Tại  Sao  Họ  Tự  Thiêu ?

“The Buddhist Burnings:  Why do they do it?”

  

by Marguerite Higgins,
in
Our Vietnam Nightmare
Harper & Row, New York 1965
(pp. 75-87)

 

Rồi chiếc máy bay cũng hạ cánh an toàn xuống phi trường Phan Thiết…  Đi cùng với tôi là một viên chức của Toà Đại Sứ Mỹ, chuyên về ngôn ngữ.  Mỗi khi được đi chung như thế,  tôi vẫn mừng thầm v́ ngoài việc được giúp đỡ về ngôn ngữ, tôi an tâm là họ sẽ không dịch những câu hỏi của tôi ra thành một thứ ǵ có lợi cho chế độ của ông Diệm.

 Cũng như tôi, nhân viên này ra Phan Thiết với mục đích t́m hiểu tại sao có người tự thiêu ngày hôm qua (Chúa Nhật).  Việc như sau:

 Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, viên cảnh sát trưởng khu vực t́nh cờ đi xe ngang một khu công cọng th́ nghe có mùi khét.  Ngỡ là ai lén mang lá đến đốt, ông bảo người tài xế ngừng lại xem thử.  Tới nơi, cả hai mới giật ḿnh thấy một thân người đang cháy đen thui không c̣n nhận ra được.  Người này đă tự thiêu để phản kháng chính quyền “đàn áp” Phật Giáo.

 Tên anh ta là Thích Đức Phong.  Cảnh sát dập tắt lửa và cố gắng khiêng anh vô xe để chở đi bệnh viện.  Nhưng đă muộn.  Linh hồn anh ta giờ đây có lẽ đă đi sang kiếp khác, không liên quan ǵ đến cái xác đang nằm co quắp cháy đen kia.

 Khi chúng tôi đến bệnh viện, những tín đồ Phật Giáo đang có mặt ở đó cho biết là  đă có một đám rất nhiều tăng sư đến đ̣i nhận xác của nhà sư trẻ hầu đem về “truy điệu cho người đă hy sinh”.  Nhưng họ không thành công, v́ cha mẹ của người sư trẻ muốn đem xác con ḿnh về chôn cất trong ngôi chùa gần nơi họ ở.

 Đó là hai người già cằn cỗi, đang khóc lóc thảm thiết.  Họ đến đây được là nhờ viên tỉnh truởng đích thân đến báo tin và t́nh nguyện chở họ theo.  Tuy họ được đem xác con ḿnh về, nhưng trong bệnh viện vang lên biết bao là lời chửi mắng, la hét chẳng ra nét đạo hạnh từ bi ǵ cả.  Có lắm lúc đám tăng sư nói trên muốn xông vô giựt cái xác, không cho bỏ vô ḥm, nhưng cuối cùng hai người già giữ được.  Chúng tôi lặng lẽ theo sau linh cửu .  Hai người già theo chiếc ḥm lên xe.  Đó là chiếc vận tải do ông tỉnh trưởng cấp để đưa họ về nhà.

 Phải cần đến ngôi chùa nơi nhà sư trẻ Đức Phong tu mới mong hiểu thêm được.  Trên đường đi, chúng tôi gặp nhiều đám đông tụ tập ngồi ngay giữa đường, hầu hết là phụ nữ.  Họ mặc áo dài và đội nón.  Nhiều người reo mừng khi thấy chúng tôi đến.  Họ cho rằng phóng viên ngoại quốc --  đặc biệt là Mỹ – rất có lợi cho cuộc đấu tranh của họ  Ở đâu thiên hạ cũng nghĩ thế, v́ chùa Xá Lợi có in lại những bài trên báo chí Mỹ và phát đi cho các địa phương.   Trước đám đông là một nhà sư mặc cà sa vàng đang hùng hồn diễn thuyết.  Ông ta tố cáo vị tỉnh trưởng dám  “ăn cắp di hài” của sư Đức Phong để  “bí mật đem chôn trong nghĩa trang quân đội”.

