A series of articles on “Research Misconduct in Science & Technology” - Part 1

Tản mạn về sự gian lận trong khoa học

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

Tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đă cải tiến một cách rất đáng kể cuộc sống của chúng ta nhờ vào những thành quả nghiên cứu khả quan của các nhà khoa học và chuyên gia trên thế giới. Không ai có thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng này! Tuy nhiên có những vấn đề khó thể tránh khỏi được: đó là sư gian lận trong nghiên cứu. Vấn đề này đă xảy ra từ lâu; nhưng trở nên càng trầm trong hơn trong mấy thập niên gần đây khi lănh vực nghiên cứu trở nên rộng lớn hơn với nhiều đề tài mới, tổn phí nghiên cứu càng cao, ảnh hưởng chính trị và lợi nhuận càng mạnh; sự cạnh tranh v́ thế trở nên kịch liệt hơn trong việc xin tài trợ và áp lực viết bài báo cáo. Ở môi trường nghiên cứu, nhất là ở đại học, kể cả những người đă nổi tiếng rồi, một giáo sư không có bài báo nghiên cứu thường xuyên sẽ không có ít cơ hội nhận tiền tài trợ, số lượng sinh viên đến làm việc sẽ ít và dễ bị rơi vào “thế giới quên lăng” trong cộng đồng giảng huấn ở trường hay ở những cộng đồng khoa học. Một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của trường khi nhận cán bộ giảng huấn là khả năng xin tiền tài trợ nghiên cứu của ứng viên. Khả năng giảng dạy rơi vào hàng thứ yếu. Các pḥng nghiên cứu ở hăng xưởng, cơ quan nghiên cứu quốc gia và bệnh viện cũng rơi vào t́nh trạng tương tự. Con số gian lận v́ thế không phải là ít. Nói thế không có nghĩa là hầu hết kết quả nghiên cứu đều không chính xác; người viết chỉ muốn tŕnh bày một t́nh trạng chung đang xảy ra và hy vọng cộng đồng khoa học có thể t́m được đối sách thích hợp hơn. Để mở đầu loạt bài về “Research Misconduct in Science & Technology”, chúng tôi chỉ đưa ra vài trường hợp điển h́nh trong bài viết này, và sẽ tiếp tục triển khai chi tiết hơn ở mỗi trường hợp trong những bài viết sau.  

1. Lời mở đầu

Với cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và khủng hoảng năng lượng vào năm 1979 do cuộc chiến Yom Kippur và cuộc cách mạng ở Iran đưa đến t́nh trạng thiếu xăng dầu ở Trung Đông [1], gây ảnh hưởng lớn trên toàn cầu. V́ thế, khoảng đầu thập niên 80’s, nhiều hăng dầu tại Mỹ bắt đầu đầu tư vào việc nghiên cứu năng lương mới. Chạy theo khuynh hướng chung này, ban lănh đạo hăng Atlantic Richfield Company (gọi tắt là ARCO) quyết định mở một trung tâm nghiên cứu mới chuyên về lănh vực năng lượng. Để tiết kiệm thí giờ và đạt thành quả tốt hơn, ban lănh đạo của ARCO hổ trợ chi phí nghiên cứu năng lương của hăng Energy Conversion Devices (ECD) ở Troy, Michigan- một hăng có nhiều nghiên cứu tiên phong về các loại năng lượng và đồng thời tuyển mộ nhiều “chuyên gia” từ khắp nơi về làm việc. Tôi rời University of California sang làm việc ở trung tâm mới này vào đầu năm 1981. Có lẽ tôi thuộc loại “thiểu số” đến từ California; phần lớn cán bộ nghiên cứu đến từ những tiểu bang khác như New York, New Jersey, Ohio và thậm chí Canada và Israel. Trong thời gian chờ đợi đến làm việc tại pḥng nghiên cứu mới, ban lănh đạo chỉ thị cho chúng tôi về làm việc tạm thời tại ARCO Plaza- hai ṭa nhà đôi như hai chiếc hộp đen khổng lồ nằm trên đường South Flower ngay trung tâm của thành phố Los Angeles (bây giờ đổi tên thành City National Tower và Paul Hastings Tower. H́nh 1).  

Hai chiếc họp đen che ánh mặt trời
Người qua lại chậm răi, thảnh thơi
Cố t́m chút nắng ấm
Vào giờ nghỉ trưa giữa hạ!

        

H́nh 1. Hai ṭa nhà của tháp đôi ARCO Plaza giờ được đổi tên thành City National Tower và Paul Hastings Tower. (Google Images). 

V́ đây là một trong những trụ sở chính của hăng, nên chúng tôi bắt phải ăn mặc tươm tất, tù túng với cà vạt khó thở. Công việc ở đây có tính cách bàn giấy nên có vẻ hơi nhàm chán. Công tác mỗi ngày của chúng tôi là đặt mua máy móc cần thiết, góp nhặt tin tức khoa học và tiếp xúc với các bạn đồng nghiệp ở kỹ nghệ và đại học. Điều tôi thích nhất khi làm việc ở đây là được có cơ hội hội nhập với nhịp sống của Los Angeles- một trong những thành phố lớn nhất của Mỹ vào buổi sáng sớm. Thường th́ tôi xuống xe bus lúc 6 giờ rưởi; đi dọc theo con đường đầy rẩy hàng quán nhỏ và xe bán thức ăn (food truck) t́m cái ǵ ăn sáng để lót bụng. Những hàng quán này bán đủ loại thức ăn, rộn ră tiếng cười đùa, tṛ chuyện với nhiều ngôn ngữ khác nhau; đôi khi lớn tiếng giống như đang “cải vă”. Họ đề cập hoặc thảo luận đủ mọi đề tài, phần chính là tin tức và thời sự trong ngày. Cứ nh́n khuôn mặt hóm hém nám đen, những thân h́nh mảnh khănh của người bán hàng và khách, nghe tiếng lạch bạch máy xe, tôi cảm thấy một cái ǵ vui vui của bầu không khí “đa dạng” và “có tính cách quốc tế” từ thức ăn đến con người này. Họ đến đây từ những vùng trời khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ đến để t́m sống; truy cầu một tương lai đẹp hơn cho chính cá nhân họ và cho những người thân. Ai ai cũng tất bật với cuộc sống hàng ngày, với sự đời nằng nặng trĩu đôi vai…Khi tôi bắt đầu quen với cuộc sống “mới” này; th́ một hôm, chúng tôi được lệnh thuyên chuyển về pḥng thí nghiệm mới ở Calabasas, một thành phố nằm cách Los Angeles khoảng 60 miles về phía bắc, gần Malibu. Đây là ṭa nhà nằm trên ngọn đồi nh́n xuống US 101 Highway. Phong cảnh khá đẹp và yên tĩnh với King Gillette Ranch, những con đường rợp bóng cây và những ngôi nhà được kiến trúc theo kiểu Tây Ban Nha đỏ rực sáng dưới ánh mặt trời.  

