A series of articles on “Microelectronics and Silicon Valley - Part 15 

Russel và Sigurd Varian

Trần Trí Năng
 (University of Minnesota & Ecosolar International)

Hai anh em ông Russel và Sigurd Varian đă phát minh ra  ống Klystron (Klystron tube), một   thành tựu khoa học rất đáng kể làm nền tảng cho việc khai phát  nguyên tử từ cộng hưởng (nuclear magnetic resonance NMR) sau này.  Linh kiện điện tử Klystron   được  chính thức giới thiệu với cộng đồng khoa học trong tạp chí Journal of Aplied Physics vào năm 1939 trong sự đ1on nhận nồng hậu  của  các giới khoa học và quân sự của Mỹ, Âu Châu và nhất là Anh. Ngay sau đó, người ta t́m cách dùng ống Klystron như nguồn sóng vi ba (microwave)  trong hệ thống ra-đa. Kỹ nghệ sóng vi ba  bắt nguồn từ đó với những áp dụng về hàng không, hệ thống vệ tinh truyền thông, máy gia tốc phân tử có năng lượng cao (high-energy particle accelerators)  trong các ứng dụng về y khoa và vật ly nguyên tử.  Ống Klystron dẫn đến sự thành công của Nuclear Magnetic Resonance NMR, một kỹ thuật cốt lơi trong việc khảo sát cấu trúc phân tử.  Có ít nhất là năm   giải Nobel liên quan đến NMR ở năm  thời điểm khác nhau (1944, 1952, 1991, 2002 và 2003); trong khi đó ống Klystron  đă  khởi nguồn cho  phát minh  Cyclotron (Nobel Prize,  1939) dùng trong vật ly nguyên tử [1]. Đôi khi người viết tự hỏi tại sao anh em Varian không được giải thưởng Nobel nào cả?! Về phương diện kỹ thuật và kinh doanh, Varian Associates là một trong những hăng đầu tiên ở vùng Silicon Valley đă và đang góp phần không ít trong lănh vực vi mạch và  y liệu điện tử. Một điều trùng họp ngẫu nhiên là hai anh em Varian mất sớm một cách bất ngờ ở cái tuổi 59: Russel chết v́ bị đau tim  trong một chuyến đi leo núi ở Juneau,  Alaska; trong khi đó  Sigurd tử nạn  khi  phi cơ riêng của ông lao xuống biển Thái B́nh Dương trên đường  từ Guadalajara đến Puerto Vallarta.

Từ khóa: Klystron tube, Varian associates,  Nuclear magnetic resonance, cyclotron, thin fil coating, electronic vacuum pump, ion implanter.

 

1. Câu chuyện bên lề ( Kiên Giang và một nhà thơ miền nam)

Chúng tôi đến băi biển Mũi Nai- Kiên Giang  vào một buổi chiều khi nắng bắt đầu tắt dần ở cuối chân trời. Vài sợi nắng vàng vọt c̣n sót lại đuổi nhau  rơi trên mặt biển , để lại vài đóm sáng lân tinh theo sóng gợn.  Con thuyền nhỏ lắc đàng xa. Cành thông già ngả bóng.. Xanh, đen, trắng, vàng, cam. Sáng rực một vùng. Mảnh đất nâu đen. Nắng gió gội mù sương. Bao chứng tích thăng trầm. Bao hủy hoại. Đất vẫn đứng đây. Sừng sững. Như thách thức thời gian. Như bao dung với tâm t́nh mở rộng. Đất thân thương. Thấm đượm hương t́nh.

