A series of articles on “Nobel Prizes in Science & Technology” - Part 12

Richard P. Feynman

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

“The first principle is that you must not fool yourself- and you are the easiest person to fool.”

(Richard Feynman)

 

Từ khóa: Richard Feynman, Arline Feynman, Manhattan Project, Los Alamos National Laboratory, Quantum electrodynamics, Caltech, NASA, space shutter Challenger, MIT, Princeton, Rogers Commission, Nanotechnology, John C Slater, Philip M. Morse, H.D. Smyth, Eric Drexler.

Mục đích chính nhất của Manhattan Project là chế tạo bom nguyên tử. Kế hoạch Manhattan nhằm pḥng ngừa trường hợp Đức Quốc Xă thành công trong việc chế loại “siêu bom” này v́ hoạt đông nghiên cứu liên quan đến lănh vực phân hạch nguyên tử lúc bấy giờ rất mạnh ở Đức. Sự thành công của Kế Hoạch này chẳng những chế tạo vũ khí nguyên tử mà c̣n cung cấp nhân loại một nguồn năng lượng “khổng lồ”. Kế hoạch Manhattan được bắt đầu vào năm 1939, dưới quyền lănh đạo tổng quát của Tướng Leslie Groves và sự quản lư kỹ thuật của GS J. Robert Oppenheimer [1,2]. Kế hoạch bắt đầu với một ngân sách rất khiêm nhường; nhưng sau đó, phát triển lớn mạnh với một ngân sách 2 tỉ đô-la (tương đương với 27 tỉ USD của năm 2017) với 130 ngàn nhân viên. Có hơn 30 địa điểm nghiên cứu, phát triển và chế tạo trên toàn nước Mỹ; nổi tiếng nhất là Khoa Nghiên Cứu và Khai Phát Bôm (Research & Development) ở Los Alamos National Laboratory, New Mexico. Lúc đầu có khoảng 30 khoa học gia và gia đ́nh đến sống và làm việc ở đây. Một khoảng thời gian sau, dân số gia tăng đến sáu ngàn người. V́ là những nhà nghiên cứu và chuyên viên thuộc tầm cỡ lớn của Mỹ, cộng với môi trường sống và làm việc chung với nhau trong không khí tự do và cởi mở; thêm vào đó trách nhiệm và áp lực phải hoàn thành vũ khí nguyên tử cần thiết và đúng thời hạn để tranh đua với Đức, tiến độ phát triển trở nên nhanh chóng vượt bực.. Chỉ trong ṿng hai năm, trái bom đầu tiên đă hoàn thành. Như đă tŕnh bày trong bài viết trước, GS Richard Phillips Feynman là một trong những khoa học gia nồng cốt trong Kế Hoạch Manhattan [h́nh 2]. Ông theo GS. Hans Bethe và tham dự vào chương tŕnh này lúc ông 24 tuổi và có lẽ là nhà khoa học trẻ tuổi nhất trong nhóm thời đó. Ngoài việc phát triển vũ khí và năng lượng nguyên tử và giải thưởng Nobel về lănh vực Điện động học lượng tử (quantum electrodynamics), ông c̣n là thành viên của Rogers Commission trong việc điều tra nguyên nhân sự nổ tung của phi thuyền không gian Challenger vào năm 1985 ; ông c̣n là một nhà giáo giỏi, một con người lăng mạn đa t́nh và có nhiều năng khiếu về khiêu vũ, chơi banjos và hội họa.
 

