|
Sau Thế Chiến Thứ Hai, với hai quả bom nguyên tử thả
xuống Hiroshima và Nagasaki, uy tín của GS Robert Oppenheimer - người
cầm đầu chương tŕnh kỷ thuật ở Los Alamos Laboratory càng ngày càng
lớn mạnh. Ông này chủ trương sự hợp tác với nhiều quốc gia trên thế
giới liên quan đến năng lượng nguyên tử nhằm duy tŕ ḥa b́nh cho nhân
loại. Lúc đó Liên Bang Xô Viết cũng đẩy mạnh chương tŕnh chế tạo vũ
khí nguyên tử. Chính quyền Truman v́ thế muốn tiếp tục nghiên cứu và
phát triển hydrogen bomb, một loại siêu bom cực mạnh có khả năng tán
phá gấp ngàn lần hai quả bom A ở Nhật. Vào năm 1952, dưới sự họp tác
của GS Edward Teller (người làm dưới quyền của Oppenheimer ở LosAlamos
và là người phát minh ra hydrogen bomb), quả bôm hydrogen nổ thành
công ở Eniwetok Atoll vùng biển Thái B́nh Dương. Nhiều nhà khoa học
trong Manhattan Project đă chống kế hoạch phát triển này, trong số đó
có Oppenheimer. Ông này vẫn tiếp tục “cản mũi kỳ đà” hướng đi của
chính phủ Mỹ với tinh thần tiêu cực sau khi hai quả bom nguyên tử thả
xuống hai thành phố ở Nhật và thái độ chống đối việc phát triển
hydrogen bomb v́ sợ sẽ dẫn đến cuộc cạnh tranh vũ khí nguyên tử.
Để ngăn chận hoạt động chống đối này, Tổng Thống
Truman hổ trợ Lewis Strauss làm “ṭa án không chính quy/Kangaroo
court” để tước lấy “thông quan về an ninh/security clearance” của
Oppenheimer vào năm 1954, cho rằng Oppenheimer có khuynh hướng thiên
tả trước chiến tranh và có thể ông tiết lộ những “bí mật” đến Liên
Bang Xô Viết. Sau năm 1954, Oppenheimer từ bỏ công tác nghiên cứu, về
làm giám đốc ở Viện Nghiên Cứu Cao Cấp (Institute for Advanced Study),
một phần để tránh xa “những tiếng thị phi”, một phần để t́m lại b́nh
an trong tâm hồn. Sau này, để gọi là trả lại một phần “công đạo” về sự
đóng góp của ông trong việc phát triển vũ khí nguyên tử, chính phủ Mỹ
trả lại Oppenheimer “security clearance”; và Tổng Thống Johnson đă
trao ông Enrico Fermi Award, một giải thưởng giá trị nhất trong ngành
năng lượng nguyên tử vào năm 1963, bốn năm trước khi Oppenheimer qua
đời.
1. Tản mạn bên lề
Cứ mỗi lần đến Ngày Lễ Độc Lập của Mỹ là tôi lại nhớ
đến thành phố Morristown ở New Jersey! Thành phố này tuy nhỏ nhưng c̣n
nhiều di tích lịch sử liên quan đến cuộc Chiến tranh dành độc lập; thế
nên thành phố này c̣n được mệnh danh là “Thủ đô quân sự của cuộc cách
mạng dành độc lập của Mỹ (the military capital of the American
Revolution)”. Đây cũng là một trong những thành phố ở Mỹ đầu tiên tôi
có dịp thăm viếng khi tôi đến thăm Bell Laboratories (ở Murray Hill),
nằm cách thành phố Morristown khoảng 15 phút lái xe. Mỗi lần có dịp về
vùng East Coast nhất là Princeton, nếu có cơ hội, tôi cũng t́m cách đi
thăm thành phố này! Đi giữa thành phố mà tôi có cảm giác như đang đi
trong ḷng lịch sử của một đất nước đầy rẩy những con người dám sống,
dám vươn lên.

