THÁNG GIÊNG , mơ về trăng non rét ngọt

Tác giă: VŨ BẰNG   -   Tuyển tập: Thương Nhớ Mười Hai

 

Tự. nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân . Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân , người ta càng tŕu mến , không có ǵ lạ hết . Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa , trăng đừng thương gió ; ai cấm được trai thương gái , ai cấm được mẹ yêu con ; ai cấm được cô gái c̣n son nhớ chồng th́ mới hết được người mê luyến mùa xuân .

Ới ơi người em gái xơa tóc bên cửa sổ ! Em yêu mùa xuân có phải v́ nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai , gốc đào , chồi mận ở ngoài vườn ? Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau , chàng tưởng chừng nghe thấy đồi núi chuyển ḿnh , sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời ? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải là v́ đấy là mùa xuân lên hy vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?

Tôi yêu sông xanh , núi tím : tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần va` tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải v́ thế .

Mùa xuân của tôi - mùa xuân Bắc Việt , mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu , gió lành lạnh , có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh , có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa , có câu hát huê t́nh của cô gái đẹp như thơ mộng …..

Người yêu cảnh , vào những lúc trời đất mang mang như vậy , khoác một cái áo long, ngậm một ống điếu , mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như ḷng ḿnh say sưa một cái ǵ đó – có lẽ là sự sống !

Anh có thể đạp cỏ trên Hồ Gươm , đợi đến sâm sẩm tối ra ngồi ở Thủy Tạ nh́n các cô gái đẹp như tiên mặc áo nhung , áo len trăm mầu ngàn sắc , in bóng h́nh xuống đáy nước lung linh ; anh có thể vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống , “ mở quả mứt “ phong bao cho các chị em , rồi uống với mỗi em một ly rượu “ lấy may” ; anh có thể đi vào một ngôi chùa khói nhang nghi ngút , đưa mắt nh́n xem có cô nào thực xinh th́ quỳ ngay xuống bên cạnh cầu Trời khấn Phật cho cô càng ngày càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng xứng ư như+ ….anh vậy.

Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai , như mầm non của cây cối , nằm im măi không chịu được , phải trổi ra thành những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh .

Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường xá không c̣n lầy lội nữa mà cái rét ngọt ngào, chớ không c̣n tê buốt căm căm nữa .

Y như những con vật nằm thu h́nh một nơi trốn rét thấy nắng ẩm trở về th́ lại ḅ ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thật sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.

Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đ́nh đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho ḷng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong ḷng th́ cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.

Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng,Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn c̣n phong , cỏ không mướt xanh như cuối đông ,đầu giêng , nhưng trái lại lại nức một mùi hương man mác .

Thường thường, vào khoảng đó trời đă hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn , không c̣n làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nh́n ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, ḿnh cả thấy rạo rực mộ.t niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lư,vài con ong siêng năng đă bay đi kiếm nhụy hoa. Chỉ độ tám chín gị sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.

Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đă hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào ḷng. Cánh màn điều treo ở trước bàn thờ ông vải đă hạ xuống từ hôm “hoá vàng” và các tṛ vui ngày tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật .

Các con lại đi học cả rồi. Dưới nhà , người làm ngồi nhắc lại chuyện tết với nhau “ tiền mở hàng được tất cả mười hai đồng “ và “ đánh tam cúc thua mất ba đồng mốt” một cảnh thanh b́nh thú vị diễn ra thấp thoáng ở ngoài vườn , sân gác .

Bảo là nóng ư ? Không. Bảo là rét ư ? Không. Thời tiết lúc đó kỳ lạ lắm : rét vẫn c̣n vương vương trên ngọn xoan đào, nhưng đất ở ngoài vườn khô ráo , sạch bong , mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương , và qua những kẽ lá cḥm cây, có những bông hoa nắng rung rinh trong bể nước .

Đêm xanh biên biếc, tuy có mưa dây, nhưng nh́n lên thấy rơ từng cánh sếu bay. Về khuya, trời vẫn rét một cách t́nh tứ nên thơ: mặc dầu vẫn phải đắp chăn bông, nhưng ban ngày không cần phải mặc áo ấm như hồi cuối chạp .

Người vợ bắt đầu thu hết những nệm thêu trải ở sập chân quỳ và gối gấm trên ghế trắc “ mua tự bên Tàu về” để đem ra phơi dưới nắng xuân , trên một cái chiếu mầu khô nỏ. Mi môn, quần màn, với quần áo tết của vợ chồng và các con sẽ được phơi như thế chừng ba nắng để rồi đem cất vào trong tủ có trải sẵn rễ “hương bài” đễ cho quần áo thơm ngát và khỏi “nhậy”.

