NGHI ÁN

DƯƠNG QUƯ PHI CHẾT Ở NHẬT BẢN ?

 Phạm xuân Hy

Dương Quư Phi là một trong "Tứ đại mỹ nhân"của Trung Quốc.

Người TQ không ai là không biết đến. Và không biết bao nhiêu là sách vở, bút mực, thi ca, từ xướng, ở TQ cũng như ngoại quốc, viết về cuộc đồi đầy tính truyền kỳ và mối t́nh diễm lệ, đầy bi đát của nàng với vua Đường Huyền Tông.

Có người đồng t́nh thương cảm. Có người chỉ trích trào phúng. Và có người bôi bác, vẽ rắn thêm chân, tưởng tượng thô tục, bịa đặt mối t́nh yêu đương dâm dật giữa Dương Quư Phi và An Lộc Sơn. (Ngọc Phi Mị Sử 玉 妃媚 史. )

Sự tích về cuộc đời Dương Quư Phi, có thể nói là được phổ biến và lưu truyền rộng răi hơn tất cả những mỹ nhân khác.

Nhưng cuối cùng, có thật Dương Quư Phi bị thắt cổ chết ở Mă Ngôi Pha? Hay được kín đáo cứu thoát, vượt biển đưa sang Nhật Bản và sống cho hết cuộc đời ? C̣n ngôi mộ Dương Quư Phi hiện tồn tại trong chùa trong chùa Trường Thọ Tự ở Nhật Bản có đúng là thật là ngôi mộ của nàng không?

Đây là một vấn đề nan giải đă được bàn luận từ ít lâu nay trong giới các nhà nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc để xác định lại tăm tích cuối đời của người đàn bà có vẻ đẹp phải e thẹn này. .

Chung quanh cái chết của Dương Quư Phi trong cuộc chính biến ở Mă Ngôi Pha có những giải thích khác nhau. Người viết xin tŕnh bầy ở đoạn sau. Đây  cũng là một trong những "Thiên cổ chi mê天 古 之 謎" của lịch sử Trung Quốc.

 

A-Đôi nét về Dương Quư Phi.

Theo chính sử Trung Quốc th́ Dương Quư Phi nguyên danh là Dương Ngọc Hoàn, sinh năm 719 CN và mất năm 756 CN, người Vĩnh Lạc Bồ Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) mồ côi cha ở với chú. Ngay từ c̣n bé, nàng đă ham đọc sách vở, thông hiểu âm luật, giỏi ca vũ. Lại nhờ có làn da mịn màng, thể thái phong tư đầy đặn, tư dung diễm lệ, nên được nổi tiếng là mỹ nhân tuyệt sắc đương thời.

Năm nàng mười sáu tuổi, tức năm 735 CN, đúng cái tuổi trăng tṛn cập kê, Dương Quư Phi được tuyển chọn làm vợ người con thứ mười tám của Đường Huyền Tông là Thọ Vương Lư Mạo.

Trong một buổi  cung đ́nh yến hội, Đường Huyền Tông trông thấy nàng, rồi đem ḷng say đắm, muốn chiếm hữu nàng, nhân thế mới bầy kế cho Dương Quư Phi vào làm đạo sĩ ở chùa và lấy tự là Thái Chân.

Năm năm sau, năm 745 CN, Đường Huyền Tông đem nàng vào trong hậu cung, sách phong làm quư phi, và được Đương Huyền Tông vô cùng sủng ái, như Bạch Cư Dị mô tả lại trong Trường Hận ca: Trong cung có ba ngàn mỹ nữ giai nhân, nhưng t́nh yêu của vua đổ dồn hết cho Dương Quư Phi "Tam thiên sủng ái tại nhất thân 三 千 寵 愛 在 一 身". Nàng có hơn bẩy trăm chức tú công để hầu hạ phục dịch. Các cung nữ đều tôn xưng nàng và gọi nàng là "Nương tử". Mỗi lần nàng ngồi xe, đều phải do Cao Lực Sĩ cầm cương ngựa.

Dương Quư Phi có tính ham thích ăn lệ chi tươi đầu mùa, nên mỗi năm đều do dịch mă phi ngựa đem từ miền nam xa cách hàng ngàn dặm, chuyển thẳng vào trong cung cho nàng. V́ thế người đương thời có câu ca dao, trào phúng cái tâm lư trọng nam khinh nữ của lễ giáo phong kiến :"Sinh nam vật hỷ nữ vật bi, quân kim khán nữ tác môn mi 生 男 勿 喜 女 勿 悲君 今 看 女 作 門 楣"

Niềm ân sủng của vua, c̣n lây lan đến cả những người trong gia đ́nh Dương Quư Phi nữa. Cha nàng là Dương Huyền Viêm tuy đă chết nhưng được truy phong là Thái Úy Tề Quốc Công. Những người anh cùng họ với nàng là Dương Tiêm th́ được phong làm Hồng Lô Khanh. Dương Kỳ th́ được phong làm Thị Ngự Sử. Ba người chị của Dương Quư Phi cũng là những người tài sắc. Người chị lớn lấy chồng họ Thôi, được vua phong làm Hà Quốc Phu Nhân. Người chị thứ hai lấy chồng là họ Bùi được phong làm Quắc Quốc Phu Nhân, c̣n người thứ ba lấy chồng họ Liễu, đựơc phong làm Tần Quốc Phu Nhân. Cả ba đều là những người có nhan sắc, đều được vua cho phép tùy ư ra vào trong cung.

Ân sủng của vua đối với ḍng họ Dương đến cực điểm như thế, nên nẩy sinh ra sự lộng quyền. Hối lộ hủ hóa. Mua  quan bán tước. Anh em họ Dương đua nhau kiến tạo trạch viện, hoa viên, mỗi lần tốn kém hàng vạn vạn tiền.

Đặc biệt là sau khi Dương Quốc Trung được nhậm làm Tể Tướng thế lực của họ Dương vinh hiển tột cùng. Chính sự trong triều đa số do Tể Tướng quyết đoán. Người đến cầu quan phong tước chen nhau đứng chật trước cửa nhà họ Dương. Việc tuyển trọn và bổ nhiệm quan lại, có khi được tuyên bố ngay tại tư dinh của Dương Quốc Trung.

Trong khi đó, Đường Huyền Tông vẫn trầm mặc đấm say nữ sắc, thường có thói quen cứ vào tháng mười mỗi năm, lại dẫn mấy chị em Dương Quư Phi đến Hoa Thanh Cung để tránh lạnh và hưởng lạc, sang đến mùa xuân năm sau mới trở về cung. Các anh em họ Dương cũng xây cất biệt dă ở phía đông Hoa Thanh Cung. Nên mỗi khi vua đi qua, đều có ghé thăm, và ban thưởng cho vô số tiền, gọi là "Tiền lộ 錢 路".

