Giai đoạn mới của quan hệ Việt Nhật:

Chuyển từ ODA sang FDI

Trần Văn Thọ
Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo

(bài đă được đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài G̣n số ra ngày 18/9/2003)

 

Nếu kể từ khi các thương thuyền Nhật Bản cập bến Hội An và để lại dấu ấn sâu đậm tại đô thị cổ nầy th́ quan hệ kinh tế Việt Nhật đă có một lịch sử hơn 400 năm. Nhưng sau nhiều thăng trầm của thời thế, hai nước mới lập lại quan hệ b́nh thường năm 1973 và trên thực tế quan hệ nầy mới phát triển đáng kể từ khoảng 10 năm nay. Tuy nhiên tiềm năng phát triển quan hệ kinh tế của hai nước rất lớn, đặc biệt Việt Nam c̣n rất nhiều dư địa tận dụng, phát huy quan hệ nầy để đẩy nhanh chiến lược công nghiệp hoá.

Năm 1992 đánh dấu một kỷ nguyên mới trong quan hệ hai nước: Chính phủ Nhật bắt đầu cung cấp vốn vay ưu đăi và viện trợ phát triển (ODA) cho Việt Nam, các công ty Nhật bắt đầu xem VN là một trong những thị trường đầu tư có nhiều tiềm năng, và kim ngạch ngoại thương hai chiều bắt đầu tăng nhanh. Trong 3 kênh quan hệ đó, cho đến nay ODA đóng vai tṛ chủ đạo. Từ 47 tỉ yen năm 1992, ODA của Nhật dành cho VN tăng liên tục và đạt đỉnh cao ở 112 tỉ yen vào năm 1999. Do kinh tế tŕ trệ nhiều năm,  ngân sách dành cho ODA nói chung bị cắt giảm, nhưng Nhật vẫn chủ trương dành ưu tiên cho VN. ODA cung cấp cho VN trong những năm gần đây là 92 tỉ yen, có giảm so với những năm truớc nhưng đây là do phía VN tiến hành giải ngân quá chậm những cam kết trước làm ảnh hưởng đến quyết định của ODA ở những năm sau. Tuy nhiên, hiện nay Nhật vẫn giữ vị trí áp đảo trong những nước cung cấp ODA cho VN và ngươic lại VN đă trở thành một trong 3 nước nhận ODA của Nhật nhiều nhất. ODA Nhật đă giúp xây dựng nhà máy phát điện, xây dựng cầu đường, sửa sang bến cảng, những cơ sở hạ tầng cần thiết cho kinh tế phát triển.

Vấn đề đáng quan tâm hiện nay là quan hệ hai nước có chuyển dịch được trọng tâm từ ODA sang FDI (đầu tư trực tiếp) hay không. Truớc đây, từ thập niên 1960, Thái Lan và Phi-li-pin đều được Nhật chú trọng cung cấp ODA nhưng từ thập niên 1970, nhất là từ những năm 1980, Thái đă thành công chuyển địa vị chủ đạo từ ODA sang FDI trong quan hệ với Nhật nên đă phát triển mạnh mẽ c̣n Phi-li-pin th́ thất bại nên bị tụt hậu suốt mấy thập kỷ.

Cho đến nay, tại Việt Nam, FDI của Nhật chỉ tương đương với Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc, mặc dù Nhật vượt xa các nền kinh tế nầy về tất cả mọi phương diện như qui mô kinh tế, FDI trên thế giới, xuất khẩu, v.v… Tính đến ngày 20/8/2003, tổng vốn đầu tư đăng kư của Nhật tại VN là 4,45 tỉ USD (403 dự án) trong khi của Singapore là 7,35 tỉ USD (281 dự án), Đài Loan là 5,57 tỉ (1026 dự án) và Hàn Quốc là 3,93 tỉ USD (596 dự án). Về vốn đầu tư đă thực hiện, Nhật xếp thứ nhất với 3,83 tỉ USD, nhưng cũng không cách xa lắm so với Singapore (2,77 tỉ), Đài Loan (2,52 tỉ) và Hàn Quốc (2,82 tỉUSD).

Xét về các phương diện khác ta cũng thấy ngay là Nhật Bản đầu tư ở VN c̣n quá ít. Hiện nay số công nhân viên VN làm việc trong các công ty có vốn Nhật Bản chỉ độ 39.000 người trong khi tại Thái Lan con số đó lên tới gần 400.000 người. Một thí dụ về quy mô sản xuất tại một ngành công nghiệp: Số lượng các công ty sản xuất phụ tùng xe hơi của Nhật tại Thái là 162 trong khi tại VN chỉ có 14.