H́nh 1. H́nh bên trái : Trung tâm của thành phố
Morristown. H́nh bên phải: Ngôi nhà ở lúc trước của Thomas Nast, “cha
đẻ của nghệ thuật vẽ tranh biếm họa của Mỹ”. Ba mẹ ông từ Đức di dân
sang Mỹ khi ông c̣n bé. Ông nổi tiếng với biểu tượng con lừa của Đảng
Dân Chủ và con voi của Đảng Cộng Ḥa.
Và mỗi lần như vậy cứ làm tôi nhớ lại những tháng
ngày đầu tiên tập tễnh làm quen với cuốc sống mới ở Mỹ. Những con
đường, những thành phố tôi đi ngang qua. Buổi sáng hiền ḥa. Buổi
chiều nắng ấm. Từng vạt nắng thướt tha theo bước chân đi. Tiếng sóng
thầm th́. Băi cỏ xanh tươi mát rượi. Ngày xưa ít nhất có một lần tôi
cũng đă hiện diện ở đây. Nơi này. Hăng say. Sức sống căng đầy. Niềm
tin lớn mạnh.
Tôi về đây
Để nhớ lại những ngày
Tôi về đây
Nh́n thế sự đổi thay
Gió vẫn thổi
Trời xanh cao giăng lối
Chân ngại ngùng
Gót nhỏ bước qua đêm
Tôi thương quá những ngày xuân quá khứ. Thương quăng
đời đă nhè nhẹ trôi xa. Những buổi chiều bến cảng hẹn ḥ. Những buổi
sáng gió hiu hiu mát rượi. Bầu trời xanh thắm. Màu nắng sớm non tươi.
Tôi thích đi trong sân trường vào mùa lá đổ với lá phong vàng cà bước
chân. Để những giọt mưa len lén thấm qua thân. Tôi thương những khuôn
mặt chưa quen, nhưng cảm thấy thật gần. Nụ cười diệu ngọt của em bé
thơ mới lớn. Tôi t́m thấy xứ sở này dào dạt t́nh người. Ṿng tay mở
rộng. Hân hoan đón chào những tâm hồn lạc lơng từ xa đến đây t́m sống…
Nếu không có ḍng sông
Nếu không có bầu trời
Nếu không có màu nắng
Chắc đời buồn biết bao?
Nhờ ḍng sông
Màu nắng hết xanh xao
Nhờ bầu trời
Màu xanh thành hy vọng
Cám ơn đời
Tôi sống trọn bao năm.
2. GS Oppenheimer là một nhà khoa
học lớn với khả năng quản lư hiếm có
Sinh ở New York City vào 22 tháng 4, năm 1904 trong
một gia đ́nh di dân Đức gốc Do Thái. Sau khi tốt nghiệp ở Harvard, ông
đến học ở University of Cambridge (Anh) vào năm 1925. Sau đó, ông đến
làm việc với Max Born tại Göttingen University (Đức) về ngành vật lư
lư thuyết ; ở đây ông có cơ hội gặp Niels Bohr (Nobel 1922), một trong
hai đại thụ về ngành vật lư thời bấy giờ (người thứ hai là Albert
Einstein- Nobel 1921.Cả hai đều có liên quan đến Chương Tŕnh
Manhattan sau này!). Cộng đồng khoa học mệnh danh Oppenheimer là
“founding father” của ngành theoretical physics ở Mỹ. Ngay sau khi lấy
bằng PhD ở cái tuổi 23, nhiều trường đại học mời ông đến dạy. Ông chọn
công tác giảng dạy và nghiên cứu cùng một lúc ở University of
California- Berkeley (hay UC Berkeley) và California Institute of
Technology (hay CalTech) với mỗi năm ông ở mỗi trường sáu tháng. Ở
thời điểm đó, có vài chương tŕnh về vật lư ở CalTech nhưng UC Berkely
không có hoạt động ǵ về vật lư lư thuyết cả; đây giống như là một
trang giấy trắng để ông nuôi dưỡng và phát triển ngành này. Đồng thời
ở Berkeley, TS Lawrence (Nobel 1939) có chương tŕnh nghiên cứu về
cyclotrons rất quan trọng và rộng lớn và v́ thế Lawrence nhận được rất
nhiều tiền nghiên cứu từ chính phủ. Oppenheimer muốn cộng tác với
Lawrence: Lawrence lo phần thực nghiệm c̣n Oppenheimer phụ trách về
phần lư thuyết. Với “cặp bài trùng” này, vài năm sau, UC Berkeley trở
thành Trung tâm R&D về vật lư lớn nhất của Mỹ thời bấy giờ.