 Vài phút sau th́ có một Phật tử t́m đến nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Anh.  Tôi nhờ ông ta làm thông dịch để hỏi nhà sư mặc cà sa vàng:

 “Bạch thầy,  có chuyện hiểu lầm hay không?  Di hài vị sư trẻ đă được giao lại cho cha mẹ của anh ấy rồi.  Chúng tôi mới ở bệnh viện ra,  có thấy rơ ràng!”.

 Nhà sư trả lời:  “Chỉ có một chuyện hiểu lầm thôi, đó là việc quí vị đă bị lừa gạt”.  Nói xong, ông ta quay lại tiếp tục diễn thuyết, buộc tội ông tỉnh trưởng với những điều mà chúng tôi biết là hoàn toàn không đúng sự thực.

 Chùa mà sư Đức Phong tu là một trong 4,776 ngôi chùa trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPG).  Cổng chùa này đang bị ngăn lại bằng nhiều cuộn kẽm gai tṛn rất lớn, nhưng có chừa một  ngơ đi bên hông.  Kẽm gai là do viên cảnh sát truởng địa phương --  một người Phật tử --  cho dàn ra sau vụ đ̣i xác ở bệnh viện, và nhất là sau khi các lănh tụ Phật Giáo kêu gọi quần chúng đi biểu t́nh.

 Chúng tôi vào chùa dễ dàng,  không ai ngăn cản.  Các tăng ni đón chúng tôi với nhiều thiện cảm.  Vị chủ tŕ là một người vào tuổi trung niên.  Ông mời chúng tôi ngồi xuống bàn, và ra  hiệu đem trà nước.  Trà rất ngon, chủ nhân và các đệ tử th́ hoan hỷ

 Xong phần chào hỏi, tôi giới thiệu ḿnh là phóng viên Mỹ và vào đề ngay,  hỏi vị sư nghĩ thế nào về việc Đức Phong tự thiêu.  Tôi hỏi thêm có phải đó là do chế độ Diệm đă đàn áp cá nhân -- hay các đồng đạo của anh ấy không?`

 Vị sư nói:  “Đây là điều mà chúng tôi rất ngạc nhiên v́ ngay cả việc anh ấy đi khỏi chùa chúng tôi cũng không biết, cho đến khi t́m được mấy lá thư để lại”.

 Tôi xin phép được xem những lá thư.  Trong khi chờ người ta đi lấy, vị sư cho biết  Đức Phong vốn con nhà nghèo, cha mẹ nuôi không nỗi nên gửi vào chùa từ khi lên 9.  Nh́n trong ảnh căn cước, anh là 1 thanh niên có đôi mắt sáng, thông minh.  Tờ căn cước này được xếp cẩn thận dưới chiếu mà Đức Phong thường ngủ, chung với một bức thư viết bằng mực xanh,  đại ư nói Đức Phong muốn hủy ḿnh cho "nhân ái và hoà b́nh".

 Vị sư c̣n trao cho tôi một bài thơ nói về những đàn áp.  Bài thơ đươc đánh máy cẩn thận.  Tôi hỏi:  anh Đức Phong có thường đánh máy không?”.  Đáp: “Không, nhưng Trung Ương của GHPG đánh điện ra bảo gửi bản sao của tất cả những ǵ Đức Phong để lại, cho nên chúng tôi đánh máy ra làm vài bản".

 Đại ư bài thơ nói: 

“Xin dâng linh hồn cho Phật Tổ để cầu mong chấm dứt kỳ thị tôn giáo … Tôi không như ngài Thích Quảng Đức, nhưng mong được là đệ tử của ngài.  Con đuờng cao nhất trong mọi con đuờng là biết hy sinh v́ đạo pháp.  Người được giải thoát nhất là người biết đem thân ḿnh thiêu đốt trước quần chúng đông đảo, v́ Phật pháp là đạo biết chiu đựng khổ đau”.

 Tôi nghĩ thầm:   Có cần thiết là nhà sư trẻ Đức Phong phải chịu đựng như thế không?

