A series of articles on “Microelectronics and Silicon Valley - Part 12     

Stanford Industrial Park

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

 

“Stanford Industrial Park is established as a high tech center by businesses working in close partnership with the university. Among the first companies to rent space in the Park were Varian Associates, General Electric, and Eastman Kodak and Shockley Semiconductor”

Silicon Valley tọa lạc chung quanh Stanford University, trải rộng từ phía đông của San Francisco Bay, qua phía tây của Santa Cruz Mountains và nằm về phía đông nam của Coast Range. Vào đầu thế kỷ 20th, đây là một vùng trồng trái cây như trái mơ (apricot), mận (plum) và trái anh đào đỏ (cherry), được biết với cái tên “the Valley of Heart’s Delight”. Theo tài liệu của Carolyn Tainai , th́ 60 năm trước, Stanford University gặp phải vấn đề về tài chánh trong kế hoạch phát triển nhanh chóng trường để đáp ứng nhu cầu đ̣i hỏi sau chiến tranh, ban lănh đạo của trường quyết định chuyển nhượng môt phần đất trong số 8.000 acres của trường -do Leland Stanford, thống đốc của California chuyển nhượng lúc trước- cho những các hăng xưởng trong ṿng 99 năm. Từ đó manh nha ra “Stanford Industrial Park” vào thập niên 50’s. Mục đích chính là xây dựng một trung tâm kỹ nghệ cao và tạo cơ hội để những hăng xưởng này làm việc với trường theo chủ trương của GS Fred Terman [1], phân khoa điện của đai học. Ông muốn sinh viên tốt nghiệp ở lại vùng Cali thay v́ phải đi khoảng 3.000 miles về làm việc ở vùng East Coast. Khách hàng đầu tiên kư khế ước với Stanford University là Varian Associates vào năm 1951; và sau đó những hăng dời vào ṭa nhà đầu tiên của trung tâm là Eastman Kodak, General Electric, Preformed Line Products, Admiral Corporation, Shockley Semiconductor của Beckman Instruments, Lockheed, Hewlett-Packard và nhiều hăng khác nữa [2] 

Từ khóa : Honolulu Marathon, Japan Airlines, Gilbert Chepkwony, Ehitu Kiros, Don Hoefler, Stanford Industrial Park, Stanford Research Park, Fred Terman, Lee De Forest, Hewlett Packard, Varian Associates, Shockley Semiconductor, Honors Cooperative Program, Steeple of Excellence

1. Câu chuyện bên lề thay lời tựa

Về thứ hạng, Honolulu Marathon lớn thứ hai của Mỹ, sau Chicago Marathon. Honolulu Marathon có một hành tŕnh dài  26.2 mile ( 42.2 km) , được tổ chức mỗi năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 12 và  rất thịnh hành đối với những người mới chạy marathon lần đầu. Năm 2013, Marathon này  nhằm vào ngày 8 tháng 12 với 29 ngàn người tham dự, trong số đó hơn một nửa là du khách từ Nhật, c̣n lại đến từ nhiều nơi trên thế giới, từ nội địa Mỹ và những đảo lân cận. Cũng có những vận động viên marathoner nổi tiếng đến tham dự. Cơ quan tài trợ chính của marathon  này là Japan Airlines và số tiền lợi tức  cho kỳ marathon năm này ước lượng khoảng 135 triệu đô-la.. Nói về lịch sử th́ Honolulu Marathon do thị trưởng Frank Fasi sáng lập vào năm 1973, mô phỏng theo Chicago Marathon. Lúc mới bắt đầu Marathon thu hút đước 167 người tham dự; con số này lên đến 34.434 vào năm 1995 và sau đó giảm xuống  một ít tùy theo từng năm.
Cuộc chạy  bắt đầu gần Ala Moana Beach Park đối diện với Ala Moana Center; đi về hướng tây dọc theo water front ngang qua thành phố Honolulu, chạy ngược về hướng đông  xuyên qua Waikiki , bọc quanh Diamond Head rồi đi về hướng ngoại ô của Honolulu, qua Hawaii Kai trước khi trở về finish line ở Kapiolani Park [H́nh 1, ben trái].  Nên nhớ là Ala Moana Center và  Kapiolani Regional Park (300 acre) là shopping mall và công viên lớn nhất của Hawaii. Kapiolani
Park  được đặt theo tên  hoàng  hậu Kapiolani, bao gồm Waikiki Shell và Honolulu Zoo nợi marathon chấm đứt. Trung b́nh mỗi năm, có khoảng 25.000 người chạy hết marathon này từ đầu đến cuối. Năm nay , người chạy nhanh nhất là Gilbert Chepkwony của Kenya với 2:18:46 (phái nam, H́nh 2 – bên phải ) và  Ehitu Kiros  của Ethiopia với thời gian là 2:36:02 (phái nữ).

