Nghiên cứu về Việt Nam ở Nhật :

Cảm tưởng nhân đọc bài “Việt Học tại Nhật”

 

Lời ngỏ:

Mới đây, anh Nguyễn Nam Trân vừa dịch xong bài Khái Lược về ngành Việt Học tại Nhật Bản (Frédéric Roustan:  Et l'hisoire continue – Petite présentation du monde des études Vietnamiennes au Japon).

Nhận thấy rằng những điều tác giả đưa ra chỉ có thể thấy rơ được nếu được đặt vào trong bối cảnh rộng của cả bức tranh lớn, tôi xin ghi ra ít nhiều nhận xét để vấn đề được sáng tỏ hơn.  Các bạn có thể click vào đây để đọc bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Nam Trân.

 

1.      “Đông Phương Học” (Tôyôgaku) do đâu mà ra?

Chúng ta nhớ là Chiến Tranh Nhật-Thanh (Nisshin Senso) xảy ra năm 1894.   Nó đem lại sự hùng cường để “tiến lên vũ đài thế giới” của nước Nhật trên nhiều mặt:  Về chính trị, nước Nhật được các nước Tây phương công nhận như là 1 “hội viên” của “Liệt Cường Club”, nghĩa là có quyền cộng tác và sánh vai cùng các nước Âu Mỹ đi làm mưa làm gió ở Viễn Đông (ví dụ có thể chiếm đất của thiên hạ làm thuộc địa).  Về kinh tế, Nhật bắt nhà Thanh bồi thường chiến tranh cho ḿnh bằng 1 số tiền rất lớn, và “chiến lợi phẩm” này chính là một sức đẩy cho nền kinh tế Nhật được phát triển nhảy vọt.

(Có lẽ ở đây cũng nên nhắc lại việc nhiều người VN ḿnh hay nói: “Sau 1945 Nhật Bản c̣n thua nước ta xa lắc mà trong ṿng 10-15 năm họ đă ...”.  Thực ra quốc lực Nhật Bản hơn hẳn ta từ khoảng sau năm 1600 – hay ngay trước cả thời của Tokugawa Ieyasu – trở đi).

Để hữu hiệu hoá việc khai thác ở Trung Quốc (TQ), Nhật Bản (NB) cần nghiên cứu về chính trị kinh tế TQ hầu có thể dùng được – nếu không ‘được liền’ vào các vụ việc trước mắt ở TQ th́ cũng “tiện dụng về sau”.

“Đông Phương Học” (Toyo-gaku) ở Nhật Bản sinh ra từ nhu cầu đó, và lớn lên hơn khi ToA Dobunkai (Đông Á Đồng Văn Hội) được thành lập năm 1898 (đóng cửa: 1945), lại càng lớn mạnh hơn sau chiến tranh Nhật Nga (Nichi-Ro Senso, 1904-1905) với sự ra đời của Mantetsu Chosabu (Măn Thiết Điều Tra Bộ) năm 1906 (đóng cửa: 1945), một cơ quan nghiên cứu quy tụ đến trên 3,000 nghiên cứu gia và nhân viên.  Nh́n về mặt tài chính (tiền từ đâu ra) chúng ta thấy ngay những tổ chức như ToA Dobunkai, Toyo Bunko vv... nếu không có tài trợ của ai hết dĩ nhiên là không thành h́nh được.

