A series of articles on “Microelectronics and Silicon Valley” –Part 10

Gordon Moore

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

Gordon Moore là một thành viên  trong  nhóm“the Fairchild Eight” và nhóm “the California Group”. Hai nhóm này  đă sáng lập Fairchild Semiconductor vào ngày 18 tháng 9 năm 1957 với sự tài trợ của Sherman Fairchild, một nhà phát minh và cũng là một kỹ nghệ gia. Fairchild Semiconductor sản xuất  sản phẩm thương mại silicon mesa transistors đầu tiên và phát minh planar technology (đồng thời với Texas Instruments) , một trong những mấu chốt căn bản để tạo ra mạch tích hợp (integrated circuits). Moore cũng đă cùng Robert Noyce thành lập Intel vào năm 1968; hăng này sau này trở thành  hăng sản xuất chip lớn nhất thế giới. Một số sự kiện liên quan đến Moore đă được tŕnh bày trong những số trước [1-4]; trong số này chúng tôi sẽ chú trọng về Định luật Moore (Moore’s Law) dự đoán khuynh hướng phát triển  của công nghệ vi mạch vào năm 1965 ngay cả trước khi ông thành lập hăng Intel – định luật này đă và đang dùng như kim chỉ nam cho kỹ nghệ vi mạch trong suốt 50 năm nay.

Từ khóa: Gordon Moore, Moore’s First Law, Moore’s Second Law,  Intel, the Fairchild Eight, Gordon & Betty Moore Foundation, Douglas Engelbart, Carvin Mead, David House, integrated circuits, minimum feature size, transistor counts, microarchitecture, nanotechnology, computer mouse, interactive computing.

1.Câu chuyện bên lề thay lời tựa

Hôm nay chúng tôi đi xem Germaines Lau; nơi người bản xứ tŕnh bày những sắc thái văn hóa của vùng dân ở đảo. Đây là một băi biển “tư” nằm phía tây nam của đảo Oahu. Chúng tôi đến hơi sớm nên có dư được một chút th́ giờ để đi dạo chung quanh, ngắm nh́n cảnh sắc thiên nhiên và những hoạt động ở biển vào lúc hoàng hôn. Trời trong sáng được một lúc với ngàn tia nắng nhảy múa trên mặt biển; rồi những đám mây đen cứ “ùn ùn” kéo đến. Chúng tôi đoán thế nào cũng có mưa tối nay; nhưng vẫn “hope for the best!”. Cơn gió mát rượi, nhẹ nhàng như xoa dịu ḷng người được một lúc, rồi đổi “tune”,  thổi càng lúc càng mạnh làm những ngọn sóng vươn cao bắn tung tóe vào bờ. Tất cả xảy ra đồng bộ như đang chơi một bản hợp xướng thú vị. “ Những ṿng xoắn lăng tăng  con sóng ŕ rào  cuốn vào từ xa làm bước thâm sâu hơn  vào làn cát mịn.Những giọt nước mang lại ân t́nh làm tươi mát buổi chiều thoi thóp theo ánh mặt trời sắp tắt về hướng tây…”. Gió lên cao hơn; vài cánh lá thoi thóp, bay lượn nhiều ṿng như c̣n lưu luyến trước khi  rơi lả tả xuống mặt đường [H́nh 1]

 “…Nếu không có cơn gió mạnh thổi về hôm nay, th́ hàng cây chưa  có thể  cảm nhận được thế nào là sự mất mát khi nh́n những chiếc lá từng cánh lại từng cánh lả tả rơi;
Màu xanh ḥa điệu với màu xanh thẳm của nền trời
Vẫn măi măi thung dung an hưởng như chưa hề có chuyện ǵ xảy ra chung quanh;
Và chắc vẫn  c̣n giữ khăng khăng
Quy luật “nẩy mầm, xanh non, lớn lên, vàng nua rồi ĺa cội”
Đâu phải đợi đến lá “vàng nua” và mùa thu đến mới có thể  nh́n những chiếc lá rơi!?

Nếu không có cơn gió mạnh thổi về hôm nay th́ biển vẫn c̣n im vắng.
Sóng có vỗ vào bờ th́ cũng chỉ là để tạo những điệu nhạc hoan ca.

Gió cho sóng cảm giác được nâng cao, thấu hiểu thế nào là thầm lặng hiền ḥa,
Thiên nhiên bao la, luân chuyển và đàn chim chiều bay rợp bóng hát ca…” 

           

H́nh 1. Sân khấu của Germaines Lau vẫn c̣n vắng khách (h́nh bên trái);
những đám mây đen ùn ùn kéo đến trên ṿm trời (h́nh bên phải).

