4.000 ngày thay đổi Việt Nam

Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản

(Bài đă đăng trên báo Xuân Canh Tư 2020 của Tuổi Trẻ.

Đây là bản gốc, bổ sung 27/1/2020)

Năm 2020 có thể bắt đầu một kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của Việt Nam? Từ đầu 2020 đến cuối 2030 là 11 năm, tức là khoảng 4000 ngày, nếu có chiến lược, chính sách đúng đắn, kèm theo là những cải cách cần thiết th́ 4000 ngày có thể làm thay đổi Việt Nam, thay đổi diện mạo Việt Nam trên trường quốc tế và thay đổi hẵn cuộc sống của người Việt Nam cả chất và lượng.

Gần đây nhiều người ở Việt Nam cho rằng ta không nên chạy theo tăng trưởng v́ tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo các hệ lụy như phá hoại môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, v.v. Đúng là nếu theo mô h́nh tăng trưởng như mấy chục năm qua th́ các ư kiến ấy là xác đáng. Nhưng phải đặt vấn đề theo cách khác: Làm sao để phát triển nhanh hơn mà vẫn giữ được sự hài ḥa với thiên nhiên và xă hội, và tạo một cân bằng thích đáng giữa nguồn lực trong nước và nước ngoài?

Trong 30 chục năm qua, Việt Nam tăng trưởng b́nh quân 6,5%, gần đây cũng chỉ gần 7%. Có nhiều ư kiến cho rằng trong thập niên tới Việt Nam cố gắng phát triển như tốc độ trong thời gian qua là lư tưởng rồi. Nhưng theo tôi tiềm năng của Việt Nam lớn hơn tốc độ đó nhiều và ta cần phải cố gắng để phát huy hết tiềm năng mới nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước chung quanh, và mới bảo đảm công ăn việc làm của một đất nước sắp đạt 100 triệu dân. Hiện nay (2019), tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam xếp thứ 46 trên thế giới (dân số th́ xếp thứ 15) và xét theo GDP b́nh quân đầu người th́ Việt Nam xếp thứ 137, c̣n rất thấp.

Theo báo cáo dài hạn Vietnam 2035 của Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam phát biểu năm 2016, nếu GDP b́nh quân đầu người (theo giá trị thực) tăng mỗi năm 6% (nghĩa là kinh tế tăng trưởng gần 7%/năm, chỉ cao hơn tốc độ b́nh quân trong thời gian qua độ 0.5 điểm phần trăm) th́ đến năm 2035 thu nhập b́nh quân đầu người lúc đó mới chỉ bằng Malaysia vào năm 2002. Cũng theo báo cáo nầy, nếu VN đặt mục tiêu khát vọng tăng trưởng với tốc độ tăng b́nh quân đầu người 7% (kinh tế tăng gần 8%) th́ năm 2035 b́nh quân đầu người của VN sẽ bằng Hàn Quốc vào năm 2002 và Malaysia năm 2013. Thật ra, theo tôi, nếu quyết tâm cải cách thể chế để phân bổ hiệu suất các nguồn lực trong nước và tận dụng có chọn lọc các nguồn lực ngoài nước th́ tốc độ tăng trưởng có thể cao hơn nữa.

Trong thời cận đại, những nước thành công trong việc rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước hầu như đều trải qua một giai đoạn tăng trưởng cao (trên dưới 10% trong một thời gian dài). Điển h́nh là Nhật Bản 18 năm (1955-1973), Hàn Quốc 13 năm (1982-1995) và Trung Quốc gần 30 năm (1983-2011). Việt Nam chưa bao giờ có một giai đoạn phát triển cao như vậy. Theo tôi, xuất phát từ cơ cấu kinh tế hiện nay, từ các thuận lợi của ḍng chảy tư bản và công nghệ thế giới, nếu có khát vọng trở thành đất nước giàu mạnh để thực hiện các cải cách cần thiết và các chính sách thích hợp th́ thập niên 2020 sẽ là giai đoạn tăng trưởng cao của Việt Nam.