Ấy đấy, thương người đàn bà Bắc như thế đấy. Sạch cứ như ly như lau, cẩn thận từng ly từng tí . Và càng thương hơn nữa là khi ta thấy người đàn bà chậm răi vuốt ve từng cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo nọ lên quần kia, như thể sợ động mạnh th́ quần áo sẽ không c̣n nguyên vẹn tuyết trinh, v́ nhầu nếp lụa.

Giản dị thay là cái đẹp của ngày xuân lúc đó! Ở trong nhà, cái đẹp không c̣n phải tạo bằng đèn nến sáng trưng, bằng mi môn quần màn, rực rỡ bằng hoa lá tưng bừng trong hương trầm nghi ngút , mà ở ngoài đường người ta cũng không c̣n bị chóa mắt hay say ḷng v́ những áo nhung trơn mướt, những giấy kính x̣e cánh phượng bay hay những dăi khăn “san” khéo biết lựa màu bay đùa trước gió như thể tơ trời vậy .

Không. Cái đẹp lúc này là cái đẹp thành thực, hồn nhiên , mộc mạc , cũng như người đàn bà, con gái đẹp không phải v́ quần áo, v́ son phấn , mà chính v́ cái chất đẹp ở trong người tiết ra .

Từ mùa đông qua Tết cho đến hôm nay, quần áo giấu mất hết cả thân h́nh đều đặn, núng nính, nỏn nường của người vợ bé nhỏ có đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót. Hôm nay, chợt thấy đôi mắt trong hơn, làn da thắm hơn và đôi vai màu ngà hằn qua tấm áo lụa văn , người chồng cả m thấy như mới lại được gặp một cái ǵ đă cách biệt lâu lắm và tuy ngồi cách xa nhau mà tưởng như vợ ḿnh thơm ngát mùi hoa cau .

Đẹp như thế mới là đẹp, yêu đến thế mới là yêu

Cái đẹp của ngày tết phủ áo nhung tím, quàng khăn lụa mầu , dận lên giầy nhung đen , đâu có thể so sánh được ?

Ai cũng có thể bị huyễn hoặc v́ vàng son, ai cũng có thể mê say nhất thời những cái lông nheo giả uốn cong lên như đào chiếu bóng, những cái vú nhân tạo bằng cao su bơm, những cái điệu bộ nhân tạo đi vắt va vắt vẽo , những mái tóc “ mượn “ của các mỹ viện, những mùi thơm vương giả …..Nhưng rồi có một lúc người xế bóng sẽ thấy rằng cái đẹp của quê hương ta là cái đẹp của cỏ biếc , xoan đào , hương thơm của ta là hương thơm của cau xanh , lúa vàng chứ đâu phải cái đẹp của mắt xếch vẽ xanh , của tấm mini mời mọc “ tí ti thôi nhé” , của đôi môi tô theo kiểu Mỹ trông như môi người chết trôi ; mà cũng đâu có phải là hương thơm của dầu thơm “Santalia” , “Kiss Me” ḥa với hơi người tạo thành một mùi thú vật đang kỳ “con nước”.

Ở đây, từ tháng một , trời nắng chói chang, làm cho đôi mắt mờ , đầu nhức , lúc nào người đàn ông cũng được “ rửa mắt” bằng những cái vai đẹp hớ hênh, những cái lườn hây hây , hồng hồng, hay những cặp đùi mờ mờ nửa trắng , nửa đen , thành thử ra …. hết, không c̣n có ǵ mà “cảm” nữa, ví có gió xuân th́ cũng khó mà làm cho hồ ao chuyển được ḿnh .

Chao ôi mệt quá, người đàn ông mệt quá! Đă mệt v́ kiếm tiền , lại mệt v́ trác táng , mệt v́ nịnh bợ , ví chăng có thấy gió xuân lay động cành hoa , long lanh cặp mắt của người vợ náo nức niềm trăng ư nhạc th́ cũng đành phải uống thêm vài ly rượu ngâm hổ cốt , cắc kè và rất nhiều khởi tử …..Yêu thương nhau không c̣n là một nghệ thuật, không c̣n là làm thơ có bằng, có trắc, có vần, có điệu .

