Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản

Vấn đề “đảng viên làm kinh tế” trong quá tŕnh cải cách tại Việt Nam:

Giải thích thêm

24/2/2013

(1) Trong những năm từ khoảng 2002 đến 2007 trong nước có tranh luận sôi nổi giữa nhóm cải cách và phe bảo thủ về con đường phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó điểm cốt lơi là vai tṛ, vị trí của khu vực kinh tế tư nhân. Phe bảo thủ cho rằng bản chất của kinh tế tư bản tư nhân là bóc lột lao động, do đó đảng viên đảng cộng sản (mà lư tưởng được cho là phải phấn đấu xóa bỏ bóc lột lao động) không được làm kinh tế tư nhân. Tôi là một trong những người phê phán quan điểm ấy sớm nhất và đă viết bài yểm trợ phe cải cách về mặt lư luận và thực tiễn. Trên tạp chí Tia Sáng, một tờ báo của giới trí thức tại Việt Nam, số ra tháng 9 năm 2002, tôi đăng bài “Vấn đề bóc lột lao động trong thời đại ngày nay”. Vấn đề vẫn tiếp tục tranh căi nên sau đó nhật báo Thanh Niên đề nghị tôi viết lại vấn đề nầy theo văn phong dễ hiểu cho đa số độc giả và họ đăng bài của tôi với tiêu đề “Đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, tại sao không?” trên số ra ngày 2/3/2006. Cái tiêu đề nầy là của nhà báo, họ muốn gây chú ư nên sửa tiêu đề ban đầu của tôi, nhưng nội dung th́ hoàn toàn giống bài trên tạp chí Tia Sáng.

(2) Ai đă đọc kỹ một trong hai bài nầy th́ đă hiểu chính xác nội dung tôi muốn nói. Nếu độc giả có một hiểu biết nhất định liên quan đến lư luận và thực tiễn trong quá tŕnh chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, nhất là hiểu quá tŕnh đó diễn ra trong sự giằng co, trong mâu thuẫn giữa ư thức hệ của đảng cộng sản với kinh tế thị trường th́ hiểu được ngay ư kiến của tôi. Thêm nữa, nếu ai quan tâm một cách nghiêm túc đến t́nh h́nh ở Việt Nam vào nửa đầu thập niên 2000, trong đó có sự tranh căi gay gắt giữa phe bảo thủ và phái cải cách trong giới lănh đạo Đảng CSVN th́ hiểu được lư do tại sao tôi viết bài đó, một trong những nỗ lực góp phần cải cách thể chế để đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Một người quan tâm về lănh vực nầy tất cũng hiểu biết về t́nh h́nh ở Trung Quốc, và hiểu tại sao Giang Trạch Dân đă đưa ra thuyết “Ba đại diện” để giải quyết mâu thuẫn giữa ư thức hệ đảng cộng sản và sự phát triển của kinh tế tư nhân.