Về đây hôm nay. Ngồi xoài trên băi cát, nh́n đàn hải âu bay về tổ, tôi cảm nhận một cái rất thân thương của một vùng đất quê hương mà tôi chưa một lần đặt chân đến. Chim đến rồi đi. Như kiếp đời tôi đi đến. Vài giờ thăm viếng rồi lại trôi xa. Ḍng định mệnh như ḍng sông về biển. Biển bao dung. Biển rộn ràng triều mến. Theo đời tôi những năm tháng vui buồn. Biển nhẹ  nhàng. Trong t́nh tự mến thương. Biển thỏ thẻ như lời ru của mẹ. Biển vẫn thế! Biển luôn luôn là thế! Dù ở đâu. Biển vẫn là biển của tôi.  T́nh tự hôm nay. Một phút chốc mất rồi. Tôi vẫn giữ. Trong tâm hồn lưu lạc.

Chúng tôi đuổi bắt đùa vui.  Như ngày nào tuổi nhỏ. Chân đất trần khô. Rộn tiếng la ḥ. Băi cát mịn hoang sơ.  V́ vắng khách lại qua. Con chó mực đen có vài nét “hơi già”. Đi quanh quẩn t́m bữa cơm chiều. Chắc đói?!  Nhàm chán, hồi lâu. Thức ăn phải đợi. Chú chó cắn đuôi. Làm một chuyến xoay ṿng.  Để đùa vui. Hay bụng đói quên ăn!? Đàn muỗi vo ve. Cũng bắt đầu tung cánh. Như “đàn bướm” đen. Vang âm điệu khô nhàm.   [H́nh 1 ].

Hinh 1  : Băi biển Mũi Nai

Nhắc đến Kiên Giang làm tôi nhớ lại  nhà thơ Kiên Giang (1929-2014), người vùng  Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Một nhà thơ “Nam bộ” với những lời thơ mộc mạc, không chải chuốt. Đọc thơ Kiên Giang như nghe nhà thơ kể lại một câu chuyện b́nh dân. Không hào nhoáng. Không sắc màu rực rỡ. Ngoài tài làm thơ, Kiên Giang  c̣n là một soạn giả cải lương dưới bút hiệu Hà Huy Hà (và một số bút hiệu khác nữa) với những vở tuồng nổi tiếng như “Áo cưới trước cổng chùa” và  “Người vợ không bao giờ cưới”. Nhất là vở tuồng sau với Thanh Nga diễn  vai chính th́ thật  là tuyệt! Tôi c̣n nhớ lúc c̣n học trung học đệ nhất cấp, mỗi lần đoàn Thanh Minh- Thanh Nga đến Quy Nhơn, là tôi thường “được” đi xem màn “thả cửa’ miễn phí. Giờ vẫn c̣n nghe văng vẳng đâu đây mấy câu gần đoạn kết “… ngày mai đám cưới người ta; tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn?!...”.  Nhưng có lẽ Kiên Giang được nhiều người “biết” qua bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc. Đầu thập niên 1960, bài thơ  này được phổ biến rộng răi hơn trong dân gian với những giọng  ngâm nổi tiếng của Hoàng Oanh, Hồ Điệp, v.v. trên làn sóng điện trong chương tŕnh Tiếng Thơ Mây Tần do Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài G̣n. Bài thơ này ảnh hưởng không ít đến thế hệ học sinh thời đó: các cậu “ngoại đạo” thường thích đi thơ thẩn  trước nhà thờ “xóm đạo”  vào sáng chủ nhật để t́m làm quen với người con gái có đạo nào đó; rồi về nhà mơ mộng làm thơ  hay ngâm bài thơ của Kiên Giang. T́nh lắm! Tha thiết lắm!

Bài thơ được viết vào năm 1957.  Phần lớn câu chuyện ở đoạn sau có tinh cách “tưởng tượng”; những đoạn thơ cũng thay đội vài lần  sau này tùy theo t́nh tự của tác giả lúc đó.