 

Chúng tôi cứ theo tiếng sóng biển mà đi “tản bộ”. Biển lúc này thưa người. Những bọt sóng trắng xóa tung lên cao với những tiếng “ầm ầm” đứt khoảng và rơ nét. Đi để nh́n biển sóng. Đi để quan sát nhịp sống hài ḥa của thiên nhiên…

Đi được một đỗi, tôi ghé lại  nằm phía trước  một chiếc cḥi vắng khách ,“trải rộng lưng vươn vai” để cảm nhận rơ hơn tiếng sóng động. Văng vẵng đâu đây tiếng cười theo sau vài câu nói “bâng quơ” của bầy trẻ đùa giỡn cuối ngày.

“…Vài vạt năng  cuối ngày trải dài trên vai, len qua tứ chi  cho ḷng một chút ǵ ấm lại.
Từng đốm lại từng đốm trắng   theo con sóng trải dài trên băi cát êm.
Tôi năm nghe tiểng trẻ rủ nhau đi t́m
Những con ốc ṣ phía xa như đi  t́m báu vật...” 

Tiếng nhạc từ chiếc đàn Ukulele lên bỗng xuống trầm nghe thật réo rắt như những tiếng thở than, tâm sự với gió.

“…Người đi qua. Cát vỡ thay màu
Sóng trắng dạt dào.
Dấu chân sâu.
Rộn ră tiếng đàn nghe réo rắt
Từng hồi theo điệu gió vươn cao...” 

Một ông cụ đẩy xe thằng cháu đến ngồi cách chỗ tôi nằm khoảng vài mét. Thằng bé vừa mút tay vừa khóc. Chắc đói bụng hay nhớ mẹ?! Nhưng rồi cậu ta ngừng khóc khi thấy tôi. Thằng bé nh́n và quan sát tôi một hồi lâu. Không biết những ǵ diễn ra trong đầu cậu ta; nhưng có lẽ cậu ta nh́n tôi thấy quen quen v́ có khuôn mặt ngâm đen , vóc dáng Á Châu như ông của nó hay thấy tôi có cái ǵ “là lạ” khiến cho nó “hiếu kỳ”!? Ông cụ thấy lạ v́ chuyện xảy ra bất ngờ này, đưa mặt nh́n tôi và mĩm miệng người như cám ơn tôi. Ông cố gắng nhiều cách dỗ mà thằng bé chẳng chịu nín! Chắc ông đang tâm sự với thằng bé về quăng đời ông đă sống, đă đi qua. Nhưng khổ nỗi, cậu ta có hiểu ǵ đâu để cảm thông, bầu bạn?! 

Mặt trời cũng từ từ lặn về phía cuối chân trời, chiếu xuống cả một vùng đỏ ối. Một chiếc thuyền bồng bềnh  trên mặt nước biển lân tinh. Đi đâu vào giờ này trong ngày?!  

“…Đỏ một vùng. Sáng cả một vùng.
Vàng nâu làm rộn cả không trung
Xa xa thăm thẳm t́m bến đậu
Một chiếc thuyền con lạc mất đường?!...” 

Tôi đứng dậy  đến gần thằng bé và  đưa tay vẫy chào. Thằng bé lại nh́n tôi, h́nh như cảm thấy gần gũi hơn; rồi nở một nụ cười thật hồn nhiên và dễ thương. Sau khi chào ông cụ và trao đổi vài câu chuyện qua loa, chúng tôi tiếp tục đi về hướng có cồn cát  nằm sừng sững bên cạnh cây cầu màu đỏ. Đây là con rạch nhưng có nước chảy chầm chậm như một ḍng sông và cũng có vài người ngồi câu cá… 

“…Ḍng sông cứ măi chảy đều như ḍng đời luân chuyển theo tháng năm
Ḍng thời gian  lúc cạn, lúc sâu đưa ta về theo những con tàu.
Đi xa măi.
Xa thật xa. Càng lúc càng xa bến đậu.
Ngụp lặn theo ngọn nước trầm buồn, vui nhộn lời ca sau những tháng năm qua…
Ḍng sông cứ măi chảy đều như ḍng đời trầm lặng thiết tha
Lời ca hôm qua vẫn c̣n âm hưởng đâu đây, thấm sâu vào đất núi nơi này.
Cho cây xanh đâm rễ sâu vào ḷng đất.