 Vị sư lại nói:  “Chúng tôi không thể nào đi biểu t́nh được nếu không xin phép trước”

 Tôi hỏi lại:  “Tất cả các đoàn thể tôn giáo khác cũng đều phải xin phép trước, có đúng không?”

 Đáp:  “Có thể, nhưng bắt Phật Giáo phải xin phép là điều sai”. 

 Chúng tôi hỏi c̣n có điều ǵ khác có thể cho biết được không.  Sau một hồi bàn luận với các sư khác, vị sư nói trong dịp lễ Phật Đản vừa qua (ngày 08 tha’ng 5 dương lịch), cờ Phật Giáo đă phải treo thấp hơn quốc kỳ.  Tôi hỏi lại:

 “Có  phải ngài muốn nói sư Đức Phong đă tự thiêu chỉ v́ cờ Phật Giáo phải treo thấp hơn quốc kỳ hay không?  Ngài có định nói việc treo cờ thấp là sự đàn áp tôn giáo không?”

 Sau một hồi quanh co rất lâu, vị sư bảo:   

 “Mặc dù không có đàn áp ở Phan Thiết, nhưng chúng tôi biết là có kỳ thị tôn giáo ở nơi khác v́ Thông Điệp của GHPG bảo như thế.  Chúng tôi biết chư tăng và Phật tử bị đàn áp dă man…  dĩ nhiên chúng tôi đă biết thế th́ Đức Phong cũng biết được.  V́ vậy anh ấy mới tự thiêu”.

 Có thể vị sư nói đúng, nếu ta hiểu trên ư nghiă là Đức Phong đă “tự nguyện” hủy ḿnh v́ anh quá  thành thực tin vào những tuyên truyền của GHPG. 

 Thực đáng buồn cho những người tu ở những ngôi chùa nhỏ như ngôi chùa ở Phan Thiết này.   Không ai biết ḿnh có  thể là nạn nhân của tuyên truyền bậy bạ, v́ khi vị sư chủ tŕ đă bảo là có đàn áp th́ tất cả đều phải chấp nhận điều đó là một sự thật.

 Về mấy bức thư và bài thơ, có phải của Đức Phong để lại không?   Cũng có thể.  Tôi nghĩ thế và không nghi ngờ ǵ cả, cho đến khi – trong mấy tháng sau đó – tôi t́nh cờ biết được rằng chính sách của GHPG là khuyến khích người ta đi tự thiêu !

 Biết thế rồi, tôi đâm ra tự trách ḿnh làm phóng viên mà không nhạy bén ǵ cả.   Trước đây, phát ngôn viên Thích Đức Nghiệp của GHPG đă chẳng biết trước 1 cách chính xác là lúc nào và ở địa điểm nào, đúng vào giờ nào, th́ sẽ có một người  “tự thiêu v́ đạo pháp” hay sao?  Thường th́ những vụ tự thiêu như thế được tính toán cẩn thận sao cho có được 1 tiếng vang lớn trên quốc tế.   Khi đă có “những người được chọn” th́ cũng phải có “những người đứng ra chọn kẻ khác tự thiêu”.  Vậy tất cả những vụ “tự thiêu” đều đă được sắp đặt hẵn ḥi.  Chỉ có tôi là không thấy được từ trước.

 Nhưng  họ tổ chức cách nào ?

 Chi tiết minh xác rằng những vụ “tự thiêu” đều được tổ chức hẵn ḥi có trong báo cáo của Ủy Ban Quốc Tế giám sát về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.  Ủy Ban này do Liên Hiệp Quốc gửi sang,  được quyền tự do đi lại để giám sát. Họ có nói chuyện,  tiếp xúc được với nhiều Phật tử nằm ở các nhà thương, chùa chiền vv… và đă khám phá ra một điều quan trọng khi nói chuyện với một nhân vật mà trong báo cáo họ gọi là “Nhân chứng số 8”.