Oppenheimer có những đóng góp quan trọng về nuclear fusion, electrons,
positrons. Đáng kể nhất là neutron stars, black holes, quantum
mechanics, quantum field theory và cosmic rays. Ông cũng được đề cử
vài lần với Hàn Lâm Viện Thụy Điễn về giải thưởng Nobel về vật lư,
nhưng lần nào cũng “hụt”! Một phần có lẽ liên quan đến chính trị!?
Điều này cũng chẳng có ǵ ngạc nhiên. V́ “tài” bao nhiêu mà “vận chính
trị” không may, th́ cũng toi công thôi, như chúng ta có thể thấy nhan
nhăn trong lịch sử giải Nobel.
Ngoài khả năng chuyên môn, GS Oppenheimer c̣n là một
nhà quản lư kỳ tài.. Trong ṿng ba năm, ông đă điều khiển chương tŕnh
kỹ thuật của Manhattan Project đưa đến thí nghiệm thành công quả bom
nguyên tử đầu tiên tại New Mexico- một thành tích phá kỷ lục chưa bao
giờ có. Nên nhớ là cũng trong khoảng thời gian này, Đức Quốc Xă cũng
có một chương tŕnh phát triển vũ khí nguyên tử tương tự dưới sự lănh
đạo của GS Werner Heisenberg [H́nh 2], một nhà khoa học có tầm cở lớn
hơn Oppenheimer và là giáo sư cố vấn luận văn tiến sĩ của Edward
Teller. GS Heisenberg có 60 ngàn nhân viên làm việc trong chương tŕnh
và lúc đó nước Đức rất mạnh về phản ứng phân hạch nguyên tử. Dĩ nhiên
có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sư thất bại của chương tŕnh này
của Heisenberg nhưng một yếu tố chính phải là năng khiếu lănh đạo của
người chịu trách nhiệm tổng quát của chương tŕnh. Có rất ít nhà khoa
học lớn mà có tài quản lư giỏi, nhất là điều khiển chương tŕnh ở tầm
cỡ của Kế Hoạch Manhattan!

H́nh 2. H́nh bên trái: GS Werner Heisenberg
(Nobel 1932, AIP Meggers Gallery of Nobel Laureates), người lănh đạo
kế hoạch làm bom nguyên tử của Đức Quốc Xă và H́nh bên phải: TS.
Edward Teller, người phát minh ra hydrogen bomb. H́nh chụp 1958 lúc
ông làm giám đốc Lawrence Livermore Laboratory (Google images). Nên
ghi chú ở đây là Heisenberg là GS cố vấn luận văn tiến sĩ của TS
Edward Teller.
3. “Kangaroo court” nhằm phá hủy
uy tín của Oppenheimer
3.1 Khuynh hướng thiên tả của
Oppenheimer trước Thế Chiến Thứ Hai
Giống như nhiều nhà trí thức khác vào thập niên
30’s, GS Oppenheimer có khuynh hướng thiên tả nhất là ngay thời kỳ
Great Depression với nhiều sinh viên của ông ra trường bị thất nghiệp.
Ông cũng rất bất măn về số người Do Thái ở Đức bị đàn áp bởi chính
quyền Hitler. Một số những người này là chim đầu đàn về ngành quantum
mechanics và relativity theory- nghành này c̣n có biệt danh là “Jewish
physics”. Ông đă đóng góp 3% lương của ông cho những nhà khoa học mới
di dân sang Mỹ. Ông cũng ủng hộ những phong trào như Teachers’ Union,
phong trào lao động,etc. Cô bạn gái của ông là Jean Tatlock cũng là
đồng nghiệp của ông ở UC Berkeley có những liên hệ và cảm t́nh với với
Đảng Cộng Sản. Người đàn bà ông lập gia đ́nh, Katherine Puening
Harrision, cũng là đảng viên Cộng sản trong nhiều năm trong quá khứ.