               

H́nh 1 :Tác giả  chụp ké (trái);
một cặp tân hôn với bộ áo cưới cũng tham dự (phải). Let’s all have fun! 

Chúng tôi thức dậy vào lúc 3:00 sáng, lái xe về hướng Alamona Park, đậu nhờ tại nhà một người quen rồi bắt đầu đi bộ về hướng khởi hành của marathon. Gió mát lạnh cả mặt. Con đường sáng nay không có xe chạy, chỉ có  đoàn người bộ hành nối đuôi nhau đi. Người đến đây từ nhiều nơi và thuộc nhưng lứa tuổi khác nhau thuộc nhiều thế hệ: từ những người “già” như tôi hay cao niên hơn đến những em bé c̣n ngồi trên xe mẹ đẩy.

“…Thời gian thắm mượt đời tôi
Sáng nay rộn ră tiếng cười
Hương gió biển, hương cỏ cây, đồng nội
Cùng về đây “aloha” đón mời…”

Thậm chí có những cặp tân hôn với bộ áo mới cưới cũng nắm tay nhau đi “giung giăng giung giẻ”  trên đường phố [H́nh 1, bên phải]. H́nh như mỗi người về đây có một tâm sự và niềm vui riêng. Về đây để hưởng thụ. Về đây để tạm quên đi những khó khăn, dằn vặt trong cuộc sống. Về đây để bắt đầu! Về đây để cùng ghi lại một kỷ niệm!

“…Đêm chưa qua hết  mà ngày h́nh như đă đến
Người vồn vă người. Cỏ cây ôm ấp cỏ cây.
Trời cao leo lét vài đốm sao, ḥa cùng ánh điện đường.
Người hỏi chuyện người trong t́nh tự thân thương
Ca khúc nhịp nhàng.
 Tiếng gió reo vang. Chào đón một ngày vui!...

Không biết người đến từ đâu? Vài người. Chục người. Trăm người. H́nh như người  đến từ khắp nẻo! Từ góc phố, con đường, người càng lúc càng đông.

“…4 giờ sáng. Người đến, người đi. Con phố đă trở nên tấp nập. Tiếng nó. Tiếng cười. Những khuôn mặt tràn đầy vui tươi. Ngôn ngữ có khác nhau; chỉ biết được rằng mọi người đang an hưởng với đời. Nhịp sống trở nên nhẹ nhàng, rộn ră niềm tin. Đủ vóc dáng. Đủ h́nh hài. Người đi xe đạp, theo sau chú chó màu  nâu. Người bước nhanh; và hai em bé cũng rảo bước đi mau cho kịp. Một cặp vợ chồng người Nhật mới cưới chầm chậm bước đi trong bộ quần áo mới. Tay trong tay. Vuốt mặt đón mời buổi sáng cuộc đời. Trinh nguyên trong trắng muôn nơi…”

Pháo bông đủ sắc màu làm sáng cả một vũng trời đen Tiếng máy phóng thanh từ khán đài át hẳn tiếng cười nói của mọi người [H́nh 2, bên trái].

“…Pháo bông nổ tung làm sáng một vùng trời c̣n tối
Đủ sắc màu tươi với những tiếng “tạch đùng”
Tiếng kèn thổi lên xé nát không trung
Em bé cảm thấy thích thú, nh́n mẹ cười khú‎c khích…”

Người xướng ngôn viên nói tiếng Anh xong rồi chuyển qua tiếng Nhật v́ du khách Nhật quá đông. Tôi có cảm tưởng là đang đứng giữa phố Fukuoka, miền nam nước Nhật vào dịp Hakata Dontaku Minato Matsuri vào tháng năm  hay Hakata Gion Yamakasa vào tháng bảy mỗi năm. Nếu ở đây có vài quán “Yatai” nữa th́ tuyệt!

