Đêm trước của một thời đại:

Nhật Bản giữa thập niên 1950

Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Nhật Bản

Những nước thành công trong quá tŕnh phát triển, tiến lên vị trí của một cường quốc công nghiệp, một quốc gia có thu nhập cao, thường trải qua một thời đại rực rỡ, đánh dấu một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nước đó. Giai đoạn gần 20 năm (1955-1973) trong nửa sau thế kỷ 20 của Nhật Bản là một trường hợp như vậy. Nhiều người nghiên cứu nước ngoài gọi đó là giai đoạn phát triển thần kỳ, các kinh tế gia Nhật gọi một cách khiêm tốn đó là thời đại phát triển tốc độ cao, người khác th́ nói ‘6000 ngày làm thay đổi nước Nhật”.

Chỉ với gần 20 năm, Nhật Bản đă thay đổi ra sao? Ở đây chỉ tóm lược vài con số, vài sự kiện. Trong giai đoạn đó kinh tế Nhật phát triển trung b́nh 10%. Phát triển với tốc độ cao như vậy và kéo dài 18 năm là hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử thế giới trước đó.

Thành quả đó đă làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế, đời sống của người dân và vị trí quốc tế của Nhật. Từ năm 1955 đến giữa thập niên 1970, cơ cấu xuất khẩu chuyển từ các ngành dùng nhiều lao động như may mặc, tơ sợi, thực phẩm, sang những mặt hàng có hàm lượng cao về tư bản và công nghệ như thép, xe hơi và các loại đồ điện gia dụng như tủ lạnh, TV. Lao động trong ngành nông lâm thủy sản giảm từ 41% xuống 15%. Trên vũ đài quốc tế, Nhật Bản chuyển từ một nước nhập siêu và c̣n vay mượn sang một cường quốc công nghiệp và đứng vào hàng những nước cho vay và viện trợ nhiều nhất.

Phát triển nhanh trong thời gian dài đă làm thay đổi hẳn đời sống của dân chúng. Ăn, mặc và ở, ba nhu yếu phẩm cơ bản của con người đều được cải thiện rơ rệt. Về nhà ở, thị dân có thu nhập không cao cũng dần dần được vào ở trong những căn hộ riêng, rộng và tiện nghi trong những chung cư hiện đại. Bữa ăn được cải thiện hẳn, đầy đủ dinh dưỡng nên tuổi thọ trung b́nh tăng từ 60 lên 72 (trường hợp nam) chỉ trong thời gian chưa tới 20 năm. Mơ ước của mọi gia đ́nh vào giữa thập niên 1950 là có tủ lạnh, máy giặt và nồi cơm điện. Nhà văn Ishihara Shintaro (sau này làm Đô trưởng Tokyo), năm 1955 lúc c̣n học đại học đă viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Taiyo no Kisetsu (Mùa thái dương) và được giải thưởng văn học danh giá Akutagawa năm 1956. Ông dùng tiền thưởng mua một máy giặt cho mẹ. Trong một bài viết gần đây, ông kể lại sự vui mừng, cảm động lộ trên khuôn mặt của mẹ khi máy giặt được mang đến nhà. Đến cuối thập niên 1960, nghĩa là chỉ trong ṿng 15 năm sau, kể cả ở thôn quê hầu như nhà nào cũng có đủ các phượng tiện sinh hoạt hiện đại ấy.

Giai đoạn ấy đúng là một thời đại rực rỡ trong lịch sử Nhật. Thử lùi thêm lại lịch sử để xem đêm trước của thời đại đó có những đặc tính ǵ.

