Con đường rút ngắn khoảng cách phát triển  

Trần Văn Thọ
Đại học Waseda, Tokyo  (10/2006)

Lời nói đầu và viết thêm (30/12/2008):

Đầu thập niên 1990 lănh đạo Việt Nam nói đến 4 nguy cơ. Trong các nguy cơ đó, thủ tướng đương thời Vơ Văn Kiệt nhấn mạnh nguy cơ tụt hậu, chủ trương cần cải cách mạnh và nhanh để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước chung quanh. Quan tâm của dư luận lúc đó là (1) Khoảng cách phát triển của VN đối với các nước chung quanh, cụ thể là Thái Lan, nên được đánh giá như thế nào, ta tụt hậu bao nhiêu so với Thái Lan, và (2) Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách đó? Tôi đă thử phân tích để trả lời hai câu hỏi trên trong bài viết đăng trên báo Tết năm 1995 của Thời báo kinh tế Saigon. Bài nầy được viết lại vào năm 2006 (chủ yếu làm mới các tư liệu thống kê) để đăng trong Kỷ yếu mừng Giáo sư Đặng Đ́nh Áng tṛn 80 tuổi. Bài giới thiệu dưới đây là nội dung của bài đăng trong kỷ yếu nầy.

Gần đây, một số người chỉ dựa trên khoảng cách GDP đầu người giữa Việt Nam với các nước lân cận và tốc độ phát triển dự đoán cho tương lai của các nước để đưa ra kết luận bi quan về số năm quá dài để VN có thể theo kịp các nước lân cận. Như sẽ thấy trong bài dưới đây, chất lượng phát triển phải được chú trọng và phải được xét đến trong khi so sánh khoảng cách giữa các nước. Ngoài ra những người tính toán về số lượng c̣n quên một yếu tố quan trọng là tỉ giá của đồng tiền sẽ thay đổi lớn trong quá tŕnh phát triển. Khi VN phát triển nhanh hơn, sức cạnh tranh quốc tế mạnh hơn, đồng tiền VN sẽ mạnh hơn (sẽ cần ít tiền đồng VN hơn để mua hoặc quy đổi một đồng đô la). Chính yếu tố nầy sẽ đẩy nhanh quá tŕnh rút ngắn khoảng cách phát triển tính bằng tiền đô la. Nếu đồng yen của Nhật vẫn duy tŕ mức 360 yen trên một đô la (như trong giai đoạn trước 1970) th́ c̣n rất lâu Nhật mới theo kịp Mỹ và các nước Tây phương.

 

  Kinh tế Việt Nam gần đây phát triển khá cao, tăng trung b́nh mỗi năm 7,5%. GDP (tổng sản phẩm trong nước) trên đầu người tăng liên tục, từ trên dưới 300 USD năm 1995 lên 400 năm 2000 và 640 USD năm 2005. Tuy nhiên nhiều người đang băn khoăn về hai vấn đề lớn. Một là chất lượng phát triển: Đồng thời với tốc độ phát triển tương đối cao, sự phân hoá giàu nghèo trong xă hội và sự xuống cấp môi trường sống ngày càng trầm trọng. Hai là nguy cơ tụt hậu so với các nước chung quanh: Tuy Việt Nam ngày nay đă tiến một bước khá dài so với chính ḿnh ngày hôm qua nhưng so với các nước chung quanh ta vẫn c̣n ở một vị trí thấp. Điểm đáng nói ở đây không phải là Việt Nam phải tăng tốc phát triển hơn nữa để theo kịp các nước chung quanh bằng bất cứ giá nào (v́ như vậy có thể sẽ mâu thuẫn với chất lượng phát triển), nhưng cái băn khoăn chính đáng ở đây là trong khi nhiều nước chung quanh tận dụng mọi cơ hội quốc tế, động viên mọi nguồn lực  trong nước để tiếp tục phát triển th́ chúng ta đang để lăng phí nguồn nhân lực và chậm cải cách về hành chánh, về giáo dục, về khoa học, công nghệ, v.v.., tạo ra khả năng kéo dài nguy cơ tụt hậu trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới. Ngoài ra, nhiều người c̣n bức xúc khi thấy sau hơn 30 năm hoà b́nh, thống nhất, Việt Nam vẫn c̣n là một nước thu nhập thấp mặc dù tiềm năng của ta không nhỏ. [1]          

   Bài viết so sánh tŕnh độ phát triển của kinh tế Việt Nam với vài nước ở Đông Á, chủ yếu là Thái Lan, và đưa ra một cách tiếp cận vấn đề rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực.[2]

