A series of articles on “Microelectronics and Silicon Valley” –Part 2

Vài nét về Bell Labs

Trần Trí Năng

             (University of Minnesota & Ecosolar International)

In 1967, William Baker (the 5th president of Bell Labs) said in 1974 just after the Department of Justice filed its suit :  “…Well, I think that Bell Laboratories as we know it now would just disappear (if the government won).”

Trong số tháng 11 này, chúng tôi tŕnh bày một cách tổng quát những nét đặc thù về cơ cấu điều hành và môi trường nghiên cứu ở Bell Labs trong thời gian từ lúc mới thành lập vào năm 1925 cho đến năm 1984. Đây là những yếu tố biến Bell Labs thành “mecca” của nhiều người nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong thế giới trong hơn hai phần ba thế kỷ hai mươi. Nhiều người cũng đă mênh danh Bell Labs là “grand father” của kỹ nghệ vi mạch hiện nay. Sau này “the Bell Labs as we have known it” không c̣n tồn tại nữa. AT&T trở thành Lucent, bây giờ có tên mới là Alcatel-Lucent.  Bell Labs, vẫn là nhánh nghiên cứu của Alcatel –Lucent; nhưng nhỏ hơn nhiều và phạm vi hoạt động chỉ chú tâm vào những nghiên cứu ứng dụng như hầu hết các hăng kỹ nghệ khác.

Từ khóa: Bell Labs, AT&T, Western Electric, Bellcore, Telcordia, transistor tower

Lời tựa

Thu đă về ở thành phố St. Paul. Tôi đi dọc theo ḍng sông Mississippi để t́m vài phút giây tĩnh lặng và hít thở hương ngọt ngào của đất nước trời mây. Bên kia bờ song lá aspen, birch và maple đă đổi sang màu đỏ, vàng, cam trông như khu rừng đang bốc cháy. Ḍng sông Mississippi chạy hiền ḥa, gợn lân tinh trong nắng thu. Từ lúc tôi và gia đ́nh về sống và làm việc tại Twin Cities, ḍng sông này rất thân thương đối với chúng tôi. Lúc con chúng tôi c̣n bé, chúng tôi thường đi picnic gần bờ sông trong những ngày đẹp trời. Chúng tôi cũng có dịp thăm nguồn nước (headwater) của ḍng sông này ở Itasca National Park, thuộc tiểu bang Minnesota. Đi đến đâu, nếu có cơ hội là chúng tôi t́m ḍng sông Mississippi để thăm viếng. Chúng tôi thăm một số thành phố dọc theo hành tŕnh 2.500 miles của ḍng sông: Minneapolis, Winoca, tiểu bang Minnesota; Quad Cities, Iowa; St. Louis, Missouri; Memphis, Tennessee và Baton Rouge, New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana. Ḍng sông bắt đầu với 7 hay 8 mét ở Itasca, nới rộng thành khoảng 2.000 mét chiều ngang, chảy song song với Lake Pontchartrain ở Lousiana trước khi chảy mạnh mẻ và hào hùng vào Gulf of Mexico. Nói đến Pontchartrain là nói đến hai chiếc cầu song song dài 23.83 miles bắt ngang qua hồ này ở gần thành phố New Orleans.

Lake Itasca

Nơi Ḍng Sông Lớn vui ca
Theo tiếng gió ngút ngàn
Qua những đối thông xanh màu bát ngát
Xuân, hạ, thu, đông
Hương bốn mùa ngào ngạt
Mạch sống reo vui
Thiên nhiên ḥa nhịp với ḍng đời..”

(TBA)

Thật khó tưởng tượng ḍng sông có một cội nguồn rất khiêm tốn: bắt đầu bằng một con suối trong róc rách chảy quanh qua vài tảng đá nhỏ và vài bụi cỏ dại, “Bên những gốc cây khô. Âm ếm, vuốt ve. Vỗ nhẹ vào bờ”. Ḍng sông Mississippi như cuộc đời của con người: bắt đầu nhỏ nhoi, lớn lên dù to lớn, hào hùng cho mấy, cuối cùng rồi cũng chảy ra biển cả ḥa với ḍng sống chung của thiên nhiên.