 “Nhân chứng số 8” này là một vị sư mới 19 tuổi.  Anh ta xác nhận:

 “Vào lúc đó (tháng 10 năm 1963), tôi nghe nói chính phủ tàn sát Phật Giáo.  Người ta bảo là các tăng sư và ni cô bị nào là đánh đập, bẻ găy tay, nhận nước cho chết ch́m, mổ bụng lôi bao tử ra ngoài v.v...  Tôi rất phẫn nộ …

 Một bữa kia có một sinh viên đến gặp tôi.  Anh ta xưng ḿnh là người của một tổ chức sinh viên và mời tôi gia nhập phong trào tranh đấu cho Phật Giáo.  Tôi nhận lời, nghĩ rằng ḿnh sẵn sàng v́ đạo pháp…”

 Ngày 22 tháng 10, anh ấy lại t́m đến và cho biết tên là Linh.  Linh dẫn tôi đến một trường học nọ để gặp 2 người đàn ông khác.  Hai người này nói họ cần 10 người t́nh nguyện tự thiêu, rồi hỏi tôi có thể t́nh nguyện hay không.  Tôi nhận lời v́ vẫn giận khi nghĩ rằng chính quyền đang đàn áp Phật Giáo.  Họ cho tôi biết không chỉ ḿnh tôi mà có nhà sư Thanh Mỹ sẽ tự thiêu trước nhà thờ Gịng Chúa Cứu Thế, c̣n một nhà sư khác sẽ tự thiêu trước nhà thờ Tân Định ở đường Hai Bà Trưng.  Họ nói tôi nên tự thiêu vào ngày Quốc Khánh (26-10) v́ đó là ngày có đông quần chúng, kể cả các đại diện của Ủy Ban Quốc Tế…

 Tôi hỏi làm sao đến đó được v́ có canh pḥng nghiêm nhặt.  Họ bảo đừng lo v́ Ban Tổ Chức Tự Thiêu (Suicide-Promotion Group) sẽ lo tất cả.  Tôi hỏi lo làm sao, họ nói vào ngày đó (26-10) họ sẽ đưa cho tôi một bộ áo quần trắng và một cà sa vàng có tẩm xăng.  Sẽ có xe hơi chở tôi,  xe có mang dấu hiệu đặc biệt nên sẽ đi vào được.  Đến nơi, tôi sẽ bước ra một cách b́nh thường,  rồi ngồi xuống, khoác cà sa vào và tự châm lửa. Không nên sợ , v́ trước đó họ sẽ cho tôi thuốc để uống cho khỏi thấy đau.

 Ngày 24-10, Linh đến giao cho tôi 3 lá thư:  một lá gửi cho Tổng Thống đ̣i tự do tôn giáo và thả các tăng ni bị giam.  Lá thứ hai gửi thượng tọa Thích Thiện Hoa tại chùa Ấn Quang,  tố cáo sư Thiện Hoa đă phản bội (v́ ông Thiện Hoa tuyên bố thượng tọa Thích Trí Quang làm chính trị  Ông kêu gọi Phật tử thôi xuống đường,  trở về với việc tu hành thuần túy).  Lá  thứ ba gửi Ủy Ban Quốc Tế,  giải thích tại sao tôi tự thiêu.  Cả ba lá thư này đều đă được viết sẵn từ trước.  Họ bảo tôi kư tên vào, tôi kư ngay không do dự.

 May mắn cho nhà sư trẻ : vài ngày trước khi định “khởi sự”, trong khi đi đường anh ta gặp được một người quen – cũng là Phật tử – tên là Hải.  Anh từ giă ông Hải và nói  sẽ không c̣n gặp nhau sau ngày 26-10 nữa.  Ông Hải lật đật kiếm cách để ngăn cản, và cho anh ta biết sự thật là không có những đàn áp đẫm máu.

 Trong khi hỏi chuyện “nhân chứng số 8” này, đại sứ Ma-Rốc là Amor hỏi:  “Anh có hối hận việc định hủy ḿnh v́ đạo pháp và có mừng là đă không tự thiêu hay không?”.  Anh này đáp:  “Tôi mừng là đă không tự thiêu”.