Đây là tâm t́nh  của một người học tṛ ngoại đạo Kiên Giang đối với  một cô con gái có đạo với cái tên rất dân dă Nguyễn Thị Nhiều. Cô Nhiều  có khuôn mặt rất xinh với  mái tóc dài ôm xơa bờ vai. Chúng ta hăy nghe Kiên Giang thuật lại sau này:  “Sáng chủ nhật nào tôi cũng “ŕnh” trước cổng nhà thờ để được “tháp tùng” nàng trên đường đi lễ về. “Yêu nhau” chỉ có… vậy: ngoài những cái liếc mắt và những nụ cười thẹn thùng, e ấp th́ hai người chẳng c̣n thứ ǵ để “trao đổi” nữa cả!” [2]. Nhưng ḷng yêu thương “thầm kín” đă “lẽo đẽo”  theo họ suốt cuộc đời. Chúng ta hăy lắng nghe những đoạn thơ b́nh dị với âm điệu thật  nhẹ nhàng:

“…Mười năm trước, em c̣n đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh..”
 

Hay:

“…Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xóa không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường…”
 

Nhà thơ “thơ thẫn” trước cổng giáo đường chờ cô bạn xem lễ rồi theo về :  

“…Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng chung một lối về…” 

Sau đó Kiên Giang về quê đi kháng chiến chống Pháp. Gia đ́nh bắt ông lấy vợ. Mười năm sau, khi gặp lại nhau th́ cô Nhiều cũng đă có chồng.  

“…Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn ră từng hồi chuông  xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy…”
 

Quá chua chát, ông xem “cuộc t́nh” như đă chết! Và ông thay đoạn cuối của bài thơ bằng cách cho  người “con gái  áo tím”  trở lại giáo đường, nhưng trong chiếc quan tài có cài ṿng hoa trắng. Làm như thế ông có thể chôn kín mối t́nh bất diệt này trong ḷng!  

“…Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết ṿng hoa tang 

Anh kết ṿng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Anh kết t́nh ta gởi xuống mồ…”

 

Sau đó một năm vào năm 1958, có người cho ông  biết là sau khi nghe  tin ông lập gia đ́nh, cô Nhiều có chờ ông một thời gian trước khi đi “lên xe hoa”, nên ông đổi y. Ông muốn “người yêu” sống hạnh phúc bên chồng con trong gia đ́nh mới, ông đổi một số câu và chọn người con trai trong bài thơ “nằm trong cổ quan tài” như muốn tiễn đưa mối  t́nh học tṛ trong trắng ấy…[1]  

 “…Nhưng rồi người bạn đồng trang lứa
Đă chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều em nức nở
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp cổ quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học tṛ măi thắm tươi…”

“…Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên trời
Trong ḷng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!...”
 

2. Hai anh em Sigurd và Russel Varian

Anh em Varian là người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan. Cả hai lớn lên ở Palo Alto và Halcyon  (gần San Luis Obispo, miền bắc của tiểu bang California).  Người anh lớn Russel (1898-1959)  có vẻ “hơi bất thường” nên  nhiều người thân cận với ông ta thường cho rằng hoặc là ông “chậm  hiểu” hay ông “ngu đần”.  Mặc dù thế, Russel không để những “tiếng thị phi” chùn bước tiến của ông. Với sự cố gắng chuyên cần, Russel tốt nghiệp ở Đại học Stanford với cấp bằng BS và MS về vật ly.

Người em Sigurd (1901-1961)  th́ khác hẳn với người anh. Ông này hoạt bát , dễ có bạn, đam mê  phát minh t́m ṭi cái mới   và thích mạo hiểm.  Nhưng có điều là Sigurd    không thích trường học và không có đủ “kiên nhẫn”  ngồi hàng giờ ở  lớp học để tốt nghiệp lấy bằng.  Sigurd có theo học trường California Polytechnic ở San Luis Obispo một thời gian; sau đó bỏ học. Ông  thích  “lục lọi, tháo ráp ” với xe,  phi cơ và học lái phi cơ.  Mặc dù khác nhau về tính t́nh và lối làm việc, Russel và Sigurd rất gần nhau và rất chú tâm theo đuổi ngành nghề và đam mê của riêng ḿnh. Russel  làm việc  với  một nhân vật tiên phong về TV thời đó  tên là Philo Farnsworth ở San Francisco; trong khi đó Sigurd chú tâm về những công việc liên quan đến máy bay, bắt đầu với những nghề phụ trợ, sau đó trở thành phi công của hăng Pan Am khi hăng này mở đường  bay mới đến Mễ Tây Cơ  và Nam Mỹ Châu.

