Đạo đức và kinh tế thị trường

Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản

      Từ khi có đổi mới (1986), Việt Nam từng bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường. Thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố sản xuất như tư bản, lao động đă phát triển từng bước. Dĩ nhiên tŕnh độ phát triển của thị trường mới ở giai đoạn thấp, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất. Các luật lệ, quy định, nói chung là khung pháp lư phải được cải thiện, bổ sung hơn nữa để thể chế thị trường phát triển lên giai đoạn cao hơn. Nhưng mới ở giai đoạn thấp mà kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay đă bộc lộ nhiều mặt tiêu cực, yếu kém, méo mó, đến nỗi có người cho rằng chủ nghĩa tư bản hoang dă đang ngự trị; nếu không sửa chữa th́ Việt Nam sẽ chẳng bao giờ có kinh tế thị trường đúng nghĩa. Mà việc sửa chữa nầy, ngoài trách nhiệm, vai tṛ của nhà nước, đ̣i hỏi sự quan tâm và ư thức của toàn xă hội.

      Hiện nay ở Việt Nam nhiều người hiểu sai về kinh tế thị trường. Nhiều người không hiểu rằng sự giao dịch, trao đổi trong kinh tế thị trường chỉ bền vững khi chất lượng của thị trường được đảm bảo. Chất lượng của thị trường lại liên quan đến đạo đức, đến sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường. Đạo đức xă hội bị xói ṃn th́ không thể có một thể chế thị trường bền vững.

Chất lượng của kinh tế thị trường

Thị trường là h́nh thái tổ chức nơi đó người sản xuất và người tiêu dùng gặp nhau trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Đặc tính cơ bản của thị trường là cạnh tranh và tự do tham gia. Trên cơ sở tự do mua bán, thị trường mang lại lợi ích cho cả hai bên v́ người bán thấy có lợi mới bán và người mua nếu không thấy lợi ích của việc trao đổi th́ không mua. Lợi ích đó lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức độ hoàn hảo của thông tin về thị trường. Thông tin thường là phi đối xứng với ư nghĩa là người bán và người mua không có cùng độ chính xác về thông tin liên quan đến hàng hóa hay dịch vụ; thông thường th́ người bán biết rơ về chất lượng hàng hóa hơn người mua. Nhưng sự phi đối xứng về thông tin quá lớn th́ thị trường không bền vững. Ví dụ cực đoan là nạn làm và bán hàng giả. Trong trường hợp nầy người bán có thể lừa người mua một vài lần, chứ không thể lừa măi. Do đó thị trường bền vững đ̣i hỏi sự thành thật, trung thực, sự tin cậy giữa những người tham gia thị trường.

Nguyên lư của thị trường là cạnh tranh. Cạnh tranh đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn lực, và cung cấp ra thị trường những hàng hóa và dịch vụ với chất lượng ngày càng tốt và giá cả hợp lư. Đó là giá cả ở trạng thái b́nh thường trong đó người bán được bảo đảm một tỉ lệ tiền lời nhất định và người mua thỏa măn với giá đó. Để xác lập được trạng thái thị trường như vậy, cạnh tranh phải ở trong khuôn khổ luật pháp, theo những “luật chơi” đă được quy định. Nhà nước bảo đảm những điều kiện để có cạnh tranh b́nh đẳng, chính đáng. Sự công bằng trong cạnh tranh là một trong những điều kiện để kinh tế thị trường có chất lượng tốt. Nạn độc quyền, đấu thầu không công khai hoặc có sự móc ngoặc giữa cán bộ nhà nước với một bên tham gia đấu thầu dĩ nhiên là xa lạ với kinh tế thị trường.

      Adam Smith (1723-1790), người được xem là ông tổ của kinh tế học, tác giả cuốn sách kinh điển Quốc phú luận (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations), xuất bản năm 1776, đưa ra hai khái niệm về giá cả: giá tự nhiên và giá thị trường. Giá tự nhiên là giá thành của sản phẩm (gồm các chi phí về tư bản, lao động, và các đầu vào khác) cộng với một tỉ lệ lợi nhuận của người sản xuất. Giá thị trường là giá theo kết quả trao đổi giữa người bán và người mua. Trong điều kiện tự do tham gia thị trường và cạnh tranh lành mạnh, giá thị trường sẽ hợp nhất với giá tự nhiên. Trong quá tŕnh điều chỉnh để hai loại giá đó hợp nhất lại, có sự chuyển dịch các nguồn lực từ nơi có nhu cầu thấp đến nơi cao.

Do đó, thị trường là công cụ hữu hiệu để phân bổ các nguồn lực làm cho hoạt  động kinh tế có hiệu quả. Các cá nhân tham gia thị trường với động cơ v́ lợi ích của riêng ḿnh nhưng kết quả là họ cũng mang lại lợi ích cho xă hội, v́ qua sự điều chỉnh của thị trường (mà Smith gọi là “bàn tay vô h́nh”), nguồn lực xă hội được phân bổ hợp lư. Dĩ nhiên có những trường hợp ngoại lệ (những lănh vực nằm trong phạm trù được gọi là “sự thất bại của thị trường”) cần có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước. 