5:00 sáng: Marathon bắt đầu.

“…Mọi người bắt đầu tham dự Honolulu Marathon
Trong cuộc chơi này không có người thua lỗ.
Tất cả đến đây để“have fun!”; để  sống trọn một ngày
Chuyện thắng thua như cơn gió heo may…”

Hai đứa con chúng tôi cũng đi sắp hàng tham dự. V́ số người đông quá, nên không thấy start line ở đâu cả; tôi đoán phải mất ít nhất 10 -15 phút mới ra khỏi điểm khởi hành  này. Có những người có khuôn mặt rất nghiêm trang, nhưng phần lớn “take it easy” và’ have fun”. Dù sao đi nữa đây cũng là dịp để thử thách với chính ḿnh sau nhiều tháng ngày “huấn nhục”. 

“…5 giờ sáng. Pháo bông rực sáng  đầy trời. Phút giây bắt đầu và chấm dứt những tháng ngày  đợi chờ bao lâu nay. Những năm tháng rán công rèn luyện giờ sắp trôi qua trong phút chốc! C̣n lại đây vài khoảnh khắc hồi họp đợi chờ! Tiếng nói từ khán đài. Diễn văn khai mạc. Mạnh người nói cứ nói. Ai muốn nghe cứ nghe. Những người đứng bên đường với chiếc loa hét đến  khan cả cổ.  Người người về đây hôm nay “Have fun!...

                  

H́nh 2: Khán đài bắt đầu hoạt động từ lúc 4:30 sáng; (trái)
Gilbert Chepkwony của Kenya chạy về nhất với thời gian 2:18:46 ( [3], (phải) 

Một vài tiếng đồng hồ sau khi  máy phóng thanh loan báo người đầu tiên về tới đích (Gilbert Chepkwony), chúng tôi thấy số người cũng bắt đầu trở về. Tôi và nhà tôi đi từ từ  dọc theo những hàng cây Banyan trong công viên. Loại cây này rất nhiều ở đây và có những h́nh thù rất đạc biệt.  Đoạn đường khá dài; có người  chạy, có người đi bộ; nhưng hầu hết quyết tâm sẽ về tới finish line [H́nh 3].  

            

H́nh 3 : Chạy mệt rồi lại đi (trái) ;
nhưng cuối cùng cũng về tới đích (phải).

“…Người chạy nhanh. Người đi chậm cười vui
Cứ bước.
Chân cứ lê theo những bước chân cùng bước.
Quen lạ gần xa, người theo người lần lượt
Tay vẫy tay chào đón những nụ cười
Một ngày lên rộn ră buổi sáng mai…”

Sau cuộc chạy, mọi người đều hồ hởi, mặc dù khá thấm mệt  với mồ hôi chảy nhễ nhại trong khí trời nóng gắt của vùng nhiệt đới [H́nh 4]

             

H́nh 4: Hai đứa con chúng tôi chụp chung với mẹ trước khi khởi hành vào lúc 4:39 sáng (trái)
và sau khi về tới finish line (h́nh bên phải). Có mệt mà vui! Mission accomplished!

 