 

   I. Thử so sánh Việt Nam với Thái Lan:

  So với các nước chung quanh, tŕnh độ phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay nằm ở đâu? Sau đây ta thử so sánh Việt Nam với Thái Lan, hai nước có số dân không khác nhau nhiều (vào năm 1990 dân số Việt Nam 66 triệu, Thái Lan 56 triệu), có cấu tạo tài nguyên gần giống nhau, và nhất là vào thập niên 1950, hai nước hầu như có cùng tŕnh độ phát triển.[3] 

 Việc so sánh tŕnh độ phát triển của nước này với nước khác không phải dễ v́ khó có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể biểu diễn tổng quát tŕnh độ phát triển của một nước. Tuy nhiên, khảo sát một nhóm các chỉ tiêu cơ bản ta cũng có thể có một h́nh dung tương đối đầy đủ. Một chỉ tiêu thường được đem so sánh là tổng thu nhập quốc dân (GNI) hoặc tổng sản phẩm trong nước (GDP) tính trên đầu người. Theo tư liệu của Ngân hàng thế giới, vào năm 2004, GNI đầu người ở Việt Nam là 550 USD, ở Thái Lan là 2.540 USD (Trung Quốc là 1.290 USD). Tuy nhiên, những con số nầy không phản ảnh mức sống của dân chúng v́ sức mua của đồng đô-la khác nhau giữa nước này với nước khác. Để so sánh chính xác hơn phải dùng GNI hoặc GDP tính theo tỉ giá so sánh ngang sức mua (PPP). Cũng theo tư liệu của Ngân hàng thế giới, vào năm 2004, GNI trên đầu người theo PPP của Việt Nam là 2.700 USD, xấp xỉ bằng 1/2 của Trung Quốc, và người Thái Lan với 8.020 USD có mức sống cao hơn người Việt Nam độ 3 lần.

Tuy nhiên ở đây c̣n hai vấn đề nữa. Thứ nhất là vấn đề phân phối. Nếu việc phân phối lợi tức quá bất b́nh đẳng th́ ư nghĩa của việc tăng tổng sản phẩm trên đầu người bị giảm đi. Vấn đề thứ hai liên quan đến môi sinh, môi trường, điều kiện làm việc. Hai nước dù có cùng thu nhập trên đầu người (trên cơ sở PPP) nhưng khác nhau ở mặt này th́ rơ ràng là chất lượng cuộc sống của dân chúng không giống nhau. Tóm lại, nếu ta phát triển công bằng hơn và trong điều kiện môi trường, môi sinh tốt hơn th́ không cần phải đạt 8.000 USD mới bằng mức sống của Thái Lan hiện nay.

Một cụm các chỉ tiêu khác chỉ tŕnh độ phát triển của một nước liên quan đến tŕnh độ chuyển dịch cơ cấu của một nền kinh tế. Những nước có mật độ dân số đông và xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu phải qua con đường công nghiệp hoá mới phát triển được và mới hiện đại hoá được bản thân nền nông nghiệp. Thống kê của Ngân hàng thế giới cho thấy vào năm 1994, tỉ trọng của công nghiệp trong GDP của Việt Nam độ 22%, xấp xỉ tŕnh độ của Thái Lan vào khoảng năm 1980. Theo tính toán của Vũ Quang Việt (1994), chuyên viên cao cấp về thống kê của Liên Hiệp Quốc, th́ vào năm 1993, tỉ lệ nầy của Việt Nam chỉ có 15%. Trong cuốn sách xuất bản 9 năm trước, chúng tôi căn cứ trên con số nầy và đánh giá là tỉ lệ của khu vực công nghiệp trong GDP của Việt Nam tương đương với Thái Lan vào năm 1970 (Trần Văn Thọ 1997, Chương 15). Dĩ nhiên sau năm 1993, công nghiệp của Việt Nam phát triển nhanh và vào thời điểm gần đây, theo World Development Indicators của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ ấy của Việt Nam đă vượt quá 20%, tương đương với Thái Lan vào đầu thập niên 1980 (Thái Lan vào năm 2001 là 32%).

 Về tỉ lệ của hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu, vào năm 2005 Việt Nam đă đạt mức 60%, tương đương với Thái Lan vào giữa thập niên 1980. Kết hợp với thống kê về tỉ lệ sản xuất công nghiệp trong GDP, có thể nói tiến tŕnh công nghiệp hoá của Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan độ 20 năm.

