TRỊNH CÔNG SƠN :   CÁI  ĐIỀU  CHƯA  NÓI

 

 

Người Việt Nam
quên ḿnh sống :
Người Việt nh́n nhau xa lạ  
Người Việt nh́n nhau căm hờn

 (Trịnh Công Sơn:
Ngày Dài Trên Quê Hương)

Ai bảo cho ngươi gánh nạn đời
Thôi mất th́ thôi, c̣n cũng khổ!

(Nguyễn Đ́nh Chiểu)

 

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) qua đời cũng đă một tháng.  Bây giờ th́ những xúc động ban đầu đă có đủ thời gian để lắng xuống, con người đă trở lại b́nh tỉnh để nghĩ xem do đâu mà ḿnh yêu mến TCS.  Có cái ǵ nơi TCS đă làm cho bao nhiêu triệu người Việt thấy rất bàng hoàng khi nghe tin anh nằm xuống ?

Tôi sống xa quê hương từ khi c̣n trẻ, có gặp anh Sơn một vài lần ngắn ngủi nhưng không thể bảo là thực sự có quen anh.  Cái “quen biết ” với anh, đúng ra, cũng chỉ như bao nhiêu người khác là “quen biết” âm nhạc của anh  – thu nhận từ một khoảng rất xa –  thế thôi .   Nhưng trong quá tŕnh ḿnh sống và lớn lên, không nhạc sĩ nào gây được ấn tượng sâu sắc trong tôi như TCS.

V́ nhạc của TCS rất quyến rũ, tại sao th́ tôi không cắt nghĩa được.  Có lẽ do lời ca rất nên thơ, với những từ dùng rất khéo, và tất cả nằm trong một cái ǵ tha thiết, nhẹ nhàng.  Trong lời ca lại có nhiều tính riêng chung nên đáp đúng cái t́nh tự sâu kín trong mỗi con người.

Nhạc của anh là nhạc t́nh.  T́nh đó là t́nh yêu, mà cũng là t́nh thương, và t́nh dân tộc.  Tôi vốn thích nhạc trữ t́nh, mà nhạc của anh lăng mạn, t́nh cảm.  Anh là người nhỏ nhẹ, lời hát cũng nhỏ nhẹ, cái yêu thương, phẫn nộ hay đau xót cũng nhỏ nhẹ mà nói lên.  V́ thế mà thấm thía.

Người Việt vốn đa t́nh và sống thiêng về nội tâm, mà nhạc của anh rất nên thơ.  Lộng trong đó thỉnh thoảng lại có man mác những tư tưởng của Nam Hoa Trang Tử, của đạo Phật (hư vô, cát bụi, vô thường, chợt thấy trong ta hiện bóng con người vv…).  Trong nhạc của anh ta thấy được bên chữ tâm đậm nét c̣n có một chữ ngộ nằm tiềm ẩn.  Anh lại hướng thượng:  TCS không làm những loại Tục Ca  bao giờ !

Và bên cái t́nh yêu lai láng lại có cả một t́nh lớn dân tộc.  Thời của anh, thưở đó, có lẽ là một trong những thời kỳ đau đớn nhất của lịch sử Việt Nam:   Chiến tranh với ngoại bang để dành độc lập, đồng thời cũng có những cái nghiệt ngả trong nhau giữa người Việt,  để vấn đề càng phức tạp thêm.  Thưở đó, từ trong ḷng mỗi người, dù ở bất cứ khuynh hướng nào, cũng thấy trổi dậy một niềm thương dân tộc ḿnh:  Cuộc chiến tranh v́ không tương xứng lực lượng, và không đồng văn hóa, nên đă quá dă man. Các giá trị tinh thần của xă hội miền Nam lại đảo lộn do sự trấn đóng của hơn nửa triệu quân Mỹ.  Trong cái ư thức về thân phận nhược tiểu của ḿnh, con người Việt Nam khao khát ḥa b́nh, mong chấm dứt chiến tranh, chém giết.  

Niềm đau nói trên, người Việt Nam nào cũng đều có, cọng thêm với cái đau đớn riêng của mỗi kiếp người.  Nhân sinh quan Việt Nam do đó mà yếm thế, và cần có t́nh thương, niềm tin và hy vọng.  Tất cả những t́nh huống này, TCS đă diễn tả được, bằng cả nhạc và lời ca.