1. Tản mạn bên lề

Mấy ngày trước ở Tokyo, tôi cũng thấy tiệm McDonald’s gần khách sạn. Hôm nay đến Oska, lại cũng thấy tiệm McDonald’s nằm ngay góc đường nơi tôi ở. Hầu như người ta có thể t́m thấy tiệm McDonald’s ở mỗi góc phố! McDonald’s đâu mà nhiều thế không biết nữa!? Tôi c̣n nhớ vào đầu thập niên 70’s khi tôi c̣n ở Nhật, báo chí b́nh luận xôn xao với nhiều ư kiến tiêu cực về triển vọng thành công của tiệm McDonald’s đầu tiên do Den Fujita mở ở cửa hàng bách hóa Mitsukoshi nằm trong khu Ginza đắt tiền. Bốn mươi năm trôi qua với biết bao thay đổi ! Ông Fujita quả là một người có tầm nh́n rộng và khả năng kinh doanh ưu việt. Một điểm thú vị nữa là Fujita cũng có một thời gian nằm trong Hội Đồng Quản Trị của Softbank, một hăng được sáng lập bởi ông Masahiro Son, môt nhân tài khác của Nhật.

Osaka giờ đă bắt đầu vào thu. Buổi sáng sớm c̣n sót lại vài lớp mỏng sa mù chờ ánh mặt trời đến mang đi. Người đến. Người đi. Ga Namba lúc nào cũng tấp nập. Người cầm dù. Kẻ quần áo comlê chỉnh tề. Đó dây vài nhóm người với đồng phục lao động xanh, vàng . Mọi người lầm lũi bước đi . Bận rộn trong suy tư riêng. Nỗi ưu phiền trên từng khuôn mặt. Nụ cười đâu? Sao chẳng thấy hiện về? Ḍng sóng người mang theo những say mê, ước mơ và hy vọng. Những ngọt ngào triều mến. Đầy rẫy khắp nơi với hàng quán takoyaki và quán okonomiyaki. Dăm ba người tachigui “ăn đứng”. Khói nóng bốc lên làm cảm thấy ấm ḷng. Khu phố Dotonbori. Đêm ngày nhộn nhịp ! Theo sóng người đi. Tôi cũng bước đi. Càng lúc càng mau. Một thoáng chốc lên tàu. Đường Midosuji vận chuyển người sáng đón chiều đưa. Tôi nhắm mắt lại, cố t́m một phút an b́nh. Muốn sống lại một chút kỷ niệm ngày nào. Một thuở qua rồi. Một thoáng hương xưa…

Namba ngày xưa
Phố phường tấp nập
Namba bây chừ
Phố ngập người đi.

Ai dến mừng vui
Phố chợ t́m ǵ ?
Chân bước theo ḍng
Những bước chân hoang
.

Xuống ga Nakamozu. Tôi vội vă đi đến chỗ hẹn. Con mưa phùn không đủ làm ướt áo. Với túi xách trên vai. Chân tôi bước càng lúc càng nhanh. Dù cảnh vật chung quanh có vài đổi thay. Nhưng những nét thân quen vần c̣n lăng văng đâu đây. Trong tâm can của một người viễn khách.

Đi trở lại con đường vào thành phố
Hàng quán thẳng hàng c̣n nét dáng năm xưa
Tiệm sách cũ ra vào người lui tới
Em bé vui chợt thoáng nở nụ cười.

Nắng tháng chín chưa đủ vàng áo mới
Mưa lại về từng hạt nhỏ trên môi
Áo hơi mỏng chợt thấy ḷng chớm lạnh
Chút hương xưa c̣n đọng lại bên cầu. 

Ḍng nước vẫn trôi, sắc màu long lánh
Vẫn êm đềm như lúc đến. Không lâu.
Nh́n cánh lá xác xơ theo gió cuốn
Chợt nhớ thu sang. Mùa thu đă bắt đầu.

 

       

H́nh 1. Tiệm McDonald’s ở Nippori (Tokyo, h́nh bên trái) và ở Namba (Osaka, h́nh bên phải). 

Cánh lá vàng. Cánh lá trôi về đâu? Sắc màu sắp đổi theo mùa thu sang. Chân ai cất bước vội vàng. Trời cao, gió thoảng ḷng xao xác ḷng. Ngỡ ngàng tâm sự ngổn ngang. Ngày lên. Một cụm nắng vàng qua thân. Ân cần. Lời dịu ngọt. Thanh âm vọng thanh âm. Tôi nghe tiếng gió theo màu áo. Chân bước theo ḍng. Chân bước nhanh. 