Dĩ nhiên nói về thành quả phát triển mà chỉ dựa vào GDP hoặc GDP đầu người th́ quá thiếu sót, đôi khi làm lu mờ những mặt quan trọng hơn. Tuy nhiên cho đến bây giờ các chỉ tiêu nầy vẫn có tính tổng hợp nhất, có thể dùng để khởi đầu khi đánh giá tŕnh độ phát triển. Thật ra, trong dài hạn, dù c̣n nhiều hạn chế, sự thay đổi của chỉ tiêu GDP thường đi song song với những thay đổi về chất như chỉ số phát triển nguồn nhân lực, về điều kiện sức khỏe, v.v..

Nhưng để tránh t́nh trạng chạy theo thành tích, tư duy nhiệm kỳ mà hậu quả là hy sinh chất lượng để đạt mục tiêu tăng trưởng, cách tiếp cận tốt nhất là giải phóng các nguồn lực, có chiến lược, chính sách thích hợp tận dụng các nguồn lực trong và ngoài nước th́ sẽ thấy kết quả có thể lớn hơn dự tưởng. Từ cách tiếp cận này ta sẽ xem đâu là các yếu tố trong và ngoài nước đang là tiềm năng phát triển và cần có chiến lược, chính sách ǵ để khơi dậy tiềm năng.

Trước hết là nhóm các yếu tố đang trở thành dư địa để tăng năng suất và làm cho kinh tế phát triển cao:

Thứ nhất, lao động dư thừa trong nông nghiệp c̣n rất lớn. C̣n tới trên 40% lao động làm việc trong nông lâm ngư nghiệp là khu vực mà năng suất rất thấp. Trong khi đó, công nghiệp hóa c̣n ở mức thấp (giá trị công nghiệp trong GDP mới khoảng 20%), hơn nữa cơ cấu công nghiệp c̣n rất mỏng (lắp ráp là chủ đạo, công nghiệp hỗ trợ yếu, Việt Nam c̣n ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu). Do đó, trong thời gian qua, xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam tăng rất nhanh nhưng càng xuất khẩu càng phụ thuộc vào sản phẩm trung gian nhập từ nước ngoài, nhất là từ Trung Quốc. Trong thời gian tới ta phải đẩy mạnh sản xuất thay thế những mặt hàng trung gian đang nhập khẩu. Cùng với nỗ lực theo chiều sâu nầy, công nghiệp hóa cũng cần được đây mạnh theo diện rộng và kết quả là lao động dư thừa ở nông thôn, ở khu vực nông nghiệp sẽ dịch chuyển nhanh chóng sang khu vực công nghiệp, đưa năng suất toàn xă hội lên cao.

Thứ hai, khu vực kinh tế cá thể c̣n chiếm tới 30% GDP và hơn 90% số lượng doanh nghiệp VN hiện nay có quy mô rất nhỏ và siêu nhỏ, nhiều doanh nghiệp tiềm năng c̣n trong khu vực phi chính thức Từ các con số này, ta thấy rất rơ rằng chỉ cần dịch chuyển lao động từ khu vực cá thể sang khu vực kinh tế hiện đại, có tổ chức ở quy mô lớn th́ năng suất lao động của toàn xă hội sẽ tăng lên rất nhanh. Qui mô doanh nghiệp quá nhỏ th́ không thể đầu tư lớn với công nghệ, máy móc hiện đại và do đó năng suất rất thấp. Bài toán ở đây là tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển lên qui mô lớn.

Thứ ba, ḍng chảy của tư bản công nghệ, tri thức quản lư kinh doanh theo kênh đầu tư trực tiếp (FDI) và các h́nh thức khác đang hướng vào Việt Nam. Nếu Việt Nam không để cho các ḍng chảy tự phát vào mà có chính sách tích cực định hướng và chuẩn bị các điều kiện về hạ tầng và nguồn nhân lực th́ đây là cơ hội lớn để phát triển nhanh. FDI phải được thu hút theo hướng thúc đẩy quá tŕnh chuyển dịch của hai yếu tố đầu tiên.