*

Anh Sơn lớn hớn thế hệ của chúng tôi trên dưới mười năm.  Ngày anh tŕnh diễn ra mắt công chúng, tôi c̣n ở những năm cuối Trung Học.  Thưở đó, nhạc của anh chưa có ǵ đặc sắc, nói chung chỉ là những bản t́nh ca như Hạ Trắng, Ướt Mi vv…  Chúng chưa cho thấy có ǵ mới mẻ hơn những bản Tà Áo Xanh, Hương Xưa, Ai Lên Xứ Hoa Đào vv.. ; c̣n về mặt t́nh quê hương th́ những  Nương Chiều, Tiếng Nước Tôi vv… vẫn c̣n chiếm địa vị độc tôn.   Những bài hát khác, đa số là nhạc phục vụ cho chiến tranh, th́ lại đầy nhan nhăn.  Không kể mấy bài tầm thường như kiểu “đi quân dịch là thương ṇi giống ”, những bài khá hơn, tuy mới nghe th́ hay, nhưng ngay sau đó lại thấy nhàm :

Anh đi chiến dịch xa vời  
Ḷng súng nhân đạo cứu người lầm than (...)  
Không quên lời xưa đă ước th
 
Dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
    
                [ Anh Đi Chiến Dịch ]

Đó là giai đoạn “những năm xáo trộn” sau khi ông Diệm bị giết vào tháng 11-1963.  Màn đen của chiến tranh đă bao phủ khắp nơi .  Con người sống trong nỗi lo âu, thấy tương lai mơ hồ, trôi nổi .   Trong cuộc sống th́ hằng ngày gặp hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác,  các thế lực tôn giáo th́ chống đối nhà cầm quyền và chống đối lẫn nhau… Rồi quân đội Mỹ đổ vào, xă hội miền Nam thay đổi lớn theo cuộc chiến, với thuốc khai quang, với “oanh kích tự do”, với pháo đài bay B-52 san bằng rừng núi lẫn ruộng đồng … ,  rồi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc, vv…

Trước trạng huống đó, người Việt dĩ nhiên là đau ḷng, và một trong những người dám nói lên suy nghĩ của ḿnh là TCS.   Giữa một cơn cuồng phong rầm rộ ca ngợi cho chiến tranh, tiếng nhạc của anh vang lên, thiết tha, trăn trở:

Ôi đêm dài và cơn băo rớt
Trên giải  đất quê hương khô cằn  
Ôi bom đạn cày lên những xác  
Trên đồng lúa hôm nay bỏ hoang  
Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát  

Xương thịt đó thiêng liêng vô vàn
 

[TCS:  Đêm Bây Giờ, Đêm Mai]

Tiếng ca nhắc nhở về một thực tại băng hoại, trong đó những chết chóc không chỉ thuần về vật chất nhưng c̣n thống khổ hơn:

Ngày thật dài trong âu lo
Rồi từng đêm bom đạn phá  
Người Việt nh́n nhau xa lạ  

Người Việt nh́n nhau căm hờn ...
             

[TCS:  Ngày Dài Trên Quê Hương]

*

Điều đă làm TCS khác xa với các nhạc sĩ khác là những suy nghĩ của anh tiến rất nhanh.  Thoạt tiên  -  với những Diễm Xưa, Tuổi Đá Buồn, Nh́n Những Mùa Thu Đi,  vv.., người ta ngỡ anh chỉ là một nhạc sĩ có nhiều nét đặc sắc riêng thôi, và -  ngoài t́nh ca ra  -   anh sẽ không khác ǵ số đông văn nghệ sĩ  “bềnh bồng lúc đó:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thê’ kỷ
Một đời người  u uất nỗi chơ vơ  
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị  

Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang vu
                   

[Vũ Hoàng Chương]

Bởi v́ khi mới bắt đầu, nhạc của anh đă phản ảnh cái t́nh huống yếm thế của người Việt, thấy buồn về “thân phận da vàng, trong đó con nguời mang kiếp sống “từng ngày từng xót xa [Xin Mặt Trời Ngủ Yên].  Nhưng anh không dừng ở đó mà đi nhanh vào những suy tư về cuộc đời [“ôi quê hương đă lầm than, sao c̣n, c̣n chiến tranh], và trong anh có nhiều nét xây dựng rất tích cực, trong sáng:

Cho tôi đi xây lại chuyện t́nh
Cho tôi đi nâng dậy hoà b́nh

Cho tôi đi qua tận gập ghềnh

Nh́n gịng máu trong tim anh
            [TCS:  Xin Cho Tôi]

Cái đặc điểm của TCS là dưới một h́nh thức uyên áo gần như lăng mạn viễn mơ, anh đă nói lên được những hiện thực phê phán.  Rồi từ hiện thực phê phán, anh bước thêm một bước nữa:  dấn thân nhập cuộc.   Hăy nghe TCS huy động niềm tin trong ḷng người Việt:

 

Ta bước bước đi, bước bước hoài trên quê hương du yêu này
Ta b
ước bước đi, ct tiếng cười thách đ ai cướp đt này    (…)       

Đạn bom ơi, ḷng tham ơi, khí giới nào diệt nỗi dân ta  
Triệu chân anh, triệu chân em, hỡi ba miền vùng lên cách mạng  

Hăy xoá hết dấu vết buồn thương,  

Ngày mai đây những con đường Nam Bắc nở hoa.