 

H́nh 2 : Russell Harrison Varian (April 24, 1898 – July 28, 1959)
và Sigurd Fergus Varian  (May 4, 1901 – October 18, 1961) [3]

 

3. Phát minh ống Klystron

Giữa  thập niên 30’s, với sự bành trướng thế lực của Đức, như hàng triệu người Mỹ khác,  Sigurd lo sợ  Đức có thể lập căn cứ quân sự  ở Trung Mỹ và từ  đó có thể cho phi cơ bay ở độ thấp thả bom Mỹ. Để làm “một cái ǵ đó” cho đất nước trong giai đoạn này , Russel và Sigurd cả hai quyết định nghỉ việc và trở về  lại quê nhà ở Halcyon. Với khả  năng về ly thuyết và  hiểu biết kỹ thuật của Russel cộng với khả năng và kinh nghiệm thực tiễn về cơ khí của Sigurd, hai anh em Varian  nghiên cứu phương cách phát hiện  tín hiệu dội lại từ phi cơ bay  khoảng cách xa vài chục dặm.  Kỹ thuật như thế cần phát sóng rađiô  ngắn nhưng đủ mạnh để có thể “hội tụ”  điểm tín hiệu  trên vật đang bay..  Linh kiện điện tử  này được biết với cái tên Klystron do anh em Varian phát minh. Tiến độ trong  công việc nghiên cứu của hai anh em Varian tương đối  chậm phần chính là  v́ hai ông làm việc biệt lập với thế giới khoa học và kỹ thuật bên ngoài, và không có  ai để trao đổi y kiến.  Russell v́ thế đề nghị  với Sigurd là cùng  cộng tác với một người bạn trọ cùng pḥng lúc trước khi  Russel c̣n học ở Stanford - Bill Hansen. Sigurd đồng y ngay. Lúc này Hansen là GS ở Stanford.  Hansen giới thiệu anh em Varian với  cộng đồng nghiên cứu ở Stanford.  Năm 1936, David Webster, trưởng khoa điện  và những cán bộ lănh đạo thấy được triễn vọng của cái linh kiện  mới này, nên đă đồng y cung cấp cho anh em Varian  một cái “deal”  không mấy “rộng răi”  cho lắm. Nhưng có c̣n hơn không! : Anh em Varian  sẽ  nhận một khoảng tiền  100 USD mỗi năm và một căn pḥng để làm việc. Bù vào đó, Stanford sẽ nhận một nửa tiền bản quyền (royalty)  từ bằng sáng chế của hai anh em ông này [4-5]

 

H́nh 3: Sigurd (đứng phía trên ) và Russel Varian  với ống  Klystron [Silicon Valley Historical Association] 

Ống Klystron sau này được dùng trong việc phá hủy U boats  của Đức trên  biển Đại Tây Dương với xác xuất thành công 90%, góp phần vào sư thắng lợi của Quân đội đồng minh trong Thế Chiến thứ hai.  Bộ máy này nhỏ và được  dùng  trong cuộc tấn công D Day. 