(3) Thế nhưng có một số người, tuy rất ít (mà trong phạm vi tôi biết, rất lạ là họ toàn là những người từng du học ở Nhật Bản), h́nh như không đọc kỹ các bài viết của tôi, và không hiểu thấu đáo các vấn đề nói ở điểm (2) nên đă viết trên một số diễn đàn phê phán tôi là tiếp tay với đám cán bộ tham nhũng trong Đảng Cộng sản. H́nh như họ chẳng biết có bao nhiêu đảng viên trong Đảng CSVN nên đă đồng nhất đảng viên với các cán bộ cao cấp và các quan chức trong chính phủ (mà phần lớn là tham nhũng). Họ không biết rằng gần 1/2 trong số 3 triệu đảng viên là nông dân và một số lớn khác là tiểu thương, là sản xuất nhỏ, là thầy giáo, viên chức nhỏ, v.v.. đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống như những người ở ngoài đảng. Và h́nh như họ hiểu “làm kinh tế” chỉ là tham gia những dự án lớn, được ưu đăi của nhà nước để ḅn rút của công, để được chia đất, v.v... Thậm chí có người c̣n “giới thiệu” các quy định ở các nước tiên tiến là bộ trưởng, quan chức khi được bổ nhiệm phải bán stock, phải xa rời những lănh vực mà ḿnh sẽ phụ trách quản lư (những chuyện nầy tŕnh độ sinh viên đại học cũng biết nhưng họ cho rằng tôi không biết!). Họ không biết rằng những người “làm kinh tế” tư nhân ở VN luôn bị bạc đăi, bị coi là giai cấp bóc lột lao động nên luôn luôn bị kiểm soát, thanh tra và phải chi nhiều khoản tiêu cực phí. Vào thời có tranh luận đó, đảng viên được xem là thành phần ở trên của xă hội, không cần và không được làm kinh tế tư nhân, chỉ có vai tṛ quản lư, lănh đạo. H́nh như do có định kiến nên những người phê phán tôi không hiểu được chủ đích hai bài viết của tôi là nhằm bênh vực thành phần tư bản tư nhân, nhằm nhấn mạnh đảng viên cũng phải lao động, phải làm kinh tế, phải đóng góp thực sự vào việc gia tăng của cải của xă hội.

(4) Dĩ nhiên tôi không cần mất th́ giờ v́ những người vừa nói. Nhưng có một số bạn của tôi muốn hiểu thêm vấn đề nầy, nhất là những điểm nói ở (2) và đă yêu cầu tôi giải thích thêm. Tôi rất quư trọng những người bạn nầy nên mới có bài nầy, mục đích để trả lời các bạn nầy. Nhưng thay v́ trả lời riêng cho những người bạn của tôi, tôi viết thành một bài để phổ biến đến những người quan tâm khác.

(5) Các mục (2) và (3) ở trên đă nói sơ lược về ư nghĩa của vấn đề “đảng viên làm kinh tế”. Dưới đây chỉ viết thêm về bối cảnh và một số giải thích bổ túc.

VN đưa ra chính sách đổi mới năm 1986 trong đó thừa nhận phải có nền kinh tế nhiều thành phần (ngoài kinh tế quốc doanh và tập thể c̣n có kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài). Tuy nhiên Đảng CSVN vẫn cảnh giác kinh tế tư nhân. Đến năm 1990 mới có Luật doanh nghiệp thừa nhận hoạt động của khu vực nầy nhưng lại đưa ra các quy chế kèm theo rất khắt khe nên trong thập niên 1990 khu vực nầy hầu như không phát triển. Sau nhiều nỗ lực góp ư của các chuyên gia, nhà nước VN mới ban hành Luật doanh nghiệp mới vào năm 1999 (có hiệu lực từ năm 2000), trong đó bỏ đi rất nhiều điều khoản ràng buộc doanh nghiệp tư nhân và do đó đă thổi một luồng gió mới trong nền kinh tế: Số doanh nghiệp tư nhân nhanh chóng ra đời với số lượng lớn.

T́nh h́nh nầy lại phát sinh một vấn đề khác tuy có liên quan là đảng viên đảng cộng sản có được làm kinh tế tư nhân không, v́ số đảng viên rất đông mà khu vực quốc doanh phải ngày càng thu hẹp trong quá tŕnh cải cách, nếu không cho đảng viên tham gia kinh tế tư nhân th́ phạm vi sinh hoạt của họ bị thu hẹp. Hơn nữa, nếu xem kinh tế tư nhân là cái ǵ thấp kém, đáng ghét bỏ trong xă hội không đáng để đảng viên tham gia th́ khu vực kinh tế tư nhân cũng sẽ bị đối xử phân biệt và không thể lớn mạnh. Như vậy mâu thuẫn với chủ trương cải cách kinh tế. và t́nh tự dân tộc cũng bị ảnh hưởng.

