NÀO AI MẠC MẶT….

 

Anh Q thân,

Cám ơn anh Q nhá.

Xa nhà hơn hai tháng,rong chơi ở Cali, sáng nào tôi cũng dậy thật sớm  làm tây ba lô, lang thang, thất thểu đi bộ một ḿnh trên khắp những con đường bàn cờ của Little Sàigon. Rồi chờ xe búyt ở ngă tư  phố Bolsa,đổi xe đi ra biển, ngắm nắng sớm ban mai,nghe chim hải âu  ́ ào rỡn sóng, lả lướt nô đùa…Đến trưa, th́ lại bắt xe búyt trở vào thành phố, làm người rừng ngơ ngác xem cảnh sinh họat buôn bán của cộng đồng người Việt ḿnh. Đói bụng, th́ làm khúc bánh ḿ tay cầm với một lon côca, hay ghé vào quán cơm chỉ. Năm đồng một bữa.Rẻ. Mà thật ngon. C̣n sang một tí, th́ vào Nguyễn Huệ đánh một tô phở gà, rồi ra hiên ngoài gặp lại một vài người bạn tiền kiếp, nhắc chuyện vân cẩu năm xưa. Lúc nào mệt, th́ kiếm một ghế trống trong những trung tâm thương mại lộng lẫy và sạch sẽ, ngả lưng mà thả hồn Trang Chu đuổi bướm.

Đă hơn bốn chục năm rồi, nay tuyết đă bạc mái tóc kim sinh, mới lại được hưởng cái thú lang thang giang hồ vặt này.

Nhưng gặp đúng thời kỳ nắng gắt, ngày nào cũng trên 30° độ C, thành thử  người tôi cháy đỏ như con tôm luộc. Buổi tối về nhà ngủ, bật qụat đến tốc độ cao nhất mà vẫn đổ mồ hôi nhễ nhại. Đâm ra thèm. Và nhớ. Nhớ cái hiu hắt se lạnh của những buổi sáng sớm Paris chớm vào thu, ra vườn hoa tập thể thao, nghe tiếng chim ngói gáy cục cu, dịu dàng và âu yếm như tiếng người  gọi t́nh nhân. Rồi cùng mấy ông bạn già tản bộ tán dóc văn nghệ văn gừng.

Hôm  trở về nhà, th́ nhận được thư của anh, nhắc và hỏi lại hai chữ "mạc mặt " trong Chinh Phụ Ngâm ở câu 99 và 100, là chữ Nôm hay chữ Hán, tại sao lại là vẽ mặt treo lên Lăng Yên Các? Mạc có phải nghĩa là vẽ không ?

Mấy câu hỏi khá lư thú và quyến dũ tôi.

Thế là tôi lại tiếp tục lên đường ngao du một lần nữa.Lần này th́ ngao du tại gia.Trong những thư tịch và những từ điển cổ mà tôi có.Hy vọng,biết đâu chằng t́m ra thêm một vài câu văn nào đó có hai chữ "mạc mặt với nghĩa là vẽ mặt,để trả lời cho câu hỏi lư thú này.

Dưới đây xin được phép tŕnh bầy  về một số những thông tin mà tôi thu lượm được trong chuyến ngao du này.

A-Xuất xứ của chữ "mạc mặt"

Theo nguyên bản chữ Hán,trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, bản khắc Trường Thịnh Đường 長 盛 堂 khoảng năm 1910, người đọc thấy hai  như sau :

征 人 貌 誰 丹 青

死 士 魂 誰哀 弔

Chinh nhân mạo  thùy đan thanh

Tử sĩ hồn  thùy ai điếu

Đan thanh , tức chu sa hay đan sa có mầu hồng, và thạch thanh một khóang chất có mầu xanh,là những nhan liệu ngày xưa người Trung Hoa thường dùng để vẽ trong nghệ thuật hội họa, nên có nghĩa là hội họa,là vẽ,là sử sách.

Bản khắc Chinh Phụ Ngâm Trường Thịnh Đường,bên dưới phần nguyên bản chữ Hán, có phần dịch chữ nôm, và hai câu chữ Hán trên đây đă được dịch ra chữ nôm như sau :

Chinh phu tử sĩ mấy người

Nào ai vẽ mặt nào ai gọi hồn.

Như vậy,với bản khắc Trường Thịnh Đường,th́  chữ "đan thanh " được dịch ra chữ nôm là "vẽ ".

Nghĩa thật rơ ràng,không có ǵ cần băi căi thêm.