 Cũng có nhiều lúc khác –  phải nói là may mắn thay – nhiều dự định “tự nguyện”  hủy ḿnh đă được can thiệp kịp thời hay do đương sự kịp lúc kịp thời t́m ra sự thực.  Ông Ivan Matteo Lombardo (cựu bộ trưởng trong chính phủ Italia)  kể chuyện khi ông ở Việt Nam vào mùa Thu năm 1963:

 Có một nhà sư không mấy ai biết đến, sống rất xa Sài-G̣n tên là Phạm Ngọc Cẩm.   Các Ban Tổ Chức Tự Thiêu t́m tiếp xúc với ông Cẩm và kể cho ông nghe chuyện chùa chiền bị đốt, tăng ni bị tra tấn vv…  Họ bảo nếu ông tự thiêu, kiếp sau sẽ thành cao tăng, hay có thể thành Phật, được nhập Niết Bàn…  Nhà sư thuận t́nh, và được chở về Sài G̣n.  Người ta trao cho ông một b́nh xăng bằng plastic, khi châm lửa sẽ có một con dao chích vào b́nh cho xăng chảy ra. Các chỉ dẫn làm sao đi đến địa điểm cũng dược soạn rất chu đáo. “Địa điểm” đây là chỗ bùng binh trên đường Thống Nhất, ngay phía sau nhà thờ Đức Bà.   Ông Cẩm sẽ đi trên những con đường không có chùa chiền để đến đó (v́ họ có bảo ông là chùa chiền bị đốt sạch thành b́nh địa cả rồi).  Có một điều ban Tổ Chức Tự Thiêu không nhớ ra là các con đường họ đă vạch lại bị chận trong những dịp lễ lớn, làm ông Cẩm phải đi đường khác.

 Khi kiếm đường, t́nh cờ ông đi ngang một ngôi chùa lớn, thấy nó vẫn c̣n sừng sững nằm đó, tín đồ th́ vô ra đi lễ.  Ông đứng lại, miệng há hốc, kinh ngạc.  Hai cảnh sát viên đứng gác thấy tự nhiên có kẻ há miệng đứng như trời trồng,  bộ dạng lúng túng, bèn tới hỏi. Khám trong ḿnh thấy có mang b́nh xăng hộp quẹt, liền mời về bóp.

 Ngày 30-10, ông Cẩm lên đài phát thanh kể rơ câu chuyện lại đầu đuôi.

 C̣n hai viên thuốc “chống đau”, đem đi phân chất, thấy c̣n thua cả Aspirine. Nghiă là ngay cả chuyện viên thuốc mà ông Cẩm cũng c̣n bị lừa !  Ban Tổ Chức không muốn để lại dấu vết, v́ xác tự thiêu thường được đem đi khám nghiệm xem có bị tiêm thuốc ǵ hay không.  Thử hỏi nếu mọi việc họ toan tính mà đi được trót lọt, có phải là ông Cẩm phải chịu một cái chết rất đau đớn hay không?

 Nh́n lại chuyện ở các địa phương.  Giá nhà sư trẻ Đức Phong biết được sự thực kịp thời như ông Cẩm, anh ta có c̣n muốn tự thiêu nữa hay không?  Hay v́ quá tin vào những ǵ mà các bậc thượng tọa  ở Sài G̣n đă nói,   anh ta tự nhiên thấy có bổn phận phải hủy ḿnh?

 Những điều tuyên truyền quả thực là khéo léo đến thâm độc và bịp bợm một cách lạnh lùng.  Khốn nỗi ở Việt Nam, người ta quá dễ tin vào bất cứ điều ǵ, v́ dân trí th́ thấp kém quá mức,  c̣n giới trí thức xa-lông th́ chả có chút đạo đức hay trách nhiệm ǵ cả đối với xă hội.

