuận, sở
dĩ quân Nhật thiệt hại nặng đến như thế là vì tướng chỉ huy và các
tham mưu bất tài,...... đã gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên
cứu lịch sử.
.........
Nhiều tác phẩm của
Shiba Ryotaro đã được dịch và yêu thích ở Hàn quốc, Trung quốc.
Một số tác phẩm của Shiba Ryotaro đã được dịch ra tiếng Anh, trong
đó có "Drunk as a Lord: Samurai Stories" (2001), "Kukai the
Universal: Scenes from His Life" (2003), "The Last Shogun: The
Life of Tokugawa Yoshinobu" (2004), "The Tatar Whirlwind: A Novel
of Seventeenth-Century East Asia" (2007),...
Shita Ryotaro để lại
cho đời một số lượng đồ sộ những tác phẩm dài hơi, xây dựng công
phu, vừa có giá trị tư liệu lịch sử vừa có giá trị nghệ thuật, lẫn
giải trí, xứng đáng là tác gia hạng nhất của Nhật Bản về tiểu
thuyết lịch sử.
Phạm Vũ Thịnh
Sydney 03-2008
t4phamvu@hotmail.com
Tham khảo :
[1] Shiba
Ryotaro - Wikipedia : bản tiếng Nhật
http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%8F%B8%E9%A6%AC%E9%81%BC%E5%A4%AA%E9%83%8E
[2] Ryotaro
Shiba - Wikipedia : bản tiếng Anh : http://en.wikipedia.org/wiki/Ryotaro_Shiba
[3] Shiba
Ryotaro Dokuhon : Gendai sakka kenkyukai (Hội nghiên cứu tác
gia hiện đại - bản Shiba Ryotaro), Tokuma Bunko xuất bản 1996.
[4] Shiba
Ryotaro ni aitai (Muốn gặp Shiba Ryotaro - chương trình của đài
NHK) :
http://www.youtube.com/watch?v=x1YdaTMJvNo
[5] Saka no ue
no kumo - Wikipedia :
http://ja.wikipedia.org/wiki/%E5%9D%82%E3%81%AE%E4%B8%8A%E3%81%AE%E9%9B%B2
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ý của dịch giả
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com"
Cảm tưởng, ý kiến xin gởi về
t4phamvu@hotmail.com
|
|