Người em của ông Frank Oppenheimer và vợ của ông này cũng là đảng viên
trong quá khứ. Thêm vào đó, một người bạn đồng nghiệp khác của ông,
Haakon Chevalier, GS văn chương ở Berkeley và một số sinh viên của
Oppenheimer ở Berkeley cũng là thành viên Đảng Cộng Sản [H́nh 3]. :
Nhưng Oppenheimer chưa bao giờ là đảng viên Cộng Sản.

H́nh 3. Bốn sinh viên của ông ở UC Berkeley:: Jo
Weinberg, Rossi Lamanitz, David Bohm and Max Friedman. Những sinh viên
này đều là cảm t́nh viên của Đảng Cộng Sản và đang bị FBI theo dơi (H́nh
giữa). GS Jean Tatlock (H́nh bên trái) và GS Haakan Chevalier (H́nh
bên phải); cả hai đều dạy về văn chương ở Berkeley. (Google Images).
3.2. Tướng Groves đă chọn
Oppenheimer làm giám đốc kỹ thuật của Manhattan Project
Mặc dù có những quan tâm của nhiều người trong chính
quyền về khuynh hướng thiên tả của Oppenheimer ở giữa thập niên 30’s,
Tướng Leslie Groves – người chỉ huy tổng quát Mahattan Project cho
rằng chỉ có Oppenheimer mới có thể đưa chương tŕnh thành công trong
thời gian chính phủ đ̣i hỏi.
Vị tướng này đă phỏng vấn rất nhiều nhà khoa học và
kỹ thuật gia trong số đó có Hans Bethe (Nobel 1967), Arthur Compton
(Nobel 1927), Enrico Fermi (Nobel 1938), Ernest Lawrence (Nobel 1939)
và Edward Teller. Cuối cùng, tướng Groves quyết định chọn Oppenheimer
để lănh đạo kỹ thuật của Kế Hoạch Manhattan, bất luận sự phản đối khá
mạnh của nhiều người trong giới cầm quyền và đại học v́ khuynh hương
chính trị của GS Oppenheimer ; và thêm vào đó, cá tính, cách sống, tôn
giáo và khuynh hướng chính trị và xă hội của Groves và Oppenheimer
hoàn toàn khác nhau. Thêm vào đó là một yêu tố quan trọng nữa bất lợi
cho Oppenheimer là Oppenheimer là một nhà vật lư lư thuyết thuần túy
và chưa bao giờ có pḥng thí nghiệm trước đây. Nhưng Groves cuối cùng
vẫn nhất định chọn Oppenheimer v́ những lư do chính sau: (i)
Oppenheimer có khả năng cắt nghĩa một cách một cách sáng sủa, mạch lạc,
và dễ hiểu ” những hiện tương phức tạp như phân hạch nguyên tử làm cho
những người ít có cơ bản khoa học như Groves có thể hiểu và có ấn
tượng tốt; (iii) bắt gặp vấn đề một cách nhanh chóng (iii) cá tính ḥa
đồng và có thể làm việc chung với nhiều người ở mọi tŕnh độ và bối
cảnh xă hội khác nhau và (iv) không kém quan trọng là quyết tâm của
Oppenheimer muốn đánh bại Đức Quốc Xă trong việc phát triển và chế tạo
vũ khí nguyên tử và (v) đề án làm việc của ông để đưa đến thành công
bằng cách hợp tác với nhiều cơ quan ở nhiều nơi biệt lập khác nhau.
Oppenheimer không nghĩ UC Berkeley có đủ những nhân tố cần thiết có
thể đưa Đề án đến thành công.