Đêm trước đó có thể h́nh dung bằng một một câu ngắn: người dân tin tưởng vào tương lai của đất nước, ai cũng mơ về một ngày mai tươi sáng và thấy có trách nhiệm để làm cho giấc mơ trở thành hiện thực. Không khí nói chung là như vậy nhưng ai là những người dẫn dắt dư luận để tạo ra niềm tin và thổi vào tâm hồn người dân giấc mơ đó? Đó là lănh đạo chính trị, là trí thức, là lănh đạo doanh nghiệp. Với tinh thần yêu nước và ư thức trách nhiệm cao, họ kết tập trí tuệ của mọi tầng lớp để làm cho Nhật khắc phục sự hoang tàn đổ nát sau Thế chiến II, khắc phục sự tủi nhục phải chịu sự cai trị của quân đội Mỹ (đến năm 1951) và vươn lên địa vị của một đất nước thượng đẳng.

Nhờ vậy mà chỉ có 10 năm Nhật đă phục hồi được kinh tế và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển đặc biệt nói trên. Trong 10 năm đó, nhà chính trị tiêu biểu là Yoshida Shigeru trong nỗ lực ổn định xă hội và thương lượng với Mỹ để dành lại độc lập trong điều kiện có lợi nhất cho Nhật. Giới trí thức, dù khác tư tưởng, vẫn có chung lư tưởng là khôi phục và phát triển đất nước. Nhiều người hăng hái đóng góp ư kiến hoặc trực tiếp tham gia việc nước. Tiêu biểu trong giai đoạn 10 năm hậu chiến là nhà kinh tế Mác xit Arisawa Hiromi, người đưa ra phương thức sản xuất tập trung than thép nôi tiếng, là Tsuru Shigeto vừa trở về sau khi lấy tiến sĩ kinh tế ở Harvard, người đầu tiên giúp chẩn đoán t́nh h́nh kinh tế theo phương pháp khoa học. Tsuru cũng là người soạn Sách trắng kinh tế đầu tiên (1947), bản báo cáo hàng năm nêu các vấn đề cơ bản hiện tại và chỉ ra phương hướng, trào lưu phát triển trong tương lai. Cho đến khoảng đầu thập niên 1970, đó là bản báo cáo kinh tế quan trọng nhất đối với nhà lập chính sách, với doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và những người quan tâm khác.

Tinh thần dân tộc, ḷng yêu nước, ư thức trách nhiệm cũng thấy rơ trong giới lănh đạo doanh nghiệp. Trong nửa sau thập niên 1940, những công ty sau đó trở thành biểu tượng phát triển của Nhật Bản như Sony, Honda,… lần lượt ra đời, và những doanh nghiệp đă có từ trước như Toyota, Hitachi, Matsushita (hiện nay là Panasonic), Toray,… cũng chuyển động mạnh mẽ. Có người sang tận Mỹ để xem xét nguồn gốc sức mạnh của nước này. Hầu hết họ có cùng nhận định là cái yếu lớn của Nhật là công nghệ. Thế rồi họ đổ xô đi mua công nghệ mới của Mỹ, Anh, Pháp,… về cải tiến và đưa vào sản xuất. Nhiều công ty mạnh dạn bỏ ra số tiền lớn bằng cả vốn pháp định để chỉ mua một công nghệ. Động cơ lớn nhất của các nỗ lực đó không v́ mưu t́m lợi ích riêng mà là để làm cho đất nước phát triển. Bài diễn văn của Ibuka Masaru trong buổi lễ sáng lập công ty Sony năm 1946 có một câu làm cảm động cả người đương thời và các thế hệ kế tiếp: Phải đem công nghệ góp phần vào sự phục hưng của tổ quốc chúng ta. Giữa hoang tàn đổ nát sau chiến tranh câu ấy như lời hiệu triệu không phải chỉ cho doanh nghiệp mà đối với mọi tầng lớp dân chúng.

Sách trắng kinh tế năm 1956 đưa ra một câu bất hủ, trở thành phương châm lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo và được truyền tụng măi khi bàn luận về lịch sử Nhật Bản từ khi chấm dứt Thế chiến II: Đă qua rồi thời hậu chiến! Câu này ư nói qua 10 năm Nhật Bản đă phục hồi được kinh tế và những yếu tố phát triển của thời phục hung kinh tế đă hết, bây giờ phải bắt đầu một giai đoạn phát triển mới với những yếu tố mới.