2. Vài nét về GS. Feynman :

GS Richard Phillips Feynman sinh vào ngày 11 tháng 5 năm 1918, tại Queens, New York và mất vào ngày 15 tháng 2 năm 1988 tại Los Angeles hưởng thọ 69 tuổi. Feynman chết v́ căn bệnh ung thư, một phần có lẽ là do nhiễm pḥng xạ khi ông làm việc ở Los Alamos National Laboratory hơn bốn mươi năm về trước. Ông tốt nghiệp B.Sc ở MIT và PhD ở Princeton University (1942). Feynman muốn tiếp tục học PhD ở MIT v́ lúc đó MIT rất mạnh về vật lư với những trụ cột như GS John C. Slater và GS Philip M. Morse ; nhưng GS Slater không muốn Feynman ở lại MIT v́ ông nghĩ học ở trường khác sẽ cho Feynman cơ hội mở rộng môi trường khám phá và tầm nh́n hơn sau này. (Ghi chú của người viết : đây cũng là khuynh hướng chung của rất nhiều đại học lớn ở Mỹ hiện tại !). GS. Slater giới thiệu Feynman với GS. H.D. Smyth, trưởng khoa vật lư ở Princeton và nói “Feynman là một sinh viên xuất sắc về vật lư mà MIT từng có được trong ṿng 5 năm sau này”. Tuy nhiên điểm thi Graduation Record Exam (GRE) của Feynman tương đối thấp so với nhưng sinh viên khác v́ điểm tiếng Anh và lịch sử của ông quá thấp ; mặc dù ông là người đầu tiên lấy điềm tối cao về vật lư và toán trong lịch sử thi vào trường Princeton lúc bấy giờ. Thêm vào đó ông lại có gốc Do Thái nên chỉ tiêu nhận vào có phần giới hạn. Cuối cùng với sự thuyết phục của hai GS Slater và Morse, Feynman được nhận vào chương tŕnh PhD ở Princeton và làm việc với GS. John Wheeler. Feynman nghiên cứu về Quantum electrodynamics cho luân văn PhD; một phần của công tŕnh nghiên cứu này đưa đến giải Nobel Vât Lư của ông vào năm 1965 [3]. Từ lúc bé, Feynman đă tỏ ra là người có khiếu về toán và thích ṭ ṃ về máy móc. Vào lúc 10 tuổi, ông đă bắt đầu mua rađiô cũ, những đồ phụ tùng và linh kiện về điện để dùng trong “pḥng thí nghiệm”của ông. Ông cũng sửa rađiô cho những người láng giềng. Ông tư học lượng giác học, h́nh học giải tích, toán calculus và nhiều đề tài khác liên quan đến toán khi ông c̣n ở cái tuổi 15.

      

H́nh 2. Stanislaw Ulam với Feynman và von Neumann ở Los Alamos National Laboratory. Cả ba đều là khoa học gia Mỹ gốc Do Thái. (h́nh bên trái). Các nhà nghiên cứu và chuyên viên thường gặp nhau mỗi tuần để trao đổi và thảo luận những kết quả nghiên cứu tại Los Alamos Colloquium (LOC ) :. Hàng trên : Norris Bradbury, John Manley, Enrico Fermi và M.B. Kellogg. Robert Oppenheimer với chiếc áo bành tô màu đen ngồi sau Manley; và bên phía trái của Oppenheimer là Richard Feynman. (April 1946). (h́nh bên phải). 

