VỀ VẤN ĐỀ HỌC VỊ TIẾN SĨ (*)

Trần Văn Thọ
Giáo sư kinh tế học, Đại học Waseda, Tokyo

Thật là đáng buồn, đáng lo khi thấy văn bằng tiến sĩ ở Việt Nam tiếp tục là đối tượng bị chế giễu trong thiên hạ nhưng người ta vẫn tiếp tục đổ xô vào việc lấy bằng và nhà nước vẫn tiếp tục cho đào tạo và cấp bằng nầy (**).

Nhân dịp về giảng dạy trong nước từ cuối năm 1996 đến giữa năm 1997, tôi đă tham dự 8 buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ (sau đó văn bằng nầy được tự động chuyển thành tiến sĩ) và đă thấy rơ nguy cơ của việc đánh giá văn bằng nầy ở VN. Tôi đă nêu ư kiến và đưa kiến nghị cụ thể về vấn đề nầy trên mục Ư kiến nhà khoa học của báo Nhân Dân số ra ngày 17/7/1997. Theo yêu cầu của Vụ trưởng Vụ đào tạo sau đại học (Bộ Giáo dục và đào tạo), tôi cũng có dịp thuyết tŕnh về đề tài nầy tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 6/3/2000. Thế nhưng t́nh h́nh sau đó không những không được cải thiện mà có vẻ c̣n trầm trọng hơn (***).

Bản chất của vấn đề là ǵ? Làm sao để chấm dứt t́nh trạng hiện nay? Tôi xin phát biểu thêm một số ư kiến (chủ yếu về lănh vực kinh tế học) và đưa ra vài kiến nghị cụ thể.

Những vấn đề lớn của VN là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và tŕnh độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ư nghĩa của văn bằng nầy...

Thế nào là một luận án tiến sĩ?  

Tŕnh độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án Tiến sĩ là ǵ? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lư luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành ḿnh (trong kinh tế học đó là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô), và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lư luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của ḿnh (chẳng hạn kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, kinh tế lao động, v.v.). Những kiến thức cơ bản nầy được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở tŕnh độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị nầy hội đủ các điều kiện đó.

Tŕnh độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá tŕnh nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lư luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lư luận, các kết quả mà các công tŕnh nghiên cứu trước đă đạt được liên quan đến đề tài của ḿnh. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lư luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.

Cần nói thêm rằng đ̣i hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lư luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có tŕnh độ nghiên cứu độc lập, chứ không đ̣i hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn th́ càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại VN, chí ít là trong lănh vực kinh tế, h́nh như đa số hiểu sai về ư nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở VN thường là ‘”Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để huy động vốn trong dân, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, v.v..). Huy động vốn, đầu tư nước ngoài tại VN,. v..v dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lư luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở VN, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công tŕnh trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công tŕnh của một người với phí tổn đào tạo chưa tới 3 triệu đồng 1 năm? (****)

Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở VN chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, tŕnh độ của luận án do đó c̣n rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành.

Học và nghiên cứu như thế nào để viết được luận án tiến sĩ?

