T U Ổ I    T R Ờ I

                                                                         Tặng các bạn cùng trang lứa

 S I N H  người đất Cố Đô, nhà vốn đời đời đọc sách.  Thưở trẻ có đi du học xứ Phù Tang, thấy vùng Giang-Hộ là đất lành nên cứ đó mà ở riết, cũng trên mười mấy năm.

V́ đi xa ăn học, nên nghĩ để học được cần phải … ăn.  Trước ăn nhiều món địa phương không được,  sau lâu quen dần, đâm ra thích, kể cả những thư như cá sống, rong biển, mực ma v.v...   Nhưng bạch diện thư sinh không biết tự nấu ăn, nên phải lân la sống trong các cư xá học sinh, hoặc gần ở đó, để có thể đến mua thức ăn, tránh việc củi lửa.  Khi nào cần thiết lắm th́ t́m những thứ đă làm bán sẵn ở chợ, chung qui cũng để đỡ làm việc bếp núc. 

Có một món nấu được rất quen, đó là ḿ ăn liền.  Nhưng con nhà lính tính nhà quan, không chịu ăn trơn như thế.  Hay mua thịt xay bán sẵn, bỏ giá sống vào, thêm chút dưa muối, nấu thành bữa ăn, cứ vậy ngày nọ qua tháng kia.  Thỉnh thoảng chán th́ đổi vị, thay thịt ḅ bằng heo hoặc gà, đổi giá ra rau Tần Ô hay xà lách.  Nhưng chủ yếu chất tươi chọn lựa vẫn là giá sống, v́ nó tiện!  Sinh hay cười ḿnh, nghĩ rằng  nếu cứ sống đời du học hoài như thế, chả biết Thu này sang Đông khác,  thử hỏi

                        ḷng tôi c̣n giá tới bao giờ ?

NHỚ câu "tam thập nhi lập", bèn nghĩ LẬP đây chắc là lập ... gia đ́nh, nên muốn cưới vơ..  Cũng phải mất dăm bảy năm, gặp được người con gái đất Nam Hà, kết nghĩa làm bạn lâu dài.

Thưở vợ "bơ vơ mới về", thường khiêm tốn mà khoe rằng ḿnh cũng biết nấu nướng vỏ vẻ "ít nhiều chi đó".  Vợ phục, cho rằng kẻ sĩ mà được thế cũng khá hiếm hoi, đáng quư!  Dĩ nhiên những khi tṛ chuyện, không hề kể ra việc nấu ḿ ăn liền với tấm ḷng đầy " băng giá" của ḿnh.  Dù sao vợ thương chồng nên cáng đáng hết mọi việc nấu nướng hằng ngàỵ  Sinh chả có cơ hội thi thố, đành ôm tài đợi thời như Gia Cát Khổng Minh.

 

MỘT  hôm, vợ bận đi thi, nhờ nấu hộ bữa cơm tối.  Sinh nghĩ ngay đến món ḿ ăn liền quen thuộc, hăm hở nhận lời.  Vợ về, Sinh hỏi làm bài thi được không, đáp làm được hết, rồi vô ăn ḿ, vui như sáo.  Sinh thấy vợ vui vẻ ăn hết, lấy làm đắc chí, nghĩ ḿnh là vơ lâm cao thủ, rung đùi ngâm thơ của Huyền Trang thi sĩ  là người xứ Đại Nam đă một thời nổi tiếng ở Phù Tang Tam Đảo ngày xưa: 

                        Nắng soi sáng băi phi trường,
                       
Qua đây chứ phải thứ thường đâu em!

Thừa thắng xông lên, chàng biểu diễn lần thứ nh́, rồi lần thứ ba... Nhưng mỗi lần không hiểu tại sao mức tiêu thụ cứ giảm xuống rơ rệt.  Cuối cùng, khi tới chính chàng cũng không muốn thưởng thức cái món "nhiều năm kinh nghiệm" của ḿnh  (trong khi cũng chính những nguyên liệu đó mà vợ nấu th́ ngon hơn),  sinh biết nghề ḿnh đă đến .. bước đuờng cùng. 

Vợ sợ chồng hết nghề, nhờ làm việc dễ hơn là nấu cơm.  Có cái nồi điện nho nhỏ quen thuộc vốn do con cháu của gịng Chulalongkorn biếu tặng từ những ngày c̣n ở xứ Phù Tang, đem ra dùng.  Cứ việc bỏ 2 lon gạo vào,  đổ nước cao 1 lóng tay cái, bấm nút, là xong!