Tổng hợp hai chỉ tiêu công nghiệp hoá và với vài phân tích bổ sung, ta có thể kết luận là vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam đi sau Thái Lan độ 20 năm. Chín năm trước, căn cứ trên thống kê năm 1993 hoặc 1994, tôi đă cho rằng Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan độ 25 năm (TVT 1997, Chương 15). Hai con số 25 năm và 20 năm vào hai thời điểm 1997 và 2004 (hoặc 2005) nên được đánh giá như thế nào? Việt Nam đă phát triển nhanh hơn Thái Lan trong giai đoạn sau năm 1993 nên vào thời điểm gần đây, khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan phải ngắn hơn khoảng cách 25 năm. Đây là lănh vực khó có sự chính xác nhưng qua những phân tích trên đây ta có thể h́nh dung một khoảng cách phát triển giữa hai nước dựa trên những cơ sở có thể chấp nhận được.

 

II. Chiến lược rút ngắn khoảng cách phát triển

Phân tích trong phần trên cho thấy một cách khái quát là hiện nay Việt Nam đi chậm hơn Thái Lan độ 20 năm. Tuy nhiên ở đây không có nghĩa là ta phải cần một thời gian như vậy mới bằng mức của Thái Lan bây giờ. Các nước đi sau nếu có chính sách đúng đắn có thể đốt giai đoạn và đây là khuynh hướng chung đă thấy trong trường hợp của Nhật Bản, Hàn  Quốc và nhiều nước khác. Thêm vào đó, như đă nói ở trên, nếu ta phát triển trong sự phân phối đồng đều hơn, và trong điều kiện môi sinh, môi trường tốt hơn, nghĩa là chất lượng phát triển tốt hơn, th́ ta có thể đạt được mức sống bằng Thái Lan bây giờ với mức lợi tức đầu người thấp hơn.

So với Thái Lan, Việt Nam hiện nay có một số lợi thế, nhất là về mặt nhân lực.  Chương tŕnh phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tổng kết các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, thu nhập, đă đưa ra một chỉ số tổng hợp về việc phát triển nhân lực (human development index) của 177 nước. Theo Human Development Report 2005 (UNDP), chỉ số nầy vào năm 2003 cho thấy Việt Nam xếp thứ 108 và Thái Lan thứ 73, Trung Quốc thứ 85. Nếu xếp hạng theo b́nh quân đầu người của GDP tính theo PPP th́ Việt Nam đứng thứ 124, Thái Lan 66 và Trung Quốc 96. Các thống kê nầy cho thấy so với GDP đầu người, Việt Nam có tŕnh độ về nguồn nhân lực tương đối cao. Nếu nh́n các chỉ tiêu về nguồn nhân lực ở một số khía cạnh hẹp hơn như tỉ lệ người lớn biết chữ, ta thấy Việt Nam xấp xỉ Trung Quốc và không thua kém bao nhiêu so với Thái Lan. Mặc dù t́nh h́nh giáo dục xuống cấp ở Việt Nam hiện nay đương làm nhiều người lo ngại, nhưng nh́n vấn đề ở một góc độ khác, có thể nói nếu những vấn đề giáo dục hiện nay được quan tâm giải quyết triệt để th́ tŕnh độ về nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ được nâng cao hơn nữa và nếu lợi thế này được phát huy, khả năng rút ngắn khoảng cách với các nước chung quanh sẽ rất lớn.

Một thuận lợi khác của Việt Nam là vị trí địa lư với bờ biển dài tiếp cận dễ dàng với các nước phát triển trong khu vực. Yếu tố nầy cùng với sự ổn định về chính trị. xă hội và tiềm năng về con người nói trên đă làm cho xí nghiệp nước ngoài quan tâm nhiều đến Việt Nam từ đầu thập niên 1990. Nếu môi trường đầu tư được cải thiện, ta sẽ không thiếu tư bản, công nghệ và tri thức kinh doanh cần thiết để đuổi theo các nước chung quanh trong quá tŕnh phát triển.

Thuận lợi thứ ba là, so với Thái Lan, cách bài trí các thành phố, các trung tâm kinh tế trong cả nước, tương đối hài hoà. Nếu có kế hoạch từ bây giờ, dân số và hoạt động kinh tế sẽ được phân tán rộng khắp cả nước, tránh t́nh trạng ô nhiễm môi trường và ngăn ngừa sự chênh lệch quá lớn về lợi tức giữa các tầng lớp dân chúng và giữa các khu vực. Đây là điều kiện để nâng cao chất lượng của việc phát triển.

