Khoa học và những lợi ích của "bọt"
Trương Văn Tân
Tổng
quát
Các sách giáo khoa về khoa học thường dạy rằng vật chất có ba dạng:
thể khí, thể lỏng và thể rắn. Điều này quá hiển nhiên khi ta quan
sát sự vật xung quanh. Tuy nhiên, các loại vật chất thiên nhiên
hay nhân tạo thường xuất hiện ở một dạng "lai" kết hợp giữa thể
khí và thể lỏng hoặc thể khí và thể rắn mà hiếm khi chúng ta ư
thức được sự hiện diện của nó mặc dù ta ăn, uống, tiếp xúc, sử
dụng trong cuộc sống hằng ngày. Đó là thể bọt (foam) khi có sự kết
hợp giữa thể lỏng và khí, hay là thể xốp (sponge) khi là thể rắn
và khí, có thể gọi chung là thể bọt. Thể bọt từ xưa đến nay dường
như ít được "trân trọng" trong lĩnh vực ngôn ngữ văn chương.
Truyện Kiều có câu "Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau",
ám chỉ thân phận nhỏ mọn, lênh đênh trôi dạt, không đáng quan tâm.
Nhưng trong khoa học, như các thể khác của vật chất thể bọt là một
bộ môn thú vị đầy thách thức có lịch sử nghiên cứu lâu dài từ thế
kỷ 19 và cho đến ngày nay vẫn có nhiều vấn đề tồn đọng chưa được
hiểu hết.
Khi nói đến bọt, người ta suy nghĩ đến bọt xà pḥng, bọt bia, bọt
sâm banh, bọt cà phê cappuccino, bọt nước giải khát, mỗi thứ cho
một khoái cảm khác nhau. Bọt chẳng qua là không khí hay gas được
bao bọc bởi chất lỏng hay chất rắn. Nó đơn giản lắm. Nhưng bia,
sâm banh, cappuccino, Coca-Cola không bọt th́ sẽ trở thành một thứ
ǵ khác vô danh và vô cùng nhạt nhẽo. Cái "đậm đà" của bọt không
dừng ở thức uống mà c̣n nhận được ở thức ăn. Bánh ḿ, bánh ḅ Nam
bộ, bánh bông lan, bánh phồng tôm, bánh kem sô-cô-la mousse
mà không bọt th́ sẽ vô vị biết bao. Bọt trong ẩm thực có tác dụng
bao bọc mùi thơm để gia tăng hương vị, dễ ăn, gia tăng vị giác v́
bọt tạo ra nhiều bề mặt tiếp xúc với lưỡi. Ngoài ra, chất chữa
cháy thường là bọt chứa khí cacbon đioxit (CO2). Khí
này chữa cháy hữu hiệu. Khối bọt đè lên đám lửa ngăn chặn không
cho không khí tuồn vào, đồng thời bọt chứa khí cacbon đioxit dập
tắt lửa.
Sự h́nh thành bọt nước có thể được giải thích dễ dàng bằng sự
chuyển pha từ thể lỏng sang thể khí (bọt) của nước. Áp suất trong
nước tương đương với áp suất không khí. Khi có một tác động vật lư,
như chân vịt của máy tàu khuấy nước, tác động khuấy/quay sẽ tạo
những vùng nước có áp suất thấp hơn áp suất b́nh thường xung quanh.
Bọt xuất hiện. Ta có thể vào nhà bếp hay pḥng tắm làm thí nghiệm
đơn giản. Khi mở rất nhẹ ṿi nước máy ḍng nước trong vắt không
bọt chảy ra. Khi mở to ṿi, ta sẽ thấy ḍng nước đầy bọt trắng. Lư
do là khi tốc độ nước chảy gia tăng, ḍng nước va chạm mạnh vào
thành ṿi tạo ra những vùng có áp suất tụt giảm. Ở những vùng áp
suất thấp này, bọt xuất hiện. Khi đun sôi, bọt cũng xuất hiện
nhưng do sự gia tăng nhiệt độ. H́nh 1 giải thích sự chuyển pha của
nước từ thể lỏng sang thể khí.

H́nh 1: Bọt được tạo ra bởi sự đun sôi khi tăng nhiệt độ (Mũi tên
1) hay bởi sự giảm áp suất (Mũi tên 2).
Trong thiên nhiên, ta thấy bọt nước trắng xuất hiện trên sóng biển
hay từ những ḍng thác ào ạt trút nước. Khi ḍng nước chảy êm đềm
như trên một ḍng sông không có vật cản, bọt nước không xuất hiện.
Khác với ḍng sông, ḍng thác va chạm vào thành đá, hay khi sóng
biển tiến gần bờ, sóng vỡ (breaking wave) do sự va chạm vào ḷng
đất tạo ra những vùng nước có áp suất tụt giảm tạo ra vô số bọt
nước.