“…Mississippi- Ḍng sông lớn

Bắt đầu với sự khiêm nhường, triều mến
Những chiếc lá maple rơi
Đỏ, cam, vàng chờ đợi
Trôi theo ḍng

Về tận bến xa.

Bộ lạc Ojibwe
Tiếng gọi đâu đây gần xa
Bập bùng bến ánh lửa
Những chiếc cḥi Tepee
Bừng sáng …”

(TBA)

 

1-Vài nét về Bell Labs

1-1 Tổng quát

Bell Telephone Laboratories (BTL) được thành lập vào năm 1925 như một nhánh nghiên cứu có tính cách độc lập của hăng American Telephone & Telegraph (AT & T) và Western Electric Company (cũng thuộc hăng AT&T). Trụ sở của BTL được đặt tại Western Street, Lower Manhattan, thuộc thành phố New York. John J. Carty cầm đầu ban lănh đạo với Frank Jewett làm tổng giám đốc. Ngân sách lúc mới bắt đầu là 12 triệu đô-la (tương đương khoảng 150 triệu đô-la bây giờ.).

Tên “Bell Telephone Laboratories, Inc” tương đối dài, nên thường được gọi tắc là “Bell Labs”; tuy nhiên tên Bell Telephone Laboratories vẫn luôn dùng trong những văn kiện chính thức. Sau này Bell Labs được dời về địa điểm mới ở Murray Hill, New Jersey [H́nh 1 &2]. Murray Hill càng ngày càng phát triễn rộng ra và theo thời gian, Bell Labs thiết lập thêm nhiều cơ sở khác ở Holmdel, New Jersey [H́nh 1& 2] ; Whippany, NJ; Crawford Hill, NJ; Indianapolis, IN; Indian Hill, IL; Colorado và Massachusetts. Khi viếng thăm Bell Labs ở Holmdel, quan khách sẽ thấy Transistor Tower đứng sừng sửng đón chào ngay ở cổng vào [H́nh 3].

Từ lúc mới thành lập cho đến đầu thập niên 80’s, Bell Labs được xem như “thánh địa (mecca)” của thế giới về những nghiên cứu về khoa học và kỹ thuật.

               

H́nh 1. Bell Labs ở Holmdel (trái) và Murray Hill (phải) [Tài liệu của AT&T]

 

                

H́nh 2. Ṭa nhà chính của Bell Labs ở Murray Hill (trái) và Holmdel (phải).
[Tài liệu từ
Dith Pran, New York Times].

Ṭa nhà ở Holmdel được thiết kế bởi kiến trúc sư danh tiếng người Phần Lan Eero Saarinen với lớp kính bên ngoài trông rất ngoạn mục nhất là vào những ngày đẹp trời. Nh́n từ xa, ṭa nhà này trông giống như một cái hộp kính màu đen (v́ thế có cái tên là “the black box”).

H́nh 3. Transistor Tower ở ngay cổng vào như đón chào quan khách đến thăm viếng Bell Labs ở Holmdel
[Tài liệu từ Dith Pran, New York Times].