Tuy vậy, có một số bản nôm Chinh Phụ Ngâm khác,như các bản:

- Chinh Phụ Ngâm Khúc của "Đại Học Thư Lâm " in ở bên Nhật, (Do giáo sư Nguyễn Đ́nh Ḥa tặng tôi)

-Tân San Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Từ Khúc , do nhà Chính Trực Đường khắc năm Gia Long Thập Tứ Niên Cốc Nguyệt Cát Nhật,tức năm ất hợi 1815, sau khi Gia Long  lên ngôi hoàng đế được 14 năm (Bản này được giáo sư Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung gọi là bản nôm Huế ).

-Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca , (Bản viết tay,không ghi ai viết,có nhiều chữ bị mất, chữ viết đá thảo, in trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Vân B́nh Tôn Thất Lương dẫn giải và chú thích,do nhà xuất bản Tân Việt in lần thứ năm).

Th́ hai câu thơ chữ Hán trên đây lại được dịch nôm như sau :

Chinh phu tử sĩ mấy người

Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.

Theo bản Tân San Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Từ Khúc và bản "Đại Học Thư Lâm, cụm từ "mạc mặt" được viết như dưới đây

                   

Trong khi đó,bản nôm viết tay th́ cụm từ "mạc mặt" lại được viết :

Cụm từ "mạc mặt" trên đây,được các tác giải thích ra quốc ngữ là "vẽ mặt".

Ngoài ra,đồng với quan điểm giải thích này,trong bản "Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo" in năm 1953, một tác phẩm giá trị và nghiên cứu công phu của giáo sư Hoàng Xuân,cũng giải thích "mạc" có nghĩa là "vẽ", nhưng lại chỉ in có bản chữ Hán, mà thiếu bản nôm tác giả đă xử dùng để phiên âm ra quốc ngữ, thành thử người đọc không được biết chữ "mạc" viết thế nào .

Nay nhân gặp dip,tôi mới có cơ hội t́m hiểu thêm ư nghĩa của  ba chữ  , ,và trên đây.

B-T́m hiểu nghĩa của chữ (đọc mạc).

Mạc vừa là chữ Hán vừa là chữ Nôm.

a-Mạc , là chữ Hán.

Trước hết chữ mạc   là chữ Hán.Cuốn Cồ Hán Ngữ Tự Điển của nhà Thương Vụ Ấn Thư Qúan,giải thich chữ mạc thuộc lọai h́nh thanh tự,lấy h́nh phù là "thủy " biểu thị những ǵ liên quan đến nước,hoặc như nước chẩy,c̣n  thanh phù là "mạc ".

Từ điển Từ Nguyên chỉ ra cách đọc chữ theo lối phiên thiết  là "mộ các thiết, đạc vận"

Mạc có các nghĩa:

1-Nghĩa gốc của chữ "mạc " là sa mạc ,tức vùng đất có lưu sa,cát bay theo gió thổi, ở miền bắc Trung Quốc. Như Mạc Bắc là vùng sa mạc ở cao nguyên Mông Cổ

2-Mạc c̣n có nghĩa là mênh mông bao la .Như quảng mạc.

3-Mạc c̣n có nghĩa là lănh đạm,không chú ư. Như trong thành ngữ "mạc bất quan tâm ", h́nh dung thái độ lănh đạm đối với người hay sự vật, không hề chú tâm đến một chút nào.

Chữ "mạc " kết hợp với các chữ Hán khác tạo ra các cụm từ như :

lănh mạc ,

hoang mạc ,

đạm mạc ,

quảng mạc

lạc mạc ,

mạc bắc

mạc bạc .

b-Mạc , là chữ Nôm.

Theo học giả Đào Duy Anh, trong các cách thức cấu tạo chữ Nôm, có cách được gọi là giả tá, tức mượn âm chữ Hán, đọc theo Hán Việt, để biểu hiện những từ Nôm đồng âm mà không đồng nghĩa.

Như chữ "tốt " chữ Hán (âm Hán Việt) có nghĩa là binh lính,nôm  th́ lại có nghĩa là "tốt lành".

Cũng theo cách giả tá này,chữ Nôm mượn âm Hán của hai chữ mạc và mạc (đọc theo âm Hán Việt) biểu thị chữ Việt đồng âm mà không đồng nghĩa, như trong  những  cụm từ : làng mạc, trận mạc, họ mạc, mộc mạc, mặt mạc, miễu mạc… Chữ "mạc" trong các cụm từ nôm này vô thực nghĩa, chỉ đóng vai tṛ của một tiếp vĩ ngữ để nhấn mạnh âm đứng đằng trước nó, mà không mang một ư nghĩa nào cả..