Bọt xà pḥng là một niềm vui cho trẻ con lẫn người lớn v́ nó biết
"bay bay" và ẩn hiện màu sắc. Đối với nhà khoa học, bọt xà pḥng
là mẫu thí nghiệm cho việc nghiên cứu. Nó có "tuổi thọ" dài hơn
bọt thuần nước nhờ vào chất hoạt tính bề mặt (surfactant). Chất
này kết hợp với nước trong vỏ bọt khiến cho vỏ có tính đàn hồi và
ngăn được sự bốc hơi của nước từ vỏ duy tŕ độ bền của bọt. Tuy
nhiên, xà pḥng không phải là chất hoạt tính bề mặt duy nhất. Nước
biển là "nồi lẩu" chứa nhiều phân tử có hoạt tính bề mặt. V́ vậy,
biển tạo bọt có thể duy tŕ hàng giờ trên băi biển. Nước ô nhiễm
thải từ nhà máy có thể tạo ra những khối bọt đứng yên nhiều ngày
v́ có hóa chất mang hoạt tính bề mặt rất hữu hiệu.
Protein là pôlime sinh học được h́nh thành bởi các axit amino có
nhiều trong sữa, ḷng trắng trứng, và có hoạt tính bề mặt rất cao.
Bọt chữa cháy thường có mùi hôi v́ bọt hàm chứa nhiều loại protein
động vật nhằm gia tăng tính bền vững của khối bọt trước ngọn lửa.
Theo thời gian, protein trong chất chữa cháy dần dần được thay thế
bởi chất hoạt tính bề mặt không mùi; nhưng trong lĩnh vực ẩm thực
protein lúc nào cũng là thành phần quan trọng. Protein cần thiết
để tạo ra các loại bánh, kem tráng miệng có bọt, cà phê
cappuccino. Ngược lại, chất béo (lipid) là thứ ngăn chặn sự tạo
bọt. Những người học làm bánh sẽ được thầy cô chỉ dạy bài học vỡ
ḷng là muốn tạo bọt th́ phải tránh xa chất béo. Pavlova là một
loại bánh tráng miệng thơm ngon, dễ làm và phổ biến tại Úc. Nguyên
liệu chính là ḷng trắng trứng. Ḷng trắng chứa 90 % nước và 10 %
protein. Ḷng đỏ trứng chứa nhiều chất béo. Cho nên, tách ḷng
trắng ra khỏi ḷng đỏ một cách hoàn hảo là khâu quan trọng đầu
tiên. Để tạo bọt, người ta đánh ḷng trắng trứng và một chút giấm
trong cái tô gốm sứ được rửa thật sạch để loại trừ dầu mỡ (không
dùng tô plastic v́ chất béo của những lần sử dụng trước có thể c̣n
dính vào tô). Khối bọt sẽ thành h́nh và vỏ bọt được gia cường bởi
những phân tử dài protein. Giấm là axit phóng thích ion dương
hydro H+; H+ gắn vào các phân tử protein tạo
ra phân tử protein mang điện dương. Nhờ vậy, phân tử cùng đẩy nhau
ra xa, nếu chúng co cụm lại th́ bọt sẽ teo, sụp đổ, nhất là ở
nhiệt độ cao. Cuối cùng, khối bọt ḷng trắng trứng này sẽ được để
vào ḷ nướng ở 120 °C. Khối bọt sẽ thành thể rắn sau hơn 1 giờ
nướng trong ḷ. Chúng ta có bánh Pavlova.
Cấu trúc
Khi bọt đứng một ḿnh, nó có dạng h́nh cầu tuyệt đối do tác dụng
của sức căng bề mặt. Quy luật vật lư cho thấy, trạng thái một vật
ổn định khi ở năng lượng thấp nhất. Quả bóng lăn theo triền núi và
chỉ ngừng lại (trạng thái ổn định) ở chân núi là nơi năng lượng
thấp nhất (thế năng = 0). Bọt cần năng lượng để duy tŕ h́nh dạng.
Diện tích bề mặt càng to th́ cần nhiều năng lượng. Thiên nhiên
thích sự tối giản, không muốn dùng nhiều năng lượng. Nếu một cá
thể bọt có thể tích nhất định nào đó th́ bề mặt h́nh cầu có diện
tích nhỏ nhất so với các dạng h́nh học khác, nên có năng lượng
thấp nhất [1].
Nếu có 2 đơn vị bọt th́ chúng kết hợp đối xứng, chia đều khoảng
không gian. Nếu có 3 đơn vị bọt, th́ chúng gắn vào nhau với góc
120° (H́nh 2). Số đơn vị bọt gia tăng, nhưng sức căng bề mặt vẫn
là yếu tố đưa đến việc giảm thiểu diện tích bề mặt dẫn đến trạng
thái ổn định có năng lượng thấp nhất. Lúc đó, như H́nh 2 cho thấy
bọt không c̣n giữ được dạng h́nh cầu nữa mà chuyển đến một dạng
khác để các mặt tiếp xúc có diện tích tối thiểu. Nếu số đơn vị bọt
tăng lên với con số thật lớn và gắn vào nhau thành một khối bọt
khổng lồ th́ h́nh dạng của một đơn vị bọt sẽ ra sao để diện tích
của toàn thể mặt tiếp giáp đạt đến con số tối thiểu? Đó là câu hỏi
của Lord Kelvin (Sir William Thomson) đưa ra vào năm 1887 mà người
đời sau gọi là "câu hỏi Kelvin". Lord Kelvin là nhà khoa học người
Anh nổi tiếng với những đóng góp lớn trong nhiệt động học và đă
đưa ra khái niệm nhiệt độ tuyệt đối (kư hiệu K). Nói một cách khoa
học hơn, "câu hỏi Kelvin" được diễn tả như sau: nếu một không gian
có thể tích nhất định, th́ ta phải phân chia không gian này thế
nào để những đơn vị có h́nh dạng và kích cỡ giống nhau và các mặt
tiếp giáp giữa chúng có tổng diện tích thấp nhất.
