A series of articles on “Microelectronics and Silicon Valley - Part 15 

Hewlett Packard

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

" Investing in new product development and expanding the product catalog
are the most difficult things to do in hard times, and also among the most important." 
(Hewlett- Packard)

 

Theo thiển ư của người viết th́ Stanford Industrial Park do GS Fred Terman của Đại học Stanford thành lập đă bắt nguồn xây nền tảng sau này cho kỹ nghệ high-tec ở vùng Santa Clara Valley; tuy nhiên Silicon Valley thực sự bành trướng từ lúc Shockley và nhóm “Fairchild Eight” mang silicon đến vùng Santa Clara. Một sự thực không ai chối căi được là Shockley đă mang silicon đến Silicon Valley. Sự thành công và lớn mạnh của một trung tâm kỹ nghệ lớn như Silicon Valley không phải do một người trong một sớm một chiều mà làm nên ; mà do sự đóng góp của rất  nhiều người qua nhiều giai đoạn khác nhau. Nhưng nếu phải trung thực mà nói, th́ Shockley và Terman là “grand fathers” ; c̣n “The Fairchild Eight”, Hewlett & Packard, anh em Varian và De Foster là  “fathers” của Silicon Valley

HP là một hăng lớn dược chính thức sáng lập vào ngày 1 tháng giêng năm 1939 với  sản phẩm đầu tiên là bộ giao động âm tần (audio oscillator). Đây cũng là thí dụ điễn h́nh nhất về sự hợp tác giữa Đại học Stanford, chính phủ liên bang và các xí nghiệp tư ở Mỹ. Hăng có trụ sở chính tại Palo Alto chuyên về hardware, software, các máy móc cung cấp cho nhu cầu  của các xí nghiệp tầm cỡ nhỏ và trung (small and medium sized businesses- SMBs) và xí nghiệp lớn, kể cả các cơ quan chính phủ và cơ quan về sức khỏe và giáo dục.HP là "chim đầu đàn" trong lănh vực sản xuất PC từ năm 2007. Phần lớn sự lớn mạnh của HP trong ṿng 30 năm là từ các dịch vụ về tính toán (computing business). Hăng chế tạo máy tính khoa học cầm tay (hand-held scientific calculatror) đầu tiên vào năm 1972 và kỹ nghệ HP laserjet printer  vẫn c̣n chiếm ưu thế trên  thị trường cho đến ngày hôm nay. HP nằm trong Global Fortune 50 và là hăng lớn nhất ở Silicon Valley về tiền thu nhập (revenue) vào năm 2010. Năm 2014, tiền thu nhập  là 111,454 tỉ đô-la  với lợi tức điều hành (operating income) 7,185 t́ đô-la [1]. 

Từ khóa: Bill Hewlett, Dave Packard, Federick Terman, Stanford University, audio oscillator, Palo Alto, Charlie Litton, Russel Varian, Silicon Valley, Addison Avenue,  Page Mill Treet, El Camino Real, Lucille Salter, Flora Lamson. 

1. Câu chuyện bên lề (Lời giả từ Aloha)

Chỉ c̣n 12 giờ đồng hồ nữa là chúng tôi sẽ rời "Aloha State", lên phi cơ về lại Minnesota. Hai tháng trôi qua quá nhanh! Cứ ngỡ như ḿnh mới đến đây ngày hôm qua! Cái tên đảo O'ahu lúc trước nghe xa lạ bao nhiêu; giờ trở thành gần gủi bấy nhiêu!  Hawaii có  một cái ǵ rất Á Châu, rất thân thương và triều mến.

Người ở đây b́nh dị, thân thiết và cởi mở... Đi đến đâu, tôi cũng được chào với  "Brahs hay Braddah- có nghĩa là anh em) với nụ cười mời đón của một người thân trong gia đ́nh. Đây cũng là điểm khác với những tiểu bang trong nội địa và có vẻ giống  "Việt Nam" khi xưng hô với nhau- người ḿnh thường gọi nhau bằng chú bác, cô, d́, anh, em, cháu, con tùy theo tuổi tác mặc dù chưa quen biết nhau!. 