Đồi cỏ xanh ôm kín những ngôi nhà ngói đỏ
Con đường nhỏ quanh co đưa đón bước chân về
Hai chú chim nhỏ bên nhau tṛ chuyện măi mê

Không thèm để ư đến tôi đang hiện diện.
 

Thành phố Simi Valley nơi tôi ở cách Calabasas không xa. Mỗi ngày tôi lái chiếc xe đỏ qua khỏi ngọn dồi, ngang Thousand Oaks, Westlake Village rồi đến pḥng thí nghiệm. V́ đi ngược hướng giao thông, nên ch́ 25 phút là đến nơi. “Ở vùng Los Angeles mà được như thế này là may mắn lắm!” một vài người quen bảo tôi như thế! V́ nạn kẹt xe ở đây khá trầm trọng. 

Mỗi ngày tôi lái chiếc xe đỏ ngang qua
Đường 118, Highway 23
Ḷng rộn thênh thang
Đâu cũng là nhà
Bốn hướng mênh mang trời biển rộng! 

Chúng tôi được chỉ định làm việc trong những nhóm khác nhau tùy theo chuyên môn của mỗi cá nhân: điện mặt trời, hydrogen storage, thermoelectricity, superconductivity, new materials, thẩm định tài liệu và đo đạt, và cơ khí. Không khí làm việc ở đây rất cởi mở, tự do giống như môi trường đại học; thiết bị lại đầy đủ, nên công tác nghiên cứu cũng có phần dễ dăi và thú vị hơn. Ban điều hành lúc nào cũng ủng hộ và khuyến khích chúng tôi đi dự hội nghị, thăm viếng những pḥng nghiên cứu khác để học hỏi nhằm trau dồi kiến thức. Chưa có một yêu cầu nào của chúng tôi bị từ chối từ việc mua máy móc, vật liệu thí nghiệm đến những chuyến đi công tác xa. Cứ ba tháng một lần, chúng tôi đi Michigan tŕnh bày và trao đổi kết quả nghiên cứu với các đồng nghiệp ở hăng Energy Conversion Devices. Chúng tôi cũng được cơ hội gặp gỡ và thảo luận với những “thần tượng” trong ngành; phần lớn đến từ trường học và viên nghiên cứu. Công việc tuy nhiều nhưng vui v́ được “tư do” theo đuổi những ǵ ḿnh thích. Mọi người hy vọng có một “đột phá” nào đó xảy ra để khỏi phụ ḷng tin cậy của ban lănh đạo! Mọi chuyện cứ tiến triễn đều đều theo tháng ngày; cho đến một hôm nhóm hydrogen storage t́m được một chất metal hydride có hiệu xuất lưu trữ hydrô rất lớn chưa từng thấy trước đây. Lập lại vài lần, nhóm vẫn t́m thấy kết quả tương tự! Mọi người rất phấn khởi; ban điều hành tŕnh bày kết quả đến ban lănh đạo ở ARCO Plaza về “breakthrough” này. V́ là tin lớn xảy ra một cách khá đột ngột, nên một số người trong trung tâm nghiên cứu cũng không thể tránh khỏi “scratched their heads” về cơ cấu của hiện tượng này với thái độ “e dè” và cũng “nghi ngờ”. Ba tuần trôi qua với nhiều cuộc thảo luận sôi nổi; nhiều công tác được giao phó; chúng tôi vẫn không t́m được một cắt nghĩa nào hợp lư đối với hiện tượng “đột phá” này. Cuối cùng, hai thành viên trong pḥng nghiên cứu ngoài nhóm hydrogen storage kiểm tra lại và “t́nh cờ” t́m được nguyên nhân của hiện tượng đặc biệt về hiệu xuất tích trữ hydro này: là do chất bă c̣n sót lại trong b́nh chứa lúc làm xong thí nghiệm. Nhóm hydrogen storage lập lại thí nghiệm với b́nh chứa được lau chùi sạch sẽ; và kết quả lưu trữ hydrô trở nên b́nh thường trở lại- không có ǵ đặc biệt cả. Hơi thất vọng; nhưng mọi người đều thở phào nhẹ nhơm! Không bao lâu sau đó, bầu không khí trong pḥng nghiên cứu lại trở nên ngột ngạt khó thở. Ai cũng có cảm tưởng như ḿnh đang làm một cái ǵ “tội lỗi”! Cả người “khám phá” và người t́m ra nguyên nhân của sự “đột phá” đều lâm vào t́nh trạng khó xử! Nhất là những thành viên trong nhóm hydrogen storage; họ cảm thấy ngượng nghịu, lúng túng, tự trách ḿnh về những ǵ đă xảy ra. Ban điều hành cảm thấy “bị quê” v́ đă “cry wolf” với ban lănh đạo! Điều tai hại nhất của sự kiện này là tất cả mọi người trong pḥng nghiên cứu đă vô t́nh làm mất ḷng tin của ban lănh đạo của ARCO đối với khả năng chuyên môn của pḥng nghiên cứu. Một ly nước đă đổ rồi làm sao múc lại nguyên vẹn được?! Một khi uy tín và ḷng tin đă mất rồi, th́ những chuyện khác đều trở thành thứ yếu! Hai người nghiên cứu chính của nhóm hydrogen storage bị cho thôi việc. Mặc dù đây là một sai lầm trung thực (honest mistake) không chủ ư do sự bất cẩn của những người trực tiếp liên quan đến thí nghiệm trong nhóm, và không có nghĩa là họ đă gian lận trong việc báo cáo dữ kiện đạt được; sự kiện này, nếu không kiểm tra và ngăn chận kịp thời, có thể dẫn đến những báo cáo “động trời” đi quá xa sự thật. Câu chuyện này đă làm tôi suy nghĩ nhiều về vai tṛ và trách nhiệm của người làm công tác nghiên cứu :”lệch một !y, sai đi vạn dặm” như ông cha chúng ta thường răn bảo! 