Trên mặt lịch sử, từ 1894 trở đi, con đường “hiển vinh” của Nhật Bản cứ tiếp tục đơm bông:  Hết thành công trong vụ “Bát Quốc Liên Minh” (tấn công Bắc Kinh, 1900), qua 1905 Nhật đánh thắng hạm đội Nga, tới 1910 th́ thôn tính Korea trọn vẹn (Nikkan Gappei).  Đất nước của người khác, nhưng quân đội Nhật tung hoành thật tự do:

Sa trường xung đột mấy phen
Ngọn cờ Áp-Lục, tiếng kèn Liêu-Đông
Ải Lữ-Thuận mơ màng sóng bạc
Thành Phụng-Thiên ngơ ngác non xanh
Hải quân một trận tan tành
Thái-Hoa xẻ núi, Đông-Thanh mở đường

(Sông Áp Lục là Hắc Long Giang ở biên giới Nga & TQ, cho nên có đảng Hắc Long là tổ chức cực hữu, chủ trương biên giới phía bắc của Nhật tới tận sông Hắc Long.  Tiếng Nhật đọc Thái Hoa là Karafuto, chỉ vùng bán đảo Sakhalin của Nga.  Đông Thanh là vùng Măn Châu:  sau chiến tranh Nga-Nhật, Tokyo được quyền ‘mở đường’ xe lửa ở Măn Châu).

Cho nên có thể nói ư hướng của rất nhiều chính trị gia Nhật Bản lúc đó là xem TQ như một vùng “Wild West” (More-land trên vùng “biên cương mới”).  Do đó mà họ có nét nh́n mới về Đông phương:  “TôYô là một khu vực không phải là vùng đất của Tây phương”.  Nói cách khác, từ đây Đông là Đông, Tây là Tây, đất đai và trật tự không ăn nhập ǵ với Tây dương, vùng này ‘có chủ’ rồi nhé!

Bài viết có nói (một cách mơ hồ) đến ư hướng TôYô này trong lúc đề cập đến TôYô  và Toyo-gaku.

Trở lại về những nghiên cứu trong Toyo-gaku về chính trị, kinh tế, văn hoá và xă hội của Trung Quốc, phần lớn thực ra là để “to shed light on Chinese society – in order that its legal and economic system be revamped and a comprehensive plan formulated for Japan to follow with respect to her China policy” (Để quan sát t́m hiểu về xă hội TQ, với mục đích sửa đổi lại cơ chế của luật pháp cũng như nền kinh tế của họ, hầu lập ra được một kế hoạch toàn diện cho chính sách về TQ của nước Nhật) nhưng bài viết không đề cập đến điều này, có lẽ v́ lư do ngoại giao hay chính trị.

Qua đến 1911, cách mạng dân quốc của Tôn Văn thành công, nhưng do Nhật Bản giựt dây Viên Thế Khải, Đoàn Kỳ Thụy, vv... xă hội Trung Quốc vẫn rất loạn lạc, rối như bát nháo. Rồi năm 1931, Nhật Bản lập ra Măn Châu Quốc, nhu cầu kinh tế càng tăng, hoạt động nghiên cứu của Mantetsu Chosabu càng mạnh.  Bài viết không phân tích khía cạnh này nhưng có đề cập đến sự mở rộng của nhu cầu nghiên cứu về Đông phương.  Ngoài ra, tác giả có nói đến việc “các nhóm nghiên cứu có liên hệ với nhau”.

2.      Việt-Học và Đông-Phương-Học

Từ thập niên 1930 trở đi, tầm ngắm của các chiến lược gia Nhật là phương Nam, cho nên với Tokyo chuyện của thời đại đó là vấn đề “Nam Tiến” (Nanshin).  Tại sao vậy?  V́ từ 1937 quân Nhật sa lầy ở Trung Quốc.  Tokyo cần giải quyết “tốt đẹp” ở Trung Quốc, và cần nguyên liệu, thực phẩm ở phương nam. Họ cũng nghĩ là các nước Tây phương viện trợ cho Tưởng Giới Thạch qua ngă Bắc Việt, thành ra phải “tiến trú” vào Bắc bộ VN để canh giữ.  Năm 1940, họ vào chiếm Bắc Việt thật.  Để hoà giải với Tưởng Giới Thạch, Tokyo c̣n có kế hoạch cắt Bắc Việt nhường cho Tưởng để giải hoà!  [“Cô gái Việt Nam ơi!” sức dân kiệt quệ, quốc lực như sợi bún, ai đến muốn làm ǵ th́ làm!]