O’ahu có nhiều nét “rất Việt Nam” và cũng “rất Nhật”. “Rất Việt Nam” về khung cảnh thiên nhiên với núi đồi, và những hàng dừa xanh dọc theo băi biển; núi và biển cách nhau không xa và h́nh như quyện vào nhau trong những bức tranh mộc mạc, thân thương. “Rất Nhật” về số du khách người Nhật và các tiệm quán bán buôn; ngay cả có vài Waikiki Trolley quảng cáo hoàn toàn bằng tiếng Nhật. Sống ở đây, tôi thấy nhẹ nhàng hơn, dễ ḥa nhập hơn...Người bản xứ không nh́n tôi như một "haole/ người ngoại quốc" một phần v́ nước da bánh mật dân "nẫu" của tôi.

Sáng hôm nay tôi dậy sớm hơn mọi ngày; sau khi làm công tác vệ sinh cá nhân xong, tôi ngang qua campus của Pacific University, dọc theo đại lộ Ala Moana  đi về hướng biển. Tôi đi chậm hơn mọi ngày có lẽ v́ một cảm giác tư nhiên nào đó trong tôi muốn giữ lai những kỷ niệm thân thương và màu hoa phượng c̣n đỏ rực bên đường vào những ngày cuối năm.

Tháp Aloha vẫn đứng đó "đón chào" để  rồi  "chia tay" một người bạn mới! Ngày "xa xưa thật xa", khi mới được xây vào năm 1926 ở cảng Honolulu, Aloha Tower là tháp cao nhất ở Hawaii. với 10 tầng đứng cao sừng sửng . Giờ tháp này trở thành nhỏ bé hơn nhiều với những ṭa nhà chọc trời "mọc lên như nấm". Tháp vẫn c̣n phản phất một cái ǵ của sự thách đố với những diễn tiến của lịch sử và thời gian.

H́nh 1: Aloha Tower nh́n từ phía trước.

"Aloha" dùng để chào "hello" hay chia tay "goodbye". Từ "Aloha"  trong ngôn ngữ Hawaii có nghĩa là yêu thương (affection), ḥa b́nh (peace), ḷng thương cảm (compassion)  và khoan dung (mercy) 

Giữa bầu trời xanh lồng lộng
Tháp Aloha ngạo nghễ đón mời
Khách về đây từ khắp nẻo muôn nơi
Cười nói đùa vui những mẫu chuyện đời đổi chác.
 

Phía sau tháp Aloha là cảng Honolulu và Aloha Marketplace. Nơi đây không có người surfers, bơi lội mà chỉ thấy những chiếc thuyền lớn nằm như đang tắm nắng. Gió nhẹ nhàng vuốt ve những khuôn mặt, những mái tóc của khách bộ hành đi ngang qua.

 

H́nh 2: Aloha Marketplace nằm ngay phía sau của Aloha Tower, đối diện với Honolulu Harbor.

Phía sau tháp Aloha có nhiều hàng quán
Khách về đây mua sắm cũng nhiều
Quán cà phê một người khách buồn thiu
Ngồi đếm năm tháng  đi qua theo ḍng đời trôi  nhẹ. 

Tôi cứ tiếp tục bước chân dọc theo hàng dừa. Một lúc sau, tôi vẫn c̣n nh́n thấy tháp Aloha ở phía xa. Như vẫy bay chào tạm biệt!

 

H́nh 3: Du khách có thể nh́n thấy Aloha Tower từ Đại lộ Ala Moana.


Con đường này tôi qua lại mỗi ngày nhất là những buổi sáng chạy bộ đến Ala Moana Park. 

Con đường Ala Moana với những hàng dừa thẳng tắp
Xe cộ lại qua thành những làn sóng nối dài
Mây nhẹ nhàng đùa trong gió ban mai.
Aloha tháp cổ vẫn đứng yên trong nắng. 

Ḍng sông. Ḍng đời. Trôi đi như chưa bao giờ dừng lại. Thăm viếng Oahu hôm nay. Biết khi nào trở lại. Những hoa nắng nở trên vai tôi. Những nụ cười hồn nhiên của em bé. Những ngày trôi qua. Nhẹ nhàng. Sâu đậm. Xin giữ lại nơi đây. Những thân thương. Mát rượi t́nh người. 