.gif)
H́nh 2: Hai và ba chiếc bọt chia đều không gian nhằm giảm thiểu
diện tích bề mặt. (Nguồn: Google)
Bằng sự phân tích thiên tài dựa trên sự cân bằng năng lượng giữa
các bọt xà pḥng, Lord Kelvin dẫn đến kết luận là h́nh dạng bọt
trong khối bọt có vô số đơn vị bọt là dạng lập thể 8 mặt
(octahedron) mà 6 đỉnh của nó bị chặt cụt (H́nh 3). Ông đặt cái
tên phức tạp "tetrakaidecahedron" cho cấu trúc này, gọi một cách
đơn giản đơn vị bọt Kelvin. Trong tinh thần thực dụng của
người Anh, ông dùng dây kẽm tạo ra một mô h́nh để h́nh dung khối
bọt có tổng diện tích của các mặt tiếp giáp ở trị số nhỏ nhất. Nó
giống như hệ thống ḷ xo của chiếc gường ngủ nên hậu thế cho một
biệt danh là "ḷ xo giường ngủ Lord Kelvin" (Lord Kelvin's
bedspring) (H́nh 4). Nhưng h́nh dạng của khối bọt lư thuyết Kelvin
vẫn c̣n khác xa khối bọt trong thực tế (H́nh 5).
.gif)
H́nh 3: (a) Lập thể 8 mặt, (b) Lập thể 8 mặt bị chặt cụt ở 6 đỉnh
(đơn vị bọt Kelvin) và (c) Hai đơn vị bọt Kelvin gắn vào nhau [2].
.gif)
H́nh 4: Mô h́nh 3D của khối bọt Kelvin. (a) Làm bằng dây kẽm [2]
và (b) Mô h́nh vi tính (Nguồn: Wikipedia).
.gif)
H́nh 5: Khối bọt xà pḥng của đời thực. (Nguồn: Wikipedia)
Mô h́nh của Lord Kelvin không nhận được thách thức nào từ cộng
đồng khoa học hơn 100 năm qua. Điều này chứng tỏ Lord Kelvin đă có
tầm nh́n sâu xa và sự phân tích trác tuyệt. Nhưng sự mặc nhận của
cộng đồng khoa học không có nghĩa là sự thiếu vắng của nỗ lực truy
t́m những mô h́nh khác. Khi thời đại vi tính xuất hiện các nhà
toán học và vật lư lư thuyết trở lại t́m lời giải đáp với hy vọng
có thể vượt qua trí tuệ của Lord Kelvin. Năm 1993, Denis Weaire và
học tṛ Robert Phelan tại đại học Trinity College (Dublin,
Ireland) dùng máy tính tạo ra mô h́nh bền vững của bọt có tên là
cấu trúc Weaire-Phelan mà hai ông cho rằng có diện tích mặt tiếp
giáp nhỏ hơn cấu trúc Kelvin [3]. Thật sự, kết quả tính toán của
máy tính hiện đại cho ra một cấu trúc không khác nhiều so với cấu
trúc Kelvin (H́nh 6).
.jpg)
H́nh 6: Mô h́nh vi tính Weaire-Phelan [3].
Vào năm 1946, hơn nửa thế kỷ sau sự phát hiện của Lord Kelvin, đă
có những nỗ lực truy t́m bằng chứng về sự hiện hữu của đơn vị bọt
Kelvin. Nhà thực vật học Edwin Matzke đă vô cùng kiên nhẫn dùng
ống tiêm nhúng vào dung dịch xà pḥng, tạo ra từng cá thể bọt bằng
tay làm nên hàng ngàn bọt xà pḥng và gắn chúng vào nhau [4]. Ông
quan sát khối bọt dưới kính hiển vi và nh́n thấy các mặt tiếp giáp
tam giác, tứ giác, ngũ giác, lục giác nhưng không nh́n thấy cấu
trúc Kelvin. Matzke thất vọng cho rằng lư do ông đă không nh́n
thấy cấu trúc Kelvin là v́ ông đă không tạo được những khoảng cách
giống nhau giữa các đơn vị bọt. Vài năm sau, một nhà thực vật học
khác, John Dodd, rút kinh nghiệm từ thất bại của Matzke chấp nhận
thử thách kiên nhẫn tạo ra những chuỗi bọt có khoảng cách đều đặn
giống nhau. Dodd đă nh́n thấy và chụp được h́nh của cấu trúc
Kelvin [5]. Nhưng ông thừa nhận rằng đây là công tŕnh gian nan và
chỉ nh́n thấy được vài lần trong hàng trăm lần làm thí nghiệm. Tuy
nhiên, trong một quyển sách xuất bản năm 1999 [6], tác giả quyển
sách tuyên bố phương thức tạo ra cấu trúc Kelvin trong ṿng một
phút nhưng với lời khuyên là "cần nhiều kinh nghiệm và một chút
may mắn"!