Vào năm 1982, hệ thống Bell System bị phân chia theo sự đồng y của ban lănh đạo AT&T và chính phủ Mỹ. Bell Telephone Laboratories, Inc. như chúng ta biết hết c̣n tồn tại bắt đầu từ ngày 1 tháng giêng, 1984; Đây là một tin buồn cho những người đă làm việc tại Bell Labs nói riêng và cho cộng động khoa học và công nghệ nói chung. Từ lúc đó trở đi, Bell Labs không c̣n thuộc hoàn toàn vào AT&T và Western Electric nữa và đă trải qua rất nhiều thăng trầm qua nhiều cuộc bán mua, đổi chủ [H́nh 4]. Chủ nhân mới là AT&T và Bell Communications Research, Inc. (thường được gọi Bellcore; một tập đoàn kinh doannh gồm các hăng Bell địa phương ). Một trung tâm mới “AT&T Bell Laboratories” được thành lập như một chi nhánh R&D của AT&T; và Bellcore cũng thành lập một trung tâm R&D riêng của hăng này. Về phía Bellcore, hăng Science Applications International Corporation (SAIC) mua hăng này năm 1999 và đổi tên lại là Telcordia Technologies, Inc. Rồi vào năm 2012, Telcordia sáp nhập với Ericsson.
Riêng về phía AT&T, AT&T bỏ nhánh sản xuất AT&T  Technologies, Inc. (Western Electric lúc trước) và thiết lập Lucent Technologies Inc. vào năm 1996. Dựa theo cơ cấu tổ chức lúc bấy giờ, Lucent được quyền giữ tất cả các chi nhánh của Bell Labs và AT&T được giữ AT&T Laboratories trong công tác R&D. AT&T Labs sau này gồm thêm cả những đơn vị R&D của SBC sau khi hăng này mua AT&T vào năm 2005.
Trở về trường hợp của Lucent, năm 2000 một phần của Lucent đổi tên là Avaya, Inc với nhánh R&D gọi là Avaya Labs. Năm 2002, Lucent chuyển division sản xuất bộ phận vào chi nhánh R&D của nhóm này và đổi tên thành Agere Systems, Inc.. Rồi vào năm 2007, Agere sáp nhập với LSI Corporation. Năm 2006, hăng viễn thông Alcatel của Pháp mua Lucent và sáp nhập chung thành Alcatel- Lucent, với trụ sở chính đặt tại Paris. Bell Laboratories vẫn được giữ như nhánh R&D của Alcatel-Lucent với chi nhánh tại
Murray Hill, France và vài nơi khác trên thế giới. Để cho dễ phân biệt, chúng tôi xin mạo muội gọi Bell Labs với hai tên khác nhau tương ứng với hai giai đoạn khác nhau : “the Old Bell Labs” dùng để gọi Bell Labs từ lúc mới thành lập vào năm 1925 đến tháng giêng 1984 và “the New Bell Labs” dùng để chỉ định Bell Labs trong thời gian từ 1984 đến hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ thảo luận về cơ cấu tổ chức và môi trường làm việc của “the Old Bell Labs” mà thôi.

1-2           Tổ chức hành chánh ở Bell Labs

Vào cuối năm 1960’s, số nhân viên làm việc ở Bell Labs có tới 15.000 người, trong số đó khoảng 1.200 người có PhD. Vào giữa thập niên 70’s, Murray Hill có khoảng 9.000 nhân viên và Holmdel có 5.000 nhân viên. Theo GS Knoll của University of Southern California (USC), vào thập niên 60’s, thành phần lănh đạo của Bell Labs gồm có trên hết là tổng giám đốc (president). Dưới ông này có nhiều phó tổng giám đốc (vice presidents) phụ trách tổng quát nhiều vùng (area) khác nhau. Mỗi vùng được chỉ định với một con số theo sau bởi con số 0. Thí dụ như vùng 10 bao gồm công tác nghiên cứu và bằng sáng chế được đặt dưới quyền của ông William O Baker. Rồi dưới đó có giám đốc điều hành (executive directors) ; những người này báo cáo trực tiếp đến phó tổng giám đốc của vùng họ đang làm việc. Thí dụ như vùng 12 (Area 12) liên quan đến nguyên lư truyền thông ( communication principle) và John R. Pierce giữ chức giám đốc điều hành. Giám đốc của mỗi ban nghiên cứu (thường được chỉ định với ba con số- chẳng hạn như 123) báo cáo đến giám đốc điều hành của khoa nghiên cứu. Ban (department) được chỉ định với 4 con số, chẳng hạn như 1234) và người cầm đầu ban báo cáo đến giám đốc của pḥng nghiên cứu (laboratory). Cách tổ chức từ tên xuống dưới dựa theo thứ tự vùng (area), bộ (division), pḥng nghiên cứu (laboratory) và ban (department).

H́nh 4. Sự thay đổi của Bell Labs qua nhiều thời đại. Thời kỳ cực thịnh nhất của Bell Labs kéo dài từ 1940-1970. Từ tháng giêng, 1984, “the Bell Labs as we have known it” hết c̣n tồn tại nữa (Tài liệu từ A. Michael Knoll, USC).