Ân sùng của vua Đường đối với họ Dương chỉ chấm dứt, khi nổ ra cuộc bạo loạn của An Lộc Sơn , và khi kinh thành Trường An bị vây hăm.

 

B-Cuộc chính biến ở Mă Ngôi Pha.

Một vài thời điểm trước khi xẩy ra cuộc chính biến.

-Tháng mười 11 năm 755 CN, An Lộc Sơn lấy danh nghĩa thào phạt Dương Quốc Trung phát động mười lăm vạn quân nổi dậy làm phản ở Phạm Dương (nay thuộc U Châu, Bắc Kinh), mở đầu cho cuộc biến loạn mà các sử gia Trung Quốc mệnh danh là "An Sử chi loạn 安 史 之 亂"

-Tháng một năm 756 CN, An Lộc Sơn tự xưng là Đại Yên Hoàng Đế kiến nguyên Thánh Vơ.

-Tháng 6 năm 756 CN, Vương Tư Lễ khuyên Ca Thư Hàn, (Ca là Tiết Độ Sứ Hà Nam, được phong làm Phó Nguyên Soái  đang cầm  trọng binh thảo phạt An Lộc Sơn), dâng biểu giết Dương Quốc Trung, nhưng Ca Thư Hàn không nghe. Dương Quốc Trung v́ sợ Ca Thư Hàn chống lại ḿnh, thúc đẩy Đường Huyền Tông ép Ca Thư Hàn đem quân rời khỏi Đồng Quan. Bất đắc dĩ, Ca Thư Hàn phải bỏ chiến lược cứ hiểm ngự địch, rời khỏi Đồng Quan, th́ bị rơi vào phục binh của bộ tướng của An Lộc Sơn là Thôi Càn Hựu và bị bắt. (Trích từ "Trung Quốc Lịch Sử Đại Sự Niên Biểu" – PXH)

Đồng Quan thất thủ.

Tin này làm chấn động kinh thành Trường An. Dương Quốc Trung khủng hoảng sợ hăi, sui vua chạy đến Tứ Xuyên, nhưng ở tại triều đ́nh th́ lại tuyên bố là nhà vua tự đem quân xuất chinh.

Triều thần chẳng  ai tin cả.

Ngay đêm ấy, Đường Huyền Tông đến trú ngụ tại bắc cung, gần Huyền Vơ Môn, rồi bí mật sai Long Vơ Đại Tướng Quân Trần Huyền Lễ tập trung cấm quân và xe ngựa. Sáng sớm ngày hôm sau, tức ngày 13 tháng 6, vua cùng mấy chị em Dương Quư Phi, các phi tần, hoàng tử, hoàng tôn, và mấy đại thần là Dương Quốc Trung, Vi Kiến Tố, Ngụy Phương Tiến, theo Trần Hồng Lễ cùng một ít hoạn quan và thân cận, từ cửa Diên Thu Môn ở phía tây Cấm Uyển vội vă rời khỏi Trường An.

Trên đường đi qua "Tả Tàng", nơi tích chữ tài vật của hoàng gia, Dương Quốc Trung yêu cầu Đường Minh Hoàng cho thiêu hủy kho tàng này, để những tài vật trong đó khỏi bị rơi khỏi tay giặc. Nhưng Đường Huyền Tông không nghe, lấy cớ rằng giặc không lấy được của cải tất nhiên sẽ bách hại dân chúng.

Ngay ngày hôm đó, khi các quan lại vào triều, c̣n nghe tiếng lậu canh văng vẳng. Trên cửa cung, nghi trượng vẫn c̣n phất phới. Nhưng đến khi cửa cung  vừa được mở ra, th́ bọn cung nữ, thái giám theo nhau tháo chậy như ong vỡ tổ, tạo nên một cảnh hỗn loạn kinh hoàng. Vương quan, bách tính bảo nhau t́m cách trốn chạy khắp nơi. Có kẻ nhân cơ hội hỗn loạn bảo nhau đi cướp bóc. Viên quân lưu thủ Thôi Quang Viễn phải ra lệnh đem bắn mấy chục tên, trong thành mới lấy lại yên tĩnh.

Khi Đường Huyền Tông ra khỏi thành, vượt qua cầu phù kiều, Dương Quốc Trung bèn sai người thiêu hủy cầu.

Đường Huyền Tông thấy thế trách bảo Dương Quốc Trung :

-Dân chúng cũng muốn trốn nạn t́m đường sống, sao lại cắt sinh lộ của dân như vậy.

Rồi sai Cao Lực Sĩ  đem người đến dập tắt lửa.

Lúc vua đến Hàm Dương, viên huyện lệnh Hàm Dương đă bỏ trốn đi từ sớm. Măi trưa, vua vẫn chưa được ăn ǵ. Bấy giờ, Dương Quốc Trung mới ra chợ mua  bánh của người hồ về cho vua ăn. Sau đó, được dân chúng cho thêm ít cơm nấu bằng đậu mạch. Cách hoàng tử v́ đói cũng tranh nhau ăn hết. Các binh sĩ và tùy ṭng cũng chỉ đành t́m vào những thôn xóm để xin ăn.

Có vị bô lăo đến thưa với Đường Huyền Tông rằng :

-An Lộc Sơn nuôi ư phản loạn, không phải chỉ một ngày. Trong dân cũng có người đến cửa khuyết tâu tŕnh âm mưu phản loạn của y, nhưng thấy bệ hạ thường kết tội những người can gián, khiến cho âm mưu của An Lộc Sơn  có cơ hội thực hiện.

Vua chỉ đành mặc nhiên nhận lỗi, nói :

-V́ trẫm bất minh, nay hối cũng không kịp !

Ăn cơm xong, vua và tùy tùng dời Hàm Dương tiếp tục lên đường. Đến đêm th́ đến Kim Thành, cách kinh đô khoảng  hơn tám chục dặm. Bấy giờ mới gặp Vương Tư Lễ đến báo tin là Ca Thư Hàn đă bị giặc bắt.