Như vậy, trong cuộc truy t́m bằng cớ thực nghiệm cho cấu trúc
Kelvin hay cấu trúc Weaire-Phelan tính lặp lại (reproducibility)
rất thấp và cần sự may mắn. Nó mang tính chất của nghệ thuật đen
(black art) hơn là khoa học. Mục đích của Lord Kelvin hay Weaire-Phelan
là t́m kiếm tổng diện tích tối thiểu của các bề mặt tiếp giáp để
có trạng thái ổn định với năng lượng thấp nhất. Trong thí dụ bên
trên, quả bóng lăn theo triền núi và ngừng ở chân núi nơi có năng
lượng thấp nhất. Quá tŕnh bóng lăn là quá tŕnh tự phát. Sự thành
h́nh của một cá thể bọt h́nh cầu trong chất lỏng hay chất rắn cũng
là quá tŕnh tự phát và tức thời. Nhưng chúng ta không thấy sự tự
phát trong khối bọt mà cần bàn tay điêu luyện và sự kiên nhẫn cộng
thêm chút may mắn. Điều này đưa đến một câu hỏi cơ bản: h́nh dạng
bọt trong khối bọt có cần thiết phải tuân theo nguyên lư "năng
lượng tối thiểu", hay chẳng qua chỉ là một quá tŕnh ngẫu nhiên
(random)? Để có quan điểm trung dung, ta có thể nghĩ rằng khối bọt
như bọt biển được h́nh thành bởi những đơn vị bọt có nhiều h́nh
dạng ngẫu nhiên (random) khác nhau rồi cùng tiến đến mô h́nh Lord
Kelvin hay Weaire-Phelan. V́ những dạng ngẫu nhiên của bọt bị khóa
vào nhau, sự chuyển dạng này cần một thời gian dài, như quả bóng
lăn xuống núi trên con đường dốc lài, thỉnh thoảng lại bị vướng
vào chướng ngại vật. Và trước khi khối bọt có thể đạt được diện
tích thấp nhất th́ nó đă teo lại hay vỡ vụn v́ sự mong manh.
Thể bọt có bản chất vừa thể rắn vừa thể lỏng. Như ta thường thấy ở
bọt bia, bọt cappuccino, bọt kem cạo râu, bọt biển, chúng đứng yên
như thể rắn, nhưng "mềm" như thể lỏng mang h́nh dạng của vật chứa
chúng. Khi ta chưa nắm bắt được h́nh dạng đích thực của các đơn vị
bọt tiếp giáp trong khối bọt th́ ta không thể tiên đoán chính xác
được cơ tính và đặc tính động (dynamic properties) của thể bọt,
chẳng hạn như liên hệ ứng lực và ứng suất (stress/strain) và tính
lưu động (flows) của nó. Dù vậy, những ứng dụng của bọt vẫn được
con người trong mọi thời đại b́nh thản triển khai.
Có điểm thú vị là trong việc t́m hiểu h́nh dạng bọt theo nguyên lư
"bề mặt tối thiểu" hay "năng lượng tối thiểu" để đạt tới trạng
thái ổn định theo quy luật vật lư, chúng ta có thể t́m ra được một
bài học nhân văn cho con người và xă hội loài người. Một trong
những mục đích của giáo dục là đào tạo một con người, mà nói theo
tiếng Anh là "a round person", hay là một con người toàn vẹn. Điều
này có thể nh́n thấy trong một cá thể bọt h́nh thành trong dạng
tṛn (round) của h́nh cầu. Khi nhiều cá thể nối kết với nhau, th́
phải có sự chia sẻ đồng đều, có qua có lại, như trong sinh hoạt
của những mái ấm gia đ́nh. Khi số lớn cá thể tập hợp lại với nhau
như trong xă hội loài người, các góc cạnh của cá thể cần được bào
ṃn chặt cụt để tương hợp ráp nối nhau tạo ra xă hội hài ḥa trong
trạng thái ổn định ở mực năng lượng thấp nhất, ít mỏi mệt, nhiều
niềm vui. Con người cần nh́n "bọt", để hiểu khái niệm "ḥa"…
Ẩm thực
Thán khí (cacbon đioxit) cũng như không khí đă có mặt từ lúc sự
sống xuất hiện trên quả đất. Cacbon đioxit là nguồn sống của thực
vật. Thực vật hấp thụ cacbon đioxit duy tŕ sự sống và thải ra
oxy. Động vật hít thở oxy thải ra cacbon đioxit. Một ḍng luân lưu
hài ḥa của vạn vật. Tiếc thay, sự lạm dụng thiên nhiên của con
người hiện đại do bản tính tham lam và sự cố chấp vô minh của một
số chính trị gia phản khoa học đang phá hủy ṿng luân lưu này tạo
ra quá nhiều khí thải cacbon đioxit gọi là "khí nhà kính", nguyên
nhân của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Cuộc cháy rừng
dai dẳng kéo dài 4 tháng tại Úc ảnh hưởng đến 75% dân Úc và giết
đi gần 1 tỉ động vật nuôi và thú rừng là một minh chứng. Tuy nhiên,
ở một khía cạnh khác cacbon đioxit đă được con người sử dụng thông
minh trong những ứng dụng quan trọng như ẩm thực, công nghiệp ở
dạng bọt. May thay, một hàm lượng nhỏ cacbon đioxit th́ không mùi,
không độc.