Theo Tướng Groves, v́ tính cách khẩn cấp của việc
chế tạo vũ khí nguyên tử (A- bomb), nên người độc nhất theo ông có thể
chỉ huy đưa đến thành công trước khi Đức Quốc Xă
hay Nhật có loại vũ khí nguy hiểm này phải là
Oppenheimer. Tính cách khẩn cấp của Kế Hoạch đă đưa ông đến quyết định
tối quan trọng này mà không do dự hay đắn đo về ḷng trung thành của
Oppenheimer đối với nước Mỹ. T́m được một nhà khoa học tầm cỡ lớn, có
thể dung ḥa một cách khôn khéo giữa những chuyên gia khoa học và kỹ
thuật tầm cở lớn lúc nào cũng muốn thảo luận với tinh thần cởi mở và
giới sĩ quan quân sự lúc nào cũng muốn giữ “bí mật“ bằng cách giới hạn
việc trao đổi thông tin để cho công việc trôi chảy với hiệu xuất tốt
là một chuyện ít người làm được. Nói về GS Oppenheimer, sau này Tướng
Leslie R. Groves đă từng thổ lộ như sau: "He's a genius, a real
genius. While [Ernest] Lawrence is very bright he's not a genius, just
a good hard worker. Why, Oppenheimer knows about everything. He can
talk to you about anything you bring up." Hay có một lần ông nói: "He
understood immediately when he heard anything, and fitted it into the
general scheme of things and drew the right conclusions. There was
just nobody else in that laboratory who came even close to him. There
was human warmth, as well. Everybody certainly had the impression that
Oppenheimer cared what each particular person was doing." [1,2].
Mặc dù ông được giao phó chực vụ cực kỳ quan trọng
quản lư phần kỹ thuật của Manhattan Project, trong suốt thời gian ông
làm việc ở Los Alamos, FBI vẫn tiếp tục theo dơi ông mọi nơi hoặc qua
cá nhân hay qua điện thoại, thư từ qua những “điệp viên nằm vùng” che
đậy dưới h́nh thức là người lái xe cho ông. Một câu chuyện trong lúc
hỏi cung vào năm 1954 đă tiết lộ điều này: luật sư công tố hỏi ông về
cô bạn gái tên Jean (tŕnh bày ở phần 3.1) của ông, lư do tại sao ông
đến viếng cô ta trong lúc c̣n làm việc ở Los Alamos. Oppenheimer trả
lời là đă nhiều lần cô muốn gặp ông ta; nhưng đều bị từ chối. Lần sau
cùng, cô ta cho biết là cô ta bị bênh tâm thần và đang trị liệu. Đó là
lư do cô ta muốn gặp ông ta một lần cuối. Ông đồng ư đến gặp nhưng
không cho cô ta biết địa điềm nơi ông đang làm việc.. Nhân viên FBI
đậu xe trước nhà căn hộ của cô ta suốt cả đêm và báo cáo về với cơ
quan chính phủ về sự kiện này.
3.3 “Kangaroo court” nhằm giảm uy
tín của Oppenheimer
Lúc ở Los Alamos, TS Edward Teller [H́nh 2] đề nghị
dùng nhiệt do sự phân hạch nguyên tử (nuclear fission) phóng ra để
khởi động phản ứng tổng họp hạt nhân (nuclear fusion) từ những vật
liệu như tritium, deuterium hay lithium deuteride, phương pháp này có
thể tạo ra một sức nổ cực kỳ lớn. Loại bôm dựa trên nguyên lư này có
tên là hydrogen bomb và sau này c̣n có tên là bôm nhiệt hạch
(thermonuclear bomb). Nhưng nội dùng phân hạch nguyên tử trong việc
chế tạo A-bomb không cũng đủ phức tạp rồi và cần tất cả nhân lực và
tài lực hiện có để chế tạo trong thời gian ngắn ba năm, nên
Oppenheimer đă bát bỏ đề nghị của Teller. Thay v́ thế, Oppenheimer vẫn
để Teller dành th́ giờ nghiên cứu loại “siêu bôm” này trong quy mô nhỏ.