2-Sau nữa,chữ "mạc " đọc trại đi, để đọc là "mác", biểu thị âm  "mác ", trong cụm từ  "man mác ",như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu :

纙 衛 兜

Hoa trôi man mác biết là về đâu

".Đúng ra trôi trong trôi chẩy phải được viết bằng hai chữ"  thủy +lôi=氵+雷" Con trôi có nghĩa là cá trôi,chúng tôi mượn tạm để viết "

Cụm từ man mác được Dào Duy Anh giải thích là  tản mạn,h́n dung có nhiều vật ǵ rải rác trên một khỏang rộng,không tập trung)

C-T́m hiểu nghĩa của chữ "" (đọc mạc)

Cũng như chữ "mạc", chữ "mạc" vừa là Hán vừa là Nôm.

a-Mạc là chữ Hán.

Theo Thực Dụng Trung Y Tự Điển ấn hành năm 2001, th́ chữ mạc " " là một chữ hội ư. Giáp cốt văn ghi chữ này  thành ba phần.Phần trên cùng là chữ "thảo", trung gian là chữ "nhật ", bên dưới  lại là chữ  "thảo 艸", sau thay đổi dạng  thành chữ "đại ", mô tả  trạng thái mặt trời lặn giữa đám cỏ cây.

Sách "Thuyết Văn Giải Tự" của Hứa Thận, đời Đông Hán,giải nghĩa chữ mạc là "日且 nhật thả minh dă-Nghiă là ngày sắp tối, tức lúc mặt trời sắp lặn, v́ thế,  sau viết thành ,"đọc mộ".

Về cách đọc, Từ Nguyên chỉ cách đọc theo lối phiên thiết là :"mộ các thiết,đạc vận "

Ngoài nghĩa gốc ở trên,chữ "mạc " c̣n có một số nghĩa khác như dưới đây:

-Không ai, không có ǵ, dùng làm phó từ. Như "Mạc danh kỳ diệu - Không ai có thể nói được chỗ kỳ diệu ấy"

-Có nghĩa là không, dùng trong câu phủ định.Như "Aí mạc năng trợ -Muốn giúp mà không giúp được.

-Có nghĩa là có lẽ là, ước chừng,biểu thị sự suy đóan. Như mạc phi

 -Có nghĩa là họ Mạc.

-Có nghĩa là rất.Như "mạc đại -rất lớn"

-Có nghĩa là đừng, chớ, dùng trong câu khuyên ngăn, cấm đóan. Như "Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ Đừng có lo sau này không có người tri kỷ.

-Thông dụng với chữ mạc ,

-Thông dụng như chữ (đọc mô),có nghĩa là mưu mô.

b-Mạc ,là chữ Nôm.

Cũng như trường hợp chữ "mạc ", Nôm mượn âm Hán Việt của chữ mạc này để ghi âm "mạc" trong các cụm từ như :

- làng mạc (J.L Taberd)

- miễu mạc (J.L Taberd)

- họ mạc …( J.L Tarberd)

-trận mạc陣莫

Ngoài ra mạc được đọc trại ra thành "mác" để biểu thị âm "mác" trong các cụm từ

 "chếch mác 隻莫,"có  nghĩa là tản mạn, buồn bực quá chừng (Pigneau de Béhaine)

 "man mác " có nghĩa là tản mạn, có nhiều lo toan (Pigneau de Béhaine).

D-T́m hiểu nghĩa của chữ "" (đọc mặt)

Chữ "mặt "là một âm thuần Việt, không phải là một chữ Hán, được cấu tạo theo lối h́nh thanh, bởi hai thành tố chữ Hán :末+ 面 =  - mạt +diện = mặt.

1-Chữ Mặt , theo các từ điển Việt Nam giải thích th́ là phần trước của đầu, và gồm mắt, mũi, mồm   Như trong Truyện Kiều có câu :

Mặt mơ tưởng mặt ḷng ngao ngán ḷng

2-Nhưng người ta cũng dùng chữ mặt để chỉ những vật ǵ có h́nh dáng tṛn và phẳng, như

3-Chỉ chiều hướng, như

4-Mặt c̣n là lượng từ,dùng để đếm.Như:

5-Tên một lọai cây gọi là :

6-Theo Vũ Văn Kính th́ "mặt ", theo giả tá nôm c̣n đọc là mặc.