Thức ăn phương Tây phụ thuộc rất nhiều vào bọt. Rượu sâm banh,
bánh kem, bánh sô-cô-la mousse là những thứ khoái khẩu. Bọt
trong ẩm thực không phải để trang trí mà để phục vụ cho nhiều mục
đích. Bánh ḿ có bọt để dễ ăn. Bọt trong rượu hay trong nước giải
khát là để nâng cao vị giác. Nghề làm bánh ḿ và làm bia bằng sự
lên men có lịch sử hàng ngàn năm. Trong quá tŕnh lên men khí
cacbon đioxit phát sinh tạo nên vô số bọt khí trong môi trường rắn
(bánh ḿ) hay môi trường lỏng (rượu). Bột nở chứa natri bicacbonat
(bột soda = baking soda, NaHCO3) phóng thích khí cacbon
đioxit như tác dụng của men. Nam bộ có nhiều loại bánh có bọt như
bánh bông lan, bánh tiêu, bánh ḅ, dầu quẩy. Giống như bánh ḿ,
bánh ḅ nổi bọt từ men. Bánh ḿ để vào ḷ nướng nhưng bánh ḅ cần
phải hấp trong hơi nước. Bánh ḅ ăn chan với nước dừa thành món
tráng miệng. Nhưng khi ăn với chiếc dầu quẩy thành một món ăn nhẹ.
Ăn cách nào cũng ngon.
Bánh phồng tôm là đặc sản Nam bộ xuất hiện đầu tiên tại thị xă Sa
Đéc (tỉnh Đồng Tháp) ở thập niên 60 của thế kỷ trước. Ở đây là
vùng sông nước yên b́nh của đồng bằng sông Cửu Long đầy tôm cá với
những con tôm sông to tương đương với tôm hùm biển. Thị xă Sa Đéc
gạo trắng nước trong, có nhiều làng làm bột ăn nổi tiếng với lịch
sử 100 năm sản xuất các loại bột chất lượng nhờ phẩm chất nước của
vùng đất này. Từ nhiều điều kiện khách quan thuận lợi người dân Sa
Đéc dùng bột để sản xuất bánh hủ tiếu dai mềm và bánh phồng tôm.
Bánh phồng tôm dần dần được công nghệ hóa bởi công ty Sa Giang
mang hương vị dân dă của miền Tây Nam bộ đi khắp thế giới. Người
tiên phong "sáng chế" ra bánh phồng tôm là phu nhân của những ông
giáo về hưu ở thị xă. Các bà muốn tăng thu nhập nên cùng nhau tạo
ra công thức chế biến mà trong đó bột nở chứa bột soda là thành
phần làm "phồng" chiếc bánh. Dưới tác dụng của nhiệt có thể từ
chảo dầu nóng hay ḷ vi ba, natri bicacbonat phóng thích CO2
biến thành bọt trong bánh. Bọt giữ lại mùi thơm của tôm và cùng
lúc cho đặc tính ḍn của bánh để mỗi lần ăn cắn một miếng nghe ḍn
rụm. Ăn vài chiếc bánh phồng tôm rồi hớp một ngụm rượu sâm banh
khai vị, Đông Tây ḥa hợp, tận hưởng hương vị mà thể bọt cống hiến
th́ không ǵ ngon bằng.
Nước có hơi cacbon đioxit chảy ra từ những nguồn nước thiên nhiên
được thiên hạ đồn đăi rất tốt cho việc trị liệu nhiều thứ bệnh.
Điều này có thể đúng v́ sự hiện hữu của chất khoáng nhưng khí
cacbon đioxit th́ hiển nhiên không có tác dụng. Thiên hạ cứ thế
đua nhau t́m nước khoáng có hơi, nhưng nguồn thiên nhiên th́ có
hạn, nhu cầu "uống cho bổ" lại gia tăng. Những người có đầu óc
kinh doanh nghĩ ra phương pháp chế tạo nước khoáng nhân tạo bằng
cách "nhồi nhét" khí cacbon đioxit dưới áp suất cao vào nước
thường. Nước có hơi hay là nước soda là khởi điểm của các loại
nước ngọt được sản xuất bắt chước nước khoáng thiên nhiên. Năm
1851 hăng Schweppes đă bán ra 2 triệu chai nước khoáng nhân tạo
[7]. Trước 75 tại miền Nam, nước suối Vĩnh Hảo ra đời được người
dân nồng nhiệt đón nhận. Nước ngọt có hơi không thể thiếu vắng
trong cuộc sống hiện đại. Doanh thu cho các loại nước ngọt được dự
đoán cho năm 2020 là 250 tỷ đô la tại Mỹ, 750 tỷ đô la cho toàn
thế giới. Nước Coca-Cola từ một loại quả hạch chứa caffein được
sản xuất vào năm 1886 và cho đến ngày nay công thức chế tạo vẫn
c̣n bảo mật.
