Những kỷ niệm về sách

Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản

Nguyên tác của bài này bằng tiếng Nhật đăng trên kỳ san Santo Toshokan của Thư viện Đại học Obirin (Tokyo) tháng 1 năm 1991 khi tác giả c̣n dạy học ở đó. Bản tiếng Việt đăng trên tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 8/3/1998, sau đó được in lại trên Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 23/4/2011 và đă được Sở Giáo dục Đà Nẵng in lại trong Nội san phát hành cho giáo viên trung học tại thành phố này. Ngoài ra bài này cũng được Hoàng Minh Nhân in lại làm bài Thay Lời tựa trong tập truyện ngắn Em Thanh (Tủ sách Bút Hoa, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998). Nhân dịp đọc lại vào tháng 7/2017, tác giả có tu chỉnh, bổ sung. Bài này gần đây lại được người bạn ở Đà Nẵng chọn đăng trong tập sách Đọc lại và Suy ngẫm (nhiều tác giả, tháng 7/2017). Bản mới nhất này (31/8/2017) có sửa chữa và bổ sung vài chỗ. 

Thư trung hữu nữ nhan như ngọc

Trong sách có người con gái mặt đẹp như ngọc. Đây là một trong những câu thơ Đường mà tôi ưa thích từ hồi c̣n học trung học ở Quảng Nam. Lúc c̣n dạy học ở Đại học Obirin (thập niên 1990), nhờ đồng nghiệp là giáo sư Ishikawa Tadahisa, học giả Nhật nổi tiếng về thơ Đường, tôi mới biết nội dung toàn bài thơ và tên tác giả của nó. Thuở thiếu thời tôi tự giải thích ư nghĩa của câu thơ đó theo suy nghĩ như sau: khi đọc sách có thể gặp được người đẹp, trong sách thường mở ra cho ta những thế giới mộng mơ và thỉnh thoảng qua sách vở ta có thể bắt gặp được người con gái lư tưởng. Cách giải thích này rất phù hợp với tuổi thanh xuân mơ mộng và trên thực tế, tiểu thuyết nhiều khi cũng vẽ ra những nhân vật phù hợp với mẫu người con gái lư tưởng của người con trai mới lớn.

Không hiểu câu thơ Đường nói trên có ảnh hưởng đến tập quán và suy nghĩ của tôi đối với sách hay không, nhưng có thể nói tôi là một trong những học sinh rất đam mê sách. Lớn lên tại một vùng nông thôn miền Trung Việt Nam, cũng như nhiều học sinh khác, tôi không có tiền để mua sách, thường chỉ có vài cuốn. Có lẽ số sách sở hữu được chỉ chiếm độ một, hai phần trăm trong số sách đă đọc. Sự khan hiếm này làm cho tôi càng thấy quí mến, trân trọng và gắn bó với sách hơn.

Trong những năm cuối bậc tiểu học, sách đọc nhiều nhất là những truyện kư và tiểu thuyết lịch sử, nhất là truyện Tàu. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng như Tam quốc chí, Tây du kư, Thủy hử,… tôi c̣n đọc say mê các truyện kư về các vua Văn vương, Vơ vương khai nghiệp nhà Chu (Phong thần), về thời Xuân thu – Chiến quốc (Đông Chu liệt quốc, Phong kiếm Xuân thu), sự nghiệp diệt Tần và tranh chấp nhau giữa Lưu Bang và Hạng Vũ (Hán Sở tranh hùng), sự tích xây dựng nhà Đường (Thuyết Đường), nhà Tống (Phi Long), nhà Minh (Đại Minh Hồng Vơ),… Các bộ trường thiên tiểu thuyết này thường có nhiều cuốn, mỗi cuốn dày đặc số trang. Có bộ gồm tới tám, chín cuốn như Thủy hử chẳng hạn. Thời tiểu học và vài năm đầu thời trung học, tôi bù đầu vào những cuốn sách thế này. Thời đó, các loại tiểu thuyết này được dịch ra tiếng Việt và lưu hành rộng răi, đông đảo các tầng lớp dân chúng cũng thích đọc. Tuy nhiên, đa số độc giả đều là những người không có tiền nên ít ai mua được nhiều sách và số lượng sách phát hành cũng hạn chế. Những người đọc sách nhiệt t́nh như tôi đều phải t́m mọi cách mượn sách đọc. Nơi trao đổi sách phổ biến nhất hồi đó là các tiệm hớt tóc. Tôi cũng vậy, mỗi chiều khi đi học về, tôi ghé lại tiệm hớt tóc của dượng tôi và xem dượng có mượn thêm cuốn sách nào mới không. Nếu có cuốn tôi chưa đọc là tôi nài nỉ dượng cho mượn lại, chỉ một hai ngày thôi.