4.Vài nét về hăng Varian 

H́nh  4  : Ṭa nhà đầu tiên của hăng Varian Associates (From Santa Clara Valley  Historical Association)

 

Hăng bắt đầu ở San Carlos; sau này đời về  Stanford Industrial Park và là ṭa nhà đầu tiên ở đây (chi tiết về công viên kỹ nghệ này, xin tham khảo những bài viết trước của cùng tác giả trong ERCT)

 

H́nh 5: Palo Alto Microwave Tube Division của Varian Associates được xây vào năm 1953
và là  ṭa nhà đầu tiên ở Stanford Industrial Park
 [5]
 

 

Dưới đây là những mốc điểm  quan trọng liên quan đến hăng Varian Associates: 

1937: Hai anh em Varian viết đề án và lănh được giải 100 USD/mỗi năm để mua vật liệu và cơ hội dùng pḥng nghiên cứu của Đại học Stanford. Mục đích của đề án này là  tạo một ông điện tử  có thể điều khiển tia điện tử (beam of electrons) . Ống này sau này được biết với cái tên ống Klystron (Klystron tube)  do Russel và Sigurd Varian phát minh.   Ống Klystron  được  chính thức giới thiệu với cộng đồng khoa học trong Journal of Aplied Physics vào năm 1939. Cộng đồng khoa học ở Âu Châu rất hoan nghênh  phát triễn này. Nhất là ở Anh, người ta t́m cách dùng ống Klystron này như nguồn vi-ba  (microwave) trong hệ thống radar. Lúc đó Mỹ đối diện với khả năng có thể bị lôi cuốn vào chiến tranh; nên cố gắng trau dồi những kỹ thuật  liên quan đến tàu thuyền và phi cơ. Công  nghệ vi ba bắt nguồn từ đó với những áp dụng như công tác tải thiện  hệ thống di chuyển phi cơ thương mại cho được an toàn hơn , tạo cơ hội phát triễn hệ thống vệ tinh dùng trong truyền thông trên thế giới; những ứng dụng liên quan đến máy gia tốc phân tử có năng lượng cao (high-energy particle accelerators)  dùng trong y khoa và vật ly nguyên tử.  

1948: Russel và Sigurd thành lập hăng Varian Associates ở California.  Hai người cho rằng kỹ thuật ống Klystron  khá tốn kém  để chế tạo; nhưng họ cũng nghĩ là những kỹ thuật khác manh nha từ phát minh này như  cộng hưởng từ hạt nhân (nuclear magnetic resonance NMR)  sẽ có triễn vọng tốt hơn. Thế nên, với 22 ngàn USD và không có một kế hoạch cụ thể nào, hai ông quyết định thành lập hăng cùng với một số đồng nghiệp cùng làm việc trong đề án phát triễn ống Klystron. Những người sáng lập ra hăng Varian  gồm có anh em Varian, Fred Salisbury, Myrl Stearns, và Dorothy, vợ của Russel. 

Sau chiến tranh, với lợi điểm của một hăng nhỏ với chi phí cho mỗi đầu người  tương đối  thấp, Varian thắng được thầu để chế tạo R-1 klystron. Thành công của đề án này giúp Varian Associates  nhận được nhiều  tiền tài trơ và thải dụng được nhiều nhân viên giỏi.  Trong ṿng 10 năm tiếp đó, Varian đă thành công trong việc khai phát  được  một loạt những đột phá lớn trong kỹ nghệ điện tử. Thành tích đáng kể của Varian là việc khai phát  kỹ thuật nuclear induction , hay cộng hưởng từ hạt nhân (nuclear magnetic resonance hay gọi tắt là NMR).  Russel  Varian  theo dơi sư phát triễn  NMR ở Stanford và Harvard  trong Thế Chiến Thứ Hai; nên sau đó  thải dụng   Martin Packard về  giúp hăng  triễn khai  kỹ thuật này. ‘Trước khi có công nghệ NMR, phải mất nhiều tháng và có khi nhiều năm để xác định cấu trúc của một phân tử’, Packard cắt nghĩa”  với NMR,  tia hồng ngoại ,  khối phổ học (mass spectrometry)  và những thiết bị khác, người ta có thể hiễu rơ  cấu trúc phân tử trong  vài giờ; và  lănh vực hóa học v́ thế phát triễn rất nhanh”. Varian và Packard  làm thủ tục xin bằng sáng chế liên quan đến NMR  vào năm 1948. 