Việc ḥa tan khí cacbon đioxit vào các loại nước ngọt được thực
hiện dưới áp suất 60 psi, gấp đôi áp suất không khí trong vỏ xe
hơi. Theo cách làm được chỉ dẫn trong Youtube, nước khoáng nhân
tạo có thể chế tạo dễ dàng tại nhà nếu có dụng cụ thích hợp. Sự
ḥa tan của khí trong thể lỏng được giải thích bởi định luật Henry
bằng một công thức đơn giản trong hóa lư. Nghĩa là, khi ta gia
tăng áp suất th́ lượng khí ḥa tan gia tăng. Khi ta giảm áp suất
như lúc ta khui lon nước ngọt, khí ḥa tan sẽ trở lại thể khí dưới
dạng bọt. Người ta cũng biết rằng khí cacbon đioxit ḥa tan dễ
dàng hơn oxy v́ cacbon đioxit "thích" nước hơn oxy. Tại sao thiên
hạ lại thích uống nước có hơi? Câu trả lời đơn giản là v́ nó ngon
hơn. Ly nước chanh đá dùng nước soda sẽ uống ngon hơn nước thường.
Bọt của nước cola ngoài những tiếng nổ xèo xèo vui tai, nó c̣n cho
cảm giác "đă khát", thêm chút cay cay ở lưỡi và cổ họng thoang
thoảng mùi bạc hà. Nhưng tại sao "ngon hơn" th́ phải cần nhiều
chứng cứ khoa học.
Rượu sâm banh có lịch sử lâu dài, nổi tiếng là rượu vang có bọt
(sparkling wine) và tên tuổi gắn liền với nước Pháp. Với 300 năm
lịch sử, sâm banh măi măi là một hiện tượng toàn cầu trong thế
giới ẩm thực của giới thượng lưu lẫn giới b́nh dân. Rượu của các
nước phương Đông từ ngàn xưa không có bọt. Rượu đế của ta hay rượu
sake hoặc shochu của Nhật không bọt. "Bồ đào mỹ tửu"
[8] hay rượu maotai ngày nay của Trung Hoa cũng không bọt.
V́ vậy, rượu sâm banh là đặc sản Pháp quốc, có một không hai,
thuộc một đẳng cấp khác của rượu cũng chỉ v́ "bọt". Sâm banh cũng
đánh dấu và ḥa nhập vào cuộc đổi đời của đất Việt, từ ông đồ học
chữ thánh hiền đến ông thầy phán "Tối rượu sâm banh, sáng sữa
ḅ", dù thoang thoảng mùi thuộc địa!
Rượu là thứ giải tỏa, phóng khoáng thậm chí cuồng nhiệt đến nông
nổi. Những ẩm giả đệ tử của Lưu Linh từ xưa không hiếm. Có người
chỉ khi say mà đầu óc trở nên sáng suốt phun châu nhả ngọc thành
những vần thơ bất hủ lưu truyền dân gian như Lư Bạch. Cũng có
những kẻ sĩ hào sảng như Uy Viễn tướng công v́ rượu mà từ đại thần
thượng thư lọt xuống thành phó thường dân lính thú. Nhưng thời nay
bọt sâm banh khiến cho người uống điệu đàng, điềm tĩnh và trong
cái ngà ngà say lâu lâu cầm ly rượu đưa lên tầm mắt nh́n chuỗi bọt
nhẹ nhàng nổi lên từ đáy ly rồi khe khẽ gật gù, người uống cảm
thấy ḿnh sành điệu và thượng lưu hơn lên. Cho nên, không như rượu
đế dân dă, sâm banh hấp dẫn đàn ông lẫn đàn bà. Nó xuất hiện từ sự
ngẫu nhiên ở vùng có tên là Champagne phía đông Paris rồi từ đó
bùng nỗ thành một cuộc cách mạng ẩm thực kéo dài đến hôm nay làm
túy lúy toàn thế giới. Cũng v́ sự ngẫu nhiên, chế tạo rượu sâm
banh phải nói là một nghệ thuật hơn là khoa học. Kinh nghiệm tích
tụ trong vài trăm năm của những nghệ nhân làm rượu người Pháp càng
ngày càng hoàn thiện sâm banh. Năm 1850, sâm banh bán ra 20 triệu
chai. Cơn khát sâm banh của con người gia tăng theo ngày tháng đă
đẩy con số tới 350 triệu chai/năm ngày nay. Thương hiệu
"Champagne" là của Pháp, nước Pháp sẵn sàng kiện những ai lạm dụng
chữ "Champagne" trên nhăn hiệu của rượu vang có bọt làm ngoài nước
Pháp.
Nước ngọt có hơi được sản xuất từ thế kỷ 19 nhưng măi đến đầu thế
kỷ 21 các nhà khoa học mới t́m hiểu tác dụng của bọt cacbon đioxit.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bọt cacbon đioxit đóng vai tṛ chính
trong việc làm gia tăng lượng của các hợp chất thơm trong nước
ngọt và được mũi sâu sắc cảm nhận [9]. Thí nghiệm về vị giác của
lưỡi cũng cho thấy khi bọt vỡ trên lưỡi khí cacbon đioxit kích
thích thần kinh vị giác tạo cảm giác sảng khoái trong ṿm miệng.