[TCS: Chưa Ṃn Giấc  + Huế Sài G̣n Hà Nội]

Chính anh cũng đi tiên phong, tự ḿnh làm một “tiếng kêu trong sa mạc, kêu gọi t́nh thương dân tộc.  Quần chúng yêu mến anh cũng v́ trong ư hướng của anh luôn luôn mang ư niệm “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,.  Anh chống lại với cái ác, chống chiến tranh, và cổ vũ niềm hy vọng :

V́ quê hương sẽ có ngày hoà b́nh  
Máu xương hai miền chung ḷng thế giới  
Ngày hôm nay tôi chưa về Hà Nội  
Dù hôm nay em chưa tới Sài G̣n  
Nhưng trong ḷng em và tôi  
Đều nói tiếng:  VIỆT NAM
                [TCS: Chưa Mất Niềm Tin]

*

Có lẽ không phải t́nh cờ mà cùng lúc TCS đang tích cực dấn thân với những tác phẩm như “Huê’ Sài G̣n Hà Nội hay “Nối Ṿng Tay Lớn ... th́ trong giới trí thức trẻ ở Sài G̣n cũng đă đưa ra bao nhiêu lời nhắn gọi .  Đó là nhạc:

Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn cầm súng với cầm gươm  
Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn đi giết bạn bè anh em  

Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn bán nước mà làm quan …

[Miên Đư’c Thă’ng: Lời Ru]

Hay là thơ:

Cả giống ṇi ta đang rên siết từng giờ  
Đau ngất núi, oán đầy sông chẳng xiết  
Hăy đứng dậy ở bên bờ cơi chết  
Cứu nhau thôi, anh chị bạn bè ơi  

Cám dỗ, gian nguy, tất cả hẹn nơi người !
            [tác giả  ?]

Giữa TCS và những người này, ai đă ảnh hưởng ai, chúng ta hăy để về sau cho những nghiên cứu gia t́m ṭi.   Chỉ biết là những tập Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam vv.. của TCS ra đời từ khoảng 1967 trong khi nhạc của Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập vv... đến với quần chúng cũng phải từ 1970 trở đi .   Nhà văn Thế Uyên kể lại (trong một bài ở tạp chí hay sách nào đó, tôi quên mất) (*1), có một nhóm người đă họp nhau tại “Tuyệt T́nh Cốc ở Huế.  Theo Thế Uyên, hôm đó có người của đủ các phe phái, “quốc giaV, “cọng sảnV vv.., có cả TCS.  Họ bảo với nhau là “vạch ruột mà nói và hứa  không nh́n thấy sao trắng bên này, sao đỏ bên kia   (bản thân Thế Uyên h́nh như là người của VN Quốc Dân Đảng).  Sau này, gặp TCS vào năm 1986, tôi hỏi anh chuyện đó có hay không, anh bảo có.  Nhưng anh chỉ nói vắn tắt:  họp nhau rồi chia ra mỗi đứa về làm một chuyện .  Hỏi anh làm chuyện ǵ, anh bảo: “viết .  Tôi định hỏi viết ǵ, nhưng nghĩ lại những ǵ anh viết ra đều có xuất bản, ai cũng biết, nên thôi.

*

Một nét đặc sắc khác của TCS là tiếng kêu của anh luôn luôn phát xuất từ 1 con tim yêu thương, nhắc nhủ “Hăy Yêu Nhau Đi, hăy nối lại t́nh thương đă nhiều đổ nát:

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay …  
Gặp nhau mừng như băo cát quay cuồng  

Biển xanh, sông gấm, nối liền một ṿng tử sinh     

[TCS:  Nối Ṿng Tay Lơ’n]

Tuy không ai nhận ra một cách rơ rệt, nhưng trong hơi hướm của nhạc TCS, người Việt vẫn cảm được một t́nh yêu chân thành với quê hương đất nước.  Nhạc của anh là nét nối dài của t́nh yêu nước thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, c̣n man mác trong ḷng mỗi cá nhân qua từng thế hệ :

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây  
Một bàn cờ thế phút sa tay  
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy  
Mất ổ bầy chim dáo dát bay  
Bến Nghé của tiền tan bọt nước  

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây...
  