“…Ḍng sông cứ măi chảy đều như ḍng đời luân chuyển theo tháng năm
Ḍng thời gian  lúc cạn, lúc sâu đưa ta về theo những con tàu.
Đi xa măi. Xa thật xa. Càng lúc càng xa bến đậu.
Ngụp lặn theo ngọn nước trầm buồn, vui nhộn lời ca sau những tháng năm qua…
Ḍng sông cứ măi chảy đều như ḍng đời trầm lặng thiết tha
Lời ca hôm qua vẫn c̣n âm hưởng đâu đây, thấm sâu vào đất núi nơi này.

Cho cây xanh đâm rễ sâu vào ḷng đất.
Nhè nhẹ, nhịp nhàng  mang màu mỡ  về cho cây cỏ đơm hoa…” 

Màu biển vẫn xanh hôm nay. Bầu trời vẫn xanh sáng nay. Những tàng dừa xanh ngă nghiêng theo cơn gió mát trong lành. Tôi giang hai tay lên cao hốt từng ngụm nắng. Đưa vào hồn từng giọt nhỏ mơn man.  Thuyền đi về vóc dáng ngỡ ngàng. Người nh́n nhau có vẻ hoang mang. Không biết đâu là bến đậu?! Tiếng nhạc từ chiếc radio như réo gọi, thấm sâu. 

“…Nh́n màu biển xanh thẳm phía dưới, tôi cảm nhận được sư yên lặng và huyền diệu của thiên nhiên ngàn đời.
Bầu trời xanh. Cây cỏ xanh. Vũ trụ nhịp nhàng ḍng luân chuyển theo ḍng thời gian vô biên.
Con đường rầy nghiêng nghiêng nắng đổ xa trải dài tận đỉnh núi.
Người đi. Người về. Câu chuyện không đầu không đuôi. Nhưng ḷng ḿnh cảm thấy vui vui…
” 

Tiếng gió lúc nhẹ nhàng. Lúc hú lên cao. Muốn gửi tâm sự ngỗng ngang theo lời gió hú. Gửi về đâu? Minnesota? California hay Quy Nhơn? Bước chân tôi vẫn tiếp tục dọc ngang  lê khắp nẻo đường, đi qua bao thành phố biển. Biển bao la. Biển rộng lượng. Biển ru tôi với giấc ngủ ngày nào...

“…Tôi nói ǵ với gió biển,  cho cánh bồ câu trắng tung bay chiều nay
Tôi nói ǵ với cụm mây trôi, cho màu xanh nước mặn khằn thấm bao ngày.
Hàng dừa ngă ḿnh, uốn éo đu đưa theo cơn gió mới
Ḥa nhịp với điệu nhạc từ chiếc đàn ukele nhẹ nhàng thánh thót
Khi bổng lúc trầm vang lên đánh thức khách về thăm c̣n đang ngủ mê say…

Tiếng xe cộ. Tiếng cười. Tiếng nhạc. Lúc bổng. Lúc vơi. Có những ngày  một ḿnh thầm yên trong quán vắng. Nh́n từng giọt cà phê nhịp nhàng rơi tí tách điệu thâm u. Âm điệu thật sâu. Âm điệu ngày nào. Những năm tháng buồn vui kiếp đời lưu lạc.

…Ngồi trong quán Starbucks nh́n về hướng Diamond Head
Tôi nhắp từng ngụm cà phê để thấm thía những lên xuống trong đời
Đôi mắt lim dim, nghe tiếng cười bên tai nhí nhảnh
Cảm nhận một điều ǵ rất gần gũi, rất thân quen.

Khúc nhạc thời 70’s đưa tôi trở về
Những năm tháng lang thang của quăng đời du học
Vạt nắng đong đưa, lạc loài một góc
Tôi nh́n quanh như muốn t́m lại những kỷ niệm qua …

 

2. Vài nét về hăng Hewlett- Packard

2-1 Bill Hewlett và Dave Packard

William R. Hewlett (thường được biết với   tên Bill)  sinh ở  Ann Harbor, Michigan ngày 20 tháng 5 năm 1913. Mất vào ngày 12 tháng 1 năm 2001, tại Palo Alto, California. Bill Hewlett lớn lên ở ngôi nhà nằm trên   Union Street, San Francisco. Cha ông là bác sĩ y khoa  và GS ở Stanford (mất năm 1925, lúc c̣n khá trẻ). Ông tốt nghiệp BS ở Stanford và MSEE  ở MIT về ngành điện vào năm 1934 và 1937 [2]. 