1953: Với những thành quả của hăng về kỹ thuật  ống klystron và NMR, Varian triễn khai kỹ thuật Klystron vào  những ứng dụng mới như  điện thoại, ra-điô,  ti-vi, phát thanh , ra-đa , vệ tinh, và những công nghệ  liên quan đến truyền thông. Đồng thời ,  Varian dùng kỹ thuật NMR trong những ứng dụng  liên quan đến hóa học, vật ly‎, sinh học, y khoa và nhiều lănh vực khác nữa.  Sư thành công này dẫn đến việc thành lập một phân bộ mới  có tên là  Phân Bộ Ống Vi-ba tại  Palo Alto (Palo Alto Microwave Tube Division). Phân bộ này tọa lạc  tại ṭa nhà số 1 của Stanford Industrial Park, mở đầu việc thành lập Silicon Valley sau này [H́nh 5]. 

1950: Một  đột phá quan trọng nữa của  Varian là máy gia tốc tuyến tính y học  (medical linear accelerator) dùng trong  việc tạo tia quang tuyến X, hạt điện tử   và phân tử có năng lương cao (high energy particles) .  Thiết  bị này  do Bill Hansen và Ed Ginzton khai phát. Cả hai đều cùng làm việc  trong kế hoạch Klyston của hăng .Mục đích của Varian là biến bộ máy gia tốc tuyến tính cồng kềnh (hay  Linac)  của hăng lúc bấy giờ thành  một  bộ máy  nhỏ, thu gọn  hơn  để bác sĩ có thể đo chính xác độ quang tuyền xuyên  vào cơ thể bệnh nhân. Bộ máy  này được dùng trong việc  trị liệu bằng quang tuyến X (radiotherapy).

Một thành công nữa của Varian là máy bơm chân không điện tử (electronic vacuum pump).  Cho đến giữa thập niên 50’s,  bức tường rào cản chính nhất trong việc chế tạo đèn chân không  là chất ô nhiễm dính bên trong của đèn, đưa  đến hậu quả là độ thọ mênh của đèn trở nên ngắn . Một phần của vấn đề là những mảnh vụn (debris) từ máy bơm phát tán  (diffusion pumps)  dùng trong việc chế tạo đèn chân không.  Varian bắt đầu khai phát sputter-ion pump dùng hiện tượng phóng điện qua chất khí “gas discharge sputtering”. Kết quả là bơm chân không điện tử ra đời. Bơm này  có thể xách tay và không cần  làm lạnh bằng nước. 

1959: Hăng thành lập Phân Bộ Máy Bơm Chân Không Điện Tử (Electronic Vacuum Pumps Division) sau khi tung ra thị trường sản phẩm  VacIon Pump vào năm 1958.  Varian bán những máy bơm  đầu tiên cho RCA, the Atomic Commission và NASA.  Phân bộ  này gặt hái được nhiều thành công  trong thập niên 60s, sau khi  VacIon Pump  manh nha ra nhiều  mô h́nh mới  dùng  cho nhiều ứng dụng khác nhau.; nhất là kỹ nghệ vi mạch sau này. Varian dần dần đi vào  lănh vực liên quan đến cấy i-ôn (ion implantation) và màng mỏng (thin film coating); hai công nghệ quan trọng  trong việc chế tạo vi mạch.  

1975: Varian tham gia vào thị trường máy cấy i –ôn (ion implanter) sau khi mua lại   hăng Extrion . Sự sáp nhập này mở đầu một loạt  những chương tŕnh R&D nhằm cung cấp cho thị trường vi mạch những bộ máy cấy  i-ôn có  ḍng điện  khác nhau (thấp, trung và cao) với chức năng ưu việt. 