Ngày hôm sau, khi đến Mă Ngôi Dịch, binh sĩ tùy hành ai cũng đói  khát, mệt mỏi. T́nh cảnh vô cùng khốn đốn khổ sở, trong ḷng binh sĩ nẩy sinh oán giận. Long Vơ Đại Tướng Quân Trần Huyền Lễ cũng cho rằng cảnh loạn lạc họa hoạn như thế này, tất cả là do Dương Quốc Trung mà ra. Bèn đem ư kiến đó nói với Thái tử Lư Hanh (Tức Đường Túc Tông), nhưng Thái tử do dự bất quyết. Lúc đó trong đám tùy ṭng , có sứ giả người Phiên, mật báo với Dương Quốc Trung là binh sĩ đói không c̣n lương thực để ăn. Dương Quốc Trung chưa kịp t́m cách giải quyết, th́ binh sĩ đă ào ào nổi lên hô hoán:

-Dương Quốc Trung âm mưu với người Phiên làm phản !

Rồi phóng tiễn bắn Dương Quốc Trung. Trung phải trốn chạy đến cửa tây dịch trạm, bị binh sĩ đuổi theo, chém cụt cả chân tay, rồi chặt đầu, dùng thương cắm ở bên ngoài cửa cửa dịch trạm. Sau đó, binh sĩ lại giết luôn người con của Trung là Dương Huyên cùng với hai người chị của Dương Quư Phi là Hàn Quốc Phu Nhân, và Tần Quốc Phu Nhân.

Ngự Sử Đại Phu là Ngụy Phương Tiến thấy t́nh cảnh như thế, mới lên tiếng trách mắng :

-Các ngươi sao cả gan giết Tể Tướng !

Thế là binh sĩ giết luôn Ngụy Phương Tiến. Rồi bao vây chung quanh dịch trạm;

Đường Huyền Tông nghe tiếng huyên náo, mới hỏi nguyên do. Bọn thị ṭng thưa là Dương Quốc Trung làm phản. Vua bèn đi guốc, trống gậy đi ra xem, thấy binh sĩ ḥ hét gào thét, nên ra  lệnh cho binh sĩ phải trở về đội ngũ. Nhưng binh sĩ cự tuyệt , không chịu giải tán. Vua sai Cao Lực Sĩ ra hỏi lư do, th́ Trần Huyền Lễ thưa:

-Dương Quốc Trung mưu phản, không nên để Quư Phi hầu hạ ở bên bệ hạ nữa, xin bệ hạ v́ quốc pháp mà cắt bỏ t́nh riêng.

Vua đáp:

-Cho trẫm suy nghĩ đă.

Nói xong, rồi đi vào bên trong. Một lúc thật lâu, lại chống gậy đi ra. Cúi đầu thờ thẫn. Quan Kinh Triệu Tư Lục là Vi Ngạc, thấy thế dục:

-Hiện nay binh sĩ nổi giận không thể dập tắt được, an nguy ở trong khoảnh khắc, xin bệ hạ hăy mau quyết đoán.

Nói xong dập đầu xuống đất, máu tuôn sối xả .

Vua lại hỏi lại:

-Quư Phi ở với trẫm trong thâm cung, lẽ nào có thể biết được âm mưu phản loạn của Dương

Quốc Trung ?

Cao Lực Sĩ thưa :

-Quư Phi quả thật vô tội, nhưng nay tướng sĩ đă giết Dương Quốc Trung rồi, mà Quư Phi c̣n sống bên cạnh bệ hạ, tướng sĩ đâu có yên ḷng?Xin bệ hạ suy xét kỹ lại. Tướng sĩ được yên ḷng, tức bệ hạ được b́nh an .

Vua  không c̣n cách nào khác, chỉ đành bảo Cao Lực Sĩ đem Dương Quư Phi đến trước Phật Đường, dùng lụa bạch thắt cổ nàng, rồi đem thây đặt trong dịch đ́nh, gọi bọn Trần Huyền Lễ đến khám nghiệm.

Hôm đó nhằm sáng ngày 13 tháng 9 năm  756 CN.

Bấy giờ Quư Phi mới 38 tuổi.

Thương ôi !Giai nhân nan tái đắc.

Sau đó vua ban mấy lời phủ dụ bọn Trần Huyền Lễ, rồi bảo họ ra vỗ về binh sĩ. Bọn Trần Huyền Lễ tái bái rồi rút ra khỏi dịch đ́nh, chỉnh đốn đội ngũ chuẩn bị lên đường.

Lúc xuất phát, vua thấy các đại thần đi theo, chỉ c̣n có một ḿnh Vi Kiến Tố, bèn bổ nhậm con của Tố là Kinh Triệu Tư Lục Vi Ngạc làm Ngự Sử Trung Thừa, trông coi sắp đặt hành tŕnh.

(Đọan sử trên đây, người viết dịch từ sách  Trung Quốc Lịch Triều Sự Điển 曆 朝 事   . )

 

C-Những giải thích về ngày cuối của Dương Quư Phi.

Chính sử th́ như vậy, nhưng chính sử đôi khi vẫn chỉ là sử của một triều đại, của một đảng phái cầm quyền, một thể chế chính trị. Chính sử của nhà Nguyễn chắc chắn không hề nói hết sự thật về nhà Tây Sơn Lịch sử Trung Quốc mỗi triều đại có một lịch sử riêng của ḿnh, đều có những khoảng trống nghi ngờ. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc gần đây cũng thế thôi, đến nay vẫn c̣n đầy những bí ẩn về cai chết của Lâm Bưu, dù cũng chỉ mới xẩy ra cách nay không quá năm chục, nhưng đă đặt ra khá nhiều giả thuyết chung quanh cái chết ông này.

Huống chi là Dương Quư Phi, người đă chết cả hơn một ngh́n năm này rồi.

Tóm lại, chung quanh cái chết của người đàn bà được mệnh danh là"tu hoa 羞 花" này

 , người ta có thể kể đến mấy giả thuyết như sau.

1-Thuyết cho rằng Dương Quư Phi đă chết.

Qua đoạn sử trên trích dịch trên đây, người ta biết rằng Dương Quư Phi đă chết. Và chết ở Mă Ngôi Dịch.

Các sách chính sử Trung Quốc, dù có ít nhiều khác biệt nhau, như "Cựu Đường Thư", Tân Đường Thư", và sách "Tư Trị Thông Giám" của Tư Mă Quang đời Tống nhưng cũng đều viết là Quư Phi chết ở Mă Ngôi dịch.

Các dật sử cũng như các truyện truyền kỳ, ca phú, trên văn đàn Trung Quốc, như "Trường Hận Ca  "của Bạch Cư Dị, và "Trường Hận Ca Truyện " của Trần Hồng, "Dương Thái Chân Ngọai Truyện 揚太真外傳"của Nhạc Sử, và Dương Quư Phi Diễm Sử trong"Tứ Đại Mỹ Nhân Diễm T́nh Diễn Nghĩa " cũng đều viết như vậy.