Ba yếu tố vừa kể nếu giải quyết tốt, năng suất lao động sẽ tăng nhanh và kinh tế phát triển vói tốc độ cao. Nhưng đó mới là những tiềm năng. Để tiềm năng trở thành hiện thực cần nhanh chóng thực hiện các cải cách, các chính sách ǵ? Trong khuôn khổ của bài báo, tôi chỉ sơ lược mấy điểm chính:

1. Về chiến lược phát triển:

Trước hết đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng thay thế nhập khẩu các sản phẩm trung gian, các ngành thuộc công nghiệp hỗ trợ, nhất là những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao đang nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN. Đó là bề sâu của công nghiệp hóa, chủ yếu tập trung trong những ngành liên quan các loại máy móc như ô tô, xe máy, đồ điện gia dụng, máy tính, máy in, v.v.. Một đất nước 100 triệu dân, công nghiệp hóa cũng cần và có thể mở ra theo b́nh diện rộng. Chẳng hạn công nghiệp thực phẩm có tiềm năng lớn, với nguồn lực nông thủy sản phong phú, với thị trường trong và ngoài nước ngày càng đ̣i hỏi chất lượng cao, cần có chiến lược yểm trợ h́nh thành các dây chuyền cung ứng thực phẩm bằng công nghệ tiên tiến. Ngoài ra, tạo môi trường đầu tư tốt, doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ tự t́m ra các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế.

Một tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật số, cách mạng công nghệ 4.0 là tự động hóa trong sản xuất ngày càng mạnh, phát triển công nghiệp không thu hút nhiều lao động như trước, kể cả trong các lănh vực vốn có hàm lượng lao động cao. Do đó, vừa tiến hành công nghiệp hóa sâu và rộng nhưng đồng thời phải phát triển nông nghiệp và dịch vụ. Công nghiệp hóa không thôi sẽ không tạo đủ công ăn việc làm cho người dân. Cần phát triển nhiều ngành dịch vụ mà VN đang có thế mạnh như du lịch, công nghệ thông tin phần mềm,…VN có cảnh quan biển và nhiều di sản văn hóa nhưng chưa đủ nguồn nhân lực để tổ chức và vận hành dịch vụ du lịch một cách có văn hóa, hiệu quả và bảo vệ môi trường.

Về việc thu hút FDI, từ khi gia nhập WTO (2007), Việt Nam quá tích cực và buông lơng quản lư nên kết quả là kinh tế phụ thuộc nhiều vào FDI và trong đó rất nhiều dự án không cần thiết hoặc có những hoạt động gây bức xúc trong xă hội. Do đó cần thay đổi chiến lược. Hiện nay do chiến tranh thương mại Mỹ Trung, nhiều cơ sở sản xuất ở Trung Quốc có khuynh hướng dịch chuyển sang Việt Nam và nhiều dự án FDI khác cũng đang hướng vào nước ta. Nhưng trước làn sóng FDI mới này, Việt Nam cần có chính sách tích cực, chủ động chọn lựa những ngành công nghiệp có công nghệ cao, những ngành công nghiệp hỗ trợ cơ bản để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao hơn, để thâm sâu cơ cấu công nghiệp, giảm độ tùy thuộc vào giá trị gia tăng ở nước ngoài. Ngoài ra, nên tích cực chọn lựa những nhà đầu tư đă xác lập được tên tuổi là những doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh, có trách nhiệm xă hội để ngay từ đầu tránh những tiêu cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ, và để chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh đến các công ty trong nước. Tóm lại là không để làn sóng FDI vào Việt Nam một cách tự phát.

2. Hoàn thiện thị trường vốn, thị trường đất đai và cải cách hành chánh để chuyển dịch khu vực cá thể, và yểm trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Phần lớn doanh nghiệp VN hiện nay có quy mô rất nhỏ và siêu nhỏ v́ môi trường kinh doanh khó khăn (phí tổn hành chánh quá lớn) và khó tiếp cận với vốn và đất để đầu tư. Cần cải cách hành chánh để giảm xin cho, giảm kiểm tra và hoàn thiện thị trường vốn, thị trường đất đai. Việc nầy đă được bàn luận nhiều nhưng tiến triển chậm. Nếu có khát vọng phát triển phải khẩn trương cải cách các lănh vực này.