Ở nước ngoài, để có đủ kiến thức nhận tư cách ứng viên và để viết được luận án tiến sĩ có đủ tính học thuật và tính độc sáng, nghiên cứu sinh phải tập trung học liên tục và rất vất vả trong nhiều năm. Tôi xin kể trường hợp của 2 sinh viên mà tôi đă hướng dẫn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ 2 năm qua. Sinh viên Trung Quốc lấy tiến sĩ năm 2002, là sinh viên du học tự túc nên phải làm thêm mỗi tuần 2 ngày nhưng 5 ngày c̣n lại tập trung học, nghiên cứu và đă mất tất cả 5 năm sau khi lấy bằng thạc sĩ và thi đỗ vào bậc tiến sĩ. Sinh viên Việt Nam bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đầu năm 2003, có học bổng của chính phủ Nhật nên chuyên tâm vào việc học và làm luận án, nhưng cũng mất 4 năm. Trừ những kỳ nghỉ hè, nghỉ Tết, hằng tuần tôi có trách nhiệm mở lóp hướng dẫn nghiên cứu gọi là seminar và tất cả các nghiên cứu sinh học với tôi (thuộc nhiều năm học khác nhau trong hai bậc thạc sĩ và tiến sĩ.) đều phải tham dự. Mỗi tuần có 1 hoặc 2 nghiên cứu sinh báo cáo về sự tiến triển của đề tài nghiên cứu của ḿnh, các nghiên cứu sinh khác tham gia thảo luận để vừa giúp bạn gợi mở các ư tưởng mới vừa tham khảo phương pháp luận nghiên cứu và thông tin về động hướng nghiên cứu của từng đề tài mà giáo sư hướng dẫn chỉ ra cho người báo cáo. Nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ trong năm đầu phải theo học nhiều môn cơ bản và chuyên môn liên hệ với nhiều giáo sư khác, song song với việc tham gia seminar của giáo sư hướng dẫn ḿnh để từng bước xây dựng đề cương nghiên cứu. Việc xây dựng đề cương là quá tŕnh lao động vất vả nhất v́ đề cương phải cho thấy luận án khi hoàn thành sẽ có đủ 2 tính chất học thuật và độc sáng nói trên. Các nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ cứ độ vài ba tháng báo cáo trong seminar một lần và khi cần thiết đến pḥng nghiên cứu của giáo sư để được hướng dẫn thêm. Nhiều sinh viên không xây dựng được đề cương, cuối cùng phải bỏ cuộc.

Ở Việt Nam, việc học ở bậc tiến sĩ quá đơn giản. Tại một cơ sở đào tạo nọ, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề và được biết trong mỗi chuyên đề thầy giáo (đa số là phó giáo sư) chỉ giảng 1 ngày sau đó nghiên cứu sinh tự làm các tiểu luận liên hệ (các chuyên đề nhiều khi cũng chỉ là những vấn đề thực tế, không nhất thiết là chuyên đề giúp cho nghiên cứu sinh nắm vững hơn về mặt lư luận và phương pháp luận nghiên cứu. Đây cũng là hệ quả tất yếu khi luận án tiến sĩ không đ̣i hỏi phải có tính học thuật). Quan hệ với giáo sư hướng dẫn cũng lỏng lẻo (vấn đề giáo sư hương dẫn sẽ nói thêm sau). Cũng v́ việc học không đ̣i hỏi sâu về mặt lư luận và luận án không đ̣i hỏi có tính học thuật và độc sáng nên nhiều người học tại chức cũng có thể bảo vệ “thành công” luận án trong 3-4 năm. Ở nước ngoài khó có thể tưởng tượng được là một người đương phải đảm trách công việc quản lư xí nghiệp hay quản lư nhà nước mà chỉ trong 3-4 năm có thể lấy được bằng tiến sĩ! (trừ trường hợp người đó được biệt phái 3-4 năm để đi học). Ở Nhật thỉnh thoảng có trường hợp một quan chức ở một bộ kinh tế hay ngân hàng nhà nước bảo vệ thành công luận án tíến sĩ nhưng đó là trường hợp rất đặc biệt của những người có khả năng nghiên cứu kư luận và công việc hằng ngày của họ cũng liên quan đến nghiên cứu, và nhất là có công tŕnh nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín (cũng cần nói thêm là những quan chức ấy muốn lấy bằng tiến sĩ là để trong tương lai chuyển sang nghề dạy học hoặc nghiên cứu ở các viện, chứ văn bằng không liên quan ǵ đến việc đề bạt ở các cơ quan quản lư).