Và Teller rât thất vọng về quyết định này của Oppenheimer! Sau khi
chiến tranh chấm dứt, Oppenheimer trở thành chủ tịch Ủy Ban Tư Vấn
Tổng Quát (the General Advisory Committee) của Hội Đồng Năng Lượng
Nguyên Tử (the Atomic Energy Commission hay AEC). Uy tín của ông càng
lúc càng lan rộng trên thế giới. Oppenheimer vận động sự hợp tác quốc
tế về việc kiểm soát năng lương nguyên tử nhằm bảo vệ ḥa b́nh cho
nhân loại. Teller vẫn tiếp tục đề nghị và triển khai việc khai phát
hydrogen bomb. Teller vận động với chính phủ Mỹ để mở một pḥng thí
nghiệm khác biệt lập với Los Alamos để nghiên cứu và phát triển
hydrogen bomb. The Atomic Energy Commission đáp ứng yêu cầu của Teller
bằng cách thiết lập ra Lawrence Livermore Laboratory. Teller lúc đầu
làm cố vấn, sau lên associate director và sau cùng là director của
Livermore Laboratory [H́nh 2 ]. Vào tháng giêng, 1952, Mỹ đă thành
công với thí nghiệm hydrogen bomb đầu tiên tại Eniwetok Atoll, vùng
biển Thái B́nh Dương. V́ lo ngại thế lực của Liên Bang Xô Viết càng
lúc càng mạnh và khả năng có thể chế tạo những loại “siêu bôm” như
hydrogen bomb, Tổng Thống Harry S. Truman ra lệnh tăng gia nổ lực
trong việc phát triển loại hydrogen bôm này, bất kể sự chống đối của
Oppenheimer và nhiều nhà khoa học trong Manhaattan Project.
Oppenheimer và Hội viên của AEC chống sự phát triển lại bombs cực mạnh
này với số phiếu 3-2 v́ lo ngại t́nh trạng này sẽ đưa đến việc chạy
đua vũ khí giữa Mỹ và Nga và nhiều nước trên thế giới.
Để đàn áp tiếng nói và thế lực chính trị của
Oppenheimer, chính phủ Mỹ t́m cách tước mất “thông quan về an ninh/security
clearance”của Oppenheimer với mục đích “làm nhục“để giảm uy tín của
ông qua hệ thống ṭa án. Lewis Strauss, chairman của Atomic Energy
Commission dưới chính quyền của Tổng thống Dwight Eisenhower, toa rập
với TS Edward Teller để thực hiện y đồ chính quyền đang theo đuổi.
Lợi dụng khuynh hướng khuynh tả của Oppenheimer
trước chiến tranh và những liên hệ bạn bè, cá nhân trong gia đ́nh có
những liên hệ hoạt động và cảm t́nh với Đăng Cộng Sản (như đă tŕnh
bày ở trên). Một ṭa án tạm thời kiểu “Kangaroo court” được thiết lập.
Strauss tự đặt ra những luật lệ thuận lợi cho luật sư công tố
(prosecutors) kết án Oppenheimer : Strauss chọn ban bồi thẩm (jury),
chọn tài liệu nên tiết lộ và không nên tiết lộ để đối chất với luật sư
của Oppenheimer, chọn nhân chứng, ra lệnh FBI theo dơi Oppenheimer, và
thậm chí c̣n dùng những tài liệu liên quan qua ḍ thính và thu âm
những cuộc đối thoại của Oppenheimer từ lúc ông về làm ở Los Alamos.
Nhưng ṭa án vẫn không đủ bằng chứng để kết tôi Oppenheimer là đảng
viên Đảng Cộng Sản và có những hoạt động gián điệp cho Liên Bang Xô
Viết. Y kiến chung của cộng đồng khoa học và một số người có thẩm
quyến là “Nếu không tin Oppenheimer với những bí mật nguyên tử của
quốc gia, th́ c̣n ai có thể tin được (If Oppenheimer can not be
trusted with the nation nuclear secret, who could be?)” và nếu
Oppenheimer làm gián điệp cho Liên Bang Xô Viết, th́ tại sao không có
“leak” nào trong suốt thời gian ba năm nghiên cứu và chế tạo bom
nguyên tử tại Los Alamos. Thế nên, ṭa án của Strauss cần một nhân
chứng quan trọng để có thể tước đoạt “security clearance” của
Oppenheimer. Và người đó không ai khác hơn là Edward Teller, người đă
làm việc dưới quyến của Oppenheimer ỏ Los Alamos.