[Nguyễn Đ́nh Chiểu:  Chạy Giặc ]

Ṭ le kèn thổi tiếng năm ba

Nghe lọt vào tai dạ xót xa
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói  
Vắng hoe cồn Phụng ủ dàu hoa  
Tan nhà cám nỗi cơn ly hận  

Cắt đất than ôi cuộc giảng hoà     
           

[Phan Văn Trị: Qua Vĩnh Long]

Và cái t́nh dân tộc, trăm con của cùng một mẹ:

Lẽ nào ta lại giết ta !  
Có đâu lương giáo một nhà hại nhau ?

[Phan Bội Châu:  Hải Ngoại Huyết Thư]

Có mưa có gió có trời  
Có non có nước có người có ta  

Trước sau Nam Bắc một nhà

                                                                                                [Phan Bội Châu:  Trùng Quang Tâm Sử]

Tôi có người yêu chết trận Pleimei
Tôi có người yêu ở chiến khu D  
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội  
Chết vội vàng dọc theo biên giới ...  
Tôi muốn yêu anh, yêu Viêt Nam  

Ngày mới lớn, tai nghe quen đạn ḿn
                  

[TCS:  Tôi Có Người Yêu]

*

Ở TCS, ta c̣n thấy được cái chân t́nh cao thượng.  Những năm đi “học tập về, nh́n đi ngó lại quanh ḿnh bỗng thấy ban bè lần lượt đi “chui hết, anh sống trong cô đơn.  Nhưng anh biết t́m niềm vui cho ḿnh để sống [“mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ], đồng thời quên cái cô quạnh để “lấy câu khẳng khái   mà an ủi người ra đi:

Em ra đi, nơi này vẫn thế  
Vẫn có em trong tim của mẹ  
Thành phố vẫn có những ước mơ  
Vẫn sống thiết tha  
Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi                    

[TCS:  Em C̣n Nhơ’ Hay Em Đă Quên]

Tha thiết đến như vậy, nhưng “vô lượng chúng sinh đă không hiểu, và nhiều kẻ đă hăng hái đi ném cả một cơn phẫn nộ vào anh.  Tuy vậy đồng bào trong nước hiểu đươc.  Họ biết trong câu nhạc của anh là cả một tấm ḷng vị tha truyền thống của người Việt.  Lời anh là lời của một người thân trong gia đ́nh, nhắn nhủ với kẻ đi xa rằng kẻ ở lại bao giờ cũng:

Vẫn để ḷng theo người lận đận  
Vẫn hằng trông đếm bước
em đi            

[Thê’ Lữ:  Giây Phút Chạnh Ḷng]

Và đại diện cho cả gia đ́nh là TCS, một người lẽ ra phải được hiểu là đă:

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau  
Anh
  muốn cho ta chớ thảm sầu  
Nhưng chính ḷng
anh đương thổn thức  
(Buồn kia  
anh dấu được ta đâu  !) 

[Thê’ Lữ:  Giây Phút Chạnh Ḷng]

*

Có lẽ cái lẽ sống là điều quan trọng nhất đối với TCS, c̣n những thứ khác  -  như anh vẫn luôn nhận định  -  đều chỉ là cát bụi .  Coi trọng  lẽ sống nghĩa là luôn đi t́m một lối sống có ư nghĩa, và làm sao đạt được cái ư muốn đó.  Nó chắc chắn không phải sống để :

Nỡ  nghe tiếng loạn đem tai rửa  
Đành thấy thằng gian để mắt trừng
                [tác giả  ?]

Biết như thế để hiểu được niềm đau của con người mang trong ḿnh một nhân sinh quan rơ rệt về lẽ sống;  nhưng lm khi v́ hoàn cảnh, phải đành im lặng, ẩn nhẫn, ngậm ngùi.