3. Rogers Commission

Vào buổi sáng ngày 28 tháng giêng, 1986, phi thuyền Challenger nổ tung trong ṿm trời Florida 73.6 giây sau khi được phóng lên, làm thiệt mạng tất cả bảy người trong phi hành đoàn, trong số đó cô giáo Christia McAuliffe, người dân sự đầu tiên tham gia vào chương tŕnh không gian của NASA. (V́ có cô giáo McAuliffe, hầu hết các trường học ở Mỹ trực tuyến buổi phóng phi thuyền Challenger ngày hôm đó Sự nổ tung này đă ảnh hưởng không ít đến các em học sinh sau này !). Nhiều kỹ sư của hảng Thiokol – hăng chế tạo bộ phận tăng áp (booster) đều biết và quan tâm đến chuyện O ring thay đổi độ co giăn với nhiệt đô. Một số người đă đề nghị Ban lănh đạo NASA và Thiokol khảo cứu lại vấn đề và nên dời ngày phóng phi thuyền cho đến khi có kết quả rơ rệt ; nhưng Ban lănh đạo quyết định thi hành như dự định! [4] Trong buổi tường thuận dữ kiện liên quan đến phi thuyền không gian Challenger, Feynman đă áp đặt một cách tuyệt vời thí nghiệm để chứng minh thành công rằng O ring trong bộ tăng áp của phi thuyền không c̣n giữ tính đàn hồi ban đầu khi nhiệt độ xuống thấp và là nguyên do của sự nổ tung phi thuyền này trong không gian (Thời tiết của Florida ngày phi thuyền phóng ra thấp, ở nhiệt độ 28-29 độ Fahrenheit. Nên ghi nhớ là nhiệt độ bên ngoài trong những lần phóng phi thuyền khác la khoảng 53- 66F). Trong thí nghiệm này, ông đặt môt phần của O ring cùng chất liệu cao su giống như ṿng O ring dùng trong phi thuyền Challenger giữa cái kẹp h́nh chữ C (C clamp). Xong ông nhúng phần O ring này và cái kẹp trong một ly nước đá lạnh. Vài phút sau, ông lấy ra. Ông cho thấy phần O ring không c̣n đàn hồi lại như lúc trước khi nhúng vào nước đá [h́nh 3, bên phải]. Mọi người đều ngạc nhiên với thí nghiệm cấp trung học này! Mặc dù một số người liên quan đến phi thuyền Challenger biết và quan tâm đến chuyện O ring thay đổi độ co giăn với nhiệt độ ; nhưng dùng một thí nghiệm đơn giản để tŕnh bày với khán thính giả trong buổi họp một lần nữa chứng tỏ hùng hồn khả năng cắt nghĩa hiện tượng vật lư của Feynman- một nhà giáo giỏi.

“I took this stuff that I got out of your seal and I put it in ice water, and I discovered that when you put some pressure on it for a while and then I undo it, it does not stretch back. It stays the same dimension. In other words, for a few seconds at least and more seconds than that, there is no resilience in this particular material when it is at a temperature of 32 degrees.” (Richard Feynman) [5,6]
Cũng nên làm sáng tỏ ở đây một điều mà môt số báo chí và phim ảnh đă hiểu sai lầm cho rằng Feynman là người đă khám phá ra nguyên nhân của sự thất bại của phi thuyền không gian Challenger. Feynman chỉ là người cắt nghĩa hiện tượng vật lư một cách rơ ràng mà ngay những người có tŕnh độ khiêm nhường về vật lư có thể lănh hội được ! Một điều nữa về sự đóng góp của GS Feynman, theo thiển ư của người viết, là ông đă dùng phương pháp điều tra « bottom up » trong việc truy cầu thành công nguyên nhân của sự thất bại của phi thuyền Challenger ; Ông đă “bỏ qua” Ban lănh đạo của chương tŕnh NASA và đến nói chuyện trực tiếp với những kỹ sư cấp dưới của hăng Thiokol để t́m ra dữ kiện về sự biến đổi của O ring với nhiệt độ. Ông cũng khám phá ra một lỗ hỗng lớn trong đường lối “thông tin” giữa Ban lănh đạo và cán bộ kỹ thuật ! 