 Cứ một chuyện này th́ rơ:  Đại Sứ Frederick Nolting kể rằng trong suốt cả một tháng, giới trí thức pḥng trà ở Sài G̣n kháo nhau rằng Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, một tín đồ Phật giáo, đă tự mổ bụng trước thềm tư dinh của ông đại sứ.  Sứ Quán Mỹ có đính chính măi, nhưng nhiều người cứ tin như là thực.  Phu nhân của ông đại sứ cứ bị nhiều bà người Việt Nam hỏi “ôi chao, việc ông Phó Tổng Thống Thơ thực là rùng rợn quá cho ông bà!”.

 Chả phải chỉ có người Việt Nam hay tin vào đồn nhảm.  Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng thế.  Khi đề cập việc lính của ông Diệm ốp chùa Xá Lợi, ông ta nói hôm đó có hai người bị giết.  Nói sai:  hôm đó (ngày 19 tháng 8) và trong những tháng ngày về sau, chả có ai bị giết cả.

 Bị thương th́ có thực (…). Trong những tháng ngày đó, tất cả những ǵ xấu xa về chế độ ông Diệm th́ được coi là thật, c̣n cái ǵ nói trái lại điều trên đều bị coi là tin nhảm.  Từ mùa Hè năm 1963, hầu hết báo chí Mỹ đều có khuynh hướng buộc tội chế độ ông Diệm là đàn áp Phật giáo.

 Đến nay rồi  (1965) th́ ngay cả những người chống ông Diệm hăng say nhất như cựu phóng viên David Halberstam của báo New York Times cũng công nhận rằng chuyện Phật Giáo chống ông Diệm thời 1963 là hoàn toàn do âm mưu chính trị.  Bạn thân của David Halberstam xác nhận trên báo là Halberstam có thú nhận:

 “ tôi đă bảo măi:  việc Phật Giáo chống đối là âm mưu chính trị… Tôi nhấn mạnh đây là một đấu tranh chính trị mang áo cà sa”

 Dù ông Halberstam nghĩ ǵ đi nữa, những tin tức do chính ông ta và các toà báo khác đưa ra đă cố t́nh tạo cho dư luận thế giới hiểu rằng đă có đàn áp tôn giáo ở Việt Nam.

 Có thể dư luận Mỹ sẽ ít ác cảm với ông Diệm hơn nếu họ hiểu rằng ông ta chả đàn áp ai cả mà chỉ  kềm giữ các phần tử quá khích trong Phật Giáo đang muốn lật đổ chính phủ.  Trong Bộ Ngoại Giao Mỹ, chả có ai có can đảm hay tinh thần vô tư để đính chính điều mà họ biết là nói sai về Việt Nam.

 Trong đám phóng viên ngoại quốc ở Việt Nam, chỉ có một kư giả – không phải Mỹ đâu – đây là người Ireland, tên Patrick O‘Connor, là thấy được vấn đề.  Kư giả này làm việc cho tờ Catholic News Services, và đă có kinh nghiệm về phóng sự ở Đông Nam Á trên 10 năm.  Ông viết: 

Mấy người Phật Giáo ở Nam Việt Nam đă bán được một mớ hàng cho dư luận Mỹ.  Trước tiên, họ bán cho vài phóng viên ngoại quốc ở Sài G̣n…  Ban Chỉ Đạo Đấu Tranh của Phật Giáo  đă đưa ra 5 điều kiện … Để đạt được 5 điều đó, họ sẵn sàng xáo trộn cả nước cho hỗn loạn và chống đối chính phủ bất kể là chính quyền đang khó khăn v́ nước có chiến tranh…

 Cũng để đạt mục tiêu, họ sẵn sàng cho nhiều vị sư đi tự thiêu --  nhất là nếu họ thấy phóng viên ngoại quốc có mặt đâu đó. 

 Một nhà sư đă từng nói với một phóng viên ngoại quốc rằng 5 điều kiện đó không đáp ứng được mục tiêu của họ nữa.  Dù chính phủ có làm ǵ th́ làm, các lănh tụ Phật Giáo sẽ t́m ra chuyện mới để chống đối.  Họ chỉ hài ḷng khi chính phủ  đă được lật đổ.