Nhè nhẹ, nhịp nhàng  mang màu mỡ  về cho cây cỏ nở hoa…” 

Nh́n đồng hồ đă 7 giờ tối rồi! Chúng tôi đi vội về hướng Germaines Lau để tham dự buổi tiệc. Không khí ở đây dễ chịu và cởi mở. Đối diện với sân khấu là những dăy bàn sắp ngăn nắp [H́nh 1]. Khách cũng dần dần đến  càng lúc càng đông. Những cô con gái trong trang phục Hawaii với ṿng hoa “lei”  truyền thống bắt đầu đi chung quanh tṛ chuyện với khách. Sau khi uống ly rượu ấm, chúng tôi  được mời đi dự buổi lễ chính của buổi tiệc. Trước hết là phái đoàn “Witness the Royal Court of Polynesia” đi vào khai mạc buổi lễ ngoài trời.   Họ bắt đầu mở nắp kéo con heo quay (Kalua Pua’s) đang  nướng từ trong một cái ḷ  đặt dưới đất (imu) [H́nh 2]. Mùi thịt nướng  ḥa lẫn với hương vị thơm tho của gia vị  tràn ngập cả chỗ chúng tôi ngồi. Sau đó chúng tôi được dẫn về bàn .Và bữa tiệc theo truyền thống Polynesian cũng bắt đầu. Đây là  loại “all-you-can-eat lau buffet”. Thức ăn đại khái gồm có:  thịt heo quay, poi (taro potato), cơm trộn với thịt gà , thịt gà chiên, cá salmon  và một vài loại cá khác mà tôi không biết tên, teriyaki beef, salad bar và các món bánh ngọt đủ loại có cả  chocolate cake , vanilla coconut cake và  haupia (coconut pudding) . Trong khi mọi người đi lấy thức ăn, buổi tŕnh diễn “Polynesian show” cũng bắt đầu với những vũ điệu từ các vùng Samoa, Tahiti , Fiji và Hawaii trông rất ngoạn mục[H́nh 3].

(Tất cả những bức h́nh 1,2 và 3 là do người viết chụp).

      

H́nh 2: Buổi lễ bắt đầu (h́nh bên trái);
Nhân viên của Germaines Lau kéo con heo quay (Kalua Pua’s)
đang  nướng trong một cái ḷ  đặt dưới đất (imu) lên (h́nh bên phải).

 

       

H́nh 3: Các màn tŕnh diễn rất ngoạn mục về văn hóa của người dân ở đảo.

Màn tŕnh diễn văn nghệ diễn ra được nửa chừng th́ mưa bắt rơi. Mọi người bắt đầu “náo động”! Chúng tôi vẫn ngồi yên, “enjoy” the show với hy vọng là mưa cứ nhỏ giọt như thế này thêm một khoảng thời gian nữa. Nhưng “người muốn mà trời không muốn”, mưa càng lúc càng nặng hạt  và “đổ xuống xối xả”. Chúng tôi chạy vào một quán ăn vừa uống cà phê vừa “trốn mưa”. Tiếng mưa đập trên mái lá, vang lên những âm thanh “xào xạt” của cơn mưa rào cuối mùa.