Sau này Varian trải qua nhiều thay đổi để thích hợp với hoàn cảnh mới và với sự cạnh tranh mới. Vào năm 1999,  Varian cải tổ lại thành ba cơ sở kinh doanh chính  với những sản phẩm khác nhau :: Varian Medical Systems, Inc., Varian Semiconductor Associates Inc., và Varian, Inc. Varian Inc. chuyên về các thiết bị khoa hoc, dụng cụ dùng trong việc chế tạo màng mỏng.  Cũng trong năm này, Varian Semiconductor Equipment Associates  (VSEA) cũng được thành lập. Hăng này thiết kế, chế tạo và cung cấp dịch vụ những máy móc liên quan đến kỹ nghệ vi mạch và  một thành viên kỹ nghệ quan trọng ở vùng Silicon Valley [6] 

5. Lời kết

Giống như Hewlett & Packard, anh em Varian đă thiết lập một trong những cơ sở đầu tiên của hăng ở Stanford Industrial Park.  Cũng giống như Hewlett & Packard , anh em Varian , ngay từ đầu, đă có những  liên hệ làm việc mật thiết với Đại học Stanford và đóng vai tṛ  tiên phong trong việc thành h́nh Silicon Valley sau này. Nhưng khác với Hewlett & Packard,  anh em Varian có tính t́nh khác nhau đôi khi đối lập: Russel  Varian thích học (Russel) , trong khi đó Sigurd  th́  “ham chơi” và thích “t́m ṭi”. Khác với Hewlett & Packard với bộ giao động là sản phẩm đầu tiên ,  ống Klystron của anh em  Varian  là một phát minh lớn trong cộng đồng khoa học và kỹ thuật thế giới và vẫn c̣n thịnh hành trong nhiều ứng dụng cho đến ngày hôm nay . Một điểm khác biệt nữa là Hewlett Packard thành công về phương diện kinh doanh  với những triết ly và phương pháp quản ly rơ rệt; trong khi đó, Varian  Associates không mấy thành công về phương diện này; có lẽ- theo y kiến của một sô chuyên gia-   một phần lớn là do  những người lănh đạo của Varian  Associates đến từ giới hàn lâm  nên cái  nh́n của họ ít thực tế hơn. Nhưng nếu nh́n một cách rộng răi hơn, cà Hewlett , Packard và anh em Varian đă thành công v́ đă “dám” theo đuổi những ǵ ḿnh thích với tinh thần “khai phá” của những người đến California trong phong trào “Gold Rush”. 

 

6. Tài liệu tham khảo

[1]

  • Isidor I. Rabi, USA: Nobel Prize in Physics 1944, "for his resonance method for recording the magnetic properties of atomic nuclei"
  • Felix Bloch, USA and Edward M. Purcell, USA: Nobel Prize in Physics 1952, "for their discovery of new methods for nuclear magnetic precision measurements and discoveries in connection therewith"
  • Richard R. Ernst, Switzerland: Nobel Prize in Chemistry 1991, "for his contributions to the development of the methodology of high resolution nuclear magnetic resonance (NMR) spectroscopy
  • Kurt Wüthrich, Switzerland: Nobel Prize in Chemistry 2002, "for his development of nuclear magnetic resonance spectroscopy for determining the three-dimensional structure of biological macromolecules in solution"
  • Paul C. Lauterbur, USA and Peter Mansfield, United Kingdom: Nobel Prize in Physiology or Medicine 2003, "for their discoveries concerning magnetic resonance imaging"
  • Ernest Orlando Lawrence: Nobel Prize in Physics  for his invention of the Cyclotron.

 

[2] http://namkyluctinh.org/a-tgtpham/nvkhanh/nvkhanh-kiengiang%5Bnew%5D.htm

 [3] Wikipedia

 [4] http://www.fundinguniverse.com/company-histories/varian-inc-history/

[5] http://electronicdesign.com/communications/russell-and-sigurd-varian-inventing-klystron-and-saving-civilization

[6] 'Russell and Sigurd Varian - The Inventor and The Pilot', by Dorothy Varian. Palo Alto, 1983, p.258.