Ḷng đă nóng như thiêu, nhà lại thấp, bức cứ điên lên. Có tiền, lắp cái máy lạnh cho đời thêm tươi một chút , nhưng dù thế nào đi nữa th́ thơ sáng tác cũng chỉ là một thứ thơ tự do , thơ văn xuôi, không có vần có điệu , ví đôi khi có vần có điệu th́ cũng là cái thứ vần thứ điệu lem nhem, lỉnh kỉnh . Nào đâu những buổi hoàng hôn lành lạnh, quấn quít tơ hồng ; nào đâu những đêm trăng êm mướt như tơ , mái tóc ai xơa trên gối đầy những bông sao rụng ; nào đâu những tiếng tiêu , tiếng nhạc của trời t́nh bát ngát hoa hương , mến thương nhịp thở ái ân thường vẫn thấy viết ở trên những báo Xuân , sách Tết?

Trên các nẻo đường nắng chói chang ở đất này, người ta chỉ thấy những người đi vội vă, chán chường mệt mỏi. Dậy từ mờ sáng mà tưởng như đă hết ngày rồi. Xới vội một bát cơm ra đĩa với khô, vừa ăn vừa lo công việc. Con cái muốn làm ǵ, tùy ư, bố mẹ c̣n bận đi lo tiền.

Một cô xách “ bóp” da cừu dừng lại đường Chợ. Cũ ăn mấy cái b́ cuốn “nhắm” với một ly đá lạnh ; một ông , nhân ngày xuân tươi đẹp , “ bao” vợ và con , mua ba trái dưa hấu bổ ra ăn cả nhà , mặt mũi “ tèm lem” ; lại một bà , thương chồng và con vất vả quanh năm, bưng về cả liễn cà -ry Chà mở tiệc thưởng xuân ăn với rất nhiều bún kèm theo vài ổ bánh ḿ dài như cây đ̣n gánh .

Ăn như thế mà khát th́ uống một ly chanh muối hay chén đậu đỏ bỏ rất nhiều nước đá ; ai muốn mát ruột mà lành th́ uống một chén “ sinh sâm” hoặc một ly sữa đậu nành , c̣n các cô gái dậy th́ , ăn thịt nhiều xót ruột , mua một vài đồng “tầm ruột” hay “cốc” chấm mấm ruốc ớt , ngon đáo để, gịn rau ráu .

Tháng giêng ở miền Nam ngà ngọc có một vẻ đẹp “ ly kỳ” làm cho người ta háo hức , khiến cho cổ họng khô teo , muốn uống nước cả ngày , uống rồi lại khát , khát rồi lại uống , mồ hôi cứ vă ra như thể là ḿnh “ thoát dương “ .

Nhưng mà sướng.

Sướng v́ nhà nào , dù kiết xơ kiết xác đến đâu cũng có một tủ lạnh để vài ba chai nước lọc , một cái ra-đi-ô , một cái ti-vi ḥ hét những vũ điệu điên cuồng khiến cho ông vía , bà cụ , chàng trai , cô gái đều rên rú cả lên muốn “vặn ḿnh xà“ nhảy vũ điệu “cha cha cha” rồi thoát y vũ như trong “sô” Trương Minh Giảng . Tươi quá, trẻ quá. Quả là một giai đoạn “đang lên“. Nhưng tại làm sao tất cả những sinh khí tươi trẻ , đang lên đó không làm khuây khỏa được ḷng người sầu xứ luôn luôn mong cho đất nước tiến triển vượt bực , mà trái lại lại làm cho y rầu rĩ hơn , nhớ thương hơn những tháng giêng Bắc Việt đă qua rồi?

Ờ, cứ vào dạo này đây , ở Bắc người ta đi lễ vui đáo để. Chiều chiều, đứng ở nhà Khai Trí, Tiến Đức nh́n lên cầu Thê Húc sơn đỏ ở giữa đám cây xanh đông đảo những người đi lễ trong ngôi đền Ngọc Sơn trắng toát , anh cảm thấy có những lúc nước lộn lên trời, trời rơi xuống đất khi nh́n những bóng người hiện ra huyền ảo ở dưới làn nước xanh mơ.