 Ít ai nghe O‘Connor v́ ông chỉ thiếu 2 lợi thế.  Thứ nhất, ông là người Thiên Chúa Giáo nên thiên hạ nghĩ ông không có thiện cảm với Phật Giáo.  Thứ nh́, báo của ông nhỏ, số độc giả quá ít ỏi so với một đội ngũ to lớn của những phóng viên chống ông Diệm đang ở Sài G̣n.  O’Connor c̣n không được cái đám gọi là “Công Giáo Cấp Tiến” thích,  v́ đám này rất nhanh nhẩu trong việc chống ông Diệm để tỏ ra là ḿnh vô tư.  

Trong khi đó Đại Sứ Nolting – người mà sau này lịch sử sẽ đánh giá là thông minh, can đảm và hết ḷng trong việc ngoại giao – đă nói rơ là trong hai năm qua, ông không thấy có vấn đề ǵ gọi là đàn áp tôn giáo ở Nam Việt Nam cả.   Nhưng không ai ở Washington ủng hộ ông,  hầu hết báo chí th́ công kích ông, ông bị bao vây trong một không khí héo khô đơn độc.   

Ở Việt Nam, tín đồ Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài, các người Thượng vv  tất cả có tín ngưỡng khác nhau. Cho đến nay, chả có ai ở Việt Nam bị đàn áp v́ tin vào tôn giáo của ḿnh.   

Về những cuộc biểu t́nh trong thời gian qua th́ có  xô xát với cảnh sát, nhưng từ mùa Hè 1963, theo yêu cầu của Washington, Tổng Thống Diệm vẫn thường bỏ qua những vi phạm pháp luật của những kẻ xuống đường.  Cảnh sát của ông Diệm cũng không phải hiền lành.  Cũng có nhiều trường hợp họ không giữ được b́nh tĩnh, đă tấn công đám biểu t́nh, gây ra nhiều kết quả đổ máu. 

Nhưng lúc đó, những cuộc biểu t́nh nào cũng đều mang tính cách khiêu khích có tổ chức.  Họ xếp đặt rất khéo:  cho đàn bà con nít đứng hàng đầu làm bia đỡ đạn, c̣n họ đứng phía sau, ném đá và lon sắt vào cảnh sát.  Muốn phản kích họ, cảnh sát phải vượt qua dược đám đàn bà con nít, và điều này chính là mục tiêu cho các phóng viên ngoại quốc bấm máy lia lịạ  Thế giới sẽ thấy được h́nh ảnh cảnh sát đang xông vào hùng hổ với đám phụ nữ trẻ con rất vô tội ngây thơ… Sau 1963, trong suốt hai năm, tôi đă thấy bao nhiêu là loại biểu t́nh bạo động như thế này, cũng do một số lănh đạo quen thuộc đă từng chỉ huy biểu t́nh trong những ngày chống Tổng Thống Diệm.  

Trở lại vào giữa tháng Tám năm 1963, khi mà con số tự thiêu đă lên đến 5 người, thực khó mà nhớ được rằng chỉ trước đó 2 tháng,  các lănh tụ Phật Giáo và Tổng Thống Diệm đă kư kết với nhau một hiệp ước hoà giải.  Hiệp ước qui định từ việc treo cờ cho đến sự tôn trọng những tài sản của GHPG, vv... 

Nhưng thượng tọa Thích Trí Quang đă bỏ hẳn Hiệp Ước sau khi tố cáo chính phủ  “không thành thực” chấp hành nó, mặc dù ông ta không đưa ra bằng chứng nào.  Thực ra  nhóm ông Trí Quang đă xem Hiệp Ước 16-08 như một chiến thuật để hoăn binh với ông Diệm và cho Washington biết rằng họ cũng có thế lực. 