Nhu cầu kinh tế trong t́nh h́nh mới khiến cho Toyo-gaku vốn nặng về nghiên cứu Trung Quốc trở nên thiếu linh hoạt (tuy nó có lợi cho chính sách “Bắc tiến” - Hokushin trong những ngày cũ).  “Nghiên Cứu Khu Vực” (Chi-iki Kenkyu) ra đời, tuy thực chất về nhân sự cũng do người của Mantetsu Chosabu nắm phần chính.  Bên cạnh Mantetsu Chosabu có thêm ToA Kenkyujo (Đông Á Nghiên Cứu Sở) xuất hiện (1938, đóng cửa: 1945).  Nhật Bản cũng tham gia nghiên cứu chung với Mỹ trong Institute of Pacific Relations (1923-1943).

Các tài liệu nghiên cứu về Việt Nam (lúc đó họ gọi là Đông Dương thuộc Pháp = Futsuryo Indoshina) hầu hết là những sách dịch từ tiếng Pháp về chính trị kinh tế hay tài nguyên (mỏ, quặng) của Indochina; và có một ít sách viết về cấu trúc chính trị của xă hội Việt Nam ở thượng tầng, hạ tầng...  Mục đích chính là đáp ứng cho nhu cầu “Nam tiến”, cho nên trong các nghiên cứu này tên của Việt Nam chỉ là “An Nam” thôi, nếu họ không gọi là “Indochina thuộc Pháp”.

V́ thế phần “Việt Học và Nam Tiến Luận” trong bài viết phải được hiểu theo bối cảnh chính trị vừa kể.  Câu sau đây trong bài viết cũng cần được để ư:

H́nh ảnh của Việt Nam được tŕnh bày trong các nghiên cứu ... chỉ là một xứ chậm tiến ... cần đến Nhật Bản để được giải phóng ra khỏi bàn tay của Tây phương và sau đó là nhận sự giúp đỡ (của Nhật).

Không hiểu sao trong bài viết này chẳng thấy đề cập đến một điểm lớn rất quan trọng:  sự h́nh thành của “Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á” (DaiToA Kyoeiken) và ảnh hưởng của nó trên các nghiên cứu “Việt Học”.  Có lẽ tác giả chỉ dựa vào tài liệu phân tích của một số học giả Nhật, và các tài liệu này đă tránh chuyện DaiToA Kyoeiken

Các tác giả tiền phong của ‘Việt Học’ trong giai đoạn này như Komatsu Kiyoshi, Iwamoto vv... do đó cũng không được nhắc tới.

3.      Việt Học thời ‘hậu chiến’ (sau 1945)

Từ 1945 đến 1951 là giai đoạn sinh tử của nước Nhật.  Lúc đó Nhật đă bại trận nên mất tất cả, chỉ mong đủ sống, và ráng làm sao được Washington cho trở lại làm ăn trong thị trường thế giới, lo sao được chuyện ‘Việt Học’ xa vời? 

Măi cho đến năm 1951, sau khi có hiệp định San Francisco, Nhật Bản mới được cởi trói để ra sân “chơi lại” với cộng đồng thế giới.

Thực ra từ 1942 Washington đă có chính sách sẽ phục hưng nền kinh tế Nhật để hổ trợ chính sách toàn cầu của Mỹ sau Thế Chiến, dùng nước Nhật (và Đức) làm “công xưởng chế biến” cho thị trường kinh tế thế giới.  Tuy nhiên từ kế hoạch đến thực hiện c̣n phải tùy vào t́nh h́nh diễn biến, và vào đầu năm 1942 th́ chiến tranh Thái B́nh Dương chưa bắt đầu.