Ngoài ra, c̣n một bằng chứng nữa. Đó là ngôi mộ của Quư Phi tồn tại hiện nay ở Mă Ngôi Pha thành phố Hưng B́nh tỉnh Thiểm Tây. Ngôi mộ này thuộc loại lăng viên, trên một khu đất rộng 3000 mét vuông. Lăng h́nh tṛn. Xây bằng gạch, có bia đá đề :"Dương Quư Phi Chi Mộ". Ngoài ra c̣n có các bia khắc những bài thơ vịnh về nàng.

Theo truyền thuyết kể lại thí sau khi Trần Huyền Lễ kiểm nghiệm là Dương Quư Phi đă chết, bèn ra lệnh cho binh sĩ lấy loại chăn dùng trong lúc hành quân, bọc thi thể nàng, rồi đào vội một cái hố ở bên d́a đường để chôn nàng, sau đó bảo hộ Đường Huyền Tông tiếp tục cuộc tháo chạy.

Hai năm sau, Đường Huyền Tông trở về Trường An, trên đường đi qua Mă Ngôi Dịch, có ư muốn cải táng cho Dương Quư Phi, nhưng khi đào cái hố cũ đă lấp đất lên, th́ không thấy thi thể của nàng đâu nữa, mà chỉ t́m thấy một cái túi gấm và một chiếc hài bị rơi c̣n sót lại, đành  trân trọng chôn những vật ấy vào cái hố cũ, cho thành  một cái "y quan trủng ", tức một cái mộ chôn đồ vật của người chết, không có xác người. Tương truyền th́ đất trên ngôi mộ này có màu trắng, lại có mùi thơm, đương thời gọi là "Quư Phi thổ ", nên du khách tranh nhau nhặt mang về, làm đất trên ngôi mộ bị vẹt đi, phải dùng gạch xây lại để bảo hộ như hiện nay. (Coi h́nh chụp)

Trên văn đàn, cũng cùng chung quan điểm của chính sử cho rằng Dương Quư Phi đă chết, nhưng chết thế nào, và ra làm sao, th́ các nhà thơ khi làm thơ vịnh về Dương Quư Phi, lại nói khác nhau. Chẳng hạn như Lư Ích trong “ Quá Mă Ngôi ”, Gỉa Đảo trong bài ” Mă Ngôi ”, và Lưu Vũ Tích trong bài “ Mă Ngôi Hành ”.

Theo Lưu Vũ Tích cho rằng  Quư Phi không phải bị thắt cổ chết ở Mă Ngôi Pha, mà v́ do uống "kim đan"; tức tiên đan, do đạo sĩ chế chế luyện bởi hoàng kim dịch và đan sa, uống vào để trường sinh bất lăo, giữ được nhan sắc như cũ.

"Mă Ngôi Hành" của Lưu Vũ Tích có những câu như : ” Quư Nhân ẩm kim tiết, Thúc hốt thuấn anh mộ  飲 金 屑 倏 忽 舜 英 暮 ”.

Tuy vậy, đa số đều đồng ư cho rằng Quư Phi bị chết là do Cao Lực sĩ thắt chết.

 

2-Thuyết cho rằng Dương Quư Phi không chết, vượt biên sang sống ở Nhật Bản

Có một thuyết khác lại cho rằng Dương Quư Phi không chết ở Mă Ngôi Dịch mà vượt biên sang sống ở Nhật Bản. Người theo thuyết này dựa vào ngôi mộ của Dương Quư Phi hiện tồn tại ở chùa Trường Thọ Tự ở Địch Đinh bên Nhật để làm chứng cứ. Ngoài ra, vào năm 2002, tài tử nổi tiếng Nhật Bản là Sơn Khẩu Bách Huệ , trong một cuộc trả lời phỏng vấn của báo chí từng cho biết ḿnh là hậu duệ của Dương Quư Phi.

Ngoài ra, thuyết này c̣n giải thích là Trần Huyền Lễ thấy Dương Quư Phi là một giai nhân "nhất đại nan kiến", một đời người khó kiếm được, nên không nỡ nhẫn tâm sát hại. Rồi do sự trợ giúp của vũ nữ đời Đường là Tạ A Loan, và nhạc sư Mă Tiên Kỳ dùng kế ve sầu thoát xác mà cứu nàng. Người bị thắt cổ chết ở Mă Ngôi Dịch bấy giờ chỉ là một thị nữ.

Học giả Nhật Bản là Độ Biên Long Sách  trong bài viết "Dương Quư Phi Phục Họat Bí Sử 复 活  秘 史" th́ thuật lại như sau :

" Sau khi thoát khỏi Mă Ngôi Pha, Dương Quư Phi quanh quẩn ở Dương Châu th́ gặp sứ giả Nhật Bản đến nhà Đường là Đằng Nguyên Chế Hùng . Đằng Nguyên rất cảm thông hoàn cảnh của nàng, nên đề nghị nàng cùng ḿnh sang Nhật. Nhân thế, Dương Quư Phi mới thừa thuyền của sứ đoàn Nhật Bản, vượt biển đến bến Cửu Tân th́ lên bờ. Đi với nàng c̣n có người chị dâu của nàng là Từ Thị, vợ Dương Quốc Trung, cùng đứa cháu là Dương Hoan. Cứ theo lời thuật lại, th́ sau khi Dương Quư Phi đến Nhật Bản được Thiên Hoàng là Hiếu Khiêm rất nhiệt t́nh long trọng tiếp đăi.

Sau đó, nhờ có một lần Dương Quư Phi giúp Thiên Hoàng Hiếu Khiêm đánh bại một cuộc cung đ́nh chính biến. V́ thế, Dương Quư Phi rất được người dân Nhật, đặc biệt là đàn bà Nhật yêu thương quư mến nàng.