 

1-3 Môi trường làm việc

Gần hai phần ba thế kỷ hai mươi, Bell Labs đă góp phần rất khả quan trong công nghệ và khoa học của thế giới. Điều ǵ làm Bell Labs trở thành đặc biệt và “hấp dẫn” đối với người nghiên cứu khoa học? Để trả lời một cách ngắn gọn hơn: tổ chức hành chánh và môi trường làm việc ở Bell Labs là những nhân tố tốt. Những người trong ban lănh đạo có căn bản cao về kỹ thuật và v́ thề rất hiểu rơ giá trị của công tŕnh nghiên cứu và trả nhân viên lương cao hơn những hăng khác để họ có một cuộc sống thoải mái hơn, ngơ hầu có thể dồn năng lực vào công tác nghiên cứu. Trong khoảng thời gian cực thịnh từ năm 1940’s đến 1970s, công việc làm ở Bell Labs giống như công việc ở đại học; nhưng so với đại học, thiết bị ở Bell Labs tốt hơn và người nghiên cứu không phải dành th́ giờ trong việc giảng dạy và viết đề án xin tiền nghiên cứu [3].

Cũng theo GS Knoll, Bell Labs là nơi mà hầu hết mọi người chuyên về khoa học và kỷ thuật muốn đến làm việc. Theo mô h́nh của ông Kelly, 3rd president của Bell Labs, đây là một “institute of creative technology” thiết lập môi trường nhằm tạo một “power house” bằng cách kết nối sư sáng tạo với khoa học. Moi người làm việc rất hăng say. Nơi đây lúc nào cũng có người làm việc ngay cả ban đêm, cuối tuần và ngày nghĩ lễ. Băi đậu xe lúc nào cũng có xe. Bell Labs trở thành “căn nhà ở thứ hai ” của nhiều người làm việc ở đó.

Với mục đích giữ sự b́nh đẳng trong hăng, kỹ sư và người nghiên cứu, ngay cả phó tổng giám đốc có danh xưng là Member of the Technical Staff (MTS). Sau này vào thập niên 70’s, Bell Labs thêm vào danh xưng “ Distinguished Member of Technical Staff” để dành cho những “big name “ với thành tích nghiên cứu rất khả quan trong hăng. Mặc dù hầu hết mọi người trong pḥng nghiên cứu có PhDs, những người ở đây thường xưng hô với nhau bằng Mister (Mr.) theo sau bằng họ (vào thập niên 60s, phái nữ trong pḥng nghiên cứu hấu như không có! ) chỉ trừ trường họp tổng giám đốc và phó tổng giám đốc th́ có chữ Dr. đứng trước họ thí dụ như Dr. Baker và Dr. Fish. Giáo dục và học tập thêm (continued education) cũng rất được chú tâm và khuyến khích ở Bell Labs : Cán bộ giảng huấn từ New York University hay vài trường đại học khác được mời đến dạy để cho những kỹ sư mới có thể lấy đủ tín chỉ cho cấp bằng MS. Nhân viên nghiên cứu thường phải viết technical memoranda (TM) giới thiệu đề tài và báo cáo công tác nghiên cứu của ḿnh và kết quả đạt được. Bản thảo của những tài liệu này được phân phát đến đồng nghiệp để thông báo và lấy ư kiến của họ. Nếu đề tài trong technical memoranda có liên quan đến công tác của một cá nhân nào đó, cá nhân này sẽ liên lạc trực tiếp với người viết TM. Nhân viên nghiên cứu có thể viết bài báo cáo để đăng ở các tạp chí khoa học & kỹ thuật; nhưng trước nhất bản thảo phải được phân phát trong pḥng nghiên cứu, những người liên hệ và ủy ban trách nhiệm về sở hữu trí tuệ để họ thẩm tra & phê b́nh trước khi gửi bài đi. Bài phát biểu ở các hội nghị chuyên ngành cũng phải qua sự xét duyệt nội bô. Một khi đề tài của bài phát biểu được chấp thuận, cá nhân liên hệ cũng phải phát biểu bài nói chuyện của ḿnh trong cộng đồng nghiên cứu của hăng. Phê b́nh rất được khuyến khích nhằm nâng cao giá trị của bài phát biểu.