*

Ta cần nhớ rằng lịch sử Việt Nam là một lịch sử đầy bao trùm của bạo lực.  Trước hết là cái “di sản đắng cay có từ trước, như anh nói:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
                              [TCS:  Gia Tài Của Mẹ]

Mẹ để lại cho con những ǵ?  Chiến tranh do bạo lực bên ngoài mang đến.  Chết chóc, lầm than.  Bạo lực này lại tạo ra “một lũ bội t́nh,  để chạy theo nó, áp bức anh em ḿnh. Đó là bạo lực bên trong.  Hai bạo lực này chung sức nhau tạo trong đầu óc người Việt những mặc cảm tự ti, sợ sệt, ích kỷ, quên t́nh nguời, hay thù oán vv…  Hiện tượng “tha hoá trên chính quê hương ḿnh   hay tâm lư muốn làm “những kẻ đứng bên lề là những điều phổ biến mà giới trí thức Việt Nam đă nhận định được trong thập niên 1960-1970. (*2).

Đây không phải là một điều mới .  Nó manh nha từ thời Tây mới vào, và đă sớm lan tràn từ thời cụ Phan Bội Châu kia .  Các cụ goi nó là cái vạ "chết ḷng", nghĩa là “xác tuy c̣n đó nhưng tấm ḷng đă chết.  Cho nên mới có Đông Kinh Nghĩa Thục [DKNT] và phong trào Duy Tân đi song song với việc vũ trang giành độc lập, để “gọi hồn nước", gọi quốc dân hăy 

"bỏ ḷng mê lại,  bỏ ḷng tham đi .  

V́ các cụ thất bại nên cái  “vạ chết ḷng c̣n sống, và khoẻ mạnh thêm ra !   V́ thế muốn sống có ư nghĩa, trước tiên người Việt Nam phải biết “dám suy nghĩ, trước khi dám có một thái độ, và hành động.

Người cố gắng khơi dậy lại tinh thần của Phan Bội Châu và DKNT cho cả nước có lại “chút thiên lương là tiên sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.  Thời của Tiên Sinh, chế độ thực dân Pháp đă thành công lớn trong việc tha hoá người Việt với mơ mộng, theo mới vv…  của Tây Phương qua áo quần, kiểu đầu chải bốp, mốt nhảy Tango và say mê những lăng mạn viễn mơ qua Tố Tâm Đạm Thủy ,  Lan và Điệp,  phong trào “Học Kiều của Phạm Quỳnh, vv…  Nhà thơ Tản Đà, trong h́nh thức lăng mạn thoát ly hầu tránh con mắt ḍm ngó của bạo lực  -  và cũng để làm viên kẹo bọc đường cho đám đông u tối thấy dễ nuốt  -  đă khéo léo kéo người Việt lại với cái  ư thức non nước:

Nước non nặng một lời thề  
Nước đi đi măi không về cùng non  

Nhớ lời hẹn nước thề non…
               [Thề Non Nước]

Sơn hải hỡi ai lời thệ ước  
Gió hiu trăng lạnh tiếng ve sầu !           
            [Sơ Thu Hoài Cảm]

Hay là

Nọ bức dư đồ ngắm thử coi

Sông sông núi núi khéo bia cười

Biết  bao thưở trước công vờn vẽ  
Sao đến bây giờ rách tả tơi  
Ấy trước ông cha mua để lại  
Mà sau con cháu lấy làm chơi    

[Vịnh Bức Dư Đồ Rách]

Tản Đà không thành công trực tiếp, nhưng cái hạt mầm Tiên Sinh gieo đă thấm dần qua nhiều thế hệ để sống lại trong một TCS.   Nơi TCS, ta có thể thấy được một loại tài hoa trữ t́nh mênh mông man mác và một ư hướng gắng gỏi rất “Tản Đà.   TCS đă có nói về ḿnh: “ Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của ḿnh về những giấc mơ đời hư ảo (*3).  Câu này phải được hiểu tương đương với   ta là tiếng kêu trong sa mạc !   kêu gọi

Hăy yêu nhau đi  ( khung trời  u tối ) ...  
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom
                 

[TCS:  Hăy Yêu Nhau Đi]

  -  như thế hệ đàn anh của ḿnh  -  TCS cũng hiểu :

Ngày mai sáng lạn màu non nước,  
Cốt nhất làm sao tự buổi này
                

[Nguyễn Bi’nh: Hành Phương Nam]

Và muốn thế :

Tuổi thanh niên phải đi bằng những bước tiền phong 

[TCS: Huê’ Sài G̣n Hà Nội]

Nói cách khác, giống như Tản Đà, TCS đă trang bị tinh thần cho người Việt bằng cách cố gắng làm sống lại cái “thiên lương trong ḷng nguời,  và nhắc người Việt suy nghĩ về con người và xă hội .  Ta thấy pha lẫn trong cái uyên áo gần như lăng mạn viễn mơ của Gọi Tên Bốn Mùa, Như Cánh Vạc Bay, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng vv... những tác phẩm khác của TCS đều có mang một nội dung tích cực dấn thân theo hướng hiện thực phê phán.   V́ nhận định được “thân phận da vàng của Việt Nam chịu đau khổ do bạo lực chiến tranh,  anh chống lại bạo lực, và kêu gọi yêu thương:   Hăy biết nh́n lại anh em, t́m hoà b́nh, thoát cái “u mê ngh́n năm . 