Tuy nhiên, những thuận lợi vừa nói chỉ là tiềm năng. Phải khơi dậy các tiềm năng nầy để kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững. Nếu có quyết tâm v́ sự nghiệp phát triển đất nước và từ đó ưu tiên tạo ra các cơ chế khơi dậy tiềm năng và tập trung trí tuệ đặt ra chiến lược phát triển đúng đắn, Việt Nam có thể phát triển b́nh quân trên dưới 9% năm (GDP đầu người b́nh quân tăng độ 7-8% năm) trong 20 năm đầu của thế kỷ 21. Thực hiện được mục tiêu nầy th́ cứ 10 năm mức sống của người Việt Nam sẽ tăng gấp đôi. Để kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững trong thời gian dài như vậy phải vừa đẩy nhanh quá tŕnh tích luỹ tư bản vừa tạo điều kiện để kinh tế phát triển có hiệu suất. Ta thử bàn thêm hai điểm này.

Thứ nhất, vấn đề tích luỹ tư bản. Vấn đề hiện nay của Việt Nam là phải tạo môi trường thuận lợi để kích thích tư bản trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư. Giữa những năm 1990, tỉ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng nhanh, đạt mức 27-28% nhưng sau đó giảm mạnh. Điều nầy một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Á châu nhưng phần quan trọng là do bộ máy hành chánh kém hiệu suất làm cho phí tổn hành chánh trong hoạt động đầu tư quá cao. Phương châm, đường lối về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đă có nhưng trên thực tế, thành phần phi quốc doanh vẫn c̣n gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, trong việc tiếp cận với thông tin về cơ hội đầu tư, về thị truờng. Việc định hướng chiến lược công nghiệp hoá không rơ ràng và phương châm, chính sách hay thay đổi làm cho độ rủi ro của các dự án đầu tư quá cao. Từ năm 2002 tỉ lệ của tổng đầu tư trong GDP tăng trở lại đạt đến gần 34% vào năm 2003, nhưng ngược lại đó là do hiệu quả của việc chạy đua trong việc lập dự án đầu tư của các bộ ngành, của các địa phương chứ không phải là hiện tượng tích luỹ tư bản lành mạnh. Điều nầy thể hiện trong việc giảm sút hiệu quả của đồng vốn đầu tư, phản ảnh trong khuynh hướng gia tăng  hệ số ICOR.[4]

Để tích luỹ tư bản nhanh và có hiệu quả cần tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Sau một thời gian dài tŕ trệ, FDI đă tăng trở lại từ năm 2004 và hiện nay (cuối năm 2006), công ty nước ngoài đang đặc biệt quan tâm đến Việt Nam v́ muốn tránh tập trung quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, hơn nữa, nhiều nơi khác đang có bất ổn về chính trị, xă hội. Tuy nhiên để tận dụng được thời cơ nầy, Việt Nam giải quyết nhiều vấn đề như cải cách triệt để bộ máy quản lư để giảm th́ giờ và phí tổn hành chánh của doanh nghiệp, tổ chức việc định cư của người lao động, tăng cường đào tạo lực lượng lao động có tŕnh độ cao, và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng ở những nơi xa trung tâm các thành phố lớn.[5] Để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước chung quanh, phải quan tâm hơn đến vai tṛ của FDI.

Thứ hai là vấn đề phát triển có hiệu suất. Cùng với việc đẩy mạnh tích luỹ tư bản, phát triển có hiệu suất là biện pháp hữu hiệu nhất để rút ngắn khoảng cách với các nước chung quanh. Tích luỹ tư bản dù được đẩy mạnh cũng không thể vượt qua một giới hạn v́ vấn đề môi trường và những hạn chế về vốn, về công nghệ và thị truờng, v.v.. Do đó với cùng một tốc độ về tích luỹ tư bản nhưng nước nào phát triển có hiệu suất th́ nền kinh tế sẽ phát triển với tốc độ cao hơn. Nhiêu nghiên cứu gần đây cho thấy các nước, các nền kinh tế như Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xia, Đài Loan và Hàn Quốc trong giai đoạn 1960-1994, tích luỹ tư bản đóng vai tṛ rất lớn, lớn hơn cả Nhật Bản trong giai đoạn 1950-1973 là giai đoạn phát triển thần kỳ của nước nầy, nhưng Nhật Bản phát triển có hiệu suất hơn nhiều nên tốc độ tăng trưởng của kinh tế Nhật cao hơn.[6]