Ngoài việc thảo luận trong pḥng nghiên cứu, pḥng ăn cũng là nơi thường dùng trong việc trao đổi thông tin và y kiến. Đôi khi sự thảo luận kéo dài ra đến hành lang nối liền ṭa nhà số 1 và số 2 ở Murray Hill. Cán bộ lănh đạo cũng thường đến ăn cơm chung với nhân viên. Ngoài ra nếu cần ư kiến chuyên gia “expert opinion” của bất cứ đề tài nào, các nhân viên nghiên cứu cũng có thể dễ dàng t́m đối tác để thảo luận hay giúp đỡ trong việc phân tích các dữ kiện. Không giống như ở đại học, ở Bell Labs các nhân viên nghiên cứu không phải viết đề án. Thường th́ có cán bộ quản ly biết về đề tài liên quan để khuyến khích và tài trợ. Điều này tiết kiệm được nhiều th́ giờ của những nhân viên làm công tác khoa học và kỹ thuật và để họ có nhiều th́ giờ hơn trong việc nghiên cứu. Bell Labs cũng có chế độ “internship” nhận sinh viên vào mùa hè và  visiting scholars đến làm việc cả tháng với nhân viên trong pḥng thí nghiệm. Bell Labs cũng có ban phụ trách sở hữu trí tuệ với những luật sư chuyên môn về bằng sáng chế (patent attorneys). Nhiều người của ban này xuất thân từ nhân viên làm công tác nghiên cứu rối được hăng gửi đi học ban đêm để trở thành luật sư. Nhiều nhóm chuyên môn cũng được thành lập để trao đổi chuyên môn như nhóm “vật lư chất rắn (solid state physics)” trước chiến tranh gồm có Shockley, Brattain, Fisk, Townes and Wooldridge (Wooldridge sau này là co-founder của TRW; chữ W là tên tắc của Wooldridge). Nhóm này thường gặp nhau thảo luận những đề tài chuyên môn, sau đó đi đến nhà của Brattain uống rượu và đi ăn ở nhà hàng gần Greenwich Village apartment, chỗ Brattain đang ở.

 

1-4 Những cựu tổng giám đốc của Bell Labs

Danh sách những tổng giám đốc (presidents) của Bell Labs từ lúc mới thành lập cho đến khi break-up được kê khai ở H́nh 5. Trong danh sách này, chúng tôi chỉ chú trọng vào những cựu tổng giám đốc của “Old Bell Labs”. Như tŕnh bày ở số trước [1], Mervin Kelly (3rd president) là người đứng sau lưng sự thành công của transistor nói riêng và góp phần trong một số thành quả nghiên cứu lớn khác ở Bell Labs.

H́nh 5. Past presidents của “the Old Bell Labs” [Tài liệu từ Alcatel-Lucent].

Những tổng giám đốc sau 1990 như John S Mayo (1991-1995), Daniel C. Stanzione (1995-1999), Arun Netravali (1999-2001), Bill O’Shea (2001-2005), Jeong Kim (2005-2013) và Gee Rittenhouse sẽ không đề cập ở đây. Độc giả có thể tham khảo trên trang website của Alcatel-Lucent để biết thêm thông tin về những vị này.

 

2 -1 Bell Labs trước chiến tranh

Chiến tranh ở đây là chiến tranh thế giới lần thứ hai. Qua một khoảng thời gian suy ngẫm, chính phủ Mỹ đồng ư với Theodore Val (president của AT&T, hăng mẹ của Bell Labs) về việc để AT&T phát triển và độc quyền về doanh nghiệp điện thoại v́ tính cách quan trọng và “sensitive” của công nghiệp này đối với an ninh quốc gia. Nói một cách khác, làm việc với một doanh nghiệp chuyên lo về điện thoại sẽ dễ dàng hơn cho chính phủ Mỹ. Một mặt khác, cả hăng AT&T và chi nhánh sản xuất Western Electric đều có ban kỹ thuật (engineering departments) lớn. V́ thế thường có thặng dư nhân viên và đôi khi xảy ra sự xung đột về đề tài nghiên cứu giữa hai nhánh nghiên cứu này.