Ngoài ra, năm 1984 trên tờ báo "Văn Hóa Dịch Tùng" số tháng năm, xuất bản ở Trung Quốc, có  bài "Trung Quốc Truyền Lai Đích Cố Sự" do Trương Khiêm dịch từ Nhật văn ra Hán văn. Theo bài báo này th́ Dương Quư Phi không chết ở Mă Ngôi Dịch như chính sử của Trung Quốc ghi chép mà đươc Trần Huyền Lễ cùng với Cao Lực Sĩ âm mưu cứu đưa ra trốn ở Hổ Khẩu, rồi từ vùng Thượng Hải vượt biển sang Nhật Bản. Bài báo c̣n viết :

"Đường Huyền Tông b́nh định cái loạn An Lộc Sơn hồi giá trở về Trường An, nhân v́ tưởng nhớ Quư Phi, mới sai phương sĩ ra biển t́m nàng. Khi người phương sĩ gặp Quư Phi ở Cửu Tân th́ tặng cho nàng hai bức tượng phật, và được nàng tặng cho một chiếc ngọc trâm sai mang về trao cho Đường Huyền Tông. Tuy về sau vẫn thông tin  tức với nhau, nhưng Dương Quư Phi không bao giờ trở về Trung Quốc nữa, và sống hết đời ḿnh ở Nhật Bản. "

Đồng t́nh với quan điểm này, có người lập luận suy đoán rằng những người được thi hành lệnh thắt cổ Dương Quư Phi lúc bấy giờ phần đông là những người đă hầu hạ nàng trong hoàng cung, cho nên "thủ hạ lưu t́nh"không nỡ "nặng tay", nên có khả năng Quư Phi chỉ tạm thời tuyệt khí, chưa chết. Lúc đó vua và quân sĩ vội vă lên đường trốn chạy, không có th́ giờ nh́n kỹ lại nàng. Nhờ thế mà nàng sống sót. Lúc nàng tỉnh dậy, mệnh số chỉ c̣n trông nhờ vào đám thị môn giữ việc khâm liệm thi thể nàng, và họ đă nghĩ cách cứu giúp nàng.

Lại có người lập luận cho rằng Quư Phi không chết, chẳng qua đó chỉ là "niềm  mơ đẹp" của những ai đó do sự đồng t́nh và thương cảm cái vận mệnh bi đát, yếu đuối của một người đàn bà, lại là một người đàn bà đẹp như Quư Phi. Bởi v́, tổng kết kinh nghiệm lịch sử về cái loạn An Lộc Sơn vào năm Thiên Bảo, th́ thấy rằng Quư Phi không phải người đứng đầu gây ra cái loạn ấy, nàng chỉ là vật tế thần. Chẳng thế mà Cao Lực Sĩ lại nói :

-Quư Phi thành vô tội !

Quư Phi quả thật vô tội.

Vậy th́ ai gây ra cái loạn An Sử  để người đẹp Dương Quư Phi phải làm vật tế thần ? Có người cho rằng chính Thái Tử Hưởng, là người đứng sau xúi bẩy An Lộc Sơn làm phản, v́ Hưởng vốn mâu thuẫn quyền lực với phe cánh họ Dương. Người ta biết rằng sau khi An Lộc Sơn nổi loạn chiếm đánh chiếm kinh thành, Hưởng đă cùng Đường Huyền Tông chạy đi Ba Thục, nhưng  đến nửa chừng th́ ở lại ngôi vua, mặc dầu vua cha vn c̣n sống.  

 

3-Thuyết cho rằng Quư Phi không chết mà vào chùa làm xướng nữ

C̣n có ư kiến cho rằng Dương Quư Phi không chết, mà vào chùa làm xướng nữ. Thuyết này do Du B́nh Bá, một học giả Trung Hoa nổi tiếng đề xướng.

Cuối thập niên hai mươi của thế kỷ trước, tức cuối năm 1927, Du B́nh Bá đă viết một bài bàn luận về bài thơ "Trường Hận Ca" của Bạch Cư Dị, và  truyện "Trường Hận Ca Truyện" của  Trần Hồng. Ông đă dựa vào những câu thơ và chi tiết trong hai bài này để đưa ra ư kiến khẳng định rằng Dương Quư Phi không chết và được cứu sống rồi đưa vào chùa làm xướng nữ. Rồi đến đầu thập niên 80, ư kiến của học giả họ Du lại được sự ủng hộ của nhà văn Chu Hú Lương.

Trước hết, những người yêu thích thơ Đường, không mấy ai là không biết đến bài thơ trứ danh  "Trường Hận Ca 長 恨 歌"ca Bạch Cư Dị. Đây là bài thơ thuộc loại "trường biên tự sự thi", tức là một loại truyện thơ.

Bài thơ này chẳng những được người dân Trung Hoa, ưa thích ngâm vịnh, được tôn sùng  coi như "thiên cổ tuyệt xướng ".

Hơn thế nữa, Trường Hận Ca c̣n vượt ra khỏi văn đàn thơ văn bản quốc, được dịch ra nhiều tiếng ngoại quốc như Anh, Pháp, Nga , Nhật, Triều Tiên, và tất nhiên, tiếng Việt cũng có nhiều bản dịch tuyệt vời của các học giả, và các bậc tao nhân mặc khách, như Tản Đà, Trần Trọng Kim, Khương Hữu Dụng, Trần Trọng San. . .

Về xuất xứ của Trường Hận Ca, theo Trần Hồng, tác giả truyện "Trường Hận Ca Truyện  恨 歌  傳" kể, th́ vào tháng mười hai năm Nguyên Ḥa Nguyên Niên, tức năm 806 CN đời vua Đường Hiến Tông, lúc đó Bạch Cư Dị đang làm huyện úy ở Chu Chí . Trong huyện này, Bạch Cư Dị c̣n có hai người bạn thân là Trần Hồng và Vương Chất Phu. Một hôm, ba người rủ nhau đến du ngoạn chùa Tiên Du Tự, nhân đề cập đến mối t́nh bi thảm của vua Đường Huyền Tông và Dương Quư Phi , cùng cái chết thê thảm của nàng, cả ba đều đem ḷng cảm thán, ngậm ngùi, rồi Vương Chất Phu  đề nghị Bạch Cư Dị làm một bài "thơ " để kể lại câu truyện t́nh sử ấy, c̣n Trần Hồng viết thành truyện, v́ thế "Trường Hận Ca Truyện", và"Trường  Hận Ca" ra đời.

Toàn bài thơ gồm có một trăm hai mươi câu, tám trăm bốn mươi chữ, lời lẽ tuy lưu loát, thông suốt, nhưng có những từ ngữ mang tính cách ẩn dụ, không nói rơ ràng. Ngay ở câu mở đầu, người đọc đă thấy Bạch Cư Dị viết :

“ Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc        Vua Hán yêu sắc đẹp mà mong  người khuynh quốc 

Rồi ở câu 91, một lần nữa, ta lại thấy Bạch Cư Dị, lấy vua Hán để ẩn dụ vua Đường: 

“ Văn đạo Hán gia  thiên tử s 聞 道 漢 家 天 子 使-Nghe nói sứ giả của vua Hán đến ”

Rơ ràng, tác giả muốn nói đến một mối “ trường hận ” của vua Đường, mà lại ẩn dụ là vua Hán, sở dĩ ông phải dùng thủ pháp văn chương ẩn dụ như vậy là v́ ông đang làm quan cho nhà Đường. Nên ông sợ. Sợ phạm huư. Sợ phạm vào những điều cấm kỵ của nhà vua, hoàn cảnh cũng chẳng khác chi những nhà thơ, nhà văn hiện đại. Nguyễn Tuân, chẳng từng có lần nói đến nỗi sợ của ḿnh đấy ư.