Thế rồi xă hội Nhật dấy lên một không khí bàn luận sôi nổi về khả năng và chiến lược của Nhật Bản trong giai đoạn mới. Lúc này xuất hiện một nhà lănh đạo chính trị kiệt xuất có hoài băo lớn, có tầm nh́n xa, lắng nghe trí thức và biết kết hợp trí tuệ của trí thức, của chuyên gia. Đó là Ikeda Hayato, lúc đó là Bộ trưởng Tài chánh. Ông tiếp nhận ư tưởng “đă qua rồi thời hậu chiến” và chủ trương phải bắt đầu thời đại phát triển, làm sao để toàn dụng lao động mới cải thiện hẳn cuộc sống của dân chúng. Nhưng ông không rơ tiềm năng của Nhật. Trong lúc suy nghĩ về tương lai đất nước và đọc các ư kiến tranh luận của trí thức về tiềm năng của Nhật, Ikeda chú ư đến ư kiến của giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro viết trên một tạp chí về khả năng tăng gấp đôi tiền lương và ư kiến của nhà kinh tế Shimomura Osamu về hai yếu tố lớn có thể làm Nhật phát triển rất nhanh. Đó là tỉ lệ tiết kiệm đang cao trong dân chúng và sự chênh lệch khá lớn về công nghệ giữa Nhật và các nước Âu Mỹ mà t́nh h́nh quốc tế lúc đó rất thuận lợi để Nhật du nhập công nghệ, từng bước rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. Hai yếu tố này là tiền đề để tăng tỉ lệ đầu tư, đẩy mạnh tích lũy tư bản trong điều kiện có hiệu quả nhất.

Ikeda đă lấy ư của Nakayama và tham khảo phân tích của Shimomura để lập ra Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân, làm tuyên ngôn chính trị trong cuộc tranh cử đảng trưởng Đảng Tự do Dân chủ. Ông đă thắng cử và trở thành thủ tướng năm 1960 và chiến lược nổi tiếng ấy đă đưa đến sự phát triển ngoài dự tưởng trong thập niên 1960. Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đă làm nức ḷng người. Đặc biệt giới doanh nghiệp đă mạnh dạn du nhập công nghệ để đầu tư xây nhà máy mới, sản xuất sản phẩm mới, hoặc đổi mới thiết bị tăng năng suất những sản phẩm đă có. Hiện tượng đó được Sách trắng kinh tế sau đó h́nh dung bằng cụm từ “đầu tư kêu gọi đầu tư”. Giấc mơ về một cuộc sống tươi đẹp hơn lại được cổ vũ và tin tưởng ở nhân cách, tầm nh́n và biết trọng người tài của nhà chính trị Ikeda.

Như vậy không ngẫu nhiên mà Nhật có một thời đại phát triển rực rỡ. Đêm trước của thời đại đó đă hội đủ các tiền đề. Quan trọng nhất là lănh đạo chính trị, lănh đạo doanh nghiệp và trí thức, những người đi tiên phong trong việc thổi vào xă hội một luồng không khí mới đầy hứa hẹn về tương lai. Trong 3 chủ thể đó, quan trọng nhất là tố chất của lănh đạo chính trị, những người có hoài băo lớn, biết lắng nghe trí thức và biết được giấc mơ, kỳ vọng thiết thực của người dân.

Dĩ nhiên cần một tiền đề lớn hơn. Ngoài yếu tố văn hóa ra, thể chế bảo đảm một không khí tự do, dân chủ, b́nh đẳng để các ư tưởng ra đời, để mọi người có trí tuệ, có trách nhiệm được tham gia bàn bạc rộng răi là quan trọng nhất./.

(viết trên hành tŕnh Tokyo, Phnom Penh và Yangon, trung tuần tháng 2/2016. Đă đăng trên báo Xuân Bính Thân 2016 của Diễn Đàn)

 


Bị chú của ERCT :

* Bài nhận trực tiếp từ GS Trần Văn Thọ.(29/3/2016)