Thái Lan có một lịch sử tiếp nhận FDI của Nhật dài hơn VN nhiều nên có sự chênh lệch lớn như vậy. Tuy nhiên ḍng chảy FDI từ Nhật trong mấy năm gần đây cũng cho thấy khuynh hướng là Nhật Bản đầu tư ở VN quá ít. Trong 3 năm gần đây nhất (2000-2002), b́nh quân mỗi năm Nhật đầu tư tại Thái Lan 1,8 tỉ trong khi tại VN chỉ có 121 triệu USD!  Ngay cả Phi-li-pin một nước mà tiềm năng không được Nhật đánh giá cao bằng VN, Nhật cũng đầu tư 415 triệu b́nh quân năm trong thời gian đó.

Đối với VN, một nước đang đặt vấn đề công nghiệp hoá làm chiến lược hàng đầu, FDI của Nhật có một ư nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, Nhật đă xác lập được thế mạnh trong ngành công nghiệp, hàng công nghiệp của Nhật có chất lượng cao, tŕnh đô kỹ thuật, công nghệ, năng lực quản lư trong sản xuất đă và c̣n đang đi đầu thế giới. FDI của Nhật do đó có tác dụng đẩy nhanh quá tŕnh công nghiệp hoá tại những nước họ đầu tư nhiều. Thái, Malaixia, Trung Quốc, v.v.. đă chứng minh điều đó. Thứ hai, Nhật có đặc tính là trước khi quyết định các dự án FDI, họ điều tra và tính toán kỹ nhưng khi đă quyết định và được cấp giấy phép, họ triển khai nhanh và đặt kế hoạch bén rễ lâu dài tại nơi họ đầu tư. Thứ ba, so với những nền kinh tế nhỏ và mới phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,.. , hầu hết các công ty đa quốc gia của Nhật đều có mạng lưới tiếp thị và thu tập thông tin rộng khắp thế giới. Cấc công ty chế tạo lại có quan hệ hợp tác có hiệu quả với những công ty thuơng mại tổng hợp (general trading companies) như Mitsui, Mitsubishi, C. Ito, Marubeni, v.v.., những tác nhân (agent) có năng lực phát hiện lợi thế so sánh của các nước, năng lực huy động vốn, tiếp thị, thu tập thông tin và tổ chức sản xuất, lưu thông phân phối qui mô toàn cầu. Do đó, FDI từ Nhật có khuynh huớng tăng sức cạnh tranh quốc tế, tăng năng lực hội nhập của nước sở tại.

Từ  nhận định nầy ta thấy rất tiếc là FDI của Nhật tại VN c̣n quá ít. Thật ra, Nhật đánh giá cao tiềm năng VN (chính trị, xă hội ổn định, dân số và lực lượng lao động có qui mô lớn và được tiếng thông minh, vị trí địa lư thuận lợi, …) và nh́n chung nguời Nhật rất thích làm việc tại VN, nhiều nguời cho biết là rất dễ thích nghi với văn hoá, với cuộc sống thường nhật tại VN. Điều tra hằng năm của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho thấy VN thuờng xếp hạng thứ tư hoặc thứ năm trong những nước mà các công ty lớn của Nhật đánh gía là thị truờng đầu tư họ sẽ chú trọng trong tương lai gần. Nhưng do những yếu sẽ nói dưới đây, người Nhật chưa đầu tư nhiều ở VN. Thay vào đó, số du khách Nhật Bản sang thăm VN ngày càng tăng với tốc độ cao. Chỉ có 4 năm, từ 1998 đến 2002, số du khách Nhật đến VN tăng hơn 4 lần, từ 40.000 đến 170.000 (kể cả những người đến VN với mục đích khác th́ những con số đó là 90.000 và 280.000 người).

FDI của Nhật tại VN c̣n quá ít v́ phí tổn đầu tư c̣n quá cao và môi truờng đầu tư c̣n nhiều rủi ro về mặt chính sách. Hành lang pháp lư đă được cải thiện đáng kể vào năm 2000 với Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi nhưng vấn đề là các phí tổn đầu tư như tiền thuê đất, thuế lợi tức cá nhân của người nước ngoài, các chi phí đầu vào như cước phí bưu chính viễn thông, v.v.. c̣n quá cao. Nhưng yếu tố trở ngại lớn nhất hiện nay là VN chưa có một chiến lược phát triển công nghiệp nhất quán, chính sách hay thay đổi làm tăng rủi ro của các dự án đầu tư. Chính sách thuế và bộ máy hành chánh kém hiệu suất cũng làm nản chí những nhà đầu tư Nhật Bản.

     Nhân kỷ niệm 30 năm nối lại quan hệ hai nước, Việt Nam ta cần hiểu rơ ư nghĩa và tiềm năng của FDI Nhật Bản đối với quá tŕnh công nghiệp hoá và hội nhập sắp tới để có chiến lược thu hút FDI từ nước nầy. Quan hệ Việt Nhật nên được chuyển nhanh từ ODA làm trọng tâm sang giai đoạn mà FDI nắm vai tṛ chủ đạo.

                  (Hà Nội và Tokyo, tháng Nhật Bản tại VN và tháng Việt Nam tại NB)