Dave Packard (thường được biết với tên Dave) sinh  ngày  7 tháng 9 năm 1912, tại  Pueblo, Colorado, và mất vào ngày 26 tháng 3 năm 1996, tại Palo Alto, California. Packard tốt nghiệp BA và MSEE ở Stanford  vào năm 1934 và 1939. 
 Hewlett & Packard gặp nhau  lần đầu tiên  ở lần "tryouts" của đội football của Stanford  khi cả hai c̣n học năm thứ nhất. Sau đó, hai người thường gặp nhau và trở thành bạn thân vào năm cuối đại học.Họ thường đi chơi chung dùng chiếc xe của Hewlett và đi hiking ở San Juan Mountains ở Colorado. T́nh bạn này  kéo dài 60 năm giữa hai người [3].
 

2- 2. Sự thành lập hăng Hewlett-Packard

           

H́nh 4: Căn nhà Hewlett & Packard mướn (h́nh bên trái)
và nhà xe (12ft x18 ft)  nằm cạnh căn nhà ở 367 Addison Avenue, Palo Alto (h́nh bên phải).
Đây là nơi phát sinh của  hăng Hewlett Packard [4].

 

     

H́nh 5: Bên trong nhà xe ở Palo Alto, nơi hai ông Hewlett và Packard làm việc vào năm 1938 [5]. 

Packard tốt nghiệp và đi làm cho GE vào tháng 2 năm 1935. Terman hướng dẫn Hewlett trong công tác  nghiên cứu về bộ giao động / oscillators (sau này trở thành sản phẩm đầu tiên của HP) .

Hewlett đến làm việc ở MIT một thời gian  để lấy bằng  cao học  rồi trở về lại Palo Alto tiếp tục  làm việc với Terman trong việc lắp đặt bộ giao động. 

Trong dịp  về  thăm cô bạn gái Lucille Salter, Packard ghé lại gặp Hewlett và  thảo luận "kế hoạch kinh doanh" của hai người . Hôm đó vào ngày  23 tháng 8 năm 1937. Và hai người có giữ có biên bản buổi họp (meeting minutes) cho  buổi họp có tính cách "business" này . Packard xin nghỉ việc một năm (a one-year leave of absence) ở hăng  và về   làm việc ở pḥng nghiên cứu của Terman  với tiền lương giảm một nửa . Packard cũng làm việc với Russell Varian (Varian Associates) và Litton [6]   trong thời gian này. 

Năm 1938, Hewlett và Packard mướn một ngôi nhà ở số 367 đường Addison, thành phố Palo Alto. Packard và cô vợ mới cưới Lucille sống  bên trong trong khi đó Hewlett dời ra ngoài nhà xe ở. Nhà xe lúc bấy giờ cũng là pḥng làm việc của hai người với  những tấm bản ngăn dọc theo tường và bàn ghế [H́nh 5].

Để quyết định tên hăng, hai người dùng một đồng tiền bắt thăm và ai thắng sẽ có tên ḿnh để trước. Hewlett thắng nên tên hăng là Hewlett-Packard Company. Lúc đầu v́ không có sản phẩm, nên hai người làm công tác họp đồng (contract work). Tiền thu nhập chính vẫn dựa vào đồng lương của Lucille, lúc bấy giờ làm thư kư cho một cơ quan trong vùng. Họ muốn có một sản phẩm tung ra thị trường để bán. Hai ông bắt đầu với số vốn $538. Năm 1939, Hewlett, Packard và Terman nghĩ rằng  audio oscillator có triển vọng là một sản phậm tốt. Hewlett bắt đầu làm hầu hết những công tác tiên phuông về audio oscillator- model  200A [H́nh 2].