Qua Ngơ Hồ là đền Hàng Trống có tiếng là “hương ngát của trời”; quá ra đến Hàng Hài là đền Quan Phước , ai mất người, mất của đến cầu xin th́ thấy; từ đó ngược lên , ra lối Ṭa Án là chùa Quán Sứ – ờ , chắc bây giờ mấy cây thông bách tán ở trước chùa đă lớn lắm rồi đấy nhỉ ! Thế rồi là chùa Dậu , chùa Kim Cổ, đền Quan Thánh, chùa Trấn Quốc thờ ông thánh đồng đen, chùa Bà Đá , chùa Liên …..trời ! Biết bao là chùa đẹp , biết bao nhiêu cảnh nên thơ , biết bao nhiêu người đi lễ cầu con, cầu của !

Trước đây, tháng giêng ở Bắc là tháng người ta chỉ dành ra để trước là lễ Phật , sau là` lễ tiên tổ ông bà. Người sống cảm thông với người chết trong tháng ấy , lấy tâm tư mà nói chuyện với nhau , lấy đạo lư mà khuyên bảo, dạy dỗ nhau cách nào cho vẹn đạo làm người, chớ có thấy giàu mà ham, chớ v́ sang mà bỏ nghĩa, chớ v́ cầu an mà làm tôi mọi cho người ngoài.

Từ xưa, Bắc Việt có bao giờ là một miền giàu có ? Ai cũng phải ăn nhịn để dành; lúc nào cũng phải lo đối phó với ngoại xâm chỉ ŕnh bóp cái cổ họng của Đông Dương trước nhất; không năm nào không lo bảo tố , lụt lội , hạn hán , mất mùa …. Những lạ lắm, cô Ba à , tại sao tôi thấy người Bắc lúc nào cũng b́nh tĩnh , trầm mặc , sẵn sàng “ chơi” lại những thử thách của trời trong khi vẫn sống một đời sống nội tâm phong phú, nhất là người đàn bà Bắc , sao cũng lo gánh vác giang sơn nhà chồng, cũng lo từng miếng ăn giấc ngủ cho chồng cho con, cũng hai sương một nắng mà có vẻ như không “đầu tắt mặt tối” như người đàn bà ở trong đây? Ở trong đây, người ta vội quá : người tử tế lo làm lụng vội vàng để kiếm sống đă đành, ngay các cô tứ thời lấy ngoại kiều “ngồi lên đồng tiền” cũng vội, uống rượu cũng vội, xoa mạt chược cũng vội, và nếu đôi khi có tập uống chén trà Tàu , bắt chước ngâm bài “ Hoàng Hạc” cũng cứ vội luôn.

Bây giờ , ngồi mà nhớ lại, tôi không thể nghĩ được rằng tháng giêng ở Bắc có những sự vội vàng, vất vả năo nề như vậy. Người ta sống đúng như cái sống do các bậc quân tử Tàu chủ trương : sống đầy đủ, có thiếu một chút cũng không sao ; làm việc cho ḿnh, cho xă hội nhưng vẫn có th́ giờ đi thuyền trên đầm thơ, hát bài “ Hái Sen” một ḿnh; buôn tần bán tảo ở đô thị, thôn quê nhưng vẫn dành th́ giờ đi chợ kiếm mộ.t món ăn ngon cho chồng rồi đến ngày rằm mồng một vẫn rảnh rang đi lễ cầu cho sống lâu, giầu bền , dân an, quốc thái và có hội hè ǵ vẫn sửa nếp áo mới, tô đôi má cho hồng để cùng với chồng vui chơi thưởng thức .

Từ ngày mồng bốn tháng giêng, ở các làng vùng Bắc bắt đầu mùa quan họ.

Hát cho lở đất long trời
Cho đời biết mặt, cho người biết tên,
Hát từ chợ Phủ hát lên,
Hát suốt tỉnh Bắc qua miền tỉnh Đông,
Hát sao cho cạn ḍng sông
Cho non phải lở cho ḷng phải say.

Người vợ bảo chồng :

“ Anh đă biết hát ví rồi. Lối hát này, trai gái hát quanh năm. Tát nước hát, giă gạo hát mà dún đu cũng hát. Hát quan họ khác thế: lối hát này chỉ có riêng trong những ngày hội mùa xuân, trai gái hát cầu vui , nhưng có nhiều làng c̣n tổ chức hát thờ thần, treo giải. Muốn vào hát giải, trai gái phải biết năm giọng rất khó hát là T́nh tang, Đường bạn, Hữu la, Xuống sông, Lên núi … Hay lắm! Nhất niên nhất lệ, tội ǵ bỏ sót một buổi nào ……

Vào ngày chín tháng giêng , làng Nội Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (tục gọi là làng Nếnh ) có rước thần kể hạnh, hát đúm, nhưng mê nhất là tṛ kéo chữ .