4. Feynman là một nhà giáo dục kỳ tài

Feynman thích dạy vật lư cho sinh viên cấp đại học và thích nói chuyện với sinh viên về cái đẹp của khoa học. Ông thích cắt nghĩa rành mạch những hiện tượng vật lư cơ bản để sinh viên có thể hiểu rơ ràng [h́nh 3, bên trái]. Bộ sách “The Feynman Lectures on Physics” trở thành nổi tiếng và trở thành cuốn sách gối đâu giường đối với nhiều sinh viên kể cả người viết. Điều này có khác với những nhà khoa học nổi tiếng khác tầm cỡ Feynman : Họ chỉ thích dạy những lớp cao cấp ; ít có th́ giờ làm việc với sinh viên v́ phần lớn quá “bận rộn” trong công tác đi xin tài trợ nghiên cứu. Chính v́ lư do này mà ông từ chối về làm việc ở Institute for Advanced Study (Princeton) sau khi chiến tranh chấm đứt. Feynman có rất ít sinh viên làm PhD với ông. Ông thích làm mọi chuyện bởi chính ông và rất thích bỏ th́ giờ đi t́m cội nguồn của những hiện tượng khoa học.

Tôi c̣n nhớ lúc làm việc ở University of California, Irvine (UCI), Ban lănh đạo khoa vật lư thường không thông báo thời gian và địa điểm Feynman đến nói chuyện. Về địa thế th́ chỉ mất khoảng một giờ lái xe từ UCI đến California Institute of Technology hay Caltech (Pasadena) nơi Feynman làm việc. Mặc dù thế, hội trường lúc nào cũng đông nghẹt ; thậm chí những người đến sau phải ngồi trên sàn nhà. Thú vị nhất là sau buổi nói chuyện. Sinh viên và ban giảng huấn được có cơ hội tiếp xúc với Feynman. Ông nói chuyện với tất cả ai muốn đến hầu chuyện với ông về hầu hết mọi đề tài từ khoa học, âm nhạc, thức ăn và khiêu vũ (ông rất thích samba, vũ điệu mà ông học trong nửa năm ông dạy học tại University of Rio de Janeiro, Brazil). Đối với những câu hỏi về vật lư, Feynman thích đưa ra một tờ giấy và bắt đầu bằng những phương tŕnh cơ bản rồi dẫn đến điểm mà ông muốn tŕnh bày.  

        

H́nh 3. GS Feynman trong một lớp học ở Caltech (h́nh bên trái). .GS Feynman cắt nghĩa hiện tượng vật l‎ư về sự thay đổi tính đàn hồi của O ring và là nguyên nhân chính sự nổ tung của phi thuyền Challenger tại Buổi tường thuật dữ kiện vào ngày 11 tháng 2 năm 1986. (h́nh bên phải) [5,6]

 

5. Nanotechnology

Tuy là một nhà lư luận vật lư, Feynman thường quan tâm đến những ứng dụng về khoa học và kỹ thuật. Vào năm 1959, sau mùa Christmas, ông làm một bài diễn thuyết có ảnh hưởng sâu đậm về việc phát triển một kỹ thuật microscopic engineering sau này hay nói nôm na hơn nanotechnology. Bài nói chuyện có tựa đề “There’s Plenty of Room at the Bottom”. Ông đưa ra hai thử thách, với giải thưởng 1.000 USD ông sẽ trả cho những ai giải đáp được cho mỗi thử thách. Thử thách thứ nhất là chế tạo một động cơ điện rất nhỏ thể để trong một chiếc họp vuông với tầm kích 1/64 inch mỗi chiều. Thử thách này được đáp ứng một năm sau đó. Vào tháng 11 năm 1960, ông ngạc nhiên khi có một kỹ sư tên là William McLellan đến văn pḥng muốn gặp ông ở Caltech (California Institute of Technology) mang theo một chiếc hộp bằng gỗ. Feynman biết là đă đến lúc phải lấy checkbook ra khi McLellan lấy ra từ chiếc hộp một chiếc động cơ điện nhỏ với cỡ kích mà Feynman đă loan báo [h́nh 4, bên trái].
Thử thách thứ hai dành cho người đầu tiên t́m được giải pháp để viết toàn bộ Encyclopedia Britannica trên đầu một chiếc kim gút (pin). Với kích cỡ này, một quyển sách đă được xuất bản có thể thu gọn trong tờ pamphlet bạn có thể cầm tay. Thử thách này được đáp ứng bởi Tom Newman, một sinh viên cao hoc ở Stanford vào năm 1985. Tom viết trang đầu tiên của quyển truyện “A Tale of Two Cities” với kích thước đ̣i hỏi trên đầu của một cây kim gút, dùng electron beam.
Vào năm 1990, một số nhà khoa học ở Los Alamos National Laboratory đă viết toàn quyển sách trên một chiếc cây kim gút bằng inốc (stainless steel) với kích thước 2mm x 2mm, tương đương với khả năng lưu trữ 2 Gbytes [h́nh 4, bên phải] . TS K. Eric Drexler triển khai khái niệm của Feynman vào những lănh vực khác dùng trong kỹ nghệ auto, hóa học, lưu trữ dữ liệu (data storage) và góp chung dưới cái tên là “nanotechnology” và dành công trạng này cho Feynman [7]. Thế nên, sau này, nhiều người trong cộng đồng khoa học đă mệnh danh Feynman là “Father of Nanotechnology”.