Lúc đầu Hewlett Packard làm việc với  Russ Varian (hăng Varian) và sau này nhờ sự giúp đỡ của Charlie Litton [6]. Ông này đă để cho Hewlet Packard dùng  phân xưởng của ông, lớn hơn cái nhà xe mà Hewlett  và Packard hiện đang dùng. Các ông tự chính ḿnh thiết kế và làm những panen (panels) bằng nhôm; sơn rồi dùng  ḷ nấu ăn để làm khô chất sơn.  Sau đó hai ông mang những chiếc hộp (cabinets) này  đến hăng của  Litton để khoét lỗ và  đánh dấu  những dữ liệu liên quan đến sản phẩm. Sản phẩm đầu tiên với thành công về tài chánh là bộ giao dộng âm tần  có độ chính xác (precision audio oscillator), Model 200A (sau này đổi sang thành  Model 200 B). 

Điểm  sáng tạo ở đây là dùng một bóng đèn huỳnh quang (incandescent light bulb)  nhỏ ( cũng được biết với cái tên là "điểm sáng làm chuẩn/pilot light")  trong hệ thống điện và dùng  hệ thống hồi tiếp ngược (negative feedback) để  ổn định biên độ (amplitude) của dạng sóng đầu ra h́nh sin (output sinusoidal waveform) của bộ giao động. "Pilot light" này đóng vai tṛ như một nhiệt độ cảm biến điện trở (temperature dependent resistor). Với sáng tạo này, model 200A được bán với giá $54.40 thời giấy giờ trong khi đó sản phẩm tương tư với chức năng kém hơn của những hăng cạnh tranh bán trên thị trường với giá $200 . Model này tồn tại trong thị trường cho đến năm 1972 .  

Một trong những khách hàng đầu tiên là Walt Disney Productions. Disney  mua tám bộ giao động âm tần Model 200 B  với giá $71.50 mỗi cái để dùng trong hệ thống âm thanh thiết lập trong các rạp chiếu phim cho phim Fantasia. Nhiều người cho rằng quyết định của Disney đă thay đổi cục diện  phát triễn của hăng HP và đă làm ước mơ của Hewlett & Packard & Terman  trở thành hiện thực[7,8].

Cuối năm đầu tiên, tiền  thu nhập  được của hăng là $5,369 với số tiền lời là $1,536.   Hai sự kiện xảy ra vào mùa thu 1939 làm cho việc ở lại làm việc tại nhà xe ở 367 Addison trở thành khó khăn :  sự kiện thứ nhất là hăng đă phát triễn tới giai đoạn cần thêm nhân viên sau một năm thành lập; sự kiện thứ hai là lúc đó Hewlett muốn lập gia đ́nh với Flora Lamson (a biochemistry grad from UC Berkeley- lúc  đó phái nữ tốt nghiệp đại học khá ít!!) và muốn có một nơi làm việc "đàng hoàng" hơn. Thế nên  Hewlett và Packard dời nới làm việc  đến góc đường  giữa hai đường Page Mill  và El Camino Real; sau này trở thành những con đường "huyết mạch"  của Silicon Valley.

Với sự bành trướng càng ngày càng rộng lớn hơn, hăng dời  về  Stanford Industrial Park (giờ trở thành Stanford Research Park), nằm  hướng phía trên đường Page Mill Road. Tiền thu nhập tăng nhanh nhất là trong những năm Thế Giới Đại Chiến: Năm 1940, số tiền thu nhập là  $34.396, lên đến $106.548 vào năm 1941 và đạt đến mức gần 1 triệu đô-la vào năm 1943.  Hầu hết đến từ công tác với US Naval Research, do Terman giới thiệu.

Vào năm 1950, hăng chỉ có 146 nhân viên và tiên thu nhập $ 2 million.  Hăng "went public" vào năm 1957. Trong 10 năm đầu tiên, Hewlett & Packard  biết gia đ́nh của tất cả nhân viên và thường gặp họ thường xuyên ở những buổi ăn ngoài trời   và barbecues.  Hai ông làm việc ở một văn pḥng nhỏ và muốn được gọi bằng tên (first names)  Bill và Dave. Khi mùa trái cây, Packard mời nhân viên và gia đ́nh nhân viên đến hái. Nên nhớ đây không phải là lối làm việc thông thường của những chủ hăng và cán bộ lănh đạo vào thời 40's và 50's!  