2. Vài nét về Gordon Moore

Gordon Moore sinh ngày 3 tháng giêng, năm 1929 tại San Francisco, và lớn lên ở Pescadero, California. Nhận BS về hóa học, University of California, Berkeley, 1950 và Ph.D. cũng về  về hóa học, California Institute of Technology (Caltech) vào năm 1954. Làm postdoc ở Applied Physics Lab., John Hopkins University cho đến 1956 trước khi gia nhập vào nhóm của Shockley. Ông cộng sáng lập hăng  Fairchild ( nhóm the Fairchild Eight) và Intel (cùng với Robert Noyce). Gordon Moore là một trong những người đầu tiên mà Shockley đă tuyển dụng để đưa về hăng Shockley Semiconductor ở miền bắc California lúc ông làm việc ở ở John Hopkins Applied Physics Laboratory. Lúc mới đến làm việc ở Shockley Semiconductor, chỉ trừ Kleiner (33 tuổi) và Shockley (46 tuổi); những người khác trong nhóm này  đều c̣n trẻ (dưới 30 tuổi) [5,6]. Trong số những người này, có lẽ Noyce là người độc nhất với nhiều kinh nghiệm về germanium semiconductor. V́ bất măn với lối quản ly của Shockley và  với quyết định của Shockley nghiên cứu về pnpn diodes chớ không nghiên cứu về diffused –junction transistors như ông đă hứa lúc ban đầu,  Moore cùng với bảy người khác (cùng nhóm Shockley cũ) quyết định rời Shockley để sáng lập Fairchild. “Vấn đề chính là Shockley không biết quản lư nhân viên.  Ông thường làm những người làm việc cho ông dễ bực ḿnh” như Moore có lần đă nói.”. “Shockley cũng bắt mọi người trắc nghiệm tâm lư để xem thử họ có thể làm việc với nhau có được không.  Shockley c̣n cạnh tranh ngay cả đối với những người làm việc cho ông” Moore tiếp tục [5]. Lúc mới thành lập Fairchild Semiconductor, hăng thực sự không có “real boss”. Noyce lo phần quản lư và khuyến khích mọi người họp tác – một phương cách quản lư hoàn toàn trái ngược với Shockley và trở thành mô h́nh cho kỹ nghệ sau này. Không chức vị, không chỗ đậu xe dành riêng cho cán bộ quản lư và không có cán bộ quản lư trung gian. Vào thời điểm thành lập, Noyce và Last lo phần step-and –repeat camera; Hoerni lo quy tŕnh khuếch tán (diffusion process) và lư thuyết về chất bán dẫn. Moore cũng lo phần khuếch tán cộng thêm việc chế tạo màng mỏng kim loại bằng phương pháp hơi bốc nhiệt (metal evaporation). V́ Moore biết thuật thổi thủy tinh (glass blowing), ông ta chế tạo hầu hết các dụng cụ thủy tinh dùng trong quy tŕnh khuếch tán. Roberts lo phần thành trưởng đơn tinh thể silít (single crystalline silicon) có đường kính  nằm trong khoảng từ 3/8- ¾ inc. thường có dạng thỏi (ingots).; Grinich lo phần kiểm định; Kleiner lo công tác lắp ráp các thiết bị liên quan v́ ông này có tay nghề giỏi về cơ khí. Tất cả tám người trong nhóm tương đối khá gần nhau; họ thường gặp gỡ nhau ngoài giờ làm việc. Noyce đảm nhiệm tổng quát về nghiên cứu c̣n Moore th́ lo phần sản xuất. Thuật microlithography được triễn khai từ  photoresist và etching technology dùng trong printed circuit boards (một phần đến từ Bell Labs). Nhóm thiết kế ḷ nung  nóng (hot zone furnaces) dùng  vào việc đưa impurities  (dopants) vào tấm nền silic. 
Hăng này đă phát minh planar technology và integrated circuits; hai nền tảng căn bản cho kỹ nghệ vi mạch.Sự thành công của Fairchild đă mở đầu cho việc sinh sôi nẩy nở của hơn 400 hăng ở vùng Silicon Valley trong số đó có Intel (Robert Noyce và Gordon Moore) và AMD/Advanced Micro Devices (với Jerry Sanders) [Hinh 4] . Ông đă từng làm Chairman và Chief Executive Officier của Intel cho đến 1987, giữ chức vụ Chairman Emeritus năm 1997 và về hưu vào năm 2006.

        

H́nh 4  : “The Fairchild Eight” nh́n từ trái sang phải: Gordon Moore, C. Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Robert Noyce, Victor Grinich, Julius Blank, Jean Hoerni và Jay Last. ( Fairchild Semiconductor Corp. và Magnum Photos, h́nh bên trái) và Gordon Moore (h́nh bên phải).

3. Moore’s Law

Moore đă đóng góp rất nhiều trong kỹ nghệ vi mạch;,nhưng có lẽ  điều mà rất nhiều người trong và ngoài công nghệ này biết đến là Định luật Moore (Moore’s Law).

3-1 Before Moore’s Law
Trong một buổi nói chuyện tại một hội nghị về computers vào năm 1960, Douglas Engelbart*) , một trong những người tiên phong về interactive computing và là  người phát minh ra con chuột (mouse) đă cho biết rằng mật độ (density) và speed sẽ gia tăng với sự thu nhỏ tầm kích của devices-ông gọi là downscaling- trong tương lai [7-8] . Không biết Moore có ngồi trong buổi nói chuyện này hay không; tuy nhiên một số người không ít cho rằng Engelbart là người đă bắt nguồn Định Luật Moore.