Muốn thế,  phải có một ước mơ, một niềm tin, một xác định rơ ràng “dân tộc Việt Nam là một    -   để biết  thương yêu nhau,  ḷng Nam trông Bắc, t́nh dâng trong mắt , và bền ḷng chờ tới lúc:

... quê hương sẽ có ngày hoà b́nh  
Máu xương hai miền chung ḷng thế giới
           

Suy nghĩ như thế, và dám công khai lên tiếng, anh có bị quân cảnh Sài G̣n lùng bắt liên tiếp là điều dễ hiểu .  Sống trốn chui trốn nhũi, nhưng không v́ thế mà TCS bỏ đi những điều ôm ấp của ḿnh.

*

Nhưng  – cũng như tất cả chúng ta –  anh làm sao biết được đủ mọi thứ?  Phải sau 1975 cả nước mới bắt đầu hiểu được những vấn đề xă hội và chính trị ở miền Bắc.  Rồi cũng phải rất lâu sau 1975 người người mới hiểu thêm được cái hiện thực khách quan của xă hội nước ta trong gần nửa thế kỷ qua ....

Dĩ nhiên không phải v́ thế mà những nhận định và chủ trương của TCS đă không đúng.  Nó vẫn cao thượng, vẫn có một giá trị vững chải trong lịch sử của Việt Nam và của nhân loại tiến bộ.  Ta thấy được tất cả những điều anh đă làm trước 1975 là việc làm của một sĩ phu Việt Nam sống theo truyền thống yêu nước:

Ở Hán đành ḷng pḥ lợn Hán  
Oán Tần ra sức đuổi hươu Tần  
Trông Nam chạnh tủi cành hoa   

Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân     

[Phan Văn Trị : Cảm Hoài]

Và:

Cương thường bởibiết nên mang nặng
Hễ đứng làm trai trả nợ đời
                              

[Nguyễn Hữu Huân:  Lâm Th́ Cảm Tác]

*

Có thể nói khúc ngoặc quan trọng khác trong cuộc đời TCS là giai đoạn anh đi “học tập cải tạo".  Đó là bốn năm “dựa lưng cơi chết,  v́ chính anh đă kể lại:  làm giữa băi ḿn, lâu lâu có người chết...  Có hoài ! (*4) .  Ḷng anh đối với đất nước như thế, với đồng bào như thế, tại sao anh phải đi “học tập?  Đây là câu hỏi của người người khắp chốn, và cũng của mai hậu:  Hà tội kiến di ? [= tội ǵ mà phải đi đày ?]  (*5).

Nhưng hỏi như thế là không nhớ lịch sử Việt Nam:  trong rất nhiều năm từ 1975 cho đến khi có “Đổi Mới,  [nghĩa là giai đoạn anh đi “học tập], cái định nghĩa chính thức của yêu nước là phải “Yêu Nước Xă Hội Chủ Nghĩa .  TCS là người yêu nước, điều đó ai cũng biết, nhưng chưa chắc anh yêu XHCN.  Mặt khác, anh là người có tài, điều này không ai chối căi, nhưng Thế Lữ, Quang Dũng, Nguyễn Bính, Văn Cao vv..  đều có tài mà vẫn phải “bị lận đận th́ sao?  Vả lại, bên những cái to lớn thường có những chuyện nhỏ đi “ăn theo”   -   và đố kỵ cá nhân thường là một điều nhỏ nhưng vẫn đủ để làm long đong nhiều tuấn kiệt.   Chỉ ví dụ một trường hợp của Quang Dũng thôi:  ông “lận đận chỉ v́ tài ông sáng chói và được ái mộ hơn người khác.  Sau 1975, một nguời bạn của Quang Dũng đi trong Nam về, vừa gặp anh là reo lên:  bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của cậu, trong Nam họ thích lắm.  Có tới hai bài phổ nhạc khác nhau, bài nào cũng hay cả .  Quang Dũng lật đật bịt miệng anh bạn lại, bảo nhỏ:  suỵt, nói khe khẽ chứ, kẻo khổ tôi (*6).

