Việt Nam thời đại mới: Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm

Trần Văn Thọ
GS Đại học Waseda, Tokyo
(Đă đăng trên Thời báo kinh tế Saigon, Xuân Đinh Hợi 2007)

  Năm 2006 đánh dấu một bước ngoặt trong quá tŕnh phát triển của Việt Nam. Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và nhận Quy chế mậu dịch b́nh thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ, thị trường lớn nhất thế giới, đă đưa VN lên vị trí một thành viên chính thức, đầy đủ của cộng đồng quốc tế và, với những cam kết để gia nhập WTO, VN sẽ chuyển nhanh hơn vào kinh tế thị trường. Nh́n chung, từ nay kinh tế nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, khác về chất so với giai đoạn trước, và hy vọng sẽ đạt được một hiệu suất cao hơn.

  Cùng với các sự kiện kể trên, kinh tế tăng trưởng liên tục ở mức khá cao và việc tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh APEC làm cho h́nh ảnh VN trên vũ đài quốc tế sáng hẵn ra, thu hút quan tâm của thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2006 tại VN đă đạt kỷ lục mới. Cùng với thị truờng thế giới ngày càng rộng mở, FDI kéo theo tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh tiên tiến đang trở thành những ngoại lực thuận lợi cho VN.   

  Trong khung cảnh đó, xă hội VN bao trùm một không khí phấn chấn, hồ hỡi, tự tin. Đây là một động lực, một yếu tố tích cực trong nội lực để thúc đẩy đất nước tiến nhanh hơn. Dù trong nội lực c̣n nhiều vấn đề phải giải quyết (như giáo dục, đào tạo, sử dụng nhân tài, v.v..) nhưng với thời cơ hiện nay, kinh tế VN chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển ở mức cao trong nhiều năm tới.

   Năm 2006 trong nước cũng bàn tán sôi nổi về bản báo cáo mới của Goldman Sachs v́ dự báo của bản báo cáo nầy góp phần làm tăng niềm tin vào tương lai của người VN. Tập đoàn tài chánh nầy vào năm 2003 đă phân tích tiềm năng của 4 nước mà họ gọi là BRICs (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) và đưa ra dự báo về khả năng ảnh hưởng đến kinh tế thế giới của những nước nầy trong tương lai. Trong bản báo cáo cuối năm 2005, Goldman Sachs cho rằng tiếp theo BRICs có 11 nước đang phát triển đáng được chú ư (mà họ gọi là Next-11) trong đó có Việt Nam. Dưới các giả định về tiềm năng tăng truởng, kinh tế VN được dự báo tăng b́nh quân 7,9%, 7,6%, 6,9% và 6,4% trong các giai đoạn 5 năm từ 2005 đến 2025. Trong dài hạn, kinh tế tăng truởng thường đi theo với việc tăng giá đồng tiền nước ḿnh. Tổng sản lượng trong nước (GDP) tính bằng USD do đó sẽ tăng nhiều hơn tốc độ tăng truởng kinh tế. Theo tính toán của Goldman Sachs, tốc độ tăng truởng đóng góp 2/3 và việc tăng giá đồng tiền sẽ đóng góp 1/3 vào GDP của các nước. Với các tiền đề nầy, vào năm  2025, GDP của Việt Nam (theo giá lúc đó) sẽ là 436 tỉ USD (năm 2005 là 47 tỉ USD), và VN trở thành nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới, sau 7 nước tiên tiến hiện nay (Âu Mỹ và Nhật Bản), 4 nước BRICs và 5 nước khác (Hàn Quốc, Mexico, Indonesia, Iran và Thổ Nhỉ Kỳ).

   Cách tính toán của Goldman Sachs nh́n chung có thế chấp nhận được. Với dân số hơn 100 triệu vào năm 2020 và với các tiềm năng khác, VN hoàn toàn có khả năng trở thành một nền kinh tế có trọng lượng trên thế giới. Nhưng ta có nên xem đây là mục tiêu duy nhất để phấn đấu? Mấy năm gần đây chúng ta đă bàn đến chất lượng của sự phát triển hoặc phát triển bền vững, mà hai nội dung chính là phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường, và phân phối thành quả phát triển đến các giai tầng xă hội, tạo cơ hội b́nh đẳng để mọi nguời có thể tham gia vào quá tŕnh phát triển. Tôi cũng đă có dịp bàn kỹ vấn đề nầy. Hôm nay tôi muốn đưa vấn đề nầy vào một khung lớn hơn và, và nhân các sự kiện quốc tế dồn dập đến với VN trong năm cũ, ta thử đặt vấn đề chất lượng phát triển trong bối cảnh quốc tế. Tôi liên tưởng đến  thuật ngữ sức mạnh mềm của Josegh Nye, giáo sư Đại học Harvard.