Điểm nầy có nhiều gợi ư đối với Việt Nam. Để phát triển có hiệu suất, Việt Nam cần phải làm ǵ? Tôi đă có dịp phân tích trong cuốn sách xuất bản 9 năm trước (TVT 1997, Chương 2), ở đây chỉ tóm tăt (và bổ sung) một vài điểm sau: Thứ nhất, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh (giữa các thành phần kinh tế) và hội nhập tích cực vào thị truờng thế giới để tư bản và các yếu tố sản xuất khác được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Thứ hai, có kế hoạch dài hạn trong việc xây dựng nguồn nhân lực đồng thời tạo cơ chế để nhân tài được xử dụng đúng chỗ. Thứ ba, tạo môi trường để khoa học và công nghệ ứng dụng rộng răi tại Việt Nam, tri thức về công nghệ và quản lư, kinh doanh được lan rộng ra khắp nước. Thứ tư, bộ máy hành chánh cần phải được cải cách nhanh (quy rơ trách nhiệm và quyền hạn các cấp để có thể phân cấp quản lư) và tạo cơ chế để người tài giỏi và có phẩm chất đạo đức ra giữ những chức vụ quản lư nhà nước. Bộ máy hành chánh như hiện nay vừa làm tăng phí tổn hành chánh của xí nghiệp vừa làm năy sinh những hiện tượng tiêu cực. Trong trạng thái đó, xí nghiệp sẽ t́m cách tạo quan hệ không chính đáng với quan chức quản lư mà kinh tế học phát triển gọi là mưu t́m đặc lợi (rent-seeking) thay v́ nỗ lực t́m kiếm thị trường, cải tiến công nghệ để giảm giá thành và tăng phẩm chất hàng sản xuất. Một nước phát triển nhanh và có hiệu suất khi các xí nghiệp hăng hái, nỗ lực trong việc mưu t́m lợi nhuận (prrofit-seeking) chân chính hơn là mưu t́m đặc lợi.

 

Vài lời kết

Trong nửa sau thế kỷ XX, ḍng thác công nghiệp đă lan nhanh cả bề sâu và bề rộng tại vùng Đông Á và các nước trong vùng nầy nối đuôi nhau trong quá tŕnh phát triển. V́ điều kiện lịch sử, Việt Nam đă mất phần lớn của nửa sau thế kỷ nầy về phương diện phát triển kinh tế. Công cuộc đổi mới đă đưa Việt Nam hội nhập vào làn sóng công nghiệp tại khu vực nầy từ đầu thập niên 1990 nhưng vào đầu thế kỷ nầy, giữa Việt Nam và các nước lân cận c̣n một khoảng cách lớn về tŕnh độ phát triển mà đại biểu là khoảng cách độ 20 năm giữa Việt Nam và Thái Lan.

Trong vài thập niên tới, với lợi thế về nguồn nhân lực và lợi thế của nước đi sau trong một vùng mà công nghệ, tư bản và tri thức kinh doanh đương di chuyển nhộn nhịp, Việt Nam hoàn toàn có khả năng rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. Tuy nhiên đó mới chỉ là tiềm năng và cơ hội. Trong cái nh́n hẹp và ngắn hạn, trước mắt Việt Nam cần mạnh dạn đổi mới hơn nữa, đổi mới để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế và tích cực thu hút tư bản và công nghệ nước ngoài. Đó là những yếu tố quan trọng để tư bản tích luỹ nhanh và kinh tế phát triển có hiệu suất, hai điều kiện tiên quyết để có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, tạo khả năng đuổi kịp các nước chung quanh. Trong tầm nh́n dài hạn và rộng hơn, giới lănh đạo chính trị phải có quyết tâm v́ mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu mà mạnh dạn thay đổi cơ chế, chấn hưng giáo dục, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, bảo đảm cơ hội b́nh đẳng cho người tài phát huy khả năng.