Trong các truyện Tàu đọc hồi tiểu học tôi thích nhất truyện Phi Long v́ sự hấp dẫn của nhân vật chính Triệu Khuông Dẫn. Đặc biệt đây cũng là nhân vật lịch sử Trung Quốc duy nhất mà tôi quan tâm (t́m đọc thêm chính sử và các tiểu thuyết liên hệ) cho đến tận bây giờ. Triệu Khuống Dẫn (926-976) sinh ra đúng vào thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-960) là thời kỳ hỗn loạn sau khi nhà Đường suy sụp, chỉ trong thời gian 50 năm mà ở trung ương có tới 5 triều đại thay nhau xuất hiện rồi bị tiêu diệt, ở địa phương th́ có tới 10 nước xưng hùng. Triệu Khuông Dẫn là vơ tướng tài giỏi, thời c̣n trẻ, lưu lạc giang hồ, kết nghĩa anh em với Sài Vinh, người sau đó trở thành hoàng đế nhà Hậu Chu là vương triều cuối cùng của Ngũ Đại. Với tài thao lược và thành tích trong binh nghiệp lại được sự tin tưởng tuyệt đối của Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn được trao trọng trách thống lĩnh binh quyền cùng với vua đi chinh phục các nước để thống nhất thiên hạ. Nhưng Sài Vinh (Chu Thế tôn) bị bệnh mất sớm, con trai mới 7 tuổi lên nối ngôi và Triệu Khuông Dẫn đóng thêm vai tṛ phụ chính. Năm 960, trên đường hành quân đi chinh phục các nước, đến một địa danh gọi là Trần Kiều, binh sĩ lấy hoàng bào mặc cho Triệu Khuông Dẫn tôn lên làm vua. Triệu Khuông Dẫn trở thành Tống Thái Tổ (960-976, hầu như cùng thời với Đinh Tiên Hoàng của ta), khai sinh ra nhà Tống kéo dài gần 300 năm.

Sự thật về sự kiện về sau được gọi là Trần Kiều binh biến ấy như thế nào c̣n là đề tài tranh luận giữa các sử gia. Nhưng đáng quan tâm hơn là từ khi trở thành hoàng đế, tài năng trị nước và đức độ của Triệu Khuông Dẫn đă được thể hiện như thế nào. Truyện Phi Long tôi đọc thời nhỏ cũng như cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nhật đọc gần đây của nhà văn Ryo Komae (Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn, Nhà xuất bản Kodansha, 2009) đều vẽ ra h́nh ảnh một Triệu Khuông Dẫn lúc c̣n trẻ vừa vơ nghệ cao cường vừa đầy nghĩa hiệp, trí, dũng và nhân hậu; sau khi lên ngôi trở thành một minh quân, dùng đức trị để thu phục nhân tâm. Đọc chính sử th́ thấy các đức tính ấy được thể hiện cụ thể và hệ thống hơn. Chẳng hạn, Tống Thái tổ là vơ tướng nhưng sau khi làm vua lại trọng văn v́ hiểu được chân lư là chiếm được thành th́ nhờ vơ tướng nhưng để giữ thành th́ cần trí tuệ của quan văn, lấy đức để đối xử với những người thuộc chế độ cũ và trọng dụng họ, tiếp tục đối xử tốt với những khai quốc công thần, v.v..Tôi đặc biệt cảm động khi đọc (theo chính sử) di chúc của ông ta để lại cho những hoàng đế kế tục sau này, trong đó có ghi điều này (tóm lược): “Sự nghiệp nhà Tống có được là nhờ ta đă gặp được Sài Vinh và về sau được Sài Vinh tức Thế tôn nhà Hậu Chu trọng dụng. Do đó các triều đại nhà Tống của ta phải có bổn phận cưu mang con cháu họ Sài”. Về điểm này, có lẽ Triệu Khuông Dẫn là trường hợp hy hữu trong lịch sử, kể cả lịch sử thế giới. Sử gia Trần Thuấn Thần, học giả và là nhà văn nổi tiếng người Trung Quốc sinh sống tại Nhật đă viết trong bộ sử hai tập Năm ngàn năm Trung Quốc (nhà xuất bản Heibonsha, 1982) như thế này: “Nếu được hỏi ai là vị minh quân tối thượng của Trung Quốc, tôi sẽ không nói Hán Vơ Đế, cũng không nói Đường Thái Tôn mà, hoàn toàn không chút do dự, tôi sẽ trả lời rằng người đó là Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn” (Tập II, trang 122).