2. Silicon Valley có từ lúc nào?

Tên Silicon Valley do kư giả Don Hoefler gọi  trong bài viết  số tháng giêng, 1971 trong tạp chí hàng tuần Electronic News. Silicon Valley tọa lạc chung quanh Stanford University, trải rộng từ phía đông của San Francisco Bay, qua phía tây của Santa Cruz Mountains và nằm về phía đông nam của Coast Range. Vào đầu thế kỷ 20th, đây là một vùng trồng trái cây như trái mơ (apricot), mận (plum) và trái anh đào đỏ (cherry), được biết với cái tên “the Valley of Heart’s Delight”. Lịch sử của vùng Silicon Valley có thể tóm tắt ở H́nh 5. Silicon Valley có tự lúc nào? Đây là câu hỏi mà mỗi nhóm có một câu trả lời khác nhau. Có một số không ít chuyên gia, sử gia cho rằng Silicon Valley có từ 1932 với  Hewlett-Packard và GS. Terman của Stanford  là cha đẻ của Silicon Valley; một nhóm khác cho rằng Silicon Valley có từ khi Shockley mang silicon đến vùng Bay Area vào năm 1957. Theo thiển ư của người viết th́ Stanford Industrial Park do GS Fred Terman của Đại học Stanford   thành lập đă bắt nguồn xây nền tảng sau này cho kỹ nghệ high-tec ở  vùng Santa Clara Valley; tuy nhiên Silicon Valley thực sự bành trướng từ lúc Shockley và nhóm “Fairchild Eight” mang silicon đến vùng Santa Clara. Một sự thực không ai chối căi được là Shockley đă mang silicon đến Silicon Valley. Nếu Shockley không thành lập Shockley Semiconductor ở  miền bắc California mà đi về vùng nam Cali. hay đi về Route 128 ở Massachusetts th́ những vùng này có thể đă trở thành Silicon Valley [2,5]. Nên nhớ là vào thời điểm Shockley về vùng Santa Clara, vùng East Coast rất phát triễn với nhiều kỹ  nghệ và venture capital ; và Stanford lúc đó chỉ là một đai học nhỏ so với MIT [6]. Sự thành công và lớn mạnh của một trung tâm kỹ nghệ lớn như Silicon Valley không phải do một người trong một sớm một chiều mà làm nên ; mà do sự đóng góp của rất  nhiều người qua nhiều giai đoạn khác nhau. Nhưng nếu phải trung thực mà nói, th́ Shockley và Terman là “grand fathers” ; c̣n “The Fairchild Eight”, Hewlett & Packard, anh em Varian và De Foster là  “fathers” của Silicon Valley. Cũng nên ghi nhận nơi đây là Lee De Forest [H́nh 6] là  một nhân vật đă  góp phần quan trọng trong việc mang kỹ thuật điện tử đến Santa Clara Valley. Ông này nhận PhD từ Yale vào năm 1899. Dời đến San Francison vào năm 1910. Phát minh triode vacuum tube  vào năm 1907, chế tạo  Audion tube (or triode amplifier) dùng như amplifier (để khuếch đại tín hiệu)   vào năm 1912 và bán cho hăng  điện thoại để dùng trong hệ thống điện thoại xuyên lục địa (transcontinental wired phone calls)  với giá tiền $50,000. Sản phẩm thương mại triode amplifier đầu tiên được chế tạo vào năm 1912 khi ông De Forest c̣n làm việc ở  Federal Telegraph Co. ở Palo Alto. Đây là lần đầu tiên  vacuum tube có thể khuếch đại  tín hiệu 120 lần ; đánh dấu  sự nẩy sinh của kỹ nghệ điện tử; mở cửa cho sự nẩy mầm của radio, TV, radar, tape recorders và computers [6]

 

H́nh 5: Lịch sử của Silicon Valley [4]

 

H́nh 6  : GS Terman (bên phải) chụp chung với hai sinh sinh viên cao học của ông : David Packard (trái) và Bill Hewlett (phải) nhân dịp lễ khánh thành Terman Engineering Building vào năm 1952.. Terman cũng là người đă khuyến khích Hewlett và Packard mở hăng điện tử để thực hiện ước mơ của hai ông này  (Stanford News Service).


Lee De Forest : cha đẻ của radio (Computer History Museum)

 

3.  Stanford Industrial Park

Theo tài liệu của Carolyn Tainai [7], th́ vào năm 1950, Stanford University gặp phải vấn đề về tài chánh trong kế hoạch phát triển nhanh chóng trường để đáp ứng nhu cầu đ̣i hỏi sau chiến tranh, ban lănh đạo của trường quyết định chuyển nhượng môt phần đất trong số 8.000 acres của trường -do Leland Stanford [H́nh 8, bên phải], thống đốc của California  và là người sáng lập ra Stanford University chuyển nhượng lúc trước- cho những hăng xưởng trong ṿng 99 năm. Từ đó manh nha ra “Stanford Industrial Park” hay gọi tắc là Park hay  SIP vào thập niên 50’s [H́nh 7]. Mục đích chính là tạo trung tâm kỹ nghệ cao và tạo cơ hội để những hăng xưởng này làm việc với trường theo chủ trương của GS Fred Terman, thuộc phân khoa điện của đai học [H́nh 7,  bên trái , ref.1],. Vào năm 1951, 209 acres của Stanford được chấp thuận dùng để xây Stanford Industrial Park.  Khách hàng đầu tiên là Varian Associates, có liên hệ mật thiết với Stanford. Ư tưởng thành lập SIP là kết quả sau cuộc viếng thăm  Denver, Colorado của Al Brandin, phó giám đốc ngoại vụ của trường. Park  này cũng dùng  để thực hiện kế hoạch chính  của Terman [H́nh 8, bên trái]: ông này muốn biến Stanford University từ một đại học địa phương với khó khăn kinh tế sang một đai học có tầm cỡ quốc tế như MIT.