Theo đường lối của AT&T lúc đó, kế hoạch và mục tiêu dài hạn được quyết định bởi AT&T; trong khi đó, trách nhiệm của Western Electric là phát minh và triển khai máy móc và linh kiện mới. Đây cũng là môt trong những lư do đưa đến sự ra đời của Bell Labs. “bằng cách thiết lập một pḥng nghiên cứu trung ương nhằm phục vụ hai “masters”, hăng điện thoại sẽ làm việc hiệu quả hơn ( by establishing one central lab to serve two masters, the phone company would simply be more efficient) [4].

Hướng đi chính của nhóm do Harold Arnold lănh đạo là làm thế nào vượt qua những quan tâm hàng ngày và nhắm đến việc giải quyết những vấn đề căn bản trong 5-10 năm sắp tới. Nhân viên mới được thải dụng, ngoài công tác nghiên cứu c̣n phải làm những công tác “lao động” để hiểu rơ ngành nghề của ḿnh hơn ; chẳng hạn như vào năm thứ nhất ở Bell Labs, Fletcher được huấn luyện trong việc leo lên trụ điện thoại, lắp đặt điện thoại và điều hành switch boards. Kelly cũng phải qua giai đoạn

 huấn nghệ này; nhưng vừa khi ông mới đến làm việc tại Bell Labs, hăng AT&T được chính phủ giao trách nhiệm phát triển và gia tăng tính năng của những máy móc chính phủ dùng trong chiến tranh. Lúc đó Davission và Kelly đều làm việc trong nhóm của Harold Arnold về nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Nhóm của Arnold nghiên cứu ở nhiều lănh vực khác nhau từ hóa học hữu cơ, hóa lư, điện tử đến sinh ly học. Kelly lănh đạo chương tŕnh phát triển và nghiên cứu đèn chân không dùng trong radio và television (khuếch đại tín hiệu yếu từ AC sang DC), on/off fast switch và trong các trạm khuếch đại tín hiệu dùng trong việc truyền thông xuyên lục địa.

Sau chiến tranh Kelly & Davisson được thuyên chuyển qua Murray Hill, nhưng Davission quyết định ở lại Western Street để tiếp tục nghiên cứu những ǵ ông thích mà không giữ vai tṛ quản lư nào cả.

 

2-2 . Connection with Millikan

Robert Andrew Millikan [H́nh 6, bên trái] thuộc Univ. of Chicago là một nhà vật lư thực nghiệm nổi tiếng. Millikan lănh giải Nobel về vật lư năm 1923 lúc ông vào tuổi khoảng giữa 40. Sau này ông về làm giám đốc ở Norman Bridge Laboratory of Physics thuộc California Institute of Technology hay gọi tắc là CalTech ở Pasadena, California và dời pḥng nghiên cứu của ông về đó. Millikan đóng vai tṛ quan trọng trong việc cố vấn và gửi nhiều sinh viên xuất sắc của ông đến AT&T và Bell Labs sau này.

Các ông Jewett, Kelly và Fletcher đều lấy PhD từ University of Chicago. Frank Baldwin Jewett [H́nh 6, bên phải] gặp Millikan khi Jewett c̣n là sinh viên PhD và Millikan là giảng viên trẻ. Hai người này sống chung cùng một apartment, trở thành bạn thân ; và sau này Jewett làm phụ rể trong đám cưới của Millikan. Sau khi lấy xong PhD, lúc đầu Jewett đi dạy ở MIT, sau đó về làm việc ở AT&T. Năm 1910, Jewett viếng thăm Millikan ở Chicago và nói với Millikan rằng ban lănh đạo cao cấp của Bell System đă quyết định, nếu có thể được, sẽ thiết lập một đường điện thoại nối liền New York với San Francico vào dịp Hội chợ San Francisco vào năm 1914. Với kỹ thuật hiện tại th́ không thể thực hiện được. V́ thế Jewett muốn Millikan cung cấp khoảng vài PhDs để nghiên cứu về trạm khuếch đại tín hiệu điện thoại (telephone repeater).