Có lần TCS nói về nhạc của ḿnh:  mỗi câu, mỗi khúc riêng th́ không có nghĩa ǵ, nhưng tất cả hợp lại với nhau th́ nó nói lên được một cái ǵ đó (*7).  Với cái tài như thế, TCS bao giờ cũng có thể viết được một bản nhạc  “có ǵ mà không có ǵ”, nghĩa là không có ǵ để “buộc được anh, nhưng hát lên ai cũng hiểu, và đó là điều tốt cho nghệ thuật mà “không tốt” cho chính trị  Phải chăng v́ thế nên đă có một cái ǵ đó cho TCS luôn luôn nhớ mà tự kiểm duyệt th́...  “tốt nhất”? (!)

V́ nhạc đi vào ḷng người dễ hơn cả thơ, mà TCS là người đă dám suy tư, và dám dấn thân !  Bên cạnh cái can đảm ấy, cái tài hoa ấy, họ Trịnh lại có được cả mấy chục triệu  “ tín đồ”  trên suốt hai miền Nam Bắc và bạn bè ái mộ khắp năm châu .  Mỗi câu, mỗi chữ mà họ Trịnh viết ra,  các “tín đồ”  sẽ nhớ kỹ trong ḷng ...

*

Kết quả là  Từ ấy “  không ai c̣n thấy những nét hiện thực phê phán trong nhạc TCS nữa, tuy anh vẫn c̣n sáng tác.    Những câu:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui  
Chọn những bông hoa và những nụ cười  

Và như thế tôi sống vui từng ngày 

là cái thông điệp từ anh, được mọi người  --  bây giờ và các thế hệ mai sau  --  xem như là một lời nhắn nhủ rơ ràng dứt khoát.  Bởi v́ TCS, ngay cả những giây phút cuối nằm trên giường bệnh, vẫn c̣n nhắc lại  [qua phỏng vấn của báo chí tại Sài G̣n ] rằng anh xem sự sống là điều quan trọng nhất trong mọi sự.

Nói cách khác, “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui và “Tôi Ơi Đừng Thất Vọng là thái độ sống của anh trong khoảng 25 năm cuối của đời ḿnh.  Trong thời gian này, “Em C̣n Nhớ Hay Em Đă Quên là viên kim cương lớn đầy t́nh người mà anh đă để lại cho hậu thế.

Như đă nói ở các phần trước, con người của anh không thể là con người sống thờ ơ, quay lưng lại với tiền đồ đất nước và hạnh phúc của dân chúng.  Trong 25 năm qua từ 1975, xă hội Việt Nam thay đổi rất nhiều, không phải là anh không thấy:  thống nhất nhanh chóng, “Học Tập Cải Tạo” ở miền Nam, vượt biên, “Đánh Tư Sản”, chiến tranh Campuchia, Trung Quốc xâm lược, hợp tác hoá nông nghiệp với “nén ” rồi  bung ,  Nghị Quyết 6, Đổi Mới, khối XHCN tan ră, Mở Cửa Kinh Tế,  đầu tư ồ ạt,  đốn rừng ồ ạt,  băo lụt miền Trung   vv...  Anh sống với giới văn nghệ sĩ là những người nhạy cảm nhất đối với mọi biến chuyển của thời cuộc, chuyện ǵ anh lại chẳng biết?  Kẻ ở rất xa quê hương mà c̣n sốt ruột theo những thay đổi lớn này (*8), huống chi anh ở ngay trong ḷng quê hương ?

Nhưng TCS đă nói dứt khoát:  Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui, ai c̣n nỡ bắt anh nói ǵ thêm nữa ?   Có ai trong chúng ta đă lúc nào ngừng nghỉ lại để nghe thêm một lần tiếng hát từ anh:

Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng  
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân th́
                    [TCS:  Một Cơi Đi Về]

*

Anh có cái may mắn là gia đ́nh cũng khá giả nên không phải bươn chải kiếm ăn, thành ra không ai có thể dùng tṛ “thắt bao tử để lung lay hay ép buộc anh được.  Cái tính của anh ai cũng biết rơ ràng:  thời trước 1975, thay v́ phải trốn chui trốn nhũi, nếu anh muốn có tiền bac và chức tước, với tài năng của ḿnh, ít ra anh không được làm thi bá [hay nhạc bá] để chủ chốt cho một chương tŕnh 1 văn đàn nào đó  -   th́ cũng dễ dàng được cử đi tŕnh diễn ngoại quốc vv…  Sẽ có đủ hết,  nếu anh chịu  đưa ra vài câu tuyên truyền cho giới quyền lực kiểu như  anh là lính đa t́nh    hay là

