Chỉ nghĩ về ngày 30-4 thôi th́ chưa đủ

 

Ta đang ở đâu không quan trọng, quan trọng là ta sắp đi về đâu.

(Leo Tolstoy)

Hôm nay, người Việt nơi nơi lại đón một ngày 30-4 với nhiều t́nh cảm rất phức tạp. Ai có theo dơi thông tin th́ thấy ngay được muôn h́nh vạn trạng của những t́nh cảm phức tạp đó.

Trong khi chính quyền rầm rộ tổ chức kỷ niệm mừng “đại thắng mùa xuân”, dân chúng th́ tuy được nghỉ lễ nhưng hẳn không mấy ai vui. Một số trí thức xuất thân từ miền Bắc, v́ họ không bị trói buộc với vấn đề lư lịch nên bày tỏ ư kiến nhiều hơn hẵn những người xuất thân từ miền Nam. Giống như nhà văn Dương Thu Hương tâm sự từ mấy chục năm trước, nhiều người nói “tiếc thay cây quế giữa rừng” khi nhắc đến miền Nam trong cuộc “kết hợp 30-4”. Trong Nam, có người bảo “được hay thua trong ngày 30-4 đều là đó ngoại quốc sắp đặt sẵn cả, có ǵ mà vui mừng”; có người phân vân không hiểu chủ tịch Hồ Chí Minh của thời 1954-1969 có phải là ông Nguyễn Ái Quốc của năm 1920 hay không, v́ năm 1920 ông có viết “Việt Nam yêu cầu ca” cho chính phủ Pháp:

Một xin tha kẻ đồng-bào
V́ chưng chính-trị mắc vào tù giam
Hai xin phép-luật sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
Những toà đặc-biệt bất công
Giám xin bỏ giứt, rộng giung dân lành…

T́nh cảm của người Việt hải ngoại lại càng phức tạp hơn. Tuy nhiên tất cả không tập trung vào một hướng mà tản mạn ra nhiều khía cạnh: Lo sự mất c̣n của biển đảo, tưởng nhớ đồng đội, tưởng nhớ quá khứ, vv... Cũng có nhiều cuộc biểu t́nh kỷ niệm 30-4 “ngày quốc hận”.

Trước đây, người ta vốn quen gọi ngày 30-4 là “ngày Giải Phóng”. Nhưng với 40 năm trôi qua, ngày nay rất nhiều người Việt bảo nhau “có phải đó là ngày Giải Phóng” hay không? Hầu hết báo chí trong nước đă cố tránh dùng từ “giải phóng” và thay bằng từ “ngày thống nhất”. Trong dân gian, có đề nghị nên gọi 30-4 là “Ngày Suy Gẫm”, v́ đó là dịp cho tất cả chúng ta cùng suy nghĩ lại mọi chuyện để rút kinh nghiệm cho tương lai.

*

Vậy để rút kinh nghiệm, cũng nên xem lại một vài điểm của ngày 30-4.

Nghĩa của chữ “Cách Mạng” là “Đổi Đời”. Nếu ngày 30-4 là ngày “dân tộc đổi đời”, th́ ắt từ ngày ngày đó, tất cả người Việt chúng ta đă tích cực bắt tay vào để t́m giải đáp cho những câu hỏi căn bản sau đây:

1.

Người Việt hôm nay có nắm được vận mệnh của chính ḿnh?

2.

Dân tộc Việt có đủ sức tự vệ khi có đe dọa của nước ngoài?

3.

Có ấm no, hạnh phúc trong cuộc sống hàng ngày của toàn dân?

4.

Ḷng người có an định, có niềm tin vào hiện tại, tương lai?

5.

Dân Việt có được kính nể, dân trí có được nâng cao, xă hội có nề nếp, đạo đức?

Các câu hỏi nầy đặt trên tiền đề là không ai đ̣i hỏi rằng với ngày 30-4 th́ tất cả cây cối trên đất Việt đều đơm hoa nở trái. Dĩ nhiên là từ đầu phải trồng cây. Nhưng để có thể gọi 30-4 là “ngày giải phóng”, trong quá tŕnh bắt đầu từ ngày đó, chúng ta có thực sự nghĩ đến phải trồng cây theo từng bước hay không, và sau 40 năm từ 30-4-1975, hiện nay trong khu vườn đất nước đang có những “cây trái” ǵ?