Những tay cờ , dưới hiệu lệnh của một vị chỉ huy, chạy ngang dọc ngược xuôi thành từng hàng chữ có ư nghĩa. Những chữ này phải làm lễ xin Thánh ban cho, chứ không phải muốn dùng chữ ǵ cũng được. Có năm là “ Phong đăng ḥa cốc” có năm là “ Thiên hạ thái b́nh”.

Nhưng mê nhất là hát tuồng. Bây giờ ở đây tuồng cải lương và kịch được công chúng ưa xem, nhưng riêng tôi th́ cứ ra giêng, ngày trước, thế nào vợ. chồng cũng phải đi xem tuồng cổ, để nhân dịp đó bói tuồng xem năm mới làm ăn ra thế nào rồi đến lúc tan hát ra về, vợ chồng dắt tay nhau đi nhởn nha dưới bóng trăng bàn luận về vai tṛ Khương Linh Tá đóng thật tài, hay Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng trông ghê quá …….

Cuối tháng giêng, có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc, chỉ chừng mười giờ tối th́ trăng mọc cao trên đỉnh đầu.

Cái trăng tháng giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ , h́nh như cũng đẹp hơn các tháng khác trong năm th́ phải : sáng nhưng không sáng lộng lẫy như trăng sáng mùa thu, đẹp nhưng không đẹp một cách úa héo như trăng tháng một. Cái đẹp của trăng tháng giêng là cái đẹp của nàng trinh nữ thẹn thùng, vén màn hoa ở lầu cao nh́n xuống để xem ai là tri kỷ, mặc dầu không có ai thấy để đoán biết tâm sự ḿnh, nhưng cứ thẹn bâng khuâng, thẹn với chính ḿnh. Ánh trăng lúc ấy không vàng mà trăng như sữa, trong như nước ôn tuyền. Đi vào giữa ánh sáng mơ hồ ấy, ḿnh cảm như thấy ḿnh bay bổng trong không gian vô bờ bến.

Nằm ở trên cái giường tre ngoài vườn kê dưới một gốc lan tây thơm phức, ḿnh nghe rơ ràng có tiếng trăng thủ thỉ th́ thầm ở nhà ngoài , vọng vào câu chuyện của mấy cô hàng xóm . Không, vào tháng giêng, người Bắc Việt ít có giải trí nghèo nàn trong rạp hát, nhà xi nê hay tiệm nhẩy; một bà nói chuyện mới đi lễ chùa Trầm về, xin được một cây xâm “ thượng thượng” ; một cô khác trịnh trọng đưa biếu người chị em thân một gói trà Thiết Quan Âm của ông bác vừa ở Trùng Khánh về ăn Tết; một bà khác nữa dở hộp trầu ra , vừa nhai vừa cuốn theo lối “sâu kèn” những điếu thuốc lá ta ướp hoa ngâu .

Vào khoảng nửa đêm, thành phố im lặng lắng. Có mấy hạt mưa xuân bắt đầu. Người chồng đóng cửa lại, vào nhà. Không khí lại càng thân mật thêm lên.Chắt chiu trong mười mấy năm trời, kể từ lúc c̣n hai bữa cơm đèn cho đến bây giờ có đồng ra đồng vào, người vợ. đêm xuân cảm thấy con tim có cánh, rót hai ly rượu nhỏ mầu trăng cùng đối ẩm với người chồng lấy nhau từ lúc hăy c̣n nghèo túng. Nầy, trầu vàng, vỏ tía ngon đáo để, hay là ta ăn một miếng, rồi bói một quẻ Kiều đầu năm xem xấu tốt ra sao hăy đi ngũ, hở ḿnh?

Chao ôi, đến cái thú b́nh dân nhất là ăn trầu , ở đây người sầu xứ cũng thấy không xứng ư. Suốt cả tháng giêng, cau đắt , bảy tám đồng một quả, cố mua mà ăn vẫn cứ cứng quèo quèo. Hầu hết phải ăn bằng cau khô. Mà càng ăn như thế th́ lại càng nhớ những miếng trầu ngày xuân ở Bắc, ăn với miếng cau “ tiên đầm” ngọt cứ lừ đi. Ngồi đánh tam cúc hay rút bấc với nhau, những người bạn của chồng xưa nay ăn trầu vẫn kêu cay đắng, thấy vợ bạn nhai ngon quá cũng “xin” một miếng ăn cho ấm người, mà cũng là để lấy may v́ “ mười bốn ván liền rút toàn nhị tống cửu, tam tống bát”.