Ngoài hoàn thiện cơ chế thị trường cần các biện pháp chính sách hỗ trợ cụ thể hơn. Bộ máy phụ trách doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương và địa phương phải phát huy chức năng hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp nhỏ, vừa, siêu nhỏ trong việc vay vốn, t́m đối tác, phương pháp tiếp cận thị trường, tiếp cận công nghệ. Các cơ quan nầy cũng có vai tṛ giới thiệu các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ liên kết với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

3. Đào tạo nguồn nhân lực theo hướng mới:

Mấu chốt của chiến lược phát triển ở đây có 2 vế: một là toàn dụng lao động để ai cũng có việc làm, không ai bị buộc phải ra nước ngoài t́m việc làm một cách bất đăc dĩ, và hai là dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ khu vực cá thể, phi chính thức sang khu vực tiên tiến có qui mô lớn. Để quá tŕnh này diễn ra song suốt th́ phải chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Trong nước thường nói đến những vấn đề to tát như công nghệ 4.0, kinh tế tri thức, v,v,, nhưng không thấy có triển khai ǵ cụ thể, nhất là những vấn đề liên quan nguồn nhân lực. Theo tôi cần có cách tiếp cận thực tế và hiệu quả.

Trong thời đại công nghệ 4.0, nói về người lao động trung cấp trở lên, chỉ cần tạo cho họ có khả năng đọc tiếng Anh, sử dụng máy tính, và quen với việc truy cập internet. Nhưng đó mới chỉ là năng lực cơ bản. Thêm vào đó cần đào tạo cho họ khả năng suy luận để phân tích, giải quyết vấn đề, và có văn hóa để làm việc có trách nhiệm và ứng xử tốt với người khác. Để tuyệt đại đa số lao động dịch chuyển theo hướng đă phân tích th́ đại học đoản kỳ (2 năm) là hiệu quả nhất, v́ có thể nhanh chóng cung cấp đủ nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa và phát triển các ngành dịch vụ như đă nói. Tại đại học đoản kỳ, sinh viên học 1 năm văn hóa và 1 năm chuyên môn như kế toán, quản lư du lịch, cao đẳng kỹ thuật, thư kư văn pḥng, quản lư trung gian ở nhà máy, v.v... Nhu cầu lao động ở tŕnh độ này rất cao, đào tạo ngắn hạn nên cung cấp ra thị trường nhanh chóng.

Tại VN hiện nay bậc trung cấp tương đương với đại học đoản kỳ 2 năm nhưng v́ tên gọi như vậy không hấp dẫn người đi học và trên thực tế bậc học nầy cũng không được đầu tư đúng mức. C̣n cao đẳng th́ mất 3 năm nên tâm lư người đi học muốn vào đại học 4 năm v́ chỉ sai biệt có 1 năm. Theo tôi cần sớm chỉnh lư lại hai loại h́nh nầy và thống nhất thành đại học đoản kỳ 2 năm, bảo đảm chương tŕnh học tốt và có việc làm ngay khi tốt nghiệp sẽ tạo sự hấp dẫn, giải quyết t́nh trạng nhiều người muốn vào đại học (4 năm) nhưng khi ra trường th́ thất nghiệp hoặc không làm những việc ngoài chuyên môn.

Vài lời kết: Theo một dự thảo gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung b́nh cao vào năm 2030. Như vậy từ lúc đạt mức trung b́nh thấp (2008) đến khi đạt mức trung b́nh cao Việt Nam sẽ mất tới 22 năm. Trung Quốc từ trung b́nh thấp đến trung b́nh cao chỉ mất 15 năm. Hàn Quốc cũng thế. Theo tôi tiềm năng của VN có thể cho phép phát triển trên dưới 10% trong thập niên 2020 và sẽ đạt mức trung b́nh cao vào nửa sau thập niên 2020. Dĩ nhiên điều này tùy thuộc thành quả của cải cách thể chế và chiến lược phát triển thích hợp.

Biểu đồ kèm theo cho thấy cho đến thập niên 1960, GDP đầu người của Việt Nam hầu như xấp xỉ với các nước chung quanh nhưng sau đó khoảng cách ngày càng lớn. Trong thập niên tới ta phải cố gắng vượt bậc.

Đầu xuân, chúng ta cần đưa ra một chiến lược phát triển kinh tế xă hội theo hướng làm cho Việt Nam bước vào một kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ và bền vững. Làm sao để vào đầu thập niên 2040, các nhà nghiên cứu nh́n lại thập niên cũ sẽ cảm thán bằng câu: 4000 ngày đă thay đổi Việt Nam!.

Tokyo, xuân 2020, T.V.T

 


Bị chú của ERCT :

* Bài đă đăng trên trang điện tử báoTuyổi Trẻ  Đăng lại với sự đồng ư và bổ sung của GS Trần Văn Thọ.