Nhưng vua Hán là vua nào ? Và ai là người khuynh quốc?

Theo các nhà nghiên cứu văn học sử Trung Quốc th́ vua Hán ở đây là chỉ Hán Vơ Đế, một ông vua có nhiều vơ công hiển hách chống lại sự xâm lăng của rợ Hồ phương bắc, là người vừa có bệnh mê nam sắc lại vừa đắm say nữ sắc. C̣n người khuynh quốc ở đây chính là Lư Phu Nhân. Trong sách “ Hán Thư-Ngoại Thích Truyện -  ” kể rằng : Lư Diên Niên, anh của Lư Phu Nhân, giỏi về ca múa, từng đứng trước mặt Hán

Vơ Đế ca bài :

Bắc phương hữu giai nhân,
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành ,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh tri khuynh quốc dữ khuynh thành ,
Giai nhân nan tái đắc

,

絕 世 而 獨 立

Về sau, trong thơ văn cổ điển thường dùng chữ “ khuynh quốc 傾國 ” để ví người đàn bà có nhan sắc mỹ lệ.

Phái chủ trương thuyết là Quư Phi không chết mà đi làm đạo sĩ, cũng dựa vào những câu thơ có hai nghĩa trong "Trường Hận Ca", mà họ gọi đó là bút pháp "cực kỳ ẩn hối", tức nói một cách hết sức kín đáo, không rơ ràng. n dụ, nhưng đủ để cho người đọc biết là Quư Phi không chết và đi làm đạo sĩ.

Chẳng hạn Bạch Cư Dị viết :

Vị  cảm quân vương triển chuyển tư
Toại giáo phương sĩ ân cần mịch
Bài không ngự khí bôn như điện
Thăng thiên nhập địa cầu bất đắc
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền

為 感 君 王 輾 轉 思

遂 教 方 士 殷 勤 覓

排 雲 馭 氣 奔 如 電

升 天 入 地 求 不 得

上 窮  碧 落 下 黃 泉

Kỳ thực, theo ư của những người có quan điểm trên đây, những câu này là  chỉ vua Đường Huyền Tông  phái phương sĩ đi khắp nơi, “ trên trời xuống  đất ”, nhưng không t́m đươc Dương Quư Phi, rồi th́ th́nh ĺnh được tin:

Hốt văn hải thượng hữu tiên sơn
Sơn tại hư vô phiêu miểu gian
Lâu các linh lung ngũ vân khởi
Kỳ trung xước ước đa tiên tử
Trung hữu nhất nhân tự Thái Chân

忽 聞 海 上 有 仙 山

山 在 虛 無 縹 渺 間

樓 閣 玲 瓏 五雲 起

其 中 綽約 多 仙 子

中 有 一 人 字 太 真

Mà "hải thượng tiên sơn"; lung linh lầu các, chính là chỉ “am quán”, nơi cư ngụ của những nữ đạo sĩ, trong đó có một nữ đạo sĩ tên tự là Thái Chân.

Vào thời Đường, địa vị của nữ đạo sĩ bị coi tương như những kỹ nữ và am quán, nơi cư ngụ của nữ đạo sĩ bị coi như kỹ viện. Nên khi sứ giả của vua Đường Huyền Tông có t́m lại được Quư Phi đi chăng nữa, th́ nàng đă bị luân lạc phong trần rồi, "vô nhan kiến quân vương", không c̣n mặt mũi nào gặp lại vua nữa, đành chỉ nhờ sứ giả gửi thăm hỏi rồi chung thân sống trong am quán, không trở về cung nữa.

Và Bạch Cư Dị cho đó là một trường hận; một nỗi hận "vô tuyệt kỳ" của vua Đường và của Quư Phi, không bao giờ hết

Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ

此 恨 綿 綿 無 絕 期

Là vậy.

Ly kỳ hơn nữa, là tại Đài Loan, học giả Nguỵ Tụ Hiền, trong bài khảo cứu có tựa đề "Trung Quốc nhân phát hiện Mỹ châu- 人發 " viết là Dương Quư Phi không chết ở Mă Ngôi Pha mà được người đưa đến Mỹ Châu.

Nhưng người viết chưa có dịp đọc bài này, nên không dám lạm bàn. C̣n về việc Dương Quư Phi chết ở Mă Ngôi Pha hay được cứu sống, đến nay vẫn c̣n là một "Thiên cổ chi mê", một nghi án trong lịch sử Trung Quốc, xin trân trọng dành cho các nhà sử học

Và mục đích của bài viết này cũng chỉ nhằm mua vui một vài ba khắc cho bạn bè bằng hữu trong lúc đông tàn cảnh muộn, cùng một lứa bên trời lận đận.

 

(Paris ngày 14-12-2006 lúc 22gio 20- Phạm xuân Hy. )

 _____________________________________________________________________

 

Chú thích thêm của Phạm xuân Hy

 

1-Tứ đại mỹ nhân 四 大 美 人:

Trong những tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc người ta thường sử dụng thành ngữ “trầm ngư nhạn lạc” và “bế nguyệt tu hoa” để chỉ một người đàn bà đẹp. Nguyên do thành ngữ trên đây dùng để xưng tụng bốn người đàn bà đẹp ngày xưa của Trung Quốc là :Tây Thi;Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền, và Dương Quư Thi. Mỗi thành ngữ có những điển cố riêng :

Trầm ngư chỉ Tây Thi.

Tây Thi là người đàn bà đẹp nổi tiếng của nước Việt thời Xuân Thu mạt kỳ. Tương truyền rằng, một hôm Tây Thi ra sông giặt lụa, sắc đẹp mê hồn của nàng soi rơ giữa làn nước trong của mặt hồ, cá đang bơi nh́n thấy nàng đẹp nên từ từ lặn sâu xuống đấy nước.

V́ thế, sắc đẹp của Tây Thi được xưng tụng là trầm ngư (cá lặn)

Lạc nhạn chỉ Vương Chiêu Quân.

Vương Chiêu Quân là người đàn bà chẳng những có sắc mà lại có tài, người đời Hán. Vua Hán Nguyên Đế (75 trước CN – 33 ước CN) v́ mua lấy ḷng bắc Hung Nô nên lựa Vương Chiêu Quân để gả cho Thiền Vu, ta thường gọi là Chiêu Quân Cống Hồ. Trên đường sang Hung Nô, Chiêu Quân nh́n thấy chim nhạn bay xa xa, bỗng động ḷng tư niệm cố hương, xúc cảnh sinh t́nh, nàng bèn cầm đàn lên gẩy. Những con nhạn nghe thấy tiếng đàn mê ly thần diệu của nàng th́ ngừng cánh không bay nữa mà rơi cả xuống đất. Nên Vương Chiêu Quân được xưng tụng là “nhạn lạc”, .