H́nh 7: Stanford Industrial Park vào thập niên 50s.   

Terman tốt nghiệp BS và MS ở Stanford, sau đó nhận PhD từ MIT dưới sự hướng dẫn của Vaneevar Bush, một nhân vật có nhiều uy tin và ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ Mỹ trong thời gian chiến tranh. Chính ông Bush là người đă ảnh hưởng nhiều trong việc xin chính phủ Mỹ đầu tư nhiều vào đại học  sau chiến tranh. Terman nhận thấy tận mắt điều quan trọng của việc chính phủ Mỹ đầu tư, nên lợi dụng kế hoạch đầu tư của Bush  và cũng đă nhận thấy mô h́nh MIT thành đại học có tầm cỡ quốc tế  v́ sự cộng tác mật thiết với những hăng xưởng lân cận. Terman muốn thực hiện giống như vậy ở Stanford, nhưng khổ nỗi là chung quanh Stanford lúc đó 1946  là  các nông trại trồng hoa quả. Và việc này cần phải thay đổi! Terman lập tức tạo dựng  khả năng nghiên cứu ở School of Engineering vào năm 1946 và ông được cử làm Dean. Ông đề nghị thể chế “salary splitting”; i.e., cán bộ giảng huấn  bắt buộc t́m hăng hổ trợ, chính nhất là chính phủ, để cung cấp cho đến 50% tiền lương của họ.  Bộ Quốc Pḥng (Department of Defense)  hổ trợ nhiều nghiên cứu dẫn đến  hệ thống vũ khí tiên tiến (advanced weapons systems) v́ lúc đó  chiến tranh lạnh với Liên Xô cũng đang bắt đầu.
Terman muốn cán bộ giảng huấn xin nhượng nguồn tài trợ này.  Terman rất áy náy lúc đó v́ những sinh viên ưu tú ngay sau khi xong cấp Maters và PhD phải  đi làm việc ở vùng East coast, v́ nơi có công ăn việc làm tốt. Thế nên ông bắt chước mô h́nh của MIT , ở đó nghiên cứu của đại học có liên hệ trực tiếp đến sản phẩm thương mại cho những hăng chung quanh Park. Và những sinh viên làm việc ở những hăng này sẽ tạo những mối dây quan hệ tốt giữa đại học Stanford và kỹ nghệ trong  
Stanford Industrial Park. Để thu hấp những hăng có R&D vào SIP, ông tạo “Honors Cooperative Program (HCP). Trong chương tŕnh này,  nhân viên của những hăng nằm trong Park có thể lấy lớp ở Stanford  để học cấp Masters và PhDs.  Hăng trả “double tuition”  và việc này  gia tăng lợi tức  cho khoa. Chương tŕnh này vẫn c̣n tiếp tục cho đến ngày hôm này qua các chương tŕnh trên Internet. Một hấp dẫn nữa của SIP  là v́ Park và trường rất gần nhau về địa ly, nhân viên giảng dạy được dành một ngày mỗi tuần  làm công tác cố vấn; tạo ra lợi tức thêm cho những nhân viên này. Đây cũng cho cán bộ giảng huấn biết về nhưng hăng này và công việc của họ để giới thiệu sinh viên đến làm sau khi tốt nghiệp. Nội dung lớp học cũng thay đổi và nhiều khoa  (department)  mới cũng thành lập để thích ưng với nhu cầu mới.