Nước Nhật bại trận, thủ tướng Yoshida Shigeru là người đi giao tiếp với phía Mỹ từ bao nhiêu năm nên ông biết Washington muốn ǵ, và nước Nhật cần ǵ.  Tuy vậy, “Học thuyết Yoshida” vẫn chỉ là một cái ǵ trừu tượng, hữu danh vô thực v́ Yoshida chỉ thấy trước vấn đề Nhật sẽ cần (và được chấp thuận cho làm ǵ ở) Đông Nam Á, thực tế th́ Yoshida không có đủ tài chính để làm ǵ cho ư tưởng ấy.  Về phần các học giả Nhật Bản, sau khi bại trận, đa số các trí thức của Mantetsu Chosabu chuyển hướng, đâm ra theo chủ nghĩa Mác, nên không có mấy ai để chính phủ Nhật và giới tài phiệt nhờ cậy.  Tinh thần chống chủ nghĩa đế quốc và phản cảm với Tây phương của trí thức trong Mantetsu Chosabu cũng rất mạnh.  V́ không thể dùng những học giả này được nữa, về sau – khi thiết lập “Tonan Ajia Kenkyu Centa” (Trung tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á), trong đó “không có khuynh hướng Marxist” ǵ cả là chuyện dễ hiểu.

Năm 1951 là khúc quanh biến chuyển quan trọng của Nhật Bản.  Washington chấp nhận cho Nhật Bản phục hồi kinh tế, nhưng muốn phục hưng lại kinh tế th́ phải có thị trường cung ứng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.  Lúc đó Nhật đă mất hết thị trường cung ứng thời trước 1945 (là Bắc Triều Tiên, Măn Châu và Trung Quốc) v́ Mao Trạch Đông đă thành công từ 1949 và chiến tranh Cao Ly đă bắt đầu từ 1950. Nhật Bản cần một nơi để mua nguyên liệu rẻ và để bán sản phẩm, và đó là Đông Nam Á, nơi mà (trừ ra Thái Lan) quân đội Nhật đă từng chiếm đóng trong thời Thế Chiến.  Muốn trở lại, trước hết phải làm hoà với các nước Đông Nam Á.  Cả Washington và Tokyo đều nghĩ là Nhật Bản cần phải bồi thường cho các nước Đông Nam Á. Dĩ nhiên đây là bồi thường tượng trưng ở mức không thấm vào đâu so với ngạch họ bồi thường cho Holland, England, vv..  Nhưng điều này vẫn thực hiện được trôi chảy, v́ ngoại trưởng Dulles của Mỹ đă thẳng thừng tuyên bố:  “Chính quyền nào ở Đông Nam Á muốn đ̣i hỏi nhiều bồi thường từ Nhật th́ chẳng khác nào tự sát” (‘commit a political suicide’).

[Cần nói thêm là sau đó tiền bồi thường của Nhật được các nước ĐNA sử dụng rất kém hiệu quả, ví dụ Sài G̣n dùng tiền đi nhập cảng hàng hoá Nhật, trong đó có cần câu cá, trái cây, mỹ phẩm, vv...  Nhật cũng xây đập Da-Nhim cho Việt Nam qua kế hoạch bồi thường, nhưng trả theo dịch vụ (in kind), nghĩa là phải do công ty Nhật qua làm, không phải từ nước nào khác, và tiền trả cho công nhân Việt Nam trong việc làm đập là từ quỹ bồi thường.

Thêm một điều nữa là không bao lâu sau đó, hàng hoá tiêu dùng với chất lượng tốt của Nhật Bản được điều kiện tốt để lan tràn khắp nơi – đặc biệt là thị trường Đông Nam Á – do các nước có tiền từ chuyện bồi thường.  Nhiều người VN ngỡ Nhật Bản vụt trở nên hùng cường trong vài năm sau 1945 có lẽ do chỉ việc nh́n vào thực tế này].