Sức mấy mà buồn,  buồn ơi bỏ đi Tám  
Vào nhập ngũ hết buồn
                            [Phạm Duy:  Sức Mấy Mà Buồn]

Thời sau này, nếu cũng v́ danh lợi, anh vẫn có thể có hàng vạn cơ hội để “nổi ”.   Nhưng suốt đời anh, TCS đă không bao giờ dùng tài năng của ḿnh để mưu cầu lợi lộc, hay lừa gạt dân chúng bằng cách làm mập mờ lịch sử.  Không, anh có một nhận định, một chọn lựa, và sống chung t́nh với chọn lựa đó.

Việc anh không bỏ nước ra đi cũng là một chọn lựa .  Nói như thi sĩ nào đó:  con chim cu gáy nó vốn ở đồng .  Không phải là anh không đi được, nhưng anh không muốn đi.   Một lần ra tiệm uống cà phê với anh  [1981], tôi thấy ông chủ quán đến vồn vă bắt tay anh rồi hân hoan khoe với chú bé bán báo bên cạnh:  em biết cậu này là ai không?  Anh nói với tôi:  ḿnh sống v́ mấy cái t́nh cảm như thế nàỵ  Đi quán này, bà chủ quán múc cho một tô bún ngon hơn, đi  chỗ  kia, có ông bán hàng đưa tay ngoắc ngoắc.  Chứ đi đâu mà được mấy cái đó .

*

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài .  Anh có tài  -  và sống với quê hương, đồng bào, bè bạn  -  rất trong sáng, trọn vẹn, nên quần chúng thương anh là một điều tất nhiên.  Trong những khó khăn của mọi hoàn cảnh, anh đă sống xứng đáng, chung thủy, chọn lựa được niềm vui cho chính ḿnh và trung thành với điều chọn lựa của ḿnh.  Khi anh nằm xuống, quần chúng nhân dân làm một quốc táng cho anh -  trong ḷng họ và trên thực tế  -  cũng là điều dễ hiểu :

Làm người trung nghĩa đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng ṃn
Cơm áo đền bồi ơn đất nước  
Mày râu giữ vẹn phận tôi con  
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết  
Khí phách ngh́n thu rỡ nước non  
Nhớ chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ  

Ḷng đây tưởng đó mất như c̣n
                 

[Nguyễn Đ́nh Chiểu]

Anh ra đi, nhưng chúng tôi c̣n ở lại  -  luôn luôn nhớ tới anh  -  và sẽ thuật lại những hoài bảo, những mơ  ước của anh.   Chúng tôi tin rằng, anh nằm trong đất lạnh nhưng ḷng anh không thấy lạnh, v́ anh đă gieo hạt mầm tốt trong con tim của cả một dân tộc.    Thấm qua bao thế hệ, cái mầm yêu thương  -  cái t́nh người  -  vẫn sẽ c̣n đó, và sẽ nảy nở,  v́ nhân tài sẽ phát xuất tự thiếu niên.   Nay anh đă ra đi, nhưng  Người đă đi, người sẽ tới , đó mới là “Nối Ṿng Tay Lớn,  phải không anh ? 

 

Văn-Lang Tôn-thất Phương, Canberra 05-2001

npttp@yahoo.com.au

 

Chú  Thích

1.                    Nhà văn Đặng Tiến (hiện ở Paris) cho biết có thể ở tạp chí Bách Khoa (Sài G̣n) số 15-08-1970.

2.                    Xin xem loạt sách NHẬN ĐỊNH của giáo sư Nguyễn Văn Trung xuất bản ở Sài G̣n trong khoảng 1965-1970. 

3.                    Lê Minh Quốc: Giọt Lệ Ru Người (DIỄN ĐÀN, Paris, số 01-04-2001).

4.                    Anh nói với tôi vào năm 1980.

5.                    Trích từ hai câu trong mật thư của cụ Trần Cao Vân gửi vua Duy-Tân để thuyết nhà vua chống Pháp:  Phụ Hoàng hoàng đế hà tội kiến di, Dực Tôn tôn lăng hà cớ kiến quật”.

6.                    Hoài Việt: Quang Dũng, Người Và Thơ (Hội Nhà Văn, Hà Nội 1990).

7.                    Anh nói với tôi vào năm 1986.

8.                    Xin xem Nguyễn Hồi Thủ:  Quả Đt – Quê Hương (Chân Mây Cuối Trời, Paris 1999. Tr 9-10).

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"