Phần chính phủ Mỹ th́ tiếp tục khuyến cáo ông Diệm là dù bị khiêu khích đi nữa, phải luôn nhân nhượng và biết hoà giải để cho phe Phật Giáo t́m tới.  Chính phủ Mỹ nghĩ là nếu ông Diệm tỏ ra biết điều th́ Phật Giáo đáp ứng lại ngay. 

Suy nghĩ như vậy là hiểu quá ít về Việt Nam.  Giá mà Washington cứ cho các người Phật Giáo biết rằng nước Mỹ vẫn gắn bó với ông Diệm th́ sự thể đă không đến nỗi nào.  Đằng này, từ tháng 8-1963 phe Phật Giáo đă được cho biết là tân đại sứ Henry Cabot Lodge  (người được chỉ định thay thế đại sứ Nolting) sẽ cứng rắn vi ông Diệm.  Một nhà sư ở chùa Xá Lợi hỏi tôi:  “cần bao nhiêu người tự thiêu nữa th́ chế độ Diệm mới sụp?”   

Và số người tự thiêu tăng lên, chỉ v́ họ muốn dùng điều đó làm vũ khí cho Cabot Lodge triệt hạ ông Diệm. 

Đúng!  Những vụ tự thiêu đă làm dư luận Mỹ có phản cảm với chính phủ ông Diệm.  Người Mỹ thường hay đem lối suy nghĩ Tây Phương để giải quyết sư việc ở Đông Phương.  Họ cho rằng  có tự thiêu là do đàn áp tôn giáo.  Người ta lư luận rằng có ai lại thích chết rùng rợn thế kia nếu chính quyền không làm ǵ thiệt hại nặng nề cho bản thân hay cho tôn giáo của ḿnh? 

Thực t́nh ít có người Mỹ hiểu được Phật Giáo là ǵ.  Cho nên không mấy ai biết những việc như tự thiêu, biểu t́nh bạo động trên đường phố, giăng các biểu ngữ với lời lẽ khiếm nhă trên cổng chùa vv.. là những điều hoàn toàn ngược lại với giáo lư của đạo Phật. (…) 

Chúng ta không ngây thơ để đi tin là mấy ông sư nói trên sẽ sống theo giáo pháp nhà Phật.  Họ khác với con số đông đảo các tăng lữ và Phật tử b́nh thường ở Việt Nam.  Những người này không bạo động và không làm chính trị.  Họ chỉ tu hành, sống hiền hậu, nhiệt thành với tín ngưỡng và không t́m cách hại vật giết người. 

Nếu tự nhiên những người theo đạo Thiên Chúa ở Việt Nam bỗng nổi lên tự thiêu hàng loạt, chúng ta sẽ nghĩ sao?  Dĩ nhiên họ không làm vậy, v́ như thế là vi phạm tinh thần của đạo.  Giáo lư Thiên Chúa cũng dạy những điều như Phật Tổ dạy thôi.  Nhưng người Mỹ th́ hiểu về đạo Thiên Chúa nhiều hơn là hiểu các tôn giáo khác ở Đông Phương.  Không hiểu nên dễ chấp nhận điều không thực. 

Cho đến sau khi anh em ông Diệm đă bị sát hại rồi, Tây Phương mới thấy rằng lối suy nghĩ “hễ có tự thiêu phải do đàn áp tôn giáo” là sai lầm. 

Điều này được chứng minh hẵn ḥi: sau khi ông Diệm đă bị ám hại (vào ngày  01-11-1963) khá lâu, vẫn c̣n có tới sáu (6) vụ tự thiêu xảy ra !   Ông Diệm có c̣n sống để   “đàn áp” được ai nữa đâu? 

Chính quyền giờ đây đă vào tay đám quân nhân, với rất nhiều Phật tử tham chính.  Những người này tuyên bố đă nổi lên để chấm dứt “đàn áp tôn giáo”.   

Nhưng dưới chính quyền này lại có thêm rất nhiều vụ tự thiêu khác xảy ra  trong một thời gian rất ngắn --- nhiều hơn gấp bội so với thời gian tương ứng khi hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu đang c̣n.  

HẾT

Văn-Lang Tôn-thất Phương dịch