Bế nguyệt chỉ Điêu Thuyền.

Điêu Thuyền là ca kỹ con nuôi của đại thần Vương Sung thời Hán Hiến Đế (181CN – 234 CN), chẳng những dung mạo đẹp và sáng sủa như mặt trăng, Điêu Thuyền lại c̣n hát hay múa giỏi. Một buổi tối, Điêu Thuyền bái nguyệt ở ngoài hoa viên, th́ bỗng có một đám mây che phủ hết cả mặt trăng. Vương Sung thấy vậy, lấy làm hănh diện mới nói :

-Trăng sáng so không bằng con gái ta, nên xấu hổ mà phải lẩn vào sau đám mây.

Nhờ thế, mà Điêu Thuyền được xưng tụng là bế nguyệt;

Tu hoa chỉ Dương Quư Phi.

Dương Quư Phi tức Dương Ngọc Hoàn, được Đường Huyền Tông tuyển lựa vào cung ;những lúc buồn thường ra dạo hoa viên, vô t́nh đụng phải loại hoa gọi là “ hàm tu thảo 含 羞  ”, khiến cánh hoa lập tức co cụm lại, Đường Huyền Tông thấy vậy mới tán mỹ Dương Quư Phi là “ tu hoa chi dung ”, dung mạo đẹp đến nỗi làm cho hoa phải thẹn thùng, và vua gọi nàng là “ tuyệt đại giai nhân ”.

C̣n một thuyết khác th́ giải thích “ Tu hoa nhạn lạc ”là có nguồn gốc tức sách “ Trang Tử -Tề Vật Luận đệ nhị -  ” có đoạn nói là bế thiếp của Việt Vương là Mao Tường毛嬙, và sủng cơ của Tấn Vương là Lệ Cơ, nhan sắc quán thế đến nỗi làm cho chim và cá sợ hăi, phải lặn xuống nước (trầm ngư ), hoặc bay đi (phi điểu ). Về sau người ta căn cứ vào sách này đổi phi điểu 飛 鳥 thành lạc nhạn 落雁 tạo nên thành ngữ “ trầm ngư lạc nhạn 沉 魚 落 雁

Riêng về từ ngữ “ tu hoa ” th́ thuyết thứ hai này giải thích là Lưu Tầm, viên Trấn Nam Tiêt Độ Sứ nhà Hậu Lương thời Ngũ Đại, trong có người thị nữ, rất đẹp nên người ta thường gọi là Hoa Kiến Tu 花 見 羞, có nghĩa là hoa trong thấy phải thẹn thùng. C̣n nguồn gốc chữ “ bế nguyệt ” th́ không khảo cứu được. Nhưng trong bài Lạc Thần Phú của Tào Thực tả cái đẹp của vị nữ thần Sông Lạc Thuỷ từng có câu ” 彷 彿 兮 若 輕 雲 之 蔽月-Phảng phất hề nhược khinh vân chi tế nguyệt -Phảng phất như  mây che vầng nguyệt” Chữ “ tế nguyệt ” được cắt nghĩa là “ bế nguyệt ”

Trong “ Cung Oán Ngâm Khúc ”, tác giả Nguyễn Gia Thiều cũng từng khéo léo sử dụng nghĩa của thành ngữ “ trầm ngư lạc nhạn ” để mô tả cái đẹp của người cung nữ như sau :

Ch́m đáy nước cá đừ khừ lặn

Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa

沉 底 𩵜 涂 渠 𣵰

䏧   𡗶      鴈 謹   𢠐 

(Chép theo bản Cung Oán Ngâm Khúc khắc năm Tự Đức thập cửu niên, tức năm 1866 của nhà Phúc Văn Đường Tàng bản –Hà Nội-Chúng tôi sẽ đề cập đến nghi án về nhân vật Điêu Thuyền : Nhân vật hư cấu hay nhân vật lịch sử ? , )

 

2-Đường Huyền Tông 唐絃宗

Đường Huyền Tông, tức Lư Long Cơ, sinh năm 685 CN  mất năm 762 CN  ở ngôi từ năm 712 CN đến năm 756 CN .

Năm Cảng Nguyên nguyên niên, tức năm 710 CN, Lư Long Cơ cùng với Thái B́nh Công Chúa cùng nhau âm mưu phát động chính biến giết Vi Hoang Hậu, rồi tôn cha là Duệ Tông lên ngôi, được lập làm Thái Tử.

Năm 712 CN Lư Long Cơ được thiền vị lên ngôi vua, cải nguyên là Tiên Thiên, năm sau lại cải nguyên là Khai Nguyên. Thời Kỳ đầu, Đường Huyền Tông trọng dụng Diêu Sùng và Tống Cảnh làm Tể Tướng, chỉnh đốn lại những hủ chính sau thời kỳ nhà Vơ Chu, tức Vơ Tắc Thiên, khiến cho xă hội, kinh tế, chính trị được phát triền, được các sử gia cũ khen là “ Khai Nguyên Chi Trị ”. Nhưng sau đó, Đường Huyền Tông lại dùng Lư Lâm Phủ và Dương Quốc Trung chấp chánh. Quan lại trở nên tham ô, chính trị hủ bại, lại thêm Đường Huyền Tông đắm say thanh sắc, sa xỉ hoang dâm. Đồng thời, chế độ phủ binh chế bị phá hoại, khu vực kinh sư và trung nguyên bị bỏ không, các trấn vùng Tây bắc và bắc phương do các Tiết Độ Sứ nắm giữ trọng binh, nên năm Thiên Bảo thập tứ niên, tức năm 755 CN, bộc phát cuộc An Sử chi loạn. Năm sau, Đường Huyền Tông phải chậy đến Tứ Xuyên. Thái tử Hưởng lên ngôi ở Linh Vơ, Đường Huyền Tông được tôn là Thái Thượng Hoàng. Đến cuối năm Chí Đức nhị niên, tức năm 758 CN trở về Trường An v́ ân hận uất ức mà chết. (Có lẽ v́ thế Bạch Cư Dị mới lấy đề là Trường Hận Ca chăng ?