3-2 Moore’s Law
Moore dự đoán lúc đầu là mật độ của devices tăng gấp  đôi mỗi năm khi ông phát biểu lần đầu tiên vào 1965 [9] cho IC sản xuất từ năm 1958- 1965; sau đó ông đổi sang hai năm  khi mật độ các linh kiện điện tử gia tăng. Định luật Moore [10] hiện tại xác định mật độ devices tăng gấp đôi cứ 18 tháng thực sự là do  David House của Intel  thêm vào sau này  (Moore cũng xác nhận là ông không có đề cập con số 18 tháng trong dự đoán của ông!). Một năm , hai năm hay 18 tháng tất cả dù sao cũng đă  xác định khuynh hướng  phát triển chung của công nghệ vi mạch. Tên “Moore’s Law” là do GS Carver Mead  - một trong những người tiên phong về VLSI - ở Caltech đặt ra. Dự đoán này đă ảnh hưởng nhiều và dùng làm đường lối hướng dẫn cho kỹ nghệ vi mạch; giá thành của microprocessors,  sensors, pixel sizes trong digital camera trong cuối thập niên 20 và đầu thập niên 21. Tất cả chỉ định khuynh hướng gia tăng exponential! Đây chỉ là sự quan sát chớ không phải một định luật vật ly hay định luật tự nhiên . Với cái đà tiến triễn về kỹ thuật nhất là trong lănh vực nanotechnology and quantum computing, một số người đoán là Moore’s Law sẽ không c̣n tồn tại lâu nữa [11,12]. Nhiều người đă nói điều  này cách nay 7-8 năm rồi mà vẫn chưa thấy có sư thay đổi nào cả! Moore’s Law vẫn c̣n tồn tại tốt! Trong bao lâu nữa th́ không ai biết!
H́nh 4 và H́nh 5 cắt nghĩa Moore’s Law cho đến năm 2002 và sau này.

 

Hĩnh 4. Moore’s First Law 2002 [13]

 

Fig. 5.  Moore ‘s First Law (continued). Plot of CPU transistor counts against dates of introduction. Note the logarithmic scale; the line corresponds to exponential growth with transistor count doubling  every two years [10]

Gia tăng mật độ của  device cũng có nghĩa là giảm tầm kích của device và giá thành. H́nh 6  diễn tả tầm kích của device giảm theo thời gian từ 10 microns vào năm 1970 giảm xuống đưới 0.1 micron vào khoảng 2010. Các chức năng hoạt động  chẳng hạn như tần số cũng gia tăng gấp nhiều lần như ở  H́nh 7.

 

         

H́nh 6. Tầm kích tối thiểu  (minimum feature size) giảm theo thời gian.  Tầm kích của red cell và AID virus cũng thêm vào đây để so sánh và  tham khảo. [14]

                    

H́nh 7. Tàn số gia tăng 30,000 lần từ 1 MHz (1972) 1972 đến 30 GHz (2009) [14] 

3-3 Moore’s Second Law

C̣n một định luật nữa mà ít người biết hay để y đến: đó là Moore’s Second Law. Định luật này liên quan đến giá thành để xây một cái fab  dựa vào Moore’s First Law. Theo định luật này, tiền tổn phí để xây một cái fab vào khoảng 1 tỉ  đô-la  vào 1992 có thể lên đến 10 tỉ đô-la  vào 2008 [H́nh 8]. Đó cũng là lư do mà các hăng phải bỏ tiền  ra cùng xây một cái fab chung trong những năm gần đây; v́ ngay cả những hăng có “deep- pocket money” như Intel, Toshiba, Samsung cũng khó có thể phụ đảm  lấy một ḿnh.

H́nh 8. Moore’s Second Law.

3-4 Áp dụng của Moore’s Law vào những lănh vực khác
Theo thiển ư của người viết, những lănh vực nào có liên quan đến công nghệ vi mạch đều theo đinh luật này. Một thí dụ điển h́nh la lănh vực  lưu trữ dự liệu (data storage) mà người viết  đă có cơ hội làm công tác nghiên cứu [H́nh 9] . Từ sản phẩm đầu tiên vào năm 1956, mật độ storage  của  hard disk drive (HDD) đă gia tăng cả tỉ lần ; mật độ trên đơn vị diện tích (the areal density)   cũng gia tăng gấp đôi cứ mỗi 18 tháng (tương tự như Moore’s First Law) đến 200 Gbits/cm2 gần đây.

H́nh 15. Mật độ lưu trữ (storage density)  gia tăng khoảng cả tỉ lần
trong suốt hơn 50 năm kể từ khi sản phẩm đầu tiên được đưa vào thị trường [15]

4. Những h́nh ảnh khác

H́nh 16 : (H́nh bên trái) Moore chụp sau này với “the Fairchild Eight” và một số đồng nghiệp khác.
(California Historical Society/Wayne Miller/Magnum Photo).