2-3. Hợp tác chặt chẻ với Stanford  

Liên hệ "bộ ba"  giữa Hewlett, Packard và GS Terman  đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc thành h́nh và phát triễn của hăng Hewlett-Packard sau này.  Terman và pḥng nghiên cứu của ông đă ảnh hưởng nhiều đến Hewlett   và Packard. Terman thường dẫn sinh viên của ông đi thăm  pḥng nghiên cứu của những  "entrepreneurs"  trong vùng  ở các hăng mới lập như Charlie Litton's lab, Kaar Engineering , Eitel- McCullough và Philo Farnsworth's lab. Trong những lần thăm viếng như thế này, Packard rất phấn khởi  khi nhận thấy rằng những entrepreneurs c̣n rất trẻ và hấu hết không có nhiều giáo dục chính quy (formal education). Sau khi tốt nghiệp cả   Bill Hewlett và Dave Packard  đi làm việc ở vùng East Coast (một t́nh trạng chung lúc bấy giờ cho nhiều sinh viên tốt nghiệp ở Stanford v́ không có đủ jobs ở vùng West Coast) ; nhưng rồi sau đó Terman kêu gọi hai ông này trở về và t́m  cách  tài trợ tài chánh cho việc nghiên cứu của hai người.

Vào năm 1938,  Terman giúp Bill và  Dave, biến đổi khái niệm  thành hiện thực.  Terman biết được một linh kiện  gọi là “bộ giao động kiểm soát bằng điện trở/resistance-turned oscillator”, một linh kiện có nhiều triển vọng  tốt trong việc chế thành sản phẩm sau khi thay đổi một vài thành phần. Ông cắt nghĩa y tưởng này cho  Bill, xong Bill truyền đạt lại cho Dave; rồi những người này thay đổi /biến chế  những ǵ cần thiết. Không lâu sau đó, một “bộ giao động âm tần/audio oscillator” được ra đời! Đối với ba người, "prototype" do Bill làm ra là một sản phẩm có thể thắng cuộc trong thị trường "winner" .  Terman xin được  $1.000 đô-la trợ cấp  và Bill và Dave chế tạo nhiều bộ giao động (oscillators) dựa vào mô h́nh ban đầu của prototype này. Pḥng chế tạo đầu tiên là  nhà xe  nằm phía sau căn nhà mướn của Bill và Dave ở Palo Alto.

Thành công của sự họp tác chặc chẻ giữa Hewlett và Packard và Terman  mở đầu cho việc hơp tác sau này giữa Sanford và các kỹ nghệ trong vùng lân cận. H&P đóng góp  nhiều tiền cho các cơ sở cộng đồng. Riêng Stanford, hai ông đă đóng góp  hơn $ 300 million, điễn h́nh là xây ṭa nhà và thiết bị Terman Engineering  [H́nh 6].  

 

H́nh 6  :(H́nh bên trái) : GS Terman (bên phải) chụp chung với hai sinh sinh viên cao học của ông : David Packard (trái) và Bill Hewlett (phải) nhân dịp lễ khánh thành Terman Engineering Building vào năm 1952.. Terman cũng là người đă khuyến khích Hewlett và Packard mở hăng điện tử để thực hiện ước mơ của hai ông này  (Stanford News Service).

Năm 1956, HP chọn Stanford Research Park  làm headquarter. David Packard là member của the Stanford Board of Trustee, làm việc với Terman trong công tác bành trướng hoạt động của công viên nghiên cứu . Năm 1960, Research Park có 40 hăng ; và Terman và Packard đề nghị và thành công trong việc bành trướng  công viên  đến 450 acres. SIP  giờ có một new look với new lawns,  cỏ cây và recreational areas- tạo một nơi thoải mái trong lúc làm việc. Đây là một hallmark của vùng Silicon Valley này [9].
 

3. HP : một hăng tiên phuông với một triết lư làm việc độc đáo


Song song với sự đóng góp về kỹ thuật và thành công về phương diện tài chánh, một đóng góp khác không kém phần quan trọng của HP  là sự sáng tạo  trong lối kinh doanh (innovative way of doing business) . Điều này "đă đặt nền tảng" cho văn hóa kinh doanh và làm việc  của  các hăng xưởng sau này.