Phải nói là trong giai đoạn này chưa có ‘Việt Học’ nào đáng kể.  Cả nước Việt Nam đang đánh nhau với Pháp, và trên thực tế th́ Pháp đang đô hộ Việt Nam cho đến 1954.  Chuyện bồi thường đề cập ở trên tuy được định theo luật quốc tế ở hội nghị San Francisco năm 1951 nhưng đại diện phía Việt Nam đi tham dự là thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại, trong khi một phần chiến phí để đánh Việt Minh th́ Paris lại đ̣i Nhật gánh vác qua thể thức “bồi thường cho Việt Nam”.

Trong giai đoạn này, ngoài các phóng sự về chiến tranh (ở Đông Dương) có thể trên báo chí Nhật Bản chỉ có nhiều lắm là các hồi kư của cựu quân Nhật về những ngày họ ở Việt Nam, những thứ to lớn hơn như Chi-iki Kenkyu (Nghiên Cứu theo khu vực) có vẻ chẳng liên quan ǵ đến ‘Việt Học’.

4.      Thời Chiến Tranh Việt Nam

Ngoài việc chính quyền Kishi giao tiếp với Tổng Thống Diệm về chuyện bồi thường chiến tranh, Nhật Bản chỉ thực sự bắt đầu “dấn thân” vào chuyện Việt Nam khi Washington đă đưa quân chiến đấu sang chiến trường Việt Nam. Nhật Bản được Washington và Sài G̣n kỳ vọng nhiều trong kế hoạch hậu chiến (kế hoạch Lilienthal-Vũ Quốc Thúc).  Trong rất nhiều năm trong chiến tranh Việt Nam, việc được bàn tán khá rộng răi ở Nhật là Betonamu-Tokuju (Việt Nam Đặc Nhu), một từ để chỉ sự cung ứng dịch vụ và hàng hoá của Nhật cho quân đội Mỹ ở Việt Nam.  Mặt nghiên cứu th́ yên lặng hơn, chỉ có Ajia Kenkyujo (Asia Nghiên Cứu Sở) và JETRO (Japan External Trade Organisation) cho ra 1 số nghiên cứu về hợp tác kinh tế hậu chiến.  Tuy nhiên trong bài viết chúng ta không thấy tác giả nói ǵ đến các nghiên cứu này.  C̣n ‘Việt Học’ trong thời này vẫn c̣n là chuyện chưa đến, chưa có ǵ đáng kể ngoài việc một vài cá nhân dịch một hai tác phẩm ǵ đó, như giáo sư Takeuchi chẳng hạn.

Cũng phải nói đến việc giới truyền thông của Nhật và các chính đảng (đặc biệt là đảng Xă Hội và đảng Cộng Sản Nhật), các tổ chức tư, các đoàn thể vv... nói nhiều đến chiến tranh Việt Nam, nhưng không phải trên khía cạnh “Việt Học”, nghĩa là giới academic Nhật chưa làm nghiên cứu về Việt Nam bao nhiêu.  Phong trào lớn ở Nhật lúc đó liên quan đến Việt Nam không phải là ‘Việt Học’ mà là những việc cụ thể như phản chiến, chống Mỹ, chống căn cứ Mỹ, chống chính quyền Sato theo đuôi Mỹ, bày tỏ cảm t́nh với Hà Nội, với Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, cảm thông với dân chúng Việt Nam chịu đau khổ do chiến tranh gây ra, vv...