Đối với tôi đây cũng là chuyện hy hữu, thú vị. H́nh ảnh Triệu Khuông Dẫn đọc hồi 9, 10 tuổi qua truyện Phi Long nhiều hư cấu và nhiều chỗ có tính hoang đường (chẳng hạn lúc ông ta gặp nạn th́ có con rồng đỏ xuất hiện chống đỡ) trên căn bản không khác với những ǵ đọc gần đây qua chính sử. Liên quan đến Triệu Khuông Dẫn c̣n một chuyện cũng hy hữu và có thể gây thương cảm, đồng t́nh đối với những người thích hoặc đánh giá cao nhân vật này: Tuy là vị minh quân bậc nhất, mở ra một triều đại lớn, nhưng chỉ làm vua được một đời, không truyền ngôi được cho con trai, mà hoàng đế thứ hai của nhà Tống là người em trai (Tống Thái tông) và những đời vua kế tiếp cũng thuộc hệ của người em này. Hai con trai của Triệu Khuông Dẫn sau đó một người tự tử, một người chết bệnh. Giới nghiên cứu lịch sử h́nh như c̣n đang tranh căi về sự chuyển giao ngôi vị bất tự nhiên này. Nhân đây nói thêm, dưới thời hoàng đế thứ hai, quân Tống xâm lược nước ta và bị Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đánh bại năm 981.  

Vào trung học đệ nhất cấp ở trường Nguyễn Duy Hiệu (Điện Bàn, Quảng Nam) tức cấp II (trung học cơ sở) bây giờ, một vài năm đầu tôi cũng c̣n đọc truyện Tàu, nhưng qua một thời gian ngắn là đă đọc hầu hết các sách đă có thời đó. Thay vào đó tôi bắt đầu đọc các sách về lịch sử và văn học VN, đặc biệt rất thích đọc những sách về văn học tiền chiến, nhất là những tiểu thuyết lăng mạn hoặc phê phán hiện thực. Tôi say mê những tiểu thuyết lăng mạn ca tụng t́nh yêu, t́nh bạn, t́nh yêu thiên nhiên, được diễn tả bằng lối hành văn b́nh dị nhưng trong sáng và tinh tế. Có lẽ trong bối cảnh đó tôi đă đọc được câu thơ Đường Trong sách có người con gái mặt đẹp như ngọc và giải thích theo nội dung nói trên. Trong thời gian tôi học trung học đệ nhất cấp (đầu thập niên 1960), những tiểu thuyết “tiền chiến” dần dần được tái bản. Hầu như ngày nào tôi cũng rủ một vài bạn ghé lại một tiệm sách lớn tại một phố nhỏ quận ly (tiệm sách tên Vĩnh Ḥa ở Vĩnh Điện, Quảng Nam) xem thử có cuốn nào tái bản không. (Tôi c̣n nhớ thời đó Nhà xuất bản Phượng Giang thường tái bản sách của Tự lực văn đoàn). Tuy nhiên chúng tôi không có khả năng mua hết các sách tái bản, mỗi lần mỗi người mua được một cuốn là đă mừng lắm rồi. Dù vậy, sau khi học xong trung học đệ nhất cấp, tôi đă đọc hầu hết các tiểu thuyết “tiền chiến”. Được như vậy là nhờ chúng tôi đă t́m mọi cách để có sách đọc. Chẳng hạn mỗi lần mỗi người mua một cuốn sách khác nhau và trao đổi đọc chung. Nhưng có một kỷ niệm đáng nhớ là hồi học năm đệ ngũ (lớp 8 bây giờ), thầy giáo chủ nhiệm đă có sáng ư lập một pḥng đọc sách cộng đồng, học sinh và thầy giáo mỗi người góp một vài cuốn sách vào thư viện này và mỗi lần có thể mượn được số sách bằng số lượng ḿnh đóng góp.