2. Thế nào là “misconduct in science”?

Hành động thiếu đạo đức nghề nghiệp trong nghiên cứu được định nghĩa như sự bịa đặt, ngụy tạo và đạo văn trong việc đề xuất, thi hành hay b́nh phẩm công tŕnh nghiên cứu, hay báo cáo kết quả nghiên cứu (Research misconduct is defined as fabrication, falsification, or plagiarism in proposing, performing, or reviewing research, or in reporting research results) [2]:

- Bịa đặt (fabrication): tŕnh bày và báo cáo những thí nghiệm không thực hiện, bịa ra và ghi chép những dữ liệu không có thật.

- Ngụy tạo (falsification): bóp méo đối tượng hay tài liệu nghiên cứu, máy móc, quy tŕnh hay thay đổi dữ liệu dẫn đến kết quả sai lệch với thực tế. Sự ngụy tạo phần lớn diễn ra từ (i) giả mạo (cooking) bằng cách chỉ giữ những dữ liệu hợp với lư thuyết giả định và bỏ những dữ liệu không thích hợp; và cắt xén bằng cách bỏ một số dữ liệu để làm cho kết quả trở nên trơn tru và có vẻ hợp với lư thuyết giả định hơn (trimming).

- Đạo văn (plagiarism): dùng ư tưởng, quy tŕnh, kết quả hay câu văn của người khác mà không trích dẫn nguồn một cách thỏa đáng. Đạo văn cũng kể cả bài viết cùng tác giả, báo cáo cùng kết quả nhiều lần ở những tạp chí khác nhau mà không tham chiếu những tạp chí trước mà tác giả đă đăng bài báo. 

3.Vài nguyên do chính gây ra sự gian lận trong khoa học

3.1 Tham, sân, si

Mọi vấn đề nói chung đều gây ra do áp lực nơi môi trường làm việc và bản tính tiềm ẩn của con người: tham lam, quyền lực và danh vọng. Với sự cạnh tranh trong việc xin tiền nghiên cứu, thăng quan tiến chức, áp lực viết bài báo cáo trong xă hội hiện tại, việc gian lận trong trong khoa học và kỹ thuật thường khó tránh khỏi được. Mọi chuyện xoay quanh qua cái ṿng tṛn luẩn quẩn: có tiền tài trợ nhiều th́ có thể mướn thêm người nghiên cứu giỏi; kết quả nghiên cứu sẽ tốt hơn; cơ hội viết bài đăng báo nhiều hơn trên những tạp chí nổi tiếng hơn; uy tín trong cộng đồng càng lớn mạnh hơn; càng có nhiều người muốn cộng tác trong những đề án lớn hơn; người đề cử sẽ nhiều hơn đưa đến nhiều giải thưởng; cuối cùng tiền funding càng lúc càng trở nên phong phú hơn. Cái ṿng tṛn này cứ thế tiếp tục…Ít người nghiên cứu nào muốn “bị đào thải” và “bị mai một” trong cộng đồng khoa học và kỹ thuật! 

3.2 Khuynh hướng báo cáo kết quả “positive”

Khi lănh vực nghiên cứu mới và “hot”, các nhà nghiên cứu cạnh tranh mănh liệt trong cuộc chạy đua đưa ra kết quả mới trước. Một phần v́ do sự ṭ ṃ nghề nghiệp, một phần v́ đây là “nguồn” tài chánh lớn. V́ thế những người làm công tác nghiên cứu có khuynh hướng “ưu tiên” cho những nghiên cứu có triển vọng đưa ra những kết quả “positive” và v́ thế bài viết dễ được đăng trong những tạp chí lớn trong ngành và có thể gây được tiếng vang trong cộng đồng. Những nhà nghiên cứu này thường chỉ bắt đầu quan tâm đến những kết quả “negative” khi những đồng nghiệp cạnh tranh t́m ra được những kết quả “positive” trước. GS John Ioannidis của Đại học Stanford đă đưa ra nhiều quan sát và kết luận trong một bài viết được nhiều người biết đến đăng trong PLoSMed năm 2005. Mặc dù kết quả nghiên cứu của ông nằm trong lănh vực y khoa và sinh học; nhưng kết luận của ông có giá trị đối với những lănh vực khác.Theo ông, độ trung thực của một nghiên cứu càng ít khi số lượng nghiên cứu và mức độ ảnh hưởng càng nhỏ; khi tính linh động càng dễ dàng trong việc thiết kế, định nghĩa, kết quả và phương pháp phân tích; khi ảnh hưởng tài chánh, sư xung đột về quyền lợi và định kiến càng nhiều; khi lănh vực nghiên cứu càng “hot”. Ioannidis nhận xét về sư quan tâm càng lúc càng tăng ở những nghiên cứu hiện đại, nơi sự giả mạo trong kết quả là phần chính trong nhiều bài báo cáo khoa học [3].  