E- "Mạc" có nghĩa là "vẽ".

Sau hơn một tuần lễ "ngao du" trong đống thư tịch hán nôm và những tự điển rách nát,ũ kỹ của ḿnh,hưng v́ khả năng hạn hẹp,à tài liệu ít ỏi,ôi chỉ lượm lặt được một số nghĩa có liên quan đến hai chữ mà tôi đă mạn phép tŕnh trên đây,hỉ tiếc rằng đă không t́m thêm được câu văn nào có chữ "mạc "với nghĩa là vẽ,ể  giải đáp thỏa đáng cho câu hỏi quyến rũ đă đặt ra.

Dầu vậy,hông thể v́ thế mà khẳng định rằng hai chữ "mạc " không có nghĩa là "vẽ" được.

Thật ra,trong cuốn "Gíup đọc Nôm và Hán Việt", của Linh Mục Trần Văn Kiệm,một tác phẩm công phu và giá trị,gười ta có thể t́m thấy hai chữ "mạc" , viết là :

              瘼 và 抹

được tác giả giải thích là vẽ,và nêu ra thí dụ :

Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.

Tiếc rằng tác giả  không chua rơ chữ , và ,đă được trích từ  bản nôm Chinh Phụ Ngâm năm nào.

Hai chữ mạc này cũng đều là chữ Hán đọc theo âm Hán Việt.

Chữ  mạc , có nghĩa là sự khổ sở, bệnh hoạn. C̣n chữ mạc , là một chữ thuộc lọai đa âm tự,và ta quen đọc là mạt,có nghĩa xoa bôi,xóa bỏ, như mạt phấn , mạt tường .

Mà theo cách cấu tạo giả tá về chữ nôm, người ta có thể mượn âm Hán Việt của một chữ Hán, để tạo một chữ nôm đồng âm, nhưng v́ không có qui định thống nhất  phải dùng chữ  Hán nào để có một chữ nôm tương ứng. Thành thử xẩy ra t́nh trạng có một chữ nôm, cùng một âm,cùng một nghĩa, có thể được viết bằng nhiều chữ Hán khác nhau. Như trường hợp chữ "mạc" là vẽ vậy, khiến cho sau này hậu thế gặp nhiều khó khăn khi t́m nghĩa của một chữ nôm cổ đă không dùng nữa.

Đó cũng là trường hợp của cụm từ quen đọc là "cổ lục" ở câu thứ 7 của Truyện Kiều:

錄 群 傳 史 撐

Phong t́nh cổ lục c̣n truyền sử xanh.

Thật ra, trong các bản nôm Truyện Kiều được lưu hành rộng răi như các bản:

1-Liễu Văn Đường

2-Văn Nguyên Đường.

3-Quảng Văn Đường

4-Phúc Văn Đường

5-Abel des Michels.

6-Thúy Kiều Truyện Tường Chú.

7-Kim Vân Kiều Chú.

Th́ tám chữ trong câu 7 trên đây không hề có chữ nào đọc là cổ cả,c̣n hai chữ người ta quen đọc là "cổ lục"  này đều khắc bằng hai chữ Hán là "cố lục ".

Chữ âm Hán Việt đọc là cố (cố định,cố thể),nôm đọc là có.

Chữ âm Hán Việt đọc là lục (mục lục,sao lục)

Theo bản Kiều phiên âm lần đầu tiên ra quốc ngữ năm 1875 của học giả Trương Vĩnh Kư th́ câu số 7 này đă được phiên âm là :

Phong t́nh có lúc c̣n truyền sử xanh

Đọc là "có lúc", sẽ hợp với văn cảnh hơn.(Truỵên "phong t́nh" tức truyện trai gái yêu đương, cũng có lúc được ghi vào sử xanh).

Âm "lúc" của tiếng Việt,thường được viết theo cách giả tá bằng chữ Hán là lục ,th́ cũng có thể viết bằng một chữ Hán khác cũng âm là lục .

Tuy vậy,tôi không thể khẳng định rằng "có lúc" là hoàn toàn đúng, và "cổ lục" là ḥan toàn sai,v́ gần đây có hai bản nôm Truyện Kiều viết tay mới được t́m thấy,một của Lâm Nọa Phu (chép năm 1870) và một của Tăng Hữu Ứng(chép năm 1874), cho biết là hai chữ quen đọc đó viết là "cổ lục ".