Về giáo sư hướng dẫn viết luận án tiến sĩ

Để cho dễ hiểu tôi mạn phép bắt đầu bằng trường hợp cụ thể của tôi. Tôi phụ trách dạy môn kinh tế ngoại thương và môn kinh tế chuyển đổi (từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường) cho sinh viên bậc đại học và phụ trách dạy môn kinh tế phát triển cho sinh viên (nghiên cứu sinh) sau đại học. Nói chung phạm vi chuyên môn của tôi về mặt lư thuyết là kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế, và về mặt thực tiễn là kinh tế Á châu. Để cập nhật nội dung các bài giảng, để hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án, và để tiến hành các đề tài nghiên cứu của riêng ḿnh, dĩ nhiên tôi phải theo dơi thường xuyên động hướng nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chuyên môn của ḿnh. Ngoài việc theo dơi trên sách và tạp chí chuyên môn, phải thường xuyên tham gia báo cáo, thảo luận tại các hội thảo khoa học, nhất là tham gia các hoạt động của hội khoa học chuyên ngành (Tôi hiện nay là thành viên của Hội kinh tế quốc tế Nhật Bản, Hội kinh tế chính trị Á châu và hai hội khác). Các hội khoa học tại Nhật tổ chức báo cáo khoa học hàng tháng tại vùng ḿnh sinh sống và hằng năm tổ chức đại hội toàn quốc để hội viên (đă được chọn) báo cáo thành quả nghiên cứu của ḿnh.

Nói chung đây là hoạt động thông thường của một giáo sư ở đại hoc Nhật. Nhưng đây mới chỉ là điều kiện cần của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ. Điều kiện đủ là công tŕnh, thành quả nghiên cứu của giáo sư đă được đánh giá trong giới khoa học. Ở các đại học lớn mỗi khoa thường có độ 50 giáo sư nhưng chỉ có độ 20 người có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ . Tóm lại, điều kiện tối thiểu của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án phải là một giáo sư đương nhiệm mà công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu tại một đại học hay một viện nghiên cứu. Nếu không là đương nhiệm th́ về mặt cơ chế không có tư cách hướng dẫn hay phản biện luận án tiến sĩ, và về mặt thực tế không thể giúp sinh viên chọn một đề tài có tính độc sáng v́ người đó không có điều kiện theo dơi những nghiên cứu mới trên thế giới về ngành của ḿnh.

Một điều rất lạ với thế giới nhưng rất phổ biến ở VN là có nhiều vị có học hàm, học vị nhưng đă chuyển sang làm quản lư và các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lại được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh. Dĩ nhiên có thể có trường hợp ngoại lệ là các vị đó vẫn tiếp tục phát biểu các công tŕnh nghiên cứu về học thuật trên các tạp chí khoa học, đươc giới khoa học trong ngành đánh giá cao, nhưng trường hợp này rất hiếm và và khó thấy ở các nước khác. .

Cơ chế và phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ

Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư thành viên chấm luận án nói ở trên được giải quyết đúng đắn th́ việc đánh giá luận án không c̣n là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư nào thấy luận án của học tṛ ḿnh chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể c̣n nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của ḿnh, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là v́ vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá tŕnh chuẩn bị luận án, nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là 1 năm để nhận các ư kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới.

Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật và các nước tiên tiến khác đặt cơ chế xă hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai h́nh thức xă hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 hoặc 3 (tuỳ trường đại học) công tŕnh liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định (referee). Tạp chí có thẩm định là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (thường là sau khi che dấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. Các bài viết đăng ở các tạp chí không có chế độ thẩm định khách quan nầy không được xem là công tŕnh nghiên cứu.

Một h́nh thức nữa là cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hằng năm của ngành chuyên môn (Tôi đă cho sinh viên Trung Quốc và sinh viên VN nói trên ra báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội nghiên cứu chính trị và kinh tế Á châu). Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học tṛ ḿnh bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học th́ người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn. Trong trường hợp đó, về mặt khách quan, xem như nghiên cứu sinh ấy không thể bảo vệ ngay ở đại học được nữa mà phải nghiên cứu thêm..

Dưới cơ chế đào tạo nói trên và sau khi đă xă hội hoá việc đánh giá, cuộc bảo vệ cuối cùng đương nhiên sẽ đưa lại kết quả tốt. Cần nói thêm rằng trong khi nêu ư kiến đánh giá của ḿnh trong hội đồng, không có giáo sư nào phát biểu những câu như “luận án nầy văn phong sáng sủa, bố cục chặt chẽ,…”. mà chỉ xoay quanh tính học thuật và tính độc sáng của luận án. Ngay cả trường hợp nghiên cứu sinh người Trung Quốc và người VN của tôi viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Nhật cũng không có ai khen theo kiểu như vậy. Có dịp tham dự mấy buổi bảo vệ tại VN, tôi rất ngạc nhiên khi nghe những câu đánh giá như vậy và có cảm tưởng như người phát ngôn đương nói về một luận án tốt nghiệp đại học.