Thời điểm quan trọng xảy ra vào ngày 28 tháng 4 năm
1954, khi Teller làm nhân chứng đưa những bằng chứng cụ thể để kết tội
Oppenheimer. Khi quan ṭa hỏi Teller xem ông có nghĩ Oppenheimer là “a
security risk” cho chương tŕnh phát triển vũ khí nguyên tử của Mỹ
trong tương lai không?; Teller trả lời rằng Oppenheimer sẽ có thểgây
nguy hiểm cho quốc pḥng và sự an ninh của nước Mỹ và đề nghị không
cho Oppenheimer “thông quan về an ninh/security clearance”. Teller nói:
"… To this extent I feel that I would like to see the vital interests
of this country in hands which I understand better, and therefore
trust more." Khi bị ép phải xác nhận rằng security clearance cho
Oppenheimer có thể nguy hiểm đến anh ninh và quốc pḥng của Mỹ, Teller
xác nhận với “cú đá cuối cùng”: ": it would be wiser not to grant
clearance.". Và kết quả là 1954, Ủy Ban bầu với tỉ số 4-1 tước đoạt
security clearance của Oppenheimer, với lư do cho rằng ông thuộc loại
“nguy hiểm cho an ninh/security risk” có thể tiết lộ bí mật bom nguyên
tử cho Liên Bang Xô Viết. Cộng đồng khoa học sau đó đă biệt lập với
Teller cho rằng ông nảy đă “bán đứng” Oppenheimer. Sau sự kiện này,
Oppenheimer như người mất hồn và những tư tín ngày xưa của ông hầu như
tan biến mất. Lúc này, ông xuống cân trầm trọng, c̣n lại khoảng 125
lbs [H́nh 4]. Ông từ bỏ việc giảng dạy và nghiên cứu, về đảm nhiệm
chức giám đốc tại Viện Nghiên Cứu Cao Cấp (The Institute for Advanced
Study) ở thành phố Princeton, New Jersey. V́ Viện này khá biệt lập ở
một địa thế rất yên tĩnh, ông có thể xa lánh cộng đồng khoa học một
khoảng thời gian, có th́ giờ suy ngẫm về nhưng ǵ đă xảy ra, và hy
vọng trong tương lai có cơ hội tiếp xúc được với giới có thẩm quyền
trong chính phủ nhằm thực hiện việc cộng tác quốc tế trong việc dùng
năng lương nguyên tử cho ḥa b́nh. Nh́n ở góc độ khác, một trong những
lư do Teller ra trước ṭa làm chứng, theo thiển ư của người viết, có
thể là : (i) sư ganh tỵ khi Oppenheimer được tướng Groves ủy nhiệm
chức giám đốc cho Oppenheimer mặc dù Teller rất muốn chức vị này; (ii)
trong thời gian trước 1945 ở Los Alamos, Teller đề nghị với
Oppenheimer là nên phát triển A- bomb và hydrogen bomb cùng một lượt;
nhưng Oppenheimer tứ chối phần lớn v́ tích cách cấp bách của chương
tŕnh và (iii) y đồ muốn thực hiện giấc mơ về hydrogen bomb của ông
mà Oppenheimer đă “cản đường”.

H́nh 4. Oppenheimer trong thời gian làm việc ở
Los Alamos (H́nh bên trái) ; và Oppenheimer không lâu sau ngày ông bị
tước mất “security clearance” (H́nh bên phải).
3.4 Oppenheimer dần dần lấy lại một
phần nào uy tín đă mất
Trong thời gian làm việc ở Institute for Advanced
Study, có ba sự kiện quan trọng xảy ra, dần dần đưa Oppenheimer về gần
lại với cộng đồng khoa học và xă hội:
(a) Sư kiện thư nhất là cuộc phỏng vấn của phóng
viên Edward Murrow vào năm 1964. Sự phỏng vấn này đă cho xă hội thấy
Oppenheimer không phải là “death agent” như đă bị tuyên truyền mà là
một người rất dễ mến, có khả năng cắt nghĩa những sư kiện khoa học một
cách ngắn gọn, rành mạch và dễ hiểu ( đây cũng là một yếu tố khiến
Tướng Groves giao Oppenheimer trọng trách lănh đạo kỹ thuật tại Los
Alamos như đă tŕnh bày ở phần trước!) [H́nh 5].