Một số thí dụ như giữ môi trường làm việc ít quan liêu và giảm thiểu giai cấp thứ bực giữa quản ly và nhân viên trong hăng. Hăng chú tâm vào việc dùng "sự sáng tạo trong sản phẩm " trong việc cạnh tranh trên thị trường.  Hăng cũng  chú tâm vào việc (thăng tiến từ bên trong " promoted from within") và nhấn mạnh vào việc huấn luyện nghề nghiệp cho nhân viên . Hăng cho nhiều benefits rộng răi cho nhân viên  như profit sharing, bảo hiểm y tế  và giờ làm việc có tính cách "flexible" [10-11].

 

3-1. Triết lư của Hewlett -Packard

 

Những điều Hewlett & Packard tin tưởng :

 

- Mục đích của business phải cung cấp dịch vụ hay sản phẩm cho cộng đồng-  chớ không phải làm nhiều tiền- mặc dù lợi tức (profits)  sẽ  tự nhiên đến từ sự thành công.


- Nhân viên muốn thành công và sẽ làm việc hăng say nếu có nguồn tài trơ và sự hướng dẫn  thích đáng.


- Nhân viên phải được đối xử tốt và tin tưởng vào thành phần lănh đạo.  Có một lần, Hewlett t́m thấy pḥng chứa đồ  bị khóa; ông đập ống khóa rồi để cái dây khóa trên bàn của người quản lư với tấm giấy ghi chú: "chuyện khóa  pḥng chứa đồ  không thích họp với chính sách tôn trọng  nhân viên của HP". 


- Hăng và cán bộ lănh đạo phải tham gia nhiều công tác của cộng đồng  như giáo dục, từ thiện và chính trị. HP có truyền thống tham gia vào công tác từ thiện với  đóng góp hàng trăm triệu đô-la . Ngay ở giai đoạn đầu -18 tháng sau khi hăng được thành lập- vào tháng 6 năm 1940, HP đă đóng góp $5  cho năm cơ quan từ thiện. Lúc đó HP có 5 nhân viên và tiền thu nhập rất thấp. 


- HP  tin tưởng nhiều ở đạo đức và sự ṣng phẳng trong công việc . Nhiều kư kết với khách hàng chỉ dựa vào"cái bắt tay". Khi business phát triễn lớn mạnh  trong Đại chiến thứ hai,  Packard  từ chối việc lên lương cho chính ông   v́ ông không muốn  làm nhiều tiền hơn Hewlett, lúc bấy giờ đang phục vụ trong quân ngủ.


- Open Door Policy : mọi nhân viên đều có thể vào pḥng gặp hai ông hay nhân  viên quản ly bất cứ lúc nào. Lúc đó có sự quan tâm từ một số người là với chính sách như thế,  một số đồ đạc trong văn pḥng sẽ bị mất, nên  Hewlett  để tiền trên bàn xem thử có ai lấy không. Không ai lấy cả. Kết quả là sau đó, nhân viên thường để những vật dụng cá nhân trên bàn, ngay cả tiền.


- Management By Walking Around (MBWA): Căn bản của lối quản ly này là  thay v́ để nhân viên đến gặp ḿnh, các cán bộ  quản lư đến gặp nhân viên tại nơi họ đang làm việc và "engage" mọi người tham gia vào việc thảo luận công tác hiện có. 


- Ngay sau chiến tranh chấm dứt, tiền thu nhập có phần đi xuống từ $1.6 triệu năm 1945  xuống đến $800.000 vào năm 1946. Hăng phải giảm số nhân viên từ 200 xuống c̣n 80. Sự kiện này rất đau ḷng Hewlett và Packard. Thế nên, ngay cả giai đoạn suy thoái về kinh tế 1973-1974, HP vẫn không có  "sa thải hàng loạt" như những hăng khác. 

Khoảng giữa thập niên 60's, khi một cán bộ lănh đạo cao cấp John Minck  hỏi Hewlett:  "tại sao ḿnh không "buyouts" những người đại diện bán hàng độc lập (independenty sale representatives)  thay v́ sa thải họ như các hăng khác" ; Hewlett chửi thề "Goddamnit" và đáp lại:" Minck, anh không hiểu t́nh trạng xảy ra. Những người đại diện này tất cả là bạn bè của chúng ta. Chúng ta làm việc với họ đă cả hơn 10 năm nay, qua những "cái bắt tay". Hầu hết sự thành công của chúng ta là nhờ ở họ".