3.3 Ban biên tập cũng muốn đưa ra những tin”nóng hổi”trước tiên và thái độ “thiếu trách nhiệm” của ban quản lư

 Cơ quan biên tập những tờ báo nổi tiếng và người phê duyệt thường có khuynh hướng xét giá trị bài viết dựa vào đề tài mới, tên người viết bài và cơ quan họ làm việc; họ thường ít để ‎đến nôi dung và độ chính xác của bài viết. Thế nên, người viết bài báo cáo cố t́m một đề tài mới, để tên một vài người nổi tiếng (prestige authorship) để cho dễ được đăng mặc dù những co-authors này không hay rất ít tham gia trong việc nghiên cứu.- chỉ có tên thôi! Tờ báo cũng muốn là nguồn tin đầu tiên đưa ra những tin “nóng hổi”! Như có thể t́m thấy ở những trường hợp dưới đây (section 4), tốc độ đăng bài báo cáo khoa học của họ trên những tờ báo nổi tiếng có thể có đến nhiều bài trong một tháng; điều này không cũng đủ chứng tỏ là có chuyện ǵ “khả nghi” đang xảy ra chẳng những đối với những người làm công tác nghiên cứu mà ngay cả ban biên tập của những tờ báo này. Để được đăng một bài trên những tờ báo này là một vinh dự; người nghiên cứu không có hay ít tên tuổi ở cơ quan nghiên cứu thuộc hạng b́nh thường có thể mất cả năm! Ban phê duyệt thường chỉ trích, phê b́nh, đặt những câu hỏi liên hệ đôi khi hóc búa; rồi tác giả phản biện; rồi ban phê duyệt lại phê phán, đặt câu hỏi khác…chu kỳ này cứ kéo dài nhiều lần, và có thể đưa đến t́nh trạng người viết bài báo cáo “bỏ cuộc”! Như trường hợp của TS Obokata sắp tŕnh bày dưới đây, tác giả làm việc ở Riken- một cơ quan nghiên cứu nổi tiếng ở Nhật và những đồng tác giả (co-authors) đều có những thành tích nghiên cứu tốt; nên mặc dù phương pháp STAP cells (stimulus- triggered acquisition of pluripotency) cô ta phát biểu cho rằng đây là phương pháp rất đặc biệt, đơn giản và nhanh hơn ngay cả phương pháp nổi tiếng IPS (Induced Pluripotent Stem) cells của GS Shinya Yamanaka (Nobel Prize 2012, 6 năm sau khi ông khám phá ra IPS); ban phê duyệt của tạp chí Nature đă cho đăng bài một cách khá dễ dàng. Một điều nữa cần ghi nhận ở đây là, theo thiển nghĩ của người viết, ban biên tập của Nature muốn cạnh tranh trong việc đưa kết quả nghiên cứu “nóng bỏng” này trước những tạp chí khác! Thêm vào đó, tại sao ban quản lư của Riken không kiểm định kỹ lưỡng trước khi cho phép Obokata gửi đăng một “khám phá lớn” so với IPS? H́nh như mọi người đi theo nguyên tắc “dĩ ḥa vi quư”; nếu may mắn nổi tiếng th́ mọi người “share credit” và khi câu chuyện bại lộ th́ đổ tất cả trên đầu của TS Obokata! Thậm chí, khi ban điều hành Riken quyết định rút bài viết của Obokata, GS Charles Vacanti-đồng tác giả của bài viết- của Harvard đă phản đối mà không có lư do chính đáng. Cái “danh vọng” đôi khi làm cho con người “mờ mắt”! Tương tự như thế, trong trường hợp của TS Schön với khám phá trazito chế tạo bằng chất tài liệu hữu cơ với chức năng ưu việt lúc làm việc tại Bell Labs, nơi ba nhà nghiên cừu Bardeen, Brattain, và Shockley đă nhận được giải Nobel với phát minh tranzito hơn 50 năm về trước (1947). Tại sao ban điều hành không kiểm chứng kết quả đột phá của ông Schön trước khi cho ông ta gửi bài đăng? Một trong những lư do ban biên tập tờ báo đă chấp nhận dễ dàng bài báo của Schön, thô thiển ư của người viết, là v́ tên tuổi và vị trí trong cộng đồng khoa học của Bell Labs về tranzito. Ngay cả co-authors của Schön có duyệt bài viết trước khi đăng hay không hay để ông ta muốn làm ǵ th́ làm? Mà khi câu chuyện “bại lộ” ra, ai cũng t́m cách chạy tội!? Co-authors cũng phải có trách nhiệm chứ!? Đâu có phải lấy “công trạng” khi có bài báo được đăng trong những tạp chí lớn như Nature, Science hay thâm chí những giải thưởng lớn; mà khi mọi chuyện bại lộ th́ lại tránh xa như không có chuyện ǵ xảy ra! 

3.4 Khó tạo kết quả ngụy tạo ở mội trường hăng xưởng hơn là trong đại học hay viện nghiên cứu

Trong kỹ nghệ, việc gian lận khó có thể xảy ra hơn v́ nói chung hăng ít khuyến khích nhân viên viết bài đăng báo; nhưng khi gửi bài đăng thường phải qua kiểm tra của một hội đồng khoa học và kỹ thuật của hăng hay của pḥng nghiên cứu. Sổ tay thí nghiệm cũng phải được kiểm soát vài lần trong một năm, nên cũng khó lơ là trong công tác này. Thêm vào đó, đối với những nghiên cứu có tính cách ứng dụng, có rất nhiều công đoạn với nhiều người tham gia để kiểm chứng độ chính xác và giá trị thực sự của phát minh từ pḥng thí nghiệm, sang prototype cho đến sản phẩm. Có vài nghiên cứu có kết quả “hứa hẹn” ban đầu trong pḥng nghiên cứu; nhưng khi đưa sang những công đoạn tiếp theo ở pḥng nghiên cứu khác hay ở nhà máy, khi “the rubber meets the road” th́ kết quả không được như mong muốn và bị gạt bỏ! 

3.5 Sự xung đột quyền lợi

Cơ quan tài chính thường cũng chỉ tài trợ những đề án giúp đỡ sản phẩm của họ trên thị trường hay lập trường chính trị của đảng phái họ ủng hộ. Người nghiên cứu thường khó đưa ra những đề án hay kết luận mâu thuẫn với hướng đi của cơ quan hay hăng xưởng tài trợ. Thí dụ như những bài báo cáo của những người nghiên cứu nhận tiền tài trợ của các hăng dược phẩm hay hăng thuốc lá thường đưa ra những kết luận thuận lợi cho hăng tài trợ và tránh đề cập đến những vấn đề có tính cách mâu thuẫn.

Một số hăng xưởng đôi khi có khuynh hướng gian lận, cố đánh lạc hướng cộng đồng khoa học nhằm để bán sản phẩm; chẳng hạn như: điều chỉnh những đề án nghiên cứu để đạt được kết quả đă định trước; tài trợ những cơ quan và đề án có thể bênh vực quyền lợi của kỹ nghệ; áp chế những kết quả nghiên cứu không thuận lợi; bóp méo, sửa đổi những kết quả nghiên cứu đă trở thành công khai; thiết lập tiêu chuẩn nghiên cứu nhằm để phục vụ quyền lợi của hăng; phổ biến và tŕnh bày những kết quả thuận lợi đến những người có thẩm quyền quyết định và quần chúng. Phương hướng làm việc như thế này được biết với cái tên “Tobacco Science”- một nghiên cứu khoa học dùng bởi những hăng làm thuốc lá với mục đích chính là chứng tỏ sự an toàn của thuốc lá [4].