Sách đọc thời trung học đệ nhất cấp (trung học cơ sở bây giờ) để lại ấn tượng sâu đậm nhất là tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn.  Mấy năm đó hầu như tôi đă đọc hết các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng và Thạch Lam. Không riêng tôi, các bạn học thời đó hầu hết cũng thích đọc và được thầy giáo khuyến khích đọc Tự lực văn đoàn. Năm tôi học Đệ lục (lớp 7 bây giờ), cả hai lớp Đệ lục A và B cùng học văn với một thầy giáo. Thầy cho lớp A sang thuyết tŕnh ở lớp B và ngươc lại về một cuốn tiểu thuyết tự chọn trong số các sách của Tự lực văn đoàn. Tôi c̣n nhớ các buổi tranh luận sôi nổi về Đoạn tuyệt, về Nửa chừng xuân,…

Về Nhất Linh, tôi thích nhất hai cuốn Đôi bạnĐoạn tuyệt. Bây giờ vẫn c̣n nhớ một đoạn văn trong đó Nhất Linh để cho nhân vật Dũng nói về ḷng yêu nước (viết theo trí nhớ): “Chiều hôm ấy Dũng bỗng nghĩ về đất nước, mà biểu hiệu cho đất nước không phải là những bậc vua chúa danh nhân mà chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là nước, yêu nước là yêu thương đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”. Đây là định nghĩa về ḷng yêu nước rất hay, rất thiết thực. Hồi đó tôi đă ngưỡng mộ Nhất Linh không những về văn tài mà c̣n về những ư nghĩ như vậy. Năm 1963, khi Nhất Linh uống thuốc độc tự tử để phản đối chính quyền Ngô Đ́nh Diệm sắp kết án ông, trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu (Điện Bàn, Quảng Nam) nơi tôi đang học có tổ chức lễ truy điệu tại sân trường. Thầy giáo văn đọc bài văn truy điệu rất hay, trong đó có một đoạn dài dùng tên các tác phẩm của Nhất Linh để kết thành một bài thơ ca ngợi sự nghiệp của ông. Rất tiếc tôi chỉ nghe một lần lúc đó, chỉ nhớ vài câu nhưng không đầy đủ. Sau này gặp lại thầy cũ đang sống ở Thành phố HCM, tôi có hỏi nhưng thầy bảo bài thơ do một người khác sáng tác nên thầy không nhớ. Rất tiếc.

Về Khái Hưng, tôi nhớ đă nhiều lần rơi nước mắt khi đọc Hồn bướm mơ tiênNửa chừng xuân có lẽ v́ nhiều t́nh tiết gây xúc động trong ḷng tuổi trẻ vốn đa cảm. Khái Hưng viết rất nhiều. Hồi đó tôi đọc được một bài văn, h́nh như tác giả là Tú Gầy (không biết có bà con ǵ với Tú Mỡ không), đă dùng tên các tác phẩm của Khái Hưng (kể cả các tiểu thuyết viết chung với Nhất Linh) để nói lời thương tiếc sau khi biết ông không c̣n nữa: “Ai cũng đinh ninh rằng Anh phải sống để nghe Tiếng suối reo, để nh́n Gánh hàng hoa hay Đời mưa gió. Nhưng không ngờ Khái Hưng đă Nửa chừng xuân một phen Trống mái bên Dọc đường gió bụi. Vợ con anh, Gia đ́nh anh vẫn Hồn bướm mơ tiên để đợi chờ người Tiêu sơn tráng sĩ. Nhưng người tráng sĩ đó không bao giờ trở lại với Gia đ́nh thân yêu nữa!….”