Nhưng trước t́nh h́nh đó, phái bảo thủ trong Đảng CS cảnh giác, cho rằng VN sẽ đi chệch hướng, sẽ làm cho kinh tế quốc doanh mất vai tṛ chủ đạo. Họ cho rằng bản chất của kinh tế tư nhân là bóc lột lao động nên bộ phận nầy không thể cho phát triển nhanh, và đảng viên, với lư tưởng giải phóng những người bị bóc lột, không được tham gia kinh tế tư nhân. Sau một thời gian tranh luận, giới bảo thủ nhượng bộ một phần và cho rằng doanh nghiệp nhỏ th́ không bóc lột nên họ đồng ư cho đảng viên tham gia kinh tế tư nhân với điều kiện chỉ thuê một số lượng nhỏ lao động. Bài của tôi viết trên tạp chí Tia Sáng và báo Thanh Niên là nhằm bác bỏ các lập luận nầy.

Bên Trung Quốc th́ phóng khoáng hơn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển rất nhanh. Trung Quốc đă kết nạp nhiều doanh nhân vào đảng cộng sản và không coi khu vực tư nhân là bóc lột lao động. Tuy nhiên về lư luận th́ họ mắc phải một mâu thuẫn v́ đảng cộng sản ra đời để đại diện cho lợi ích của giới lao động và nông dân và đánh đổ giai cấp tư bản, giới kinh doanh tư nhân. Nhưng giới tư bản, kinh doanh ngày càng lớn, khu vực tư nhân ngày càng mở rộng và đóng góp to lớn vào quá tŕnh phát triển của kinh tế Trung Quốc. V́ vậy nếu Đảng Cộng sản TQ không thay đổi th́ sẽ ngày càng xa rời một bộ phận quan trọng của xă hội. Do bối cảnh đó, vào tháng 11 năm 2002 Giang Trạch Dân đă thay chủ thuyết cũ bằng thuyết Ba đại diện (Đảng CS Trung Quốc phải đại diên cho nền sản xuất tiên tiến, nền văn hóa tiên tiến và lợi ích của tuyệt đại đa số dân chúng).

Vấn đề “đảng viên làm kinh tế” được phân tích trong bối cảnh như vậy. Về chi tiết, và về lư do tại sao kinh tế tư nhân tại VN không phát triển nhanh như ở Trung quốc, các bạn đọc được tiếng Nhật có thể tham khảo thêm Chương 3 và Chương 4 trong cuốn sách Betonamu Keizaihattenron (Luận về Kinh tế phát triển tại Việt Nam) của tôi do Nhà xuất bản Keiso-shobo xuất bản cuối năm 2010.

*

* *

Nhân đây viết thêm vài ḍng về một vấn đề lớn hơn. Làm sao để xây dựng một đất nước thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, tiến bộ là mong muốn, ước mơ của tuyệt đai đa số dân chúng Việt Nam. Dưới thể chế hiện nay, nhiều lănh đạo và quan chức tỏ ra thiếu năng lực, thiếu phẩm chất đạo đức, tệ nạn tham nhũng tràn lan, văn hóa, giáo dục, đạo đức xă hội xuống cấp trầm trọng. Nhưng để thoát ra khỏi nguy cơ nầy, đa số trí thức trong nước và nhiều người ở nước ngoài trong đó có tôi cho rằng con đường duy nhất để tránh bi kịch là Đảng CSVN phải tự sửa đổi, những người tiến bộ trong đảng phải đảm nhận trách nhiệm cải cách toàn diện thể chế chính trị. Gần 2 năm trước tôi và 13 anh em ở hải ngoại đă công bố Bản Ư kiến cũng trên tinh thần đó.

Có thể có nhiều người không có cùng quan điểm nầy, nhưng không nên v́ thế mà có những phê phán, những phát ngôn thiếu trách nhiệm. Quan điểm, lập trường, chính kiến đều là tương đối và có thể thay đổi, chỉ có nhân cách trong sáng, sự công tâm của mỗi cá nhân là có giá trị miên viễn./.