(H́nh bên phải) chụp với Robert Noyce ở Intel (Yahoo images)

 

H́nh 17. Với Robert Noyce (bên trái) và với Noyce và Andy Grove (bên phải). H́nh chụp ở Intel 1970 (Yahoo images).

5. Lời kết

Moore đă đóng góp rất nhiều trong công nghệ vi mạch: chẳng những về kỹ thuật mà ông có hướng dẫn rất nhiều thế hệ đến sau trong việc bành trướng Silicon Valley như ngày hôm nay. Ông c̣n đóng góp rất nhiều trong công tác từ thiện và giúp đỡ thiết lập các trung tâm nghiên cứu.  Một trong những thí dụ điển h́nh là ông và vợ ông đă thiết lập Gordon & Betty Moore Foundation vào tháng 9 năm 2000 nhằm  nghiên cứu về sinh học, môi trường và patient care.

 5. Tài liệu tham khảo

.[1] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-8-Fairchild-Semiconductor.htm
[2] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-7-The-Fairchild-Semiconductor.htm
[3] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-6-The-Fairchild-Eight.htm
[4] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-9-Robert-Noyce.htm
[5]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-6-The-Fairchild-Eight.htm
[6]
Moore is a director of Gilead Sciences Inc., a member of the National Academy of Engineering, and a Fellow of the Royal Society of Engineers. Moore also serves on the board of trustees of the California Institute of Technology. He received the National Medal of Technology in 1990 and the Medal of Freedom, the nation's highest civilian honor, from George W. Bush in 2002
[7] Markoff, John (18 April 2005). “It’s Moore’s Law but another had the idea first”. The New York Times. Archived from the original  on 4 October 2011. Retrieved 4 October 2011.
[8]
Markoff, John (31 August 2009). “After the transistor, a leap into the microcosm” The New York Times. Retrieved 2009-08-31. Predictions of similar increases in computer power had existed years prior. Moore may have heard Douglas Engelbart , discuss the projected downscaling of integrated circuit  size in a 1960 lecture.  A New York Times article published August 31, 2009, credits Engelbart as having made the prediction in 1959. (http://en.wikipedia.org/wiki/Moore%27s_law)

 [9] Moore's original statement that transistor counts had doubled every year can be found in his publication "Cramming more components onto integrated circuits", Electronics Magazine 19 April 1965. The paper noted that the number of components in integrated circuits had doubled every year from the invention of the integrated circuit in 1958 until 1965 and then concluded:
”The complexity for minimum component costs has increased at a rate of roughly a factor of two per year. Certainly over the short term this rate can be expected to continue, if not to increase. Over the longer term, the rate of increase is a bit more uncertain, although there is no reason to believe it will not remain nearly constant for at least 10 years. That means by 1975, the number of components per integrated circuit for minimum cost will be 65,000. I believe that such a large circuit can be built on a single wafer.”

 [10] The term "Moore's law" was coined around 1970 by the Caltech professor,VLSI pioneer, and entrepreneur Carver Mead in reference to a statement by Gordon Moore.

[11] http://www.cnet.com/news/a-moores-law-for-computers-and-energy-efficiency/ and http://en.wikipedia.org/wiki/Moore%27s_law

[12] http://www.cnet.com/news/a-moores-law-for-computers-and-energy-efficiency/

[13] Nang Tran: Thin film technology. University of Minnesota 2007.

[14] ITRS (International Technology Roadmap Semiconductor) and R. Romen et al. “Coming challenges in microarchitecture and architecture”, Proc. IEEE vol. 83, No. 3, 2001, 325-329.

[15] E. Grochowski, www.almaden.ibm.com/sst/

 

(*)  

Douglas Carl Engelbart (Jan.30, 1925-July 2, 2013): BS from Oregon State College  and PhD from UC Berkeley. Best known for his work on human-computer interaction (interactive computing). He was the co-inventor of the computer mouse while working at  SRI International and was instrumental in  the development of hypertext, network computers, and precursors to  graphical user interface. He demonstrated these features in the famous  “The Mother  of All Demos” in 1968  at SRI International. (http://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_Engelbart).

Some of his famous quotes:

“The digital revolution is far more significant than the invention of writing or even printing”

(Douglas Engelbart)

“In 20 or 30 years, you’ll be able to hold in your hand as much computing knowledge as exists now in the whole city, or even the whole world.”

(Douglas Engelbart)