Vào trung học đệ nhị cấp (Trường Trần Quí Cáp, Hội An) tức trung học phổ thống (cấp III) bây giờ, phạm vi đọc sách mở rộng ra nhiều phương diện nhưng vẫn thích nhất là sách trong lĩnh vực tiểu thuyết và thi ca, kể cả thơ văn của các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp. Tôi vẫn c̣n giữ những cảm giác rung động, êm ái khi đọc văn của Anatole France, Chateaubriand, Saint-Éxupéry,… Thật ra tôi không có cơ hội đọc trực tiếp và đầy đủ các tiểu thuyết của các tác giả ấy mà chỉ là những bài văn rời rạc được trích dịch từ nguyên tác. Nhưng số lượng những bài văn đọc được khá nhiều và hầu hết là đọc song ngữ trong giờ học tiếng Pháp. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết ai là tác giả của những bản dịch mà tiếng Việt quá hay, văn xuôi mà đọc nghe như thơ. Chẳng hạn đây là một đoạn văn dịch từ tiểu thuyết của Anatole France mà bây giờ tôi vẫn c̣n thuộc (có thể không chính xác): “Mùa thu rũ trên ngàn cây những màn sương ẩm ướt. Đêm nay mỗi lúc màn sương lay động dưới bầu trời vân vụ th́ muôn ngàn cây cũng rung vang trước gió đầu mùa, và một nỗi buồn nhẹ đă đi cùng với mưa và sương từ phương trời tây tới…”. Sau này mới thấy những tác phẩm dịch từ Saint-Éxupéry như Cơi người ta, Hoàng tử bé,.. được bày bán ở Saigon nhưng tôi chưa từng gặp một cuốn sách dịch nào từ tiểu thuyết của Anatole France hay Chateaubriand.

Xong tú tài, tôi vào Sài G̣n học ở Đại học Văn khoa với dự định xong khóa dự bị sẽ thi vào ban Văn của Đại học Sư phạm để trong tương lai trở thành giáo viên dạy văn chương ở một trường trung học đệ nhị cấp. Tuy nhiên, thế rồi một buổi chiều, một buổi chiều định mệnh. Một buổi chiều cuối thu năm 1967, nếu tôi không có việc đi trên đường Lê Thánh Tôn và nếu không dừng xe đạp xem thông báo của Bộ Quốc gia Giáo dục về việc nộp đơn dự thi nhận học bổng của chính phủ Nhật th́ đời tôi đă khác. Hồi đó những sinh viên nghèo xuất thân ở miền Trung vào đến được Saigon để vừa làm vừa đi học là đă như đi du học rồi, ít có người mơ đến chuyện ra nước ngoài.

Và tháng 4 năm 1968 tôi đă được sang Nhật du học. Năm 1968 cũng là năm rất đặc biệt đối với Nhật. Về văn học, Kawabata Yasunari được trao giải Nobel Văn chương. Về kinh tế, Nhật Bản vượt Tây Đức, vươn lên thành cường quốc thứ hai và tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Xong năm học Nhật ngữ là bắt đầu nghĩ đến chuyện chọn ngành học. Trong một thời gian khá dài tôi phân vân giữa văn học và kinh tế. Và cuối cùng đă chọn kinh tế. Thế là cái duyên với thi ca và văn chương dần dần phai nhạt, tuy bây giờ vẫn thích đọc thơ, đọc văn.

          Từ thập niên 1990 tôi về Việt Nam thường xuyên, lần nào về cũng đến các tiệm sách lớn mua các sách mà tôi đă đọc thời nhỏ. Sau bốn, năm năm là đă mua được hầu hết các sách đă đọc thời xưa. Ḷng bồi hồi cảm động khi cầm lại trên tay mỗi cuốn sách này. Toàn là những sách đă đọc, nhưng ngày xưa chưa bao giờ nằm trong tay tôi quá hai, ba ngày. Bây giờ những cuốn sách đó nằm vĩnh viễn trong pḥng làm việc của tôi tại Tokyo. Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn đầy, một thứ hạnh phúc của một người được gặp lại bạn tri âm sau gần nửa thế kỷ, và bây giờ th́ người bạn đó luôn ở cạnh ḿnh muốn gặp lúc nào cũng được./.

Tokyo, 1/3/1998 (đọc lại và bổ sung lần cuối  30/8/2017)