Bây giờ, đâu c̣n những cốc rượu, những miếng trầu, những đêm rút bất say sưa như thế nữa? Đâu c̣n những chén hạt mít vợ mời chồng nhấp men t́nh, đâu c̣n những buổi họp bạn đến một hai giờ sáng – v́ không có giới nghiêm rồi quay ra ăn bánh chưng rán với cá kho , gị thủ và tráng miệng với chè đậu đăi, uống trà mạn ướp sen?

Người khách xa nhà nằm ngửa mặt lên trần , mơ lại những ngày xuân đă mất và cảm như tất cả những cái vui đẹp , say sưa đó thuộc vào một tiền kiếp xa xôi.

Không . Y không phải là một người hèn nhát, nhưng mang trong ḿnh một lúc tới bảy tám biệt ly, quả là có lúc y buồn quá cũng muốn chết đi cho rảnh. Không có lư nào y lại khóc với ḷng! Y cố nhắm mắt để ngủ th́ đến gần sáng bỗng mơ mơ màng màng thấy ở cửa đi xuống vườn, nơi rặng chuối có bóng một người đàn bà đẹp, mặc áo xanh, bước qua cửa sổ vào viện sách.

Đêm tháng giêng ở Sài G̣n nóng quá, có khi gần sáng mà người nằm ngũ hăy c̣n lă chă mồ hôi. Bóng người đàn bà đẹp cúi xuống lau trán cho người mê ngủ. Và bỗng nghe thấy như xa, như gần ở bên tai:

“ Thường t́nh, ai cũng ưa hiện tại bởi v́ hiện tại chờ đợi những đổi thay, hứa hẹn những tương lai hứa hẹn, thế mà làm sao anh cứ băn khoăn măi với quá khứ làm ǵ? Hay là tại sầu nhiều chăng, giận nhiều chăng? “

Người sầu xứ , trong cơn mơ thiêm thiếp, phảng phất thấy h́nh bóng của người đàn bà mặc áo xanh đó quen quen, mà nghĩ măi vẫn không biết là ai? Đó là một người con gái quen biết thực, trong đời sống thực? Hay là h́nh ảnh của một mùa xuân đă chết, của một cái đẹp đă mờ xa, một mối t́nh chung thủy nhưng năo nùng, ai với ai cùng xây mộng ước mơ nhưng bị trời bắt phải ĺa nhau lúc sống ?

Người đàn bà mặc áo xanh lại nói:

“ Vui và buồn ở đời là tuần hoàn cả. Tất cả bí quyết của sự sống là biết tin tưởng và đợi chờ, v́ tin tưởng và chờ đợi th́ cái ǵ mà chẳng đến? Anh đọc sách có c̣n nhớ chuyện Pygmalion không?

“ Đó là một nhà điêu khắc có tài ở trên một ḥn đảo xanh biêng biếc giữa đại dương thần thoại .

“ Pygmalion đem hết tâm hồn tạc nên một pho tượng đẹp , tượng nữ thần Galatée, đẹp quá , đẹp vô cùng là đẹp , đến nỗi chính ḿnh lại mê say tác phẩm của ḿnh.

“ Nhưng người đẹp chỉ là một vật vô tri, hiểu đâu được t́nh cảm năo nùng của nhà nghệ. sĩ? Pygmalion than khóc ngày đêm và, ngày đêm, khấn nguyện được có một người vợ đẹp tuyệt trần như pho tượng. Th́ một sớm kia tiếng khẩn cầu thấu đến tai thần Vệ Nữ. Và bà thần này – vốn giống đa t́nh, thương người đồng điệu – đă hoá phép pho tượng Galalée thành ra người thực để cho “ chàng” và “ nàng” chung sống với nhau”.

Người đàn bà đẹp mặc áo xanh nói tới đó th́ ṿng tay ta khép lại, làm cho trăng non ở ngoài cửa sổ cũng phải thẹn thùng.

Đôi mắt đẹp lung linh sầu. Ta thấy như cả một mảnh vườn thơm ngát hương cau nghiêng xuống mé giường xô lệch.

Em yêu ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi, nhưng biết rằng mái tóc người ta có c̣n xanh măi được chăng?

Tác giă: VŨ BẰNG

Tuyển tập: Thương Nhớ Mười Hai

TTTM chép lại