Như trường hợp GMOs (Gneneretically modified organisms hay sinh vật biến đổi gene) của hăng Monsanto với sự che đậy của Cơ Quan Quản lư Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (US Food & Drug Administration hay FDA) khi phê chuẩn sản phẩm này; mặc dù FDA biết là có sự quan tâm trong cộng đồng khoa học về GMOs liên quan đến sức khỏe của con người do những chất độc trong đó, chẳng hạn như glyphosate-based herbicide- chất này WHO đă xếp thuộc dạng carcinogen gây nên ung thư và có thể làm cho trẻ con sinh ra bị khuyết tật. Monsanto dùng “Tobacco science” để che dấu chứng cớ: những nhà nghiên cứu ở Monsato và các cơ quan liên hệ (nhận tiền trợ cấp) đă sắp xếp phương hướng nghiên cứu làm thế nào để có thể che dấu vấn đề, và bóp méo hay hủy bỏ những kết quả nào có vẻ “negative”. Trên thực tế, khi thử GMOs trên súc vật đă đưa đến những hậu quả tai hại như ung thư, gây sự tổn hại cơ quan nội tạng, gia tăng hiện tượng lăo hóa, gây ảnh hưởng có hại cho hệ miễn dịch, sự mất thăng bằng hormone; đưa đến vấn đề liên quan đến sự sinh sản và phát triển của trẻ em, và cuối cùng có thể dẫn đến sự chết yểu [5]. 

3.6 Các loại tác giả

Có nhiều loại đồng tác giả (co-authors): (i) tác giả trao đổi ân huệ (gift authorship) dùng như sự trao đổi “favor” có tính cách cá nhân hay liên quan đến nghề nghiệp, dàn xếp với nhau để có nhiều bài báo cáo; hay nói cách nôm na, anh đăng tên tôi trong bài viết của anh; tôi sẽ để tên anh trong bài viết của tôi; làm như thế chúng ḿnh sẽ có nhiều bài báo cáo nghiên cứu hơn; (ii) tác giả danh dự (honorary authorship) như một nghĩa cử biểu lộ sự kính trọng hay biết ơn; và (iii) tác giả cầu danh (prestige authorship) nhằm để tên những cá nhân nổi tiếng để tăng giá trị và v́ thế bài viết dễ được đăng hơn.  

3.7 Tin càng”đột phá”bao nhiêu th́ càng dễ bị khám phá bấy nhiêu!

Như chúng ta có thể t́m thấy ở những trường hợp ở phần 4 của bài viết, khi những “đốt phá” càng lớn, liên quan đến những đề tài càng “nóng bỏng”, có thể gây dư luận lớn trong cộng đồng khoa học và báo chí trên thế giới; nhiều nguồn tài trợ sẽ cung cấp funding, nhiều nhà nghiên cứu sẽ nhảy vào “cuộc chơi”và muốn lập lại kết quả báo cáo. Lúc đó, “thực hư” sẽ trở nên rơ ràng! V́ thế, trong số hơn triệu bài báo cáo khoa học mỗi năm, con số gian lận trong dữ liệu báo cáo phải nhiều hơn v́ những bài báo cáo “loại thường” th́ ít ai để ư đến; và nếu sự gian lận có bị “khám phá”, th́ tin tức chỉ quanh quẩn trong phạm vi nhỏ thôi; ít ai muốn “làm lớn chuyện” làm ǵ!.

3.8 “Cái thuở ban đầu lo lắng ấy/ngày mai hồ dễ có ai hay?” 

Giống như trường hợp của những người nói láo; lần đầu khi phải nói láo họ thường phải đối diện với sự lúng túng, lo lắng, khó chịu và mặc cảm. Nhưng khó chịu sẽ giảm dần vào những lần tới; họ cảm thấy thoải mái hơn; càng lúc họ càng tin những điều họ nói láo là thật và cuối cùng họ có thể nói láo với tự tin mà không c̣n chút ngượng nghịu nào cả. Và họ nghĩ không ai có thể phát giác là họ nói láo!  

Những người gian lận trong khoa học cũng qua giai đoạn tâm lư na ná giống như những người nói láo này: lần đầu tiên gian lận, họ cảm thấy khó khăn, ngượng nghịu, che dấu sợ bị bạn bè hay đồng nghiệp “t́m thấy”. Nhưng một khi họ qua được “cửa ải” đầu tiên rồi; bài báo cáo và công tŕnh nghiên cứu của họ được quảng bá trong cộng đồng; họ trở nên “nổi tiếng” hơn. Họ càng gian lận hơn. Rồi cứ tiếp tục như thế, họ trở thành “mơ hồ” trong ảo tưởng giữa sự bịa đặt và sư thật tới mức độ họ tin tưởng và phát biểu với tư tin kết quả “bịa đặt” do họ tạo ra. Những người biết chuyện gian lận, họ cũng không dám đứng ra tố cáo v́ sợ bị dèm pha, chỉ trích từ đồng nghiệp hay cộng đồng khoa học; có thể đưa đến khó khăn cho họ về “miếng cơm manh áo” và bị cô lập. 

 4. Vài trường hợp gian lận trong khoa học

Người viết xin tóm lược dưới đây vài trường hợp gian lận trong khoa học để chúng ta cùng thảo luận và tham khảo. Những trường hợp này phần lớn liên quan đến những “hot field” như embryonic stem cells, nano-science và nano-technology, energy và cấy bào thai. Hầu hết tác giả không ghi chép chi tiết hay hoàn toàn không ghi chép ǵ trong sổ tay thí nghiệm. Số bài gửi đăng trong những tạp chí nổi tiếng với một tốc đô kinh ngạc! Có vài trường hợp, tốc độ gửi và đăng bài viết trên những tạp chí lớn khoảng 10 ngày một bài; một con số mà những người nghiên cứu b́nh thường không thể nào hiểu nổi! Liệu ban biên tập các tờ báo khoa học nổi tiếng có nhận thấy có cái ǵ “bất ổn” hay không hay chính họ cũng bị áp lực phải đưa những “tin sốt dẻo” trước?  