Trong bài viết “Nhật Bản khác ta những ǵ?”, Giáo sư Nguyn Lân Dũng (2006) bc xúc: “Nước ta có 83 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, kể cả Việt kiều là 87 triệu người..(lược một câu). Như vậy chắc chắn không phải là nước nhỏ. Chúng ta có một lịch sử hàng ngh́n năm dựng nước và giữ nước, đă đánh bại chiến tranh xâm lược của hầu hết các cường quốc trên thế giới. Chắc chắn không phải là nước yếu. Thế hệ trẻ Việt Nam vứt vào môi trường đại học nào ở nước ngoài đều học giỏi và rất nhiều người gốc Việt đang giữ các trọng trách tại các trung tâm khoa học và công nghệ tiên tiến ở các nước phát triển. Chắc chắn trí tuệ dân ḿnh chẳng chịu thua ai khi có điều kiện phát huy. Nhưng chúng ta là nước nghèo và kém phát triển so với rất nhiều nước trên thế giới”. Cuối cùng câu hỏi được đt ra là: Tại sao như vy? Đây có lẽ cũng là bc xúc chung của hu hết chúng ta hin nay.

Để trả lời câu hỏi nầy một cách đầy đủ phải cần nhiều bài viết, thậm chí cần cả một hoặc vài cuốn sách. Tuy nhiên có thể có một câu trả lời ngắn gọn: Tại các cơ chế ở Việt Nam chưa cho phép mọi tiềm lực được phát huy tích cực. Một đất nước muốn phát triển nhanh và có hiệu suất phải cần một sức mạnh tổng hợp được gọi là năng lực xă hội (social capacity). Năng lực nầy bao gồm các thành phần như chính trị gia, quan chức nhà nước, nhà doanh nghiệp, giới trí thức và đội ngũ lao động ngày càng được nâng cao về chất. Trong đó vai tṛ quan trọng nhất là nhà lănh đạo chính trị. Nhà lănh đạo chính trị phải là những người phải yêu nước thật sự mới biết dùng người tài và mới tạo ra các cơ chế để các thành phần khác hăng hái tăng cường năng lực của chính ḿnh và sẵn sàng phát huy khả năng để góp phần phát triển đất nước. [7]  

 

TƯ LIÊU THAM KHẢO

Crafts, Nicholas (1999), East Asian Growth Before and After the Crisis, IMF Staff Papers, Vol. 46 No. 2, pp. 139-166 (June).

JICA (1995), Vietnamu Kunibetsu Enjo Kenkyuukai Hokokusho (Báo cáo của nhóm  nghiên cứu về viện trợ cho Việt Nam), Japan International Cooperation Agency, Tokyo.

Nguyễn Lân Dũng (2006), Nhật Bản khác ta những ǵ?, Kiến thức ngày nay, số 569 (1-6-2006),  trang 5-7, xem tiếp trang 110-111, và http://vietsciences.free.fr/.

Trần Văn Thọ (1997), Chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại châu Á Thái b́nh dương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, VAPEC Hồ Chí Minh và Thời báo kinh tế Sài G̣n.

Trần Văn Thọ (2005a), “Du nhập, chuyển giao công nghệ và năng lực xă hội: Vài khảo sát về kinh nghiệm ở Đông Á,” trong Cao Huy thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc và Vĩnh Sính, Từ Đông Sang Tây: Tập biên khảo về khoa học xă hội và nhân văn, NXB Đà Nẵng, 2005), pp. 304-322.

Trần Văn Thọ (2005b), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội (NXB Trẻ tái bản năm 2006).

Trần Văn Thọ (2006), Đừng để mất cơ hội, Thời báo kinh tế Saigon, 14/9, pp. 17-19.

UNDP (various issues), Human Development Report, Oxford University Press.

World Bank (various issues), World Development Indicators, The World Bank.

World Bank (various issues), World Development Report, World Bank.


 

[1] Xem chẳng hạn, Nguyễn Lân Dũng (2006).

[2] Bài nầy là phần rút ngắn có bổ sung của Chương 1 trong cuốn sách của tác giả xuất bản cuối năm 2005. Xem thêm, Trần Văn Thọ (2005b), Ch.1.

[3] Theo tự liệu của ECAFE, tiền thân của ESCAP (Uỷ ban của Liên Hiệp Quốc về kinh tế và xă hội châu Á Thái b́nh dương), vào năm 1954 thu nhập b́nh quân đầu người của Việt Nam là 117 USD trong khi của Thái Lan vào năm 1952 là 108 USD (Inđônêxia là 88 USD). Trích dẫn theo JICA (1995), tr. 13.

[4] Increamental Capital-Output Ratio: Hệ số chỉ số vốn tăng cần thiết để tăng một giá trị sản xuất nhất định.

[5] V đim ny, xem thêm Trn Văn Th (2006).

[6] V chi tiết, xem Crafs (1999).

[7] Xem Trn Văn Th (2005a) v mt phân tích chi tiết liên quan đến năng lc xă hi.