Như thế,đứng về văn bản học,bản chép tay của Lâm Nọa Phu ra đời sau bản Liễu Văn Đường –Nghệ An bốn năm,chúng ta sẽ phải trọn lựa văn bản nào trong hai văn bản trên đây để làm tiêu chuẩn nghiên cứu ?

Vậy xin ghi ra đây để tồn nghi.

Ngoài ra, trong các từ điển của Gustave Hue, của Eugène Gouin, …người ta có thể t́m được  những chữ "mạc" với nghĩa là "peindre" (vẽ), nhưng viết một cách khác.

Gustave Hue th́ viết là :

                           

 C̣n Eugène Gouin là :

                           

Cả hai chữ trên đây đều là chữ Hán, âm Hán Việt đọc là "mạo" có nghĩa là diện mạo . Tôi không rơ hai chữ mạo trên đây  tại sao lại được đọc là mạc? Phải chăng những chữ này cũng thuộc lọai đa âm tự và có một âm là mạc chăng.

D- Mạc mặt và Lăng Yên Các.

Mạc mặt có nghĩa là vẽ h́nh mặt.

Ở  nguyên bản chữ Hán của Chinh Phụ Ngâm câu 447 ghi :

Lăng yên các hề Tần Thúc Bảo

Lăng Yên Các là tên một điện các nằm trong Thái Cực Cung ở kinh đô Trường An đời Đường.Sách "Cựu Đường Thư-Thái Tông Kỷ", ghi rằng vào tháng hai năm Trinh Quan thập thất niên, tức năm 643, Đường Thái Tông Lư Thế Dân,người đă có công tạo dựng lên một đế quốc cường thịnh, rộng lớn bậc nhất lịch sử Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6, tức vương triều nhà Đường, từng sai họa sĩ tài danh đương thời là Dương Lập Bổn vẽ h́nh hai mươi bốn vị công thần theo pḥ Lư Thế Dân, như Trưởng Tôn Vô Kỵ,Đỗ Như Hối,Ngụy Trưng,Lư Tĩnh,Tần Thúc Bảo,Tŕnh Giảo Kim…đem treo ở Lăng Yên Các để ghi nhớ  công lao của họ.

Tần Thúc Bảo là một tướng lănh đời sơ Đường, tên thật là Quỳnh, tự là Thúc Bảo, người Tề Châu Lịch Thành.Cuối đời nhà Tùy, Tần Thúc Bảo theo Trương Tu Đà trấn áp các cuội nổi dậy của Lư Mật và Lư Minh Nguỵêt. Sau khi Trương Tu Đà chết, Tần Thúc Bảo lại theo về với Lư Mật, được Mật dùng làm Trướng Nội Phiêu Kỵ. Sau khi Lư Mật bị bại trận,Tần Thúc Bảo bị Vương Thế Sung bắt, ít lâu sau th́ hàng Đường, theo Lư Thế Dân, được Lư Thế Dân dùng làm Mă Quân Tổng Qủan, đánh bại đuợc Tống Kim Cương,Vương Thế Sung, rồi trấn áp đuợc các cuộc nổi dạy của Đậu Kiến Đức và Lưu Hắc Đạt, làm quan đến chức Tả Vơ Vệ Đại Tướng Quân.

Tần Thúc Bảo c̣n được người Tầu tôn thờ là Môn Thần, thần canh giữ cửa,khu tà và trừ ác. Người ta thường thấy tượng của ông cùng với tượng của Uất Tŕ Kính Đức đứng  trấn giữ ở ngoài cửa đền đài, lầu các và thường được mệnh danh là "Môn Thần Nhị Tướng Quân". Nguyên có giai thoại về Tần Thúc Bảo, kể rằng :

"Đường Thái Tôn Lư Thế Dân, ban đêm không ngủ được, thường nghe tiếng gạch ngói ném trên nóc nhà,tiếng ma quỉ gào thét, th́ lấy làm sợ, mới đem truyện hỏi các đại thần, th́ Tần Thúc Bảo xuất ban tâu:

-Thần b́nh sinh giết người như cắt cỏ, thấy tích nhiều như kiến, lẽ nào lại sợ ma quỉ? Xin bệ hạ cho thần cùng với Kính Đức mang khí giới đứng canh ngoài cửa.