Jan Hendrik Schön

         

H́nh 2. (a) TS Jan Hendrik Schön; và (b) TS Haruko Okokata (Google Images) 

TS Schön (H́nh 2a) nghiên cứu về lănh vực vật lư chất rắn và công nghệ nanô (nanotechnology). Ông đến làm việc tại Bell Labs, New Jersey sau khi nhận PhD từ University of Konstanz (Đức) vào năm 1997. Ở đây Schön nghiên cứu về chất tinh thể hữu cơ (crystalline organic materials) dùng để thay thế cho chất silíc trong hiệu ứng trường tranzito (field effect transistor). Schön khám phá đơn phân tử tranzito (single molecular transistor) và nhiều hiện tượng mới trong lănh vực tài liệu hữu cơ.

Ông báo cáo là đă chế tạo một tranzito làm bằng chất tinh thề hữu cơ với những đặc tính chưa thấy bao giờ; và kết quả này trùng khít với lư thuyết giả định. Schön cũng báo cáo kết quả đạt được với những ứng dụng liên quan đến tính siêu dẫn (superconductivity) và laze (laser). Ông gửi bài đăng kết quả t́m thấy ở hai tạp chí nổi tiếng Science và Nature và đă gây nhiều dư luận trong cộng đồng khoa học thế giới. Vào năm 2001, trung b́nh cứ 8 ngày là ông đăng một bài báo cáo nghiên cứu. Vấn đề là không có pḥng nghiên cứu nào trên thế giới có thể lập lại kết quả ông báo cáo. Cũng cùng năm 2001, ông báo cáo là đă chế tạo thành công tranzito với tầm kích phân tử (molecular scale). Nếu kết quả báo cáo của ông đúng sự thật th́ đây là một cuộc cách mạng lớn trong kỹ nghệ điện tử v́ Moore Law sẽ không c̣n là giới hạn nữa.[6]

Trong ṿng 4 năm, Schön trở thành ngôi sao sáng đang lên trong ṿm trời nghiên cứu ở Bell Laboratories. Nhưng ngôi sao này không sáng được bao lâu khi vào năm 2002, Bell Labs khám phá ra là Schön đă ngụy tạo dữ kiện nghiên cứu ít nhất trong 16 bài báo cáo về đặc tính điện tử của chất kết tinh hữu cơ. Những tác giả đứng tên chung (co-authors) với Schön cũng bị chỉ trích đă không t́m ra hành động thiếu đạo đức nghề nghiệp của Schön. Điều này đưa đến kết quả là Hội Vật Lư của Mỹ (American Physical Society) đă cho ra một luật mới bắt buộc đồng tác giả phải chịu trách nhiệm về những kết quả bài báo họ đă đồng ư đăng tên chung [7].

Haruko Obokata

Nhà sinh vật học nghiên cứu về embryonic stem cell (hay c̣n gọi là ES cell) tại Center for Developmental Biology (CDB) ở Riken . Loại tế bào này dùng trong việc trị liệu. TS Okokata (H́nh 2b) báo cáo là đă t́m ra một phương pháp rất đặc biệt, đơn giản và nhanh hơn nhiều so với phương pháp IPS (Induced Pluripotent Stem) cells của GS Shinya Yamanaka (Nobel Prize 2012). Cô đặt tên phương pháp này tạo tế bào (cells) này là STAP cells (stimulus- triggered acquisition of pluripotency) [8]. STAP cells này có thể h́nh thành mô để dùng ở bất cứ nơi nào trong cơ thể con người. Phương pháp này dựa vào sự điều chỉnh yếu tố hóa học (độ pH thấp- mild acid), ứng xuất cơ học (áp suất), và nhiệt độ (tăng hay giảm nhiệt). Chỉ cần 25 phút để chế tạo tế bào và một tuần để cấy mô. Kết quả nghiên cứu được đăng trong tạp chí tạp chí Nature vào ngày 29 tháng giêng 2014 cùng với Teruhiko Wakayama (nổi tiếng về cloning chuột ở Nhật, sau này làm việc tại University of Yamanashi; có thể dưới dạng honorary authorship), Charles Vacanti (Harvard, tiên phong trong lănh vực tế bào gốc và khoa gây mê/ anesthesiology; có thể dưới dạng prestige authorship) và Yoshiki Sasai (giám đốc CDB và cũng là nhà nghiên cứu nổi tiếng về tế bào gốc; có thể là honorary authorship). Bài báo bài báo thứ hai đăng trên Nature vào ngày 17 tháng 2 năm 2014. Không có pḥng nghiên cứu nào trên thế giới có thể lập lại thí nghiệm của Obokata ngay cả những người cùng pḥng nghiên cứu với cô ta. TS Obokata cho rằng phải rất “khéo léo” trong lúc làm thí nghiệm để đạt kết quả của cô; thế nên Obokata viết một bài chỉ dẫn pdf rất cặn kẻ 10 trang. Ngay cả thế, cũng không ai có thể lập lại kết quả cô báo cáo. Sau này ban điều hành của Riken kiểm tra để trả lời những nghi vấn về tính chất không đồng nhất của nhưng bức h́nh Okobota tŕnh bày; và t́m thấy một số h́nh trên hai bài báo Obokata đă lấy từ một thí nghiệm với điều kiện hoàn toàn khác trong luận văn tiến sĩ của cô ta và loại chuột dùng trong thí nghiệm cũng có thay đổi [8] Sau này Riken quyết định rút lại cả hai bài báo.

Woo Suk Hwang

      

H́nh 3. (a) GS Woo Suk Hwang của Seoul Natinal University;
và (b)
BS John Darsee (Goggle Images) 

Trong hai bài báo đăng ở Nature vào năm 2004 và 2005, GS Woo Suk Hwang (H́nh 3a) tuyên bố là đă có thể lấy được tế bào gốc (stem cells) từ cloning phôi thai người. Nhưng vào ngày 10 tháng giêng 2006, Seoul National University loan báo sau 4 tuần điều tra cho rằng Hwang đă ngụy tạo những dữ liệu này. Công tố viên cũng bắt đầu điều tra và hoàn thành sau đó một bản báo cáo vào 12 tháng 5 năm 2006. Quan ṭa buộc tội Hwang với ngụy tạo, tham nhũng và vi phạm luật đạo đức sinh học của Đại Hàn [9]. 