 

 3-2 Những quotations liên quan [2]

 

- As I look back on my life's work,'' Hewlett said in 1990, ``I'm probably most proud of having  helped to create a company that by virtue of its values, practices and success has had a tremendous   impact on the way companies are managed around the world.
- If I had studied more   instead of playing football" at Stanford, he said with a straight face, "I probably would have gone a little bit further”.

- The founding of HP ``symbolically and actually began to end the brain drain (to companies back to the
East Coast) of people trained in electronics, electrical engineering and fields like that,'' (Henry Lowood). 
- The greatest success goes to the person who is not afraid to fail in front of even the largest audience.
-  Set out to build a company and make a contribution, not an empire and a fortune.
-  The best possible company management is one that combines a sense of corporate greatness and destiny, with empathy for, and fidelity to, the average employee.
- The biggest competitive advantage is to do the right thing at the worst time.
- A company that focuses solely on profits ultimately betrays both itself and society.
- Corporate reorganizations should be made for cultural reasons more than financial ones.
- A frustrated employee is a greater threat than a merely unhappy one.
-  The job of a manager is to support his or her staff, not vice versa .
- The best business decisions are the most humane decisions.  And, all other talents being even, the greatest managers are also the most human managers.
- Eliminate the negative. Focus on the solution and what works and not on what can’t be done.

 

4. Lời kết


Hăng Hewlett- Packard là một trong những hăng điện tử và tin học  lớn nhất thế giới và đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong việc phát triễn lớn mạnh của vùng Silicon valley. Hewlett và Packard đă làm việc rất mật thiết với GS Terman của Đại học Stanford, phát triễn Stanford Research Park, du nhập những phương thức và tiêu chuẩn  làm việc mới đối với nhân viên và cố vấn cho những "enterpreneurs " trẻ thành công sau này của các hăng như Sun Microsystems, Apple, Cisco Systems, SGI, Yahoo và Google.

 

5.Tài liệu tham khảo

[1] http://www.scaruffi.com/svhistory/sv/chap76.html

[2] http://en.wikipedia.org/wiki/William_Redington_Hewlett

[3] http://en.wikipedia.org/wiki/David_Packard

[4] Posted by Tom Foremski - May 11, 201.

[5] http://www.siliconvalleywatcher.com/mt/archives/2011/05/how_the_traitor.php 
 [6] Cũng giống như Terman
,  Charlie Litton cũng là một ngôi sao sáng trong những sinh viên tốt nghiệp ở Stanford. Litton tốt nghiệp 1924  sau Terman khoảng vài năm (vào lúc Terman từ MIT về). Litton rất giỏi về cơ khí và tự ḿnh chấ tạo đèn chân không (Vacuum tubes) để dùng trong radio và computers. Sau khi  làm việc ở Bell Labs rồi Federal Telegraph,  Litton thành lập Litton Engineering Lab tại Redwood City (gần Palo Alto) vào tháng 4 năm 1932. Hai mươi  năm sau, hăng  trở thành "a billion dollar company". Litton rất khiêm nhường khi hỏi về sự thành công của ông: "tôi chỉ là một người được may mắn/ I was  just a lucky kid). Division về đèn chân không của hăng trở thành Litton Industries vào năm 1946  and sau đó bán cho Bộ Quốc Pḥng của Mỹ. Sau này Litton dời về Carson City ở Nevada và mất ở đó vào năm 1973.

[7] James J. Mitchell - Mercury News staff writer.

 [8] Davidow, Michael & Michael Malone.  The Virtual Corporation: structuring and revitalizing the corporation for the 21st century.  New York:  HarperCollins, 1992.   

[9] Links Between Stanford University and Industry, by  Carolyn Tajnai, 1995                      

[10] Florida, Richard.  The rise of the creative class: And how it’s transforming work, leisure and everyday life. New York: Basic Books,

2002

[11] Carolyn Tainai: “Fred Terman,The father of Silicon Valley”, 1995.