               

[H́nh 6] (a) Robert Millikan and (b) Frank Jewett [1]

Trở về pḥng nghiên cứu của Millikan ở University of Chicago, Fletcher là sinh viên đầu tiên làm trợ tá cho Millikan trong thí nghiệm nổi tiếng “oil-drop experiment”- Millikan đoạt giải Nobel về vật ly về thành công của thí nghiệm này nhằm xác định sự hiện diện và cho giá trị chính xác của hạt electron. Lúc đầu Fletcher từ chối đến làm việc ở Bell Labs v́ ông muốn đi dạy ở Brigham Young University; nhưng với sự đeo đuổi nhẫn nại của Jewett, Fletcher đồng ư đến làm việc ở Bell Labs vài năm sau. Người thứ hai Millikan và Jewett tuyển dụng là Harold Arnold và ông này đồng ư ngay. Trong suốt hai năm, Arnold- một nhà thực nghiệm có tài- làm việc với Jewett để t́m giải pháp về các trạm khuếch đại. Cuối cùng ông này được giao phó công tác nghiên cứu và cải thiện bộ khuếch đại tên là audion được giới thiệu đến AT & T vào năm 1912. Arnold (through trial & error) t́m cách đưa môi trường chân không vào audion và kết quả hiệu xuất của audion gia tăng. Arnold, Millikan và Jewett gặp lại với nhau để thẩm tra về bộ khuếch đại audion mới này. Kết quả khả quan và trở thành sau này với cái tên đèn chân không (vacuum tube). Với sự thành công này, đường dây điện thoại xuyên lục địa với nhiều trạm khuếch đại tín hiệu dùng đèn chân không (vacuum tube repeaters) được thực hiện như dự định.

Mervin Kelly đến làm luận văn PhD liên quan đến “oil-drop experiment với Millikan” vào năm 1915 và sau khi tốt nghiệp đến làm ở AT&T (chi tiết về ông này đă được tŕnh bày ở số trước [1]). Clinton J. Davission cũng đến từ pḥng nghiên cứu của Millikan. Ở AT&T, Davission và Kelly làm việc cùng pḥng pḥng nghiên cứu và rất thân nhau. Sự kiện Davission lănh giải Nobel về vật lư (về việc xác nhận lư thuyết hạt electron di động theo h́nh sóng của Erwin Schrodinger) cũng giúp Kelly tuyển dụng được nhiều PhDs có khả năng sau này.

Karl Darrow cũng đến từ pḥng nghiên cứu của Millikan. Ông này có bệnh hay rung tay nên không thể làm trong pḥng thí nghiệm. V́ thế lúc đầu, ông muốn nghỉ việc ở Bell Labs và đi dạy, nhưng Harold Arnold biết Karl giỏi về việc thu thập và truyền bá tin tức khoa học, nên đề nghị Darrow ở lại. Darrow lo công tác này và là người sáng lập ra tờ tạp chí nổi tiếng “The Bell Technical Journal”.

Darrow cũng đi nhiều nơi trong nước t́m hiểu tin tức và mời cán bộ giảng huấn về dạy tại Bell Labs.

Lúc đó, hầu hết những người đến làm công tác nghiên cứu ở AT&T đến từ pḥng nghiên cứu của Millikan (University of Chicago hay CalTech sau này), MIT hay Princeton University. Phần lớn sinh ra và lớn lên ở những thành phố nhỏ nơi thiếu thốn những thiết bị hiện đại nên phải tự ḿnh sửa lấy những ǵ bị hư và dần dà trở thành “a way of life”. Kelly chính tự ông tuyển dụng William Shockley và Jim Fisk từ MIT. Một số sinh viên đến từ CalTech gồm có Wooldridge (sau này là co-founder của TRW), John Pierce (phát minh communication satellite) và Charles Townes (giải Nobel về vật l‎y về laser). William Baker đến từ Princeton University.

 