Stanley Pons và Martin Fleischmann

Pons và Fleischmann (H́nh 4) của University of Utah tuyên bố là đă khám phá ra một nguồn năng lượng mới dùng phản ứng tổng hợp ở nhiệt độ pḥng được biết với cái tên phản ứng tổng hợp lạnh (cold fusion). Cụm từ này do Luis W. Alvarez đặt ra để chỉ định quy tŕnh tạo tổng hợp hạch nhân từ phản ứng tổng hợp dựa vào xúc tác với muon (muon-catalyzed fusion) ở nhiệt độ rất thấp so với phản ứng nhiệt hạch (thermonuclear fusion). Alvarez nhận giải Nobel năm 1968.

Pons và Fleischmann dùng một trăm ngàn đô-la tiền túi riêng của ḿnh để lắp đặt một bộ máy nhỏ dùng trong thí nghiệm này. Hai người hợp tác với Steven E Jones của Brigham Young University (BYU) và cùng đăng một bài báo nhan đề“ Cold Nuclear Fusion“ trên Scientific American. Tin tức về một nguồn năng lương khổng lồ có thể tạo dược ở nhiệt độ pḥng gây dư luận khá lớn trong cộng đồng khoa học lúc bấy giờ. Với áp lực của Chase Petersen- viện trưởng của University of Utah, Pons và Fleischmann tách rời việc cộng tác nghiên cứu với Jones ở BYU. Pons và Fleischmann có xin bằng sáng chế nhân danh University of Utah và xin tiền tài trợ từ Bộ Năng Lượng Mỹ; nhưng tất cả đều bị từ chối v́ không đủ dữ liệu khoa học. Nhiều pḥng nghiên cứu trên thế giới không thể lập lại kết quả thí nghiệm của Pons và Fleischmann. Cộng đồng khoa học cho rằng đây chỉ là kết quả của sự sai lầm, bất cẩn trong lúc làm thí nghiệm. The American Physical Society kết luận rằng bài báo cáo của nhóm nghiên cứu ở University of Utah do kết quả của “sự bất tài và ảo giác (delusion) của Pons and Fleischmann” và thuộc loại khoa học bệnh lư (pathological science). Nhiều bài viết chỉ trích công tác nghiên cứu của hai người đăng các tạp chí như Nature, Science, và Physical Review [7, 9]. 

       

H́nh 4. GS Stanley Pons là khoa trưởng, Khoa hóa học, University of Utah; và Martin Fleischmann là giáo sư danh dự, Khoa hóa học, University of Southampton, UK. Fleischmann cũng là giáo sư cố vấn luận văn PhD của Pons ở University of Southampton. (Google Images) 

John Darsee

Nghiên cứu ở Cardiac Research Laboratory, Harvard University năm 1979. BS Darsee (H́nh 3b) đăng 5 bài báo cáo trên tạp chí khoa học có tầm cở lớn trong thời gian 15 tháng. Đồng nghiệp bắt đầu quan tâm và khả nghi về độ chính xác của những báo cáo này. Kết quả điều tra cho thấy Darsee đă thay đổi dữ liệu nghiên cứu và gian lận về kết quả báo cáo. Kết quả điều tra tiếp theo cho biết là Darsee cũng gian lận và sửa đổi những dữ liệu nghiên cứu khác trong thời gian ông làm việc ở Notre Dame University từ 1966-1970. Harvard University rút lại 30 bài báo cáo và trích yếu (abstracts) của Darsee vào tháng hai, năm 1983. Nhiều bài báo cáo đăng chung với những nhân vật nổi tiếng trong ngành. Tiếp theo đó, Emroy University cũng rút lại 52 bài báo và trích yếu trong thời gian ông Darsee làm việc ở đây từ năm 1974 đến năm 1979 [10]. 

Robert Slutsky

Ông Slutsky là bác sĩ quang tuyến khoa tim của University of California, San Diego (H́nh 5a). Ông đă đăng 137 bài báo cáo nghiên cứu trong thời gian từ 1978 và 1985; đôi khi cứ 10 ngày ông lại đăng một bài báo cáo. Nhiều bài viết chung với những nhà nghiên cứu nổi tiếng . Hội đồng điều tra t́m thấy 12 bài nghiên cứu có ‎ư gian lận và 49 bài nghiên cứu khác có nhiều nghi vấn về độ chính xác. Ban điều hành của University of California đă rút lại nhiều bài báo cáo khoa học của BS Slutsky [11-12].  

         

H́nh 5. (a) Trường Y khoa, University of California ở San Diego
và (b)
BS Malcolm Pearce (Google Images) 

Malcolm Pearce và Geoffrey Chamberlain

Làm việc tại St George’s Hospital Medical School ở London. BS Pearce (H́nh 5b) báo cáo là đă thành công trong việc di chuyển bào thai ngoài tử cung (an ectopic fetus), cấy thai trở lại vào người mẹ, và một đứa bé khỏe mạnh được sinh ra. Nên nhớ là cộng đồng khoa học đă cố gắng cấy bào thai ngoài tử cung hơn 100 năm nay mà không thực hiện được. Hai bài báo được đăng ở tạp chí British Journal of Obstetrics and Gyneacology với BS Chamberlain là đồng tác giả và đă gây dư luận lớn trong lănh vực y khoa trên thế giới. Pearce và Chamberlain cả hai đều là những nhà nghiên cứu nổi tiếng trong bộ môn chẩn đoán bằng siêu âm (ultrasonography) trong ngành sản khoa (obstetrics); Pearce làm trợ lư biên tập c̣n Chamberlain làm chủ bút của tờ British Journal of Obstetrics and Gyneacology. Sau này Chamberlain xác nhận rằng ông đă đồng ư‎ để tên trong bài báo mặc dù ông không có tham gia ǵ trong nghiên cứu của Pearce cả (gift authorship). Một bác sĩ trẻ làm cùng bệnh viện đặt nghi vấn về kết quả báo cáo và cuối cùng người ta đă khám phá ra là cả hai bài báo đều gian lận, và bệnh nhân trong báo cáo là ngụy tạo chớ không có thật. Trong một báo khoa học khác, Pearce cũng cho biết là ông đă thành công trong một cuộc thí nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát (a randomized controlled trial) với 200 bệnh nhân có nhiều u nang trong buồng trứng (polycystic ovary) và đă có 3 lần sẩy thai trong giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai. Những người mẹ và đứa bé sinh ra đều khỏe mạnh. Kết quả điều tra xác nhận Pearce cũng đă ngụy tạo thí nghiệm này! [13] 