Khá ngạc nhiên là bài viết không đề cập đến ba khuynh hướng ớ Nhật trong giai đoạn đó:  Thứ nhất là khuynh hướng tiếp cận với Hà Nội của các chính đảng và hội Hữu Nghị (Yuko Kyokai) để giữ một lối ngoại giao “đa phương”; thứ hai là khuynh hướng thân Sài G̣n để nâng đỡ tiếp sức cho chính quyền cũng như để tham gia hợp tác kinh tế thời “hậu chiến”; và khuynh hướng thứ ba là trí thức, sinh viên vv... nh́n cuộc chiến Việt Nam mà cảm khái, suy nghĩ, nh́n lại bản thân nước Nhật.  Các học giả lại “chia phe” nhưng thực tế là chỉ làm nhiệm vụ được cần đến ở họ:  Các giáo sư Okakura, Takeuchi, Okamoto, Shimbo, vv... có một vị thế “thiên tả” hay “trung lập” của họ trong khi giáo sư Eto Shinkichi (trường đại học Tokyo) lại làm cố vấn cho đảng cầm quyền (Jimin-to = đảng Tự Do Dân Chủ) hay qua lại giữa Tokyo và Sài G̣n để nghiên cứu, thương lượng, bàn bạc, vv...  Được biết là giáo sư Eto có hai học tṛ khá cùng nghiên cứu về Việt Nam.  Một người th́ giáo sư gửi qua Sài G̣n làm việc trong sứ quán Nhật (Shira-ishi), người kia (Furuta) th́ học về miền Bắc.  Có như thế th́ về sau cục diện ở Việt Nam có như thế nào đi nữa, về mặt nhân sự cho chuyện nghiên cứu th́ chuẩn bị cũng đă sẵn sàng.

Trong bài viết có nói đến “đấu tranh cho dân chủ”, điều này khá mù mờ v́ người đọc không rơ tác giả muốn nói đến việc ǵ – v́ nh́n từ thực tế, hay từ phạm vi “Việt Học”, đều chẳng hiểu được đây là đấu tranh cho dân chủ ǵ?  Nếu đấu tranh cho dân chủ ở Nhật th́ rơ ràng là không liên quan ǵ đến “Việt Học”, c̣n đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam th́ không có đă đành, mà ví dù có đi nữa th́ cũng chẳng liên quan ǵ đến “Việt Học” ở Nhật.  

5.      Từ 1975 trở đi

Nếu so sánh với một dĩa đồ ăn th́ có lẽ đây là phần có nhiều nạc nhất của bài viết.  Lư do dễ hiểu:  từ 1975 trở đi chuyện “Việt Học” ở Nhật mới thực sự phát triển, do đó có nhiều tài liệu để nói đến, cũng như có nhiều khuôn mặt cụ thể đế gọi tên.  Tuy nhiên – có lẽ do đă dựa vào tài liệu “chính thống” nhiều hơn là vốn thực tế, tác giả có vẻ chỉ kể ra những công tŕnh nào – hay nhà nghiên cứu nào – có lộ diện nhiều trước công chúng (ví dụ như có đi VN dự các hội nghị chính thức về Sử Học chẳng hạn) hay có tên được giới thiệu trong các bài nghiên cứu (ví dụ bài của Furuta Motoo).  Có những học giả khác của Nhật Bản, Nagaoka Shinjiro chẳng hạn, đă có những cống hiến giá trị về nghiên cứu Việt Nam, lại không thấy tác giả nói đến. Yoshizawa Minami cũng chỉ được nhắc sơ qua v́ có nghiên cứu chung với tác giả Furuta trong khi ông lại có rất nhiều công tŕnh trong các lĩnh vực Việt Học khác.

Dù sao đây cũng là một bài có ích cho bất cứ ai muốn t́m hiểu thêm về “Việt Học” ở Nhật.  Chỉ cần phối hợp các dữ kiện lịch sử của nước Nhật nằm đằng sau từng bức tranh của từng giai đoạn th́ có thể thấy được rơ ràng hơn, đặc biệt là hiểu được một số vấn đề  thực mà có thể v́ lư do chính trị (hoặc ngoại giao) nên tác giả không muốn làm sáng tỏ, hoặc v́ chưa gom góp đủ dữ liệu ở thời điểm tác giả có cuộc nói chuyện.

Tôn-thất Phương

Canberra 2010-05-18