Vận mệnh dân tộc

Ngày nay chúng ta biết (từ các tài liệu mật đă được giải mă), sở dĩ sự việc 30-4-1975 xảy ra cũng do Kissinger hứa hẹn trước với Chu Ân Lai: Khi kư kết Hiệp Định Paris 1973, ông ta đă yêu cầu Bắc Kinh hăy chờ 1 thời gian thích hợp (decent interval) – ước lượng khoảng 2 năm – để cho Sài G̣n sụp đổ.

Lịch sử của VN là 1 chuỗi liên tục phải đối chọi với âm mưu và áp lực của ngoại bang. Không kể chuyện Trung Quốc đă hằng đô hộ và VN ta cứ phải chống trả để thoát ra, rồi hầu như lúc nào cũng phải triều cống, thần phục; cho măi đến khi Trung Quốc trở nên bại xuội trước súng đạn của Tây Phương… Cũng không cần thiết kể đến 80 năm VN bị nắm cứng trong bàn tay nước Pháp.

Chỉ nh́n lại Hội Nghị Genève 1954. Vận mệnh chúng ta thay đổi từ khi Mao Trạch Đông thành công năm 1949. Sự thay đổi đó là ǵ, nếu không phải là bàn tay chi phối của Bắc Kinh trên VN. Dựa vào họ mới có chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa tới hội nghị Geneve chia cắt đất nước. Cứ b́nh tĩnh đọc lịch sử th́ sẽ thấy cả hai chính phủ Hà Nội lẫn Sài G̣n đều bị áp đặt bởi các nước lớn: Mỹ Anh Nga Trung Cộng. Nhân dân VN không được quyền chọn lựa, dù đó là vận mệnh của ḿnh.

Rồi hiệp định Trung Lập cho nước Lào (1960) là một điều sinh tử cho sự sống c̣n của Việt Nam Cộng Hoà, nhưng Tổng Thống Diệm đă phải bó tay, v́ Washington muốn thế. Cuộc chiến VN leo thang là từ kết quả đó, đưa đến việc Washington muốn đưa quân vào đất Việt, dẫn đến cái chết bi phẫn của anh em Tổng Thống Diệm. Một đám tướng lănh ô hợp được đưa lên làm lănh đạo, họ vốn không phải là chính trị gia hay ít nhất cũng là chuyên viên có kinh nghiệm về hành chánh (bureaucrats), nên đụng đâu vá đó, chẳng có sách lược ǵ dài hạn.

Nhân dân cũng bó tay, mà dân trí lại thấp, không biết đâu là đâu nên sống không định hướng. Rốt cục là miền Nam đón nhận một ngày 30-4-1975.

Trong thời gian đó, ở miền Bắc, những việc xảy ra đều cũng không phải là do từ người Việt chọn lựa. Nhân dân nào lại muốn cả mấy trăm ngàn người chết với Cải Cách Ruộng Đất? Nhưng chính quyền không dám chống yêu sách của Trung Cộng. Sau đó là 1 chuỗi nào là “rèn cán chỉnh quân”, các vụ “Xét Lại”, “Nhân Văn Giai Phẩm”; nào là đấu tranh giữa phái muốn “giải phóng miền Nam” và phái muốn cạnh tranh ḥa b́nh với miền Nam ... Nhân dân miền Bắc cũng không quyết định được vận mệnh của ḿnh (Nếu chịu khó đọc lịch sử, các tài liệu đều viết rơ là từ giữa tháng 1-1950, Stalin đă giao khoán việc “coi sóc” đảng Cộng Sản Việt Nam cho Mao Trạch Đông là ǵ)!

Trung Quốc chỉ không thể áp lực được VN khi họ yếu (như thời 1900-1948). Ngày nay, “người khổng lồ” Trung Quốc đă thức dậy, áp lực của họ càng nặng nề. Ngược lại, nhân dân VN không được quyết định về những vấn đề biển đảo, biên giới, đất cho thuê, đầu tư kinh tế, vv... Với giới hữu trách, hầu như mọi sự cũng là đụng đâu vá đó, “sai th́ sửa”, vay mượn tứ phương ...

Trong khi đó th́ không mấy ai suy gẫm làm thế nào để chính bàn tay người VN có thể nắm được vận mệnh ḿnh. Các nhà dân chủ VN th́ trong việc mong cởi trói đă dùng hết th́ giờ, sức lực và tâm trí. Giới hữu trách th́ chỉ nghĩ đến ngăn chận họ và cho thuê đất đai, giải tán dân oan. Rất nhiều người Việt ở nước ngoài th́ mỗi ngày cứ lo chuyện phản đối và nghi ngờ những ông cựu đại tá Bùi Tín, cựu thiếu tá Liên Thành, ông Điếu Cày, bà Dương Thu Hương, cô Huỳnh Thục Vy, vv...