Đường Thái Tôn chuẩn tấu. Quả nhiên ban đêm không c̣n nghe tiếng quỉ hú nữa. Đường Thái Tôn lấy làm mừng, bèn sai hoạ công vẽ h́nh Tần Thúc Bảo và Uất Tŕ Cung treo ở hai bên tả hữu ngoài cửa cung điện.Và đích thân Đường Thái Tôn viết hai câu đối ca tụng:

 

 

Song đồng đả xuất Đường thế giới

Đơn tiên sanh chú Lư Càn khôn.

Riêng tôi, hồi bé ham đọc truyện Tầu, trong chiến tranh thường trốn mẹ tôi sang làng Lương Đường, quê cụ Phạm Quỳnh,mượn người quen cuốn Thuyết Đường in bằng giấy gió về đọc.

Trong truyện kể Tần Thúc Bảo có xước hiệu là "Trại Chuyên Chư", nhà nghèo, mồ côi cha, làm chân bổ khoái ở huyện Lịch Thành, có ngón đ̣n Kim Gỉan tổ truyền thần sầu quỷ khốc, nặng một trăm ba mươi cân, lợi hại không thua ǵ ngón hồi mă thương của La Thành, lấy đầu địch nhân nhanh như lấy khăn trong túi.Tần Thúc Bảo từng sáp huyết ăn thề kết giao với bọn lục lâm hào kiệt, trừ gian diệt ác, cứu khốn pḥ nguy, như Tŕnh Giảo Kim, Từ Mậu Công, Lư Tích,Ngụy Trưng rồi cùng họ pḥ giúp Lư Thế Dân dựng lên nghiệp đế, lưu danh muôn thuở. Nhiều chi tiết trong truỵên tôi đă quên, nhưng c̣n nhớ măi cảnh tác giả mô tả  Tần Thúc Bảo khảng khaí, không sợ liên lụy, chuốc rượu tế sống người bạn kết nghĩa là Đan Hùng Tín, để đưa tiễn Tín lên đọan đầu đài.

Rất là bi tráng và cảm động.

Ngoài ra, Tần Thúc Bảo c̣n được những người hành nghề bổ khoái ,tức nghề bắt đạo tặc trộm cướp, tôn làm tổ sư.Trong nhà những người hành nghề này, đều có treo h́nh thờ Tần Thúc Bảo.

Về sau, trong thơ văn cổ điển, thường dùng đỉển tích "tranh treo gác khói" để nói lên sự ghi nhớ công nghiệp, danh lưu sử sách của các danh tướng.

Như Đỗ Mục từng có câu thơ :

 

Công danh đăi kư Lăng Yên Các

Lực tận Liêu Thành bất khẳng hồi

(Công lao đợi ghi vào Lăng Yên Các,xin tận lực ở Liêu Thành,không chịu trở về)

C̣n ở nguyên bản chữ Hán của Chinh Phụ Ngâm câu 447-448 ghi :

閣兮秦

臺兮霍

Lăng yên các hề Tần Thúc Bảo

Kỳ Lân đài hề Hoắc Phiêu Diêu

và được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm một cách tài t́nh:

Tài so Tần ,Hoắc vẹn tuyền

Tên ghi gác khói,tượng truyền Đài Lân.

𨎆 秦 霍 院 全

𠸜 記 閣 𤌋 像 傳 臺 麟

Trong thơ văn cổ điển Trung Quốc, người ta c̣n gặp một địa danh khác có tên là Lăng Yên Lâu , nằm ở thành phố Cửu Giang tỉnh Giang Tây bây giờ,do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh cất khi ông làm Thứ Sử Giang Châu, và Lư Bạch đă có thời du ngọan đến đó, nên mới có câu thơ :

Triêu biệt Lăng Yên Lâu

Minh đầu Vĩnh Hoa Tự.

(Sáng biệt lầu Lăng Yên,tối vào chùa Vĩnh Hoa)

Cuộc ngao du với sách vở đến đây, tôi cũng cảm thấy mệt mỏi rồi, dù biết rằng c̣n nhiều chỗ bất cập và thiếu sót, câu văn có chỗ không được mạch lạc khúc triêt. Nhưng thôi th́, tâm t́nh với nhau, ta cần ǵ phải mầu mỡ riêu cua, để làm vẩn đục cái t́nh bạn cẩu nhục chi giao  của ḿnh đi. Đành hẹn với anh, để khi t́m đựơc thêm những ǵ mới th́ sẽ bàn lại tiếp.

Cám ơn anh đă cho muợn mấy cuốn sách nhá.

Thân.

Phạm Xuân Hy

(20-9-2006 17h15)