 

        

H́nh 4. McLellan và Feynman quan sát chiếc động cơ điện do McMellan chế tạo (h́nh bên trái). H́nh SEM của một bộ liên kết cơ khí (mechanical clutch). Bánh răng (gears) của bộ phận này có đường kính 50 microns (Source: Sandia National Laboratories h́nh bên phải) [7,8]. 

6. Chuyện t́nh của Feynman

Vào thời trung học, Feynman làm quen và yêu thương cô bạn cùng trường tên Arline. [h́nh 5].Arline có khiếu về âm nhạc và hội họa. Gia đ́nh phản đối kịch liệt v́ v́ Arline bị bệnh. Thế nên, hai người quyết định làm lễ thành hôn ngay sau khi GS Feynman xong học vị PhD không có gia đ́nh và bạn bè hai bên tham dự.Khi đến Los Alamos, Feynman để bà Arline nằm trị bệnh ở Bênh viện Santa Fe và thăm viếng vào cuối tuần. Vào tháng 6, 1945, Bà Arline mất v́ chứng bệnh ho lao ở cái tuổi 25. Mười sáu tháng sau ngày bà Arline mất. Cuộn film « Infinity » do Mathhew Broderick đạo diễn và đóng vai chính vào năm 1996 nói về cuộc đời của Feynman-Arline trong khoảng thời gian này. Feynman viết cho bà môt lá thư rất cảm động (đính kèm dưới đây), phong kín và yêu cầu chỉ được mở ra sau khi ông mất vào năm 1988 [9].

         

H́nh 5. Richard Feynman và bà Arline. Hai người yêu nhau từ thuở c̣n trung học.

October 17, 1946

D’Arline,

I adore y
ou, sweetheart.

I know how much you like to hear that — but I don't only write it because you like it — I write it because it makes me warm all over inside to write it to you.

It is such a terribly long time since I last wrote to you — almost two years but I know you'll excuse me because you understand how I am, stubborn and realistic; and I thought there was no sense to writing.

But now I know my darling wife that it is right to do what I have delayed in doing, and that I have done so much in the past. I want to tell you I love you. I want to love you. I always will love you.

I find it hard to understand in my mind what it means to love you after you are dead — but I still want to comfort and take care of you — and I want you to love me and care for me. I want to have problems to discuss with you — I want to do little projects with you. I

never thought until just now that we can do that. What should we do. We started to learn to make clothes together — or learn Chinese — or getting a movie projector. Can't I do something now? No. I am alone without you and you were the "idea-woman" and general instigator of all our wild adventures.

When you were sick you worried because you could not give me something that you wanted to and thought I needed. You needn’t have worried. Just as I told you then there was no real need because I loved you in so many ways so much. And now it is clearly even more true — you can give me nothing now yet I love you so that you stand in my way of loving anyone else — but I want you to stand there. You, dead, are so much better than anyone else alive.