  Cho đến nay sức mạnh về kinh tế và quân sự thường ảnh hưởng đến nước khác qua các quan hệ quốc tế về chính trị, quân sự, kinh tế. Có thể gọi đó là sức mạnh cứng (hard power). C̣n một nguồn sức mạnh khác cũng có thể làm nâng cao địa vị quốc tế của một nước, đó là sức mạnh mềm (soft power). Thuật ngữ nầy nguyên được áp dụng trong lănh vực ngoại giao, quan hệ quốc tế, nhưng cũng có thể áp dụng trong phạm vi rộng hơn để phân tích sức mạnh văn hoá, uy tín quốc tế, sự lôi cuốn, hấp dẫn của một quốc gia, một dân tộc đối với thế giới.

   Về lâu dài, VN có thể tăng sức mạnh mềm qua các sản phẩm văn hoá như phim ảnh, thơ văn, ca nhạc, v.v.. hoặc qua hoạt động thể thao, ngoại giao,... trên vũ đài thế giới. Trong lănh vực kinh tế, VN có thể lôi cuốn sự quan tâm của thế giới, hấp dẫn khách du lịch nước ngoài đến thăm chơi, tạo ra sự khâm phục, đồng t́nh của dư luận quốc tế bằng chiến lược chú trọng chất lượng phát triển, thực hiện phát triển trong sự hài hoà với thiên nhiên và xă hội, và có thái độ tự trọng trong việc vay mượn nước ngoài. Cụ thể hơn, có thể nêu ra ba điểm sau:

Thứ nhất, song song với phát triển nếu ưu tiên tạo môi truờng sống hài hoà, thân thiện (friendly) với thiên nhiên và tử tế, ưu ái (gentle) với con người th́ không những chất lượng cuộc sống của người dân VN tăng lên mà c̣n hấp dẫn người nước ngoài đến nhiều hơn. Ở các đô thị những điểm nầy thường ít được chú ư. Chính sách ưu tiên phát triển và tính tự phát của quá tŕnh phát triển thường phá hoại môi truờng và làm suy đồi đạo đức, làm giảm nếp sống văn hoá của người đô thị. Phải làm cho cuộc sống của người dân ở các đô thị được bảo đảm tối đa về cả hai mặt an ninh xă hội và an toàn giao thông, và được thoả măn trong môi trường xă hội lành mạnh, có văn hoá.

Thứ hai, VN c̣n phải vay mượn và nhận viện trợ (gọi chung là ODA) nhiều trong thời gian truớc mắt, một thái độ tự trọng và có trách nhiệm trong việc dùng ODA là rất cần thiết. Mọi người VN, nhất là các quan chức nhà nước, cần ư thức rằng vay mượn và nhận viện trợ là để phát triển nhanh hơn và để không c̣n phải nhận ODA trong một tương lai không xa. Thái độ tự trọng và có trách nhiệm được thể hiện trong việc quản lư vốn ODA, trong việc bài trừ tham nhũng và tránh lăng phí. Tham nhũng và lăng phí, kể cả những vụ không liên quan trực tiếp đến vốn ODA, cũng nằm trong phạm trù tự trọng đối với nước ngoài trong việc vay mượn và nhận viện trợ.  

Thứ ba, VN đang trong quá tŕnh rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi trước, đang trong nỗ lực xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu và tiến lên một nước công nghịệp hiện đại. Trên thế giới hiện nay thật ra c̣n có hơn một trăm quốc gia cũng đang hoặc sẽ bắt đầu một quá tŕnh tương tự như ta, trong đó không ít quốc gia đang ṃ mẫm t́m mô h́nh tối ưu để phát triển trong thời đại toàn cầu hoá. Nếu VN thực hiện thành công mô h́nh kết hợp hiệu quả nội lực và ngoại lực, và phát triển trong sự hài hoà với thiên nhiên và xă hội, tự nó sẽ trở thành một tài sản quư giá của thế giới mà nhiều nước sẽ tham khảo.

Sức mạnh mềm như phân tích ở trên vừa có tác dụng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vừa lôi cuốn được sự mến mộ của thế giới. Song song với đầu tư cho phát triển kinh tế, cần chú trọng đầu tư nhiều hơn cho vốn văn hoá, vốn xă hội là con đường vừa tăng sức mạnh cứng vừa tăng sức mạnh mềm của Việt Nam.

                                    (Tokyo, đầu Xuân Đinh Hợi 2007)