Nhưng bọt cacbon đioxit trong sâm banh có một vai tṛ tinh tế hơn
v́ chúng được tạo thành tự nhiên qua sự lên men của đường trong
từng chai rượu. Quá tŕnh này cần nhiều thời gian và được chăm
chút nâng niu dưới những bàn tay chuyên gia. Nó rất khác với sự
ḥa tan khí carbon đioxit trong nước hay nước ngọt bằng phương
pháp dùng áp suất gia công đại trà để bán ra ào ạt, uống vào ào ạt.
Phải nói "tinh tế" là một tĩnh từ thích đáng cho rượu sâm banh từ
cách lên men, cách rót rượu, cái ly cái tách, nhiệt độ đến cách
thưởng thức. Giáo sư Gérard Liger-Belair của Université de Reims
Champagne-Ardene, đă khảo sát nghệ thuật sâm banh dưới ánh sáng
khoa học [10]. Tất cả đều xuất phát từ phản ứng lên men hóa học
đơn giản của đường,
C6H12O6 --- > 2CH3CH2OH
+ 2CO2
Đường (C6H12O6) lên men trở thành
rượu (ethanol, CH3CH2OH) và phóng thích khí
cacbon đioxit (CO2) trong chai được niêm kín. Áp suất
trong chai gia tăng v́ khí cacbon đioxite được phóng thích liên
tục cho đến khi sự lên men chấm dứt. Lúc đó áp suất đạt đến 80 psi,
gần 3 lần áp suất trong vỏ xe hơi. V́ vậy, việc mở chai sâm banh
là việc đ̣i hỏi sự cẩn trọng v́ nút chai bắn ra với tốc độ 50 km/h
ở nhiệt độ 20 °C. Cái hồn của sâm banh là bọt cacbon đioxit. Chất
lượng sâm banh ngon hay tồi tùy thuộc vào số lượng bọt được tạo
thành trên vách ly khi rượu đổ vào. Nhiều bọt quá gây ra sự khó
chịu; ít quá đưa đến sự nhạt nhẽo. Con số này từ lâu là một câu
hỏi lớn cho các nhà làm rượu, chuyên gia thử rượu và người thưởng
thức. Theo phương pháp truyền thống, người ta cần 24 gram đường để
làm ra 1 lít rượu (24 g/L). Dựa theo phản ứng hóa học bên trên, ta
sẽ thu hoạch được 11,8 g/L khí cacbon đioxite theo các cách tính
hóa học có trong sách giáo khoa. Bọt khí có đường kính trung b́nh
0,5 mm và chai rượu có thể tích 750 mL (mililít). Như vậy, khi mở
nút chai, 750 mL rượu sẽ phát sinh ra 100 triệu bọt. Một ly rượu
vang có thể tích 100 mL, vậy mỗi ly có khoảng 15 triệu bọt.
Tuy nhiên, không phải toàn bộ khí ḥa tan đều có thể biến thành
bọt và một số lượng lớn của khí thất thoát khi rót rượu vào ly. Để
có ly rượu ngon, lượng khí ḥa tan không được phí phạm và phải
được ǵn giữ ở mức tối đa. Nhiệt độ tối ưu ở khoảng 8 - 10 °C để
giữ khí ḥa tan. Lạnh quá th́ rượu không ngon. Nóng quá th́ rượu
mất hơi rất nhanh lúc mở nút. Cách rót rượu cũng ảnh hưởng đến
lượng khí ḥa tan. Theo sự tính toán và số liệu đo đạc của Liger-Belair,
khi 100 mL rượu được rót thẳng đứng đụng đáy ly 1 triệu bọt (so
với con số lư thuyết là 15 triệu) sẽ được phóng thích. Nhưng nếu
nghiêng ly về một phía và rót nhẹ nhàng trên vách ly th́ khí ḥa
tan trong chai sẽ được bảo tồn hiệu quả hơn và ta sẽ thu hoạch vài
mươi ngàn bọt nhiều hơn.
Nói về ly uống sâm banh, loại ly thon dài (flute glass) giữ được
bọt lâu hơn. Ly bầu tṛn (coupe glass), tương truyền dạng bầu tṛn
được mô phỏng theo bộ ngực của hoàng hậu Marie-Antoinette, sẽ mất
bọt 30% nhanh hơn ly thon dài. Ly plastic không phải là loại ly
cho sâm banh. Bọt trong ly plastic không mềm mại nổi lên như ly
thủy tinh mà dính vào thành ly rồi từ từ ph́nh to. Bọt to hay nhỏ
không phải là vấn đề cho nước soda hay nước cola. Người ta có thể
uống ừng ực phó mặc kích cỡ của bọt. Nhưng với sâm banh, bọt to
hay nhỏ cũng là một yếu tố quan trọng. Dường như bọt to kém thanh
nhă và hương vị không c̣n đậm đà như bọt nhỏ.
Liger-Belair cũng quan sát những chuỗi bọt trồi lên trên mặt rượu.
Ở đây, hàng trăm bọt vỡ cùng lúc tạo ra hàng trăm hạt rượu li ti
bắn vào không khí (H́nh 7). Khi hạt rượu càng nhỏ nó càng bốc hơi
dễ dàng và tức thời tỏa ra hương rượu ḥa vào không khí. Người
uống sẽ nhắm mắt, hít hít rồi lâng lâng mỉm cười trước khi đưa ly
vào miệng. Hiện tượng này cũng xảy ra trong nước ngọt có hơi nhưng
không dịu dàng như sâm banh.