I know you will assure me that I am foolish and that you want me to have full happiness and don't want to be in my way. I'll bet you are surprised that I don't even have a girlfriend (except you, sweetheart) after two years. But you can't help it, darling, nor can I — I don't understand it, for I have met many girls and very nice ones and I don't want to remain alone — but in two or three meetings they all seem ashes. You only are left to me. You are real.

My darling wife, I do adore you.

I love my wife. My wife is dead.

Rich.

PS Please excuse my not mailing this — but I don't know your new address.

 

7. Kết từ

Richard Feynman là một nhà khoa học nổi tiếng, một nhà giáo giỏi với nhiều biệt tài khác. Đóng góp của ông bao gồm nhiều lănh vực từ Điện động học lượng tử (quantum electrodynamics) hay QED, năng lượng nguyên tử đến nanotechnology. Ông có một lối nh́n đặc biệt về giáo dục và về nghiên cứu. nhất là đối với cái mà ông gọi là “ Cargo Cult Science”. Câu chuyện là như thế này: Ở vùng South Seas, có một giống dân ông gọi là Cargo Cult. Trong thời chiến tranh, giống dân này thấy nhiều phi cơ đáp xuống mang nhiều vật liệu qu‎ư giá và đồ ăn hiếm. Sau chiến tranh, họ muốn sự kiện tương tự sẽ xảy ra cho ho. Thế nên, họ xây đường bay với hàng đuốc cháy hai bên. Thêm vào đó, họ xây một chiếc cḥi gỗ,cho một người ngồi, với hai thanh gỗ trên đầu dùng làm ống nghe và những miếng tre dùng làm đường dây anten. Người này đóng vai tṛ như nhân viên kiểm soát phi trường và ngồi chờ phi cơ đáp xuống. Chờ măi nhiều ngày, giống dân này không thấy phi cơ nào đáp xuống cả. Chuyện ǵ đă xảy ra? Họ đă cố gắng lập lại mọi dữ kiện

giống như những ǵ xảy ra trước đây trong thời chiến tranh! Thế nên Feynman gọi điều những người này là Cargo Cult Science. Bởi v́ họ theo những quy tắc biểu kiến (apparent precepts) và những dạng thức dựa vào dữ kiện có sẵn; nhưng họ thiếu mất một sụ kiện căn bản: phi cơ không đáp xuống.
“You're probably chuckling at this point. Yet many of us are no better. This is all around us. Thinking is hard and we fool ourselves, in part, because it's easy. The first principle is that you must not fool yourself—and you are the easiest person to fool. So you have to be very careful about that. After you’ve not fooled yourself, it’s easy not to fool other scientists. You just have to be honest in a conventional way after that.” 

Feynman c̣n nói thêm :

“We’ve learned from experience that the truth will out. Other experimenters will repeat your experiment and find out whether you were wrong or right. Nature’s phenomena will agree or they’ll disagree with your theory. And, although you may gain some temporary fame and excitement, you will not gain a good reputation as a scientist if you haven’t tried to be very careful in this kind of work. And it’s this type of integrity, this kind of care not to fool yourself, that is missing to a large extent in much of the research in Cargo Cult Science.” [10]. 

Tài liệu tham khảo

[1] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Nobel-Prizes-Part-11.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Manhatta-%20Project.htm.
[3] James Gleick, Genius, Pantheon Books New York, 1992
[4] Chi tiết hơn ở bài viết sau
[5]
https://en.wikipedia.org/wiki/Rogers_Commission_Report
[6]
Rogers Commission report (1987). "Implementation of the Recommendations of the Presidential Commission on the Space Shuttle Challenger Accident, Recommendation IV"
[7] http://ethw.org/Richard_Feynman_and_Micromachines
[8] Trần T. Năng: « Khóa Đào Tạo Công Nghệ MEMS và Vi Mạch Bán Dẫn 2017 », University of Sciences, Sept. 24-29, 2017
[9] http://www.npr.org/2005/05/17/4654671/the-letters-and-legacy-of-physicist-feynman
[10]
https://www.farnamstreetblog.com/2015/11/cargo-cult-science/

 

Buổi tối ngày Halloween 2017