Trong thơ, văn, kịch, nghệ thường gọi ông là Đường Minh Hoàng là do sau khi ông chết được tôn thụy hiệu là Chí Đạo Đại Thánh Đại Minh Hiếu Hoàng Đế 至道大聖大明孝皇帝

 

3-An Lộc Sơn 安 祿 山

An Lộc Sơn người Liễu Thành Doanh Châu (nay thuộc nam Triều Dương Liêu Ninh), người Hồ. Mới đầu tên gọi là Yết Lạc Sơn, họ Khang, theo mẹ lấy người Đột Quyết là An Duyên Yển, rồi đổi ra họ An lấy tên gọi là Lộc Sơn.

An Lộc Sơn nói được 9 thứ tiếng của người Phiên, tức những bộ tộc ở phía tây nam Trung Quốc thời xưa, lại kiêu hùng thiện chiến, nên được U Châu Tiết Độ Sứ là Trương Thủ Khuê coi như con. An Lộc Sơn nhờ có chiến công được bổ nhậm làm B́nh Lô Binh Mă Sứ, và Doanh Châu Đô Đốc. Sau đó, An Lộc Sơn t́m cách lấy được ḷng tin dùng của Đường Huyền Tông va Dương Quư Phi, kiêm nhiệm thêm chức Tiết Độ Sứ của ba trấn B́nh Dương, Phạm Dương, Hà Đông, nắm giữ mười lăm vạn binh sĩ.

Năm Thiên Bảo thập tứ niên, tức năm 755 CN, An Lộc Sơn khởi binh làm loạn, đem quân xuống miền nam công hăm Lạc Dương. Binh sĩ của An Lộc Sơn vô cùng tàn bạo, khiến dân chúng Hà Bắc rần rần đắp đồn luỹ chống lại, chỗ đông có đến hai vạn người, chỗ ít th́ một vạn người.

Năm 756 CN, An Lộc Sơn ở đông kinh, tức Lạc Dương, xưng là Hùng Vơ Hoàng Đế, lấy quốc hiệu là Yên, kiến nguyên là Thánh Vơ, rồi phái binh phá Đông Quan, tiến nhập Trường An, tàn sát và cướp bóc dân chúng khủng khiếp.

Mùa xuân năm 75 CN, An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự âm mưu cướp ngôi giết chết.

 

4-Cao Lực Sĩ

Cao Lực Sĩ là hoạn quan đời Đường sinh năm 684 CN mất năm 762 CN, người Lương Đức Cao Châu (nay thuộc Cao Châu Quảng Đông). Cao Lực Sĩ vốn họ Phùng, sau làm dưỡng tử của hoạn quan Cao Diên Phúc mới đổi họ là Cao. Thời Đường Huyền Tông giữ Tri Nội Sự Tỉnh Sự, rồi được phong là Bột Hải Quận Công. Các tấu chương từ bốn phương chuyển về đều phải qua tây Cao Lực Sĩ, quyền uy cực lớn. Khi Đường Túc Tông c̣n ở ngôi Thái Tử, coi Cao Lực Sĩ như anh. Các tể tướng như Lư Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, và tướng lănh như An Lộc Sơn thường cấu kết với Cao Lực Sĩ. Trong cuộc An Sử chi loạn, Cao Lực Sĩ theo Đường Huyền Tông chạy đến Tứ Xuyên.

Năm 760 CN, Cao Lực Sĩ bị đuổi về Vu Châu, hai năm sau được xá trở về, giữa đường bị bệnh chết.

 

5-Trần Huyền Lễ

Trần Huyền Lễ mới đầu được bổ nhậm làm Quả Nghị Đô Úy theo Lư Long Cơ (Đường Huyền Cơ) đứng lên phản đối Vi Hoàng Hậu. Khi Huyền Tông tại vị Trần Huyền Lễ coi cấm vệ quân. Trong cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, Trần Huyền Lễ theo vua chạy đến Tứ Xuyên. Tại Mă Ngôi Dịch (nay thuộc phía tây Hưng B́nh tỉnh Thiểm Tây), Trần Huyền Lễ

 Cùng với binh sĩ nổi lên giết Dương Quốc Trung, và ép vua bức tử Dương Quư Phi, về sau được phong làm Thái Quốc Công. Năm 760 CN, th́ từ quan.

 

6-Lư Phu Nhân

Là em của âm nhạc gia Lư Diên Niên và em của Nhị Sư Tướng Quân Lư Quảng Lợi đời Tây Hán, v́ nghe Lư Duyên Niên tán tụng là :

Nhất cố khuynh nhân thành

Tái cố khuynh nhân quốc

Nên được Hán Vơ Đế tuyển vào cung và rất mực yêu thương, phong là Lư Phu Nhân, sinh ra Xương Âp Vương nhưng bị chết sớm.

Vơ Đế thương nhớ vô cùng mới sai hoạ sĩ giỏi vẽ h́nh nàn treo ở cung Cam Tuyền để ngắm, và c̣n làm bài thơ “ Lạc Diệp Ai Thiền ”, và bài “ Lư Phu Nhân Phú ” để tỏ nỗi ḷng khắc khoải hoài vọng. Chưa hết, Vơ Đế c̣n mời cả đạo sĩ Thiếu Ông ban đêm là chiêu hồn Lư Phu Nhân về cho ông gặp. Tương truyền ông đă gặp được một người con gái diễm lệ như Lư Phu Nhân.

 

Y quan trũng   :

Y quan trũng là ngôi mộ chỉ dùng để chôn những quần áo mũ mạo của người đă chết. Lư Bạch khi chết táng ở Đương Đồ Huyện tỉnh An Huy, sau lại được cải táng ở núi Thanh Sơn huyện Đương Đồ.

Nhoài mộ phần trên, người ta c̣n biết có hai y quan trũng của Lư Bạch, một gọi là Lư Bạch y quan trũng ở thành phố Mă Yên Sơn, co bia đá đề “ Đường thi nhân Lư Bạch y quan trũng ” và một cái đề Lư Bạch y quan mộ ở làng Thanh Liên Hương thuộc thành phố Giang Do, tỉnh Tứ Xuyên, dụng năm Đồng Trị bát niên, tức năm 1869.

 (Xin đọc thêm bản dịch Trường Hận Ca của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu )

 

Sách tham khảo:

1-Trung Quốc Văn Hoá Vị Giải Chi Mê

2-Đường Thi Tam Bach Thủ

3-Trung Quốc Văn Hoá Sử 500 Nghi Án 500 疑案

4-Trung Quốc Lịch Triều Sự Điển 曆 朝 事 典

5-Từ Hải 辭 海

6-Tứ Đại Mỹ Nhân Diễm T́nh Diễn Nghĩa 人艷

7-Trung Quốc Văn Hoá Tri Thức Tinh Hoa 中 國 文 化 知 識 精 華