Tự vệ

Từ thời hải quân Pháp bắn phá Đà Nẵng (1856) đến nay là gần 160 năm, VN vẫn chưa bao giờ tự chế được vũ khí thích ứng để tự vệ, và điều này có vẻ chưa bao giờ nằm trong ư thức của toàn dân. Nếu đột nhiên Trung Cộng đánh thẳng vào ta tối nay, cả nước sẽ lấy ǵ mà chống lại?

Những điều khác

Điều quan trọng nhất là no ấm. Trước 1975, nông nghiệp của miền Nam có thể đủ nuôi cho cả nước, nhưng do chiến tranh liên miên ở nông thôn, chính quyền phải dựa vào viện trợ Mỹ để sống c̣n. Miền Bắc th́ do việc “chiếu cố miền Nam”, rồi hậu quả của những chính sách Cải Cách Ruộng Đất, cải tổ Xă Hội Chủ Nghĩa, hợp tác xă, vv... làm cho đói kém.

Ngày nay, sau 40 năm tương đối ḥa b́nh, mức sống của nông dân như thế nào? Ở thành thị, kiếm công ăn việc làm ra sao? Trước mặt người Việt là khi trái đất nóng lên, nhiều vùng ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập nước mặn. Đó là chưa kể các con đập nhân tạo ngăn gịng Mekong của Trung Cộng, Lào, Campuchia, sẽ ảnh hưởng không nhỏ lên lượng nước (và cá) của Cửu Long. Ngoài biển khơi th́ quân Trung Cộng cấm ta bắt cá...

Cũng quan trọng không kém là nếu khi có thay đổi chính sách (hay thay đổi thể chế) th́ sẽ làm những ǵ, sẽ ra sao? Kinh nghiệm cho thấy là với ngày 30-4, VN đă không có chính sách ǵ cho một đất nước thống nhất có thể tự túc và phát triển xă hội (ngoại trừ những chính sách thuần về mặt “an ninh” của chính quyền như bắt đi cải tạo, đổi tiền, ‘cải tiến’ thương nghiệp, vv...) nên chính quyền đă rất lúng túng, rốt cục chỉ biết áp dụng mô h́nh XHCN sẵn có ở miền Bắc cho cả nước. Mô h́nh này lại là mô h́nh kinh tế chiến tranh, với nguồn thu nhập chủ yếu là viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc.

Nếu chỉ nghĩ đến thay đổi chính sách th́ cũng sẽ không khác ǵ lắm. Ai, sẽ làm những ǵ, với phương tiện nào, đó toàn là những câu hỏi quan trọng cần được suy gẫm.

*

Cái quư giá nhất của con người là niềm tin. Nếu có niềm tin, việc ǵ cũng có thể thành tựu.

Nhưng niềm tin đó phải có cơ sở, nghĩa là con người phải thấy được ḿnh có lư do hợp lư để đặt niềm tin. Niềm tin của trẻ thơ là trí tuệ của cha mẹ. Niềm tin của cha mẹ là dân trí. Trí tuệ của một dân tộc chỉ có thể phát triển khi có thừa kế, học hỏi, tự do tranh luận, khám phá, bàn thảo, và có được nhiều thông tin trung thực.

Để niềm tin có được, trong xă hội phải có công bằng thực sự. Làm thế nào để có công bằng đó, tất cả người Việt phải cùng nhau suy gẫm để t́m ra giải pháp. Không thể có cái ǵ tự trên trời rơi xuống. Ai cũng biết rằng: Nếu không theo đuổi điều ḿnh muốn, th́ sẽ không bao giờ có nó.

Vậy th́ tại sao chỉ nghĩ đến mỗi một ngày 30 tháng 4? Đó là một ngày đáng nhớ, đồng ư như thế, nhưng phải là một ngày để mọi người Việt cũng suy gẫm, để t́m giải pháp cho 1 mối lo chung. Dứt khoát không phải là một ngày để nhớ thù hận, để đàn áp, để chỉ trích, để khoe chiến thắng, để vênh váo, để mơ ước hay hứa hẹn viễn vông. V́ nếu không suy gẫm, cả một dân tộc sẽ đi trong mù mịt.

Người Tây phương có nói: “If you fail to plan, you plan to fail” (Không biết lo toan là đang tự đẩy ḿnh xuống vũng thất bại). Người Việt chúng ta hăy tự hỏi rằng 30-4 có ǵ để kỷ niệm, và mỗi năm cứ như thế, rốt cục chúng ta sẽ đi về đâu?

Văn Lang Tôn-Thất Phương

(30-04-2015)