Vào thập niên 50s, nhận thức được sự quan trọng của  ngành vật ly chất rắn (solid state physics) sau sự phát minh transistors của Bell Labs, ông chiêu mộ những khoa học gia  trong ngành về làm việc cho trường và mở “Steeple of Excellence”.Ông cũng lập nên  “Industrial Associates Program” trong lănh vực solid state electronics.  Vào cuối thập niên 50’s, ông nhắm vào 22 hăng  mời vào chương tŕnh này và mỗi hăng đóng góp “món quà được trừ thuế”  mỗi năm là  năm ngàn đô-la.  Chương tŕnh này lan rộng đến những khoa khác; và sau này có cái tên chung là Industrial Affiliate Programs. Ngày hôm nay, có khoảng 40 programs như thế này ở Stanford, mang lại cho trường một “gift income” trên 10 triệu đô-la.
Varian là thí dụ điển h́nh. Varian là first tenant của Park là thành lập do kết quả nghiên cứu từ Stanford  và năm 1948 do khế ước với chính phủ. V́ hăng bành trướng rộng và   cần thêm space nên vào năm 1950 dời về SIP. Terman nằm trong Board of Directors của Varian, nên khuyến khích hăng dời cơ sở R&D về Park.  Tháng 10, 1951, một khế ước được kư chuyển nhượng 10 acres
 trong ṿng 99 năm cho Varian. Varian trả 41.000 đô-la . Sau đó Eastman Kodak kư họp đồng tương tự trả 120.000 đô-la cho 10 acres vào tháng 11 năm 1952. Một điều kiện của những khế ước này là khi 99 năm măn hạn tất cả ṭa nhà sẽ phải trả lại cho Stanford Park. Năm 1955, Terman đảm nhiệm chức Provost, lúc đó ông khuếch trương rộng chương tŕnh  “Steeples of Excellence” đến những khoa khác trong trường.  Năm 1956, HP chọn SIP  làm headquarter. David Packard [H́nh 6] là member của the Stanford Board of Trustee, làm việc với Terman trong công tác bành trướng hoạt động của SIP. Năm 1960, Park có 40 hăng ; và Terman và Packard đề nghị và thành công trong việc bành trướng Park đến 450 acres. Park  giờ trở thành hall mark của Silicon Valley có một cái nh́n khang trang hơn với nhiều băi cỏ mới và khu giải trí cho nhân viên và gia đ́nh - tạo một nơi thoải mái trong lúc làm việc. Một trong những tenants có ảnh hưởng rất lớn trong Park  là Shockley Semiconductor do Shockley sáng lập vào 1957. Terman lúc đó liên lạc với Shockley tŕnh bày những lợi điểm  của việc dời hăng  về gần Stanford và mời Shockley dạy ở Stanford

                 


H́nh 8  :  (h́nh bên trái):  GS Federic Terman của Đại học Stanford (BS, MS Stanford , Ph.D, MIT 1924) ; (h́nh bên phải): Leyland Stanford, cựu thống đốc của tiểu bang Minnesota. Ông này c̣n là một nhà kinh doanh về đường xe lửa, và mang lao động từ Trung Hoa sang Mỹ. Ông cũng là người sáng lập ra Stanford University.

 

4. Lời kết

Vào cuối 80s, Park lan rộng đến 660 acres với hơn 100 hăng.  Và đổi tên là Stanford Research Park, để thích họp  với sự liên hệ giữa Park và Stanford University. Tenants kể cả Varian, Hewlett-Packard, Ampex, Lockheed Space and Missile Division, và Xerox Palo Alto Research Laboratory.  Park có  lợi tức trên $6M mỗi năm  từ tiền cho thuê và đầu tư  ban đầu. Nhiều hăng xưởng đóng góp cả hàng trăm triệu mỗi năm, điển h́nh là  Terman Engineering Building do HP đóng góp. Stanford Research Park trở thành nổi tiếng và được dùng làm mô h́nh cho nhiều trung tâm khác trên thế giới. Hiện tại Park này  có 700 acres, 10 million square feet về  buildings và  thiết bị, với 23.000 nhân viên từ  150 hăng với 162 ṭa nhà.  Hăng nghiên cứu nhiều lănh vực kể cả   electronics, space, biotechnology, computer hardware and software, law offices và consulting firms [8].

 

5. Tài liệu tham khảo

[1] Links Between Stanford University and Industry, by  Carolyn Tajnai, 1995

[2] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Part-11-Silicon-Valley.htm

những số trước  đang trong ERCT.

[3] Yahoo Images

[4] Dong-Hyuk Ju and K. Knight, 201
[5] Những bài viết kế tiếp sẽ cung cấp tư liệu để độc giả tự  nhận xét lấy.

[6] Tom Foremski - May 11, 2011

[7] Carolyn Tainai: “Fred Terman,The father of Silicon Valley”, 1995.

[8] Jon Sandelin, Stanford University 2004.