H́nh 5. (H́nh bên trái): Edward R Murrow phỏng
vấn Oppenheimer vào năm 1964 tại Institute for Advanced Study; (h́nh
bên phải): Quần chúng Nhật đón tiếp GS Oppenheimer và phu nhân với cử
chỉ rất thân thiện và nồng hậu (Googles Images).
(b) Sư kiện thư hai xảy ra 1960 khi một hội đoàn lớn
ở Nhật mời GS Oppenheimer và phu nhân đến thăm viếng Nhật. Dân Nhật đă
đón tiếp và đối xử với ông như “anh hùng” và tỏ vẻ rất khâm phục tài
năng của nhà khoa học lớn này [H́nh 5].
(c) Sau này, chính phủ trả lại ông “security
clearance”. Gọi là để “trả lại công đạo”, Tổng thống John F. Kennedy
thông báo là sẽ trao giải Enrico Fermi Award về physics cho GS.
Oppenheimer vào 1963. Nhưng v́ Kennedy bị ám sát trước đó, Tổng thống
Lyndon B. Lyndon phát giải thưởng này cho ông vào tháng 12 cùng năm [H́nh
6].

H́nh 6: Tổng thống Lyndon Johnson trao giải
Enrico Fermi Award về physics cho GS. Oppenheimer năm 1963. (Googles
Images).
GS Oppenheimer mất vào New Year năm 1967, bốn năm
sau khi nhận giải giải thưởng cao nhất trong ngành năng lượng nguyên
tử này.
4. Kết từ
GS Oppenheimer là một nhà khoa học lớn, một người
quản lư tài ba. Nhưng quan trọng hơn cả ông là một người rất yêu nước
Mỹ và nhân loại. V́ không muốn Đức Quốc Xă thôn tính toàn cầu, ông đă
cùng các đồng nghiệp ở Los Alamos đă làm việc ngày đêm không ngừng để
chế tạo thành công vũ khí nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Hitler
cũng muốn thức hiện giấc mơ này với GS Heisenberg- một nhà khoa học
lớn và là một đồng nghiệp của Oppenheimer trong cộng đồng khoa học ở
Âu Châu-; nhưng không thành công. Sau khi chứng kiến sự tàn phá khủng
khiếp của hai trái bom thả xuống ở Hiroshima và Nagasaki, ông phát
động phong trào hợp tác quốc tế về lănh vực năng lương nguyên tử dùng
cho ḥa b́nh của nhân loại. Điều này đi ngược lại với chính sách chung
của chính quyền Truman và chính quyền Eisenhower. Đây cũng là lư do
chính phủ Mỹ muốn giảm uy tín của ông bằng cách tước đoạt “security
clearance” của ông. “Bị làm nhục”, ông trở về Institute for Advanced
Study ở Princeton, một phần để tránh xa những “tiếng thị phi” và để
t́m lại phần nào sự b́nh ân trong tâm hồn. Nhưng rôi, cuộc đời vẫn c̣n
“công bằng” một phần nào đối với ông.
Gần 10 năm sau, xă hội và con người đă trả lại một
phần nào “công đạo” cho ông: Chính phủ Mỹ trả lại ông “security
clearance” và Tổng Thống Johnson trao ông giải thưởng Enrico Fermi,
một giải thưởng có giá trị nhất trong ngành năng lương nguyên tử. Ông
mất vào năm 1967 v́ bệnh ung thư phổi v́ ông hút thuốc gần như liên
tục trong nhiếu năm. Trước khi sắp chết, ông khuyên một người đồng
nghiệp của ông tên là Sam “ đừng nên hút thuốc” và thổ lộ những lời
tâm sự như sau:
“…I’m too much a Jew
Much too much a Christian
Much too much an European
Far much too much an American
For I believe in the meaningfulness of human history and our role in
it. And above all, our responsibility to it.”
5. Tài liệu tham khảo
[1] http://www.ralphmag.org/BJ/teller.html
[2] http://www.wired.co.uk/article/manhattan-project-robert-oppenheimer
Minnesota, the Fourth of July, 2018
|