5. Lời kết

Thành thực mà nói, những chuyên gia gian lận trong khoa học không phải là những người thiếu khả năng chuyên môn hay có bản tính xấu. Danh vọng, quyền lực cá nhân, áp lực xă hội đă làm “mờ mắt” họ và khiến họ làm những hành động thiếu đạo đức nghề nghiệp. Trước một sự kiện đă xảy ra rồi, ai cũng tự cho ḿnh là một “nhà khoa học chân chính”; nhưng thử hỏi ai trong chúng ta không có ít nhất một lần có ảo tưởng và ước mơ được may mắn khám phá ra một cái ǵ “lớn” được mọi người công nhận và nể phục? Cộng đồng khoa học lại có những rào cản khiến ít người dám “thách đố” kết quả nghiên cứu của những cá nhân hay viện nghiên cứu nổi tiếng v́ sợ bị chỉ trích là ham danh, muốn sự chú ư của mọi người; kết quả có thể dẫn đến sự mất mác công ăn việc làm và bị cộng đồng “cô lập hóa” hay thậm chí bị “tẩy chay”. Đó là chưa kể trường họp không may vướng vào “sai lầm” lúc phản biện, lúc đó “tiếng thị phi” về khả năng chuyên môn lại càng nặng nề, khó sống! Sau khi đọc qua những câu chuyện gian lận trong khoa học, người viết có một nhân xét hơi tiêu cực: sự gian lận thường được khám phá qua những bài báo đăng trong những tạp chí khoa học lớn với tác giả là những người có tên tuổi trong ngành từ các trường, viện hay cơ quan nổi tiếng. Một trong những lư do chính là ít ai quan tâm đến những công tŕnh nghiên cứu đăng trong các tạp chí nhỏ, ít uy tín hơn; vă lại người phê duyệt bài báo thường cũng ít đặt câu hỏi có vẻ chỉ trích hay phê phán đối với những bài viết có tên những người nổi tiếng v́ một phần do sự“kính nể, sợ làm “mất ḷng” có thể dẫn đến sự bất lợi sau này; một phần họ có khuynh hướng tin tưởng vào kết quả báo cáo của những người này- sự khôn ngoan thông thường vẫn là ai “dại” ǵ làm mất uy tín của ḿnh khi đứng ra chỉ trích những người đă nổi tiếng và đă có thành tích nghiên cứu vẻ vang! Một số cán bộ nghiên cứu lợi dụng khuynh hướng này để gửi những kết quả thiếu kiểm chứng đến nhưng tờ báo lớn, bằng cách đăng bài chung với những người nổi tiếng dưới h́nh thức “prestige authorship” hay những “authorships” khác (phần 3.6). Nói ra có vẻ mỉa mai; nhưng thực sự có những người đă có sẵn trong đầu kết quả thực nghiệm trước khi bắt đầu vào pḥng nghiên cứu; họ muốn “đánh cá” với cơ hội đến với họ: nếu may mắn (xác xuất khá cao!) không ai khám phá ra th́ họ có thể để tên những bài báo này trong hồ sơ lư lịch cho dễ bề thăng quan tiến chức; và biết đâu một nhóm nào đó t́m được một kết quả hơi tương tự trong tương lai; và tự nhiên họ trở thành người tiên phong trong ngành. Một điều cần ghi nhận thêm ở đây là những người có tên tuổi trong cộng đồng chính họ ít làm công tác nghiên cứu v́ tuổi tác và th́ giờ. Nhiệm vụ chính của những người này là đi xin tiền tài trợ cho công tác nghiên cứu, để tuyển dụng những cán bộ ưu tú đến làm việc, giúp nhóm họ đạt được kết quả tốt; tên tuổi và uy tín của họ càng lúc càng được nâng cao. Thế nên, để giảm thiểu phần nào việc gian lận trong khoa học, hăng xưởng, cơ quan nghiên cứu và trường học nên thiết lập ủy ban thẩm định tương tự như Committee on Publication Ethics (COPE) hay Office of Research Integrity (ORI) hay The Responsible and Ethical Conduct of Research (RCR) để kiểm tra chi tiết những bài báo cáo trước khi gửi đăng. Cũng nên thiết lập cơ cấu để bảo vệ người tố giác (whistleblowers) kể cả về phương diện nghề nghiệp. Xung đột về quyền lợi hay cạnh tranh về lợi ích phải tiết lộ trong bài báo nếu có. Mặc dù người phê duyệt bài báo cáo khoa học phần lớn làm việc với tích cách thiện nguyện; nhưng cũng nên thay đổi thường xuyên với những chuyên gia đến từ những môi trường làm việc khác nhau; không hẵn phải đến từ những cơ quan nổi tiếng. Nếu không, cơ quan điều hành, nhất là nhưng tờ báo lớn có lịch sử lâu dài, sẽ trở thành một “big boys club” của những “elite” chỉ bảo vệ quyện lợi riêng tư của họ. Trên đây là những “ư kiến 2-xu” của người viết để quư vị độc giả suy ngẫm! 

6. Tài liệu tham khảo

[1] https://en.wikipedia.org/wiki/1970s_energy_crisis

[2] US Office of Science and Technology Policy Federal Policy on research misconduct.

http://www.ostp.gov/html/001207_3.html (accessed on December 14 2007),

[3] John P. A. Ioannidis

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1182327/

[4] https://responsibletechnology.org/references-part-1/Institute for Responsible Technology

[5] https://www.urbandictionary.com/define.php?term=tobacco%20science

[6] https://en.wikipedia.org/wiki/Sch%C3%B6n_scandal
[7] http://navier.engr.colostate.edu/CH693/prot/Nature_445_244_2007.pdf

[8] https://en.wikipedia.org/wiki/Haruko_Obokata

[9] “Case studies in research misconduct” by Tony Onofrietti, Univ. of Utah

tony.onofrietti@hsc.utah.edu

[10] https://en.wikipedia.org/wiki/John_Darsee

[11] https://www.nytimes.com/1986/10/10/us/physician-linked-to-fake-research.html
[12] https://haklak.com/page_Robert_Slutsky.html 

[13] https://www.independent.co.uk/arts-entertainment/science-doctoring-the-evidence-1170688.html

 

Lake Elmo, June 1, 2019