      Đạo đức trong kinh tế thị trường

      Cái ư “v́ lợi ích của riêng ḿnh” nói ở trên được Smith gọi là sự vị kỷ (selfish, self-love). Trong cuốn sách kinh điển nói trên có câu sau đây được trích dẫn nhiều trong hàng trăm năm nay: “Chúng ta có được bữa ăn tối không phải nhờ ḷng bác ái của ông hàng thịt, của người làm rượu, người làm bánh ḿ mà là do họ quan tâm đến lợi ích riêng của họ”.

      Nhưng tư tưởng của Smith thật ra không chỉ đơn giản như thế. Đó là điểm xuất phát cơ bản của kinh tế thị trường nhưng không đủ để có thị trường chất lượng cao, bền vững. Smith nhấn mạnh một điều kiện nữa là sự đồng cảm (sympathy), là đạo đức trong kinh tế thị trường.

Trước khi cuốn sách kinh điển nổi tiếng nói trên ra đời, Adam Smith c̣n có một cuốn sách khác tên là Luận về sự t́nh cảm đạo đức (Theory of Moral Sentiments), xuất bản năm 1759. Trật tự xă hội được h́nh thành, duy tŕ trên cơ sở sự đồng cảm của cá nhân. Thị trường là cạnh tranh nhưng cạnh tranh phải được xă hội đón nhận mới là cạnh tranh có chính nghĩa (không làm tổn thương sinh mệnh, tài sản, danh dự của người khác). Sự đồng cảm của con người làm cơ sở cho trật tự xă hội, điều kiện đảm bảo cho kinh tế thị trường. Theo Smith, mưu t́m lợi ích của ḿnh không mâu thuẫn với các đặc tính, động cơ khác của con người như ḷng vị tha, tôn trọng quyền lợi và danh dự của người khác, v.v… 

      So với cuốn Quốc phú luận, cuốn sách nầy ít được biết đến hơn nhưng t́nh cảm đạo đức là đề tài được Smith quan tâm nhiều hơn. Nội dung cuốn sách được ông bổ sung, tu chỉnh tới 6 lần và lần cuối được thực hiện chỉ vài tháng trước khi ông mất. Bản mới nhất có số trang dài gấp đôi bản đầu tiên.

      Alfred Marshall (1842-1924) cũng là một nhà kinh tế vĩ đại, tác giả cuốn sách trở thành kinh điển: Những nguyên lư của kinh tế học (Principles of Economics, xuất bản lần đầu năm 1890). Ông là người triển khai và xây dựng nền tảng lư luận cơ bản cho kinh tế thị trường. Ông cũng nhấn mạnh mặt đạo đức, mặt nhân văn cần có của kinh tế thị trường. Ông cho rằng mỗi cá nhân qua hoạt động kinh tế của ḿnh phải đem lại ân huệ, lợi ích cho nhiều người. Đó là tính vị tha, là tính khoan dung, là tinh thần v́ cộng đồng. Thị trường có chất lượng cao là nơi có nhiều người có năng lực làm ra của cải nhưng đồng thời có tấm ḷng vị tha. Đó là điều kiện để có hiệu suất và công bằng trong kinh tế thị trường. Câu nói nổi tiếng của Marshall được người đời truyền tụng là: (Con người lư tưởng) phải có cái đầu mát lạnh và trái tim nồng ấm (a cool head and a warm heart). Cái đầu mát lạnh để khách quan, khoa học, tăng hiệu suất; nhưng đồng thời phải có trái tim nồng ấm để cảm thông với khó khăn của người khác, luôn có tinh thần v́ cộng đồng, v́ người khác.

      Ở Việt Nam hiện nay, chất lượng thị trường quá kém, đáng lo. Thứ nhất, trong nhiều lănh vực, thiếu công b́nh, công chính (fair), không có sự tham gia tự do, không có cạnh tranh lành mạnh. Thí dụ, về dịch vụ điện lực, sự độc quyền không đi kèm với các quy chế về sản xuất và giả cả, làm cho lượng và giá không thỏa măn người mua. Thị trường tư bản, tiền tệ th́ bị tập đoàn doanh nghiệp nhà nước chi phối, doanh nghiệp nhỏ và vừa không tiếp cận được với vốn hoặc phải vay với nhiều điều kiện bất lợi. Thứ hai, đạo đức xă hội xuống cấp làm nhiều thị trường méo mó, lung lay. Điễn h́nh là thị trường thực phẩm, thị trường thuốc mà sự an toàn liên quan đến sức khỏe, sinh mệnh người mua đang là sự lo lắng của xă hội. Đạo đức xă hội suy đồi cũng làm cho thị trường len lỏi vào nhiều lănh vực lẽ ra phải xa lạ với thị trường. Mua quan bán chức ở cơ quan công quyền, mua điểm, mua bằng cấp ở cơ sở giáo dục, tệ nạn tiền là trên hết ở nhiều bệnh viện làm cho người bệnh, người bị tai nạn trong t́nh trạng hiểm nghèo không được cứu chữa kịp thời, v.v..

      Nền tảng văn hóa, đạo đức là cơ sở để kinh tế thị trường phát triển lành mạnh, bền vững, để xây dựng một xă hội hài ḥa, nhân ái../.

 


Bị chú của ERCT :

* Bài đă đăng trên trang điện tử báo Thời BáoKinh Tế. Đăng lại với sự đồng ư của GS Trần Văn Thọ.