ĐƯỢC  một hai năm, cái nồi cũ quá, găy mất nắp.  Chàng muốn bắt cái đinh vít vào để dùng tiếp, vợ cản lại, bảo:  Đâu có bao nhiêu mà chắp vá coi thảm thương lắm.  Có khách đến, họ cười cho!

Nghe thuận tai, sắm cái nồi khác, lớn hơn.  V́ mới nên cái "quen tay" của chàng  đối với  nồi cũ trở thành vô dụng.  Vợ  phải dặn :   Này nhé, 5 lon gạo, nước  ở số  6.  Sinh đáp lớn "Nghe rơ, nhớ kỹ", nhưng khi làm th́ ... không theo.  Thấy nước ở mức số 6 sao cao hơn tới hai lóng tay cái, nhiều quá, chàng lặng lẽ rút bớt nửa khấc, nghĩ thầm phải biết "uyển chuyển áp dụng sáng tạo lư thuyết (cuả kỹ thuật nồi cơm điện) thế giới vĩ đại vào hoàn cảnh (gia đ́nh) Việt Nam " !

Nhưng đă bớt nước rồi mà cơm lần nào cũng nhăo.  Chả lẽ rút thêm !  Thấy vợ nấu th́ cơm vừa ăn, Sinh hỏi lại :     Nước để ở mức nào ?   Đáp:  số 6 !  Chàng  thầm lắc đầu, không hiểụ  Từ đó cứ thỉnh thoảng chịu khó nghe vợ thắc mắc tại sao đă dặn mức số 6 mà lại đổ nước quá nhiều!

Một bữa kia, nhà mua gạo mới.  Vợ lại dặn:  Gạo này phải bỏ nước ở mức sáu rưỡi, chớ bỏ ở số 6 mà khô.  Bại tướng không dám khoe mạnh, Sinh ráng làm theo.  Nhưng kiếm hoài không có mức sáu rưỡi, bảo vợ:  Cái nồi này không có mức sáu rưỡi, chỉ có sáu, đến một vạch nhỏ ở giữa, rồi nhảy lên mức số ... mười!   Vợ đang may vá, không đến được, nói vọng ra :  Ḿnh chịu khó nh́n lại, làm ǵ có chuyện từ sáu nhảy lên mười !

Sinh coi đi coi lại, không thấy.  Tức chí, bèn lấy kiếng mắt đeo vào nh́n cho kỹ.  Trời đất!  (Sinh muốn té ngữa)  Cái mức mà xưa nay chàng vẫn nghĩ là 6, thực sự lại là 8 !  Thảo nào nhảy lên 2 khấc nó chả thành 10 ?   C̣n hồi trước có rút bớt nửa khấc nước th́ cũng vẫn bảy rưỡi, cơm không nhăo sao được?!    Nghĩ thương vợ kiên nhẫn, ăn cơm nhăo theo ḿnh cả mấy tháng trường.

ĐÊM nằm, nhớ chuyện nấu cơm ban chiều, Sinh miên man nghĩ đến tuổi của ḿnh.   Từ mấy năm nay, chẳng những mắt kém ra mà nói chung sức lực cái ǵ cũng giảm.  Thức đêm để viết lách đă thấy mệt, bưng vác cái ǵ nặng 1 chút. hoặc ngồi không đúng thế vv..  thấy cơ thể mỏi mệt rất lâu.  Đành là luật to hóa phải như vậy, nhưng không ngờ nó đến sớm thế.  Chàng bồi hồi nhớ bài thơ của cụ Huỳnh Mẫn Đạt:

                        Tuy rằng muông cẩu có ân ba
                       
Răng rụng cho nên nó phải già

                       
Mạnh mẽ khi xưa c̣n hớn hở
                       
Bây giờ yếu đuối hết xông pha

Bên cạnh, đứa con gái đầu ḷng đang mọc răng, thức dậy trong nôi, khóc thành tiếng.  Vợ chàng ru con nho nhỏ :

                        Ầu  ơ ...
                       
Ví dù cầu ván đóng đinh

                       
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

                       
Khi đi mẹ dẫn con đi

                       
Con thi trường học, mẹ thi trường đời

                       
Rồi ra biển rộng sông dài
                       
Năm châu bốn cơi, sáu loài đua tranh...

Sinh nằm thao thức, nghĩ cho đến khi con khôn lớn, con đường c̣n bao la sông dài biển rộng.   Lời ru cứ như 1 điệp khúc, vương vấn măi trong ḷng.


Văn-Lang Tôn-thất Phương, Canberra 1998-10.

npttp@yahoo.com.au