2-3 Bell Labs sau chiến tranh

Những tháng tiếp theo sự khủng hoảng thị trường chứng khoán vào năm 1929, kinh doanh trở nên rất khó khăn. Số người dùng điện thoại giảm xuống và tiền lợi nhuận của AT&T v́ thế giảm sút rất nhiều. Trong khoảng thời gian 1930- 1933, có khoảng gần 2.5 triệu gia đ́nh không dùng điện thoại của AT&T. Western Electric sa thải 80% nhân viên. Bell Labs ngưng gởi người đến đại học để tuyển dụng nhân viên mới. Ngay cả ở pḥng nghiên cứu, giờ làm việc cũng bị cắt giảm xuống c̣n 4 ngày một tuần. Rồi t́nh cờ Harold Arnold chết ở tuổi 49 v́ bệnh tim. Jewett chỉ định Oliver Buckley giữ chức vụ của Arnold và Kelly cũng được thăng chức lên chức vị của Buckley không lâu sau đó. Trước khi lên giữ chức vụ mới này, Kelly lănh đạo nhóm làm đèn chân không và đă gia tăng tuổi thọ của bộ khuếch đại tín hiệu điện thoại (telephone repeater) từ 1.000 giờ lên đến 80.000 giờ. Đường giây quản lư ở Bell Labs với Jewett on top, kế đến Buckley và tiếp theo là Kelly kéo dài ở Bell Labs qua nhiều năm.

Rồi giữa thập niên 30s, ảnh hưởng của cuộc Đại Khủng Hoảng (Great Depression) cũng thư giản đi phần nào. Số người dùng hệ thống điện thoại AT&T cũng gia tăng. Lúc này Kelly muốn gia tăng số người nghiên cứu ở department của ông. Đây cũng là lúc ông tuyển dụng Bardeen đến làm việc trong nhóm vật lư chất rắn như đă tŕnh bày ở số trước [1].

 

2-4 Vài câu chuyện thú vị về một số nhân viên mới ở Bell Labs

Charles Townes có một lần nói : “ nông trại và thành phố nhỏ là môi trường huấn luyện tốt cho vật ly thực nghiệm ( farms and small towns are good training grounds for experimental physics)” (Townes). Walter Brattain cũng đồng y về điều này.

Brattain lớn lên ở vùng quê của bang Washington. Trước khi đi học đại học, có lần ông sống cả năm chăn súc vật ở vùng núi gần nhà. Nhiều lúc ông sống một ḿnh cả tháng trong liều với cây súng gối bên đầu lúc ngủ. Từ bang Washington ông phải “nhảy” từ tàu chở hàng này sang tàu chở hàng kia trên đường đến University of Minnesota để học PhD.

Câu chuyện của Charles Townes lại ly kỳ hơn: Với 100 đô-la Bell Labs cho ông để dùng làm tiền lộ phí từ California đến New York. Townes đi xe bus từ LA đến Tucson; rồi từ Tucson, ông mua vé tàu hảng ba (loại rẻ nhất) đi đến Mexico City. Lúc đó vào mùa hè 1939. Trên con tàu này, ông ngồi trên ghế gỗ, chơi accordion và hát cùng với những người Mễ đi hái trái cây trên đường về nhà từ Mỹ. Rồi từ Mexico City, Townes đi đến Guatamala ; nhưng lúc đó biên giới bị đóng, nên ông không thể đi xa được. Townes thay đổi hành tŕnh và đi về Acapulco (lúc đó chưa là trung tâm du lịch) và mướn một cái cḥi ngay trên bờ biển trả 50 cents/một ngày. Sau vài ngày nghỉ mát ở Acapulco, Townes lấy tàu về Texas; rồi từ đó đi xe bus về South Carolina thăm gia đ́nh. Trước khi lên đường đi đến trạm cuối cùng New York. Số tiền 100 đô-la đủ chi phí cả cuộc hành tŕnh của Townes.

3. Kết luận

Chúng ta có thể chia Bell Labs ra làm hai giai đoạn : Giai đoạn thứ nhất là từ lúc thành lập từ năm 1925 đến năm 1984 và tạm gọi là “the Old Bell Labs” ; và giai đoạn hai từ 1984 đến nay; tạm gọi là “the New Bell Labs”. ”The Old Bell Labs” đă tạo một môi trường làm việc ly tưởng trong công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật với “intellectual freedom”, và mô h́nh quản ly tốt.
Đây là những nhân tố chính làm “Old Bell Labs” biến thành một “thánh địa” của R&D trong gần hai phần ba thế kỷ hai mươi.

 

4. Tài liệu tham khảo

[1] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Silicon-Valley-1-Bell-Labs.htm 

[2] Jon Gertner: The idea factory: Bell Labs and the great age of American Innovation, Penguin Books, 2012

[3] Tài liệu từ Robert B. Laughlin, Stanford.

[4] Trích từ Frank Jewett’s memo.