Vài lời kết và kiến nghị

Việt Nam phải đứng trước một sư chọn lựa giũa hai con đường: (1) Duy tŕ cơ chế hiện tại, tiếp tục sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng ḿnh, và văn bằng nầy xem như hàng nội địa chỉ tiêu thụ tại nước ḿnh. (2) Xem học vị tiến sĩ sản xuất trong nước phải tương đương hoặc gần như tương đương với văn bằng ở nước ngoài.

Nếu chọn con đường thứ hai th́ tôi đề nghị như sau:

Thứ nhất, cần đặt lại vấn đề chuẩn mực của luận án tiến sĩ, nhấn mạnh tính học thuật và tính độc sáng phải có của một luận án tiến sĩ.

Thứ hai, tham khảo các trường hợp điển h́nh ở nước ngoài, rà soát lại các tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn làm luận án và các cơ sở được phép đào tạo tiến sĩ theo hướng nâng cao hẳn các tiêu chuẩn để theo gần với nước ngoài.

Thứ ba, người có học hàm học vị cao nhưng không phải là giáo sư đương nhiệm ở đại học hoặc cơ quan nghiên cứu th́ không được phép tham gia hội đồng đánh giá luận án.

Thứ tư, 3 điểm nói trên thực hiện triệt để sẽ thấy rằng VN hiện nay chưa đủ điều kiện để đào tạo và cấp hàng loạt văn bằng tiến sĩ, do đó vấn đề tiếp theo là chuẩn bị cơ chế và nhân tài để 10 năm tới có thể đào tạo nhiều hơn văn bằng nầy.

Thứ năm, không xem văn bằng tiến sĩ là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt ở các cơ quan quản lư của nhà nước hoặc các cơ quan khác. Không cấp kinh phí và không tạo các điều kiện khác cho cán bộ đi học tại chức bậc tiến sĩ.

Ta có thể tự hào rằng giới trẻ VN rất thông minh. Nhiều nghiên cứu sinh người VN thành công xuất sắc trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ tại Nhật. Tôi cũng đă gặp nhiều bạn trẻ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, ở Úc, …về đương làm việc tại Hà Nội , Thành phố Hồ Chí Minh,.. hầu hết rất giỏi. Nếu ta có cơ chế, chính sách đúng đắn, trong tương lai tại VN cũng sẽ có nhiều tiến sĩ tài giỏi.

 .........................................

 

(*) Bài đă đăng trên báo Tia Sáng số tháng 9 năm 2003

(**) Tôi chủ yếu làm việc ở nước ngoài, chỉ đọc định kỳ một số báo nhất định và chỉ riêng 2-3 năm gần đây cũng đă thấy các bài viết sau: (1) Văn Như Cương, 10 lời khuyên cho những ai muốn làm luận án Tiến sĩ (Tía Sáng, 2/2001), (2) Thanh Thảo, Có bằng mà cậy chi bằng (Văn Nghệ, 3/8/2002), (3) Lê Minh Phúc, Ông ấy là Tiến sĩ (Văn Nghệ, 20/7/2002), (4) Lưu Quang, “Tiến sĩ giá rẻ” (Lao động cuối tuần (3/11/2002).

(***) Từ sau năm 1998 đến nay, tôi có tham dự 2 buổi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Hà Nội và có dịp đọc 3,4 luận án khác.

(****) Theo bài báo “Tiến sĩ giá rẻ” nói ở chú thích đầu th́ là 2,77 triệu đồng một năm.


Bị chú của ERCT : Bài đă đăng trên trang web Hướng về Giáo Dục http://www.ncst.ac.vn/HVGD/index.htm . Đăng lại với sự đồng ư của GS Trần Văn Thọ.