.gif)
H́nh 7: (a) Bọt cacbon đioxit trồi lên từ đáy ly và (2) Bọt vỡ
trên mặt tiếp giáp rượu/không khí tạo ra vô số hạt rượu li ti
[10].
Tiếng "pop" của chai sâm banh khi được mở đánh dấu khởi đầu của
một buổi liên hoan. Cùng lúc, nó cũng đánh dấu sự thay đổi đột
biến từ cao đến thấp của áp suất trong chai rượu, đưa đến nhiều
hiện tượng vật lư. Sau tiếng "pop" vui tai lập tức chiếc nút chai
bắn ra xa, màn sương khói xuất hiện ở cổ chai, bọt trào ra, rượu
đổ vào ly rồi tiếp theo là tiếng xèo xèo do bọt vỡ. Tất cả đều có
thể lư giải bằng các định luật khoa học. Thưởng thức sâm banh
không phải chỉ là uống mà c̣n là những cái vui của bọt đi kèm.
Liger-Belair đă giải thích "cái vui" và "tinh tế" của rượu sâm
banh từ sự tích lũy kinh nghiệm có hàng trăm năm lịch sử bằng thí
nghiệm và công thức dựa trên quy luật hóa lư. Ngoài những bài báo
cáo thú vị, ông đă viết một quyển sách về khoa học của sâm banh
[11]. Nhưng không phải ai cũng hoan nghênh đón nhận những thành
tựu này. Một số tửu đồ bảo thủ cùng với các tín đồ sâm banh tranh
căi với ông, nhao nhao phản đối. Cớ chi phải soi mói chai sâm banh
dưới ánh sáng khoa học? Có hay không có khoa học sâm banh vẫn là
thứ ngất ngưởng, măi măi tuyệt vời. Hăy cho chúng tôi uống với
huyền thoại. Liger-Belair chỉ có mỗi một "tội" là ông đă phá vỡ
huyền thoại sâm banh bằng những con tính và công thức toán học!
Các ứng dụng khác
Tác dụng của bọt trong ẩm thực có thể lư giải rơ ràng dựa vào
những định luật khoa học. Nhưng trong nhiều lĩnh vực khác, ứng
dụng của bọt cho nhiều kết quả kinh ngạc tuy cơ chế của chúng vẫn
chưa được hiểu rơ.
Thí dụ, việc làm giảm lực cản của nước là đề tài nghiên cứu trong
ba thập niên qua nhằm tiết kiệm nhiên liệu trong việc vận chuyển
tàu thủy. Nhiên liệu được đốt phần lớn để chống lại lực cản của
ḍng nước. Nếu có một cơ chế hay vật liệu nào có thể làm giảm lực
cản th́ phí tổn chuyên chở sẽ giảm đi rất nhiều. Trong quá khứ,
một số công tŕnh sử dụng chất hoạt tính bề mặt và pôlime ḥa tan
trong nước có thể làm giảm lực cản từ 50 đến 80%. Đây là kết quả
khả quan nhưng không mang tính thực dụng. Nếu áp dụng cho tàu
thuyền th́ chúng sẽ gây ô nhiễm môi trường. Biển sẽ tràn ngập hóa
chất và pôlime.
Một phương pháp "xanh" hơn là dùng bọt không khí có kích cỡ
milimét. Công tŕnh nghiên cứu về bọt vi mô làm giảm sự ma sát và
lực cản của ḍng chảy đă kéo dài vài mươi năm. Nhưng cho đến ngày
nay vẫn chưa có một lư thuyết thích hợp
hay mô h́nh toán học khả dĩ giải thích được hiện tượng bọt làm
giảm ma sát gây ra bởi ḍng chảy [12]. Kết quả thực nghiệm cho
thấy bọt trên một mặt phẳng có thể giảm lực cản đến 80%, và 40%
khi ḍng chảy trong một đường kênh. Nếu kết hợp bọt và pôlime th́
kết quả cho thấy hai thành phần này rất tương hợp, có thể dễ dàng
giảm lực cản đến 80% [13]. Kết quả này dựa trên những điều kiện
thực nghiệm ở điều kiện lư tưởng. Dù vậy, tại Nhật Bản nghiên cứu
ứng dụng vẫn tiếp tục cho các loại tàu có sàn tàu phẳng và chạy
chậm như tàu hàng (tanker) (H́nh 8) [14]. Kết quả thực nghiệm trên
thân tàu cho thấy lực cản giảm 50% cho tàu dài 12 m và 32% cho tàu
dài 50 m [14-15].
.gif)
H́nh
8: Bọt không khí được phun dưới sàn tàu hàng làm giảm lực cản của
ḍng chảy [14].
Điều chúng ta có thể hiểu được là những luồng bọt không khí có tác
dụng như chất nhờn và tác dụng này bị chi phối bởi nồng độ, kích
cỡ và h́nh dạng của bọt [16]. Các nhà khoa học và kỹ sư hải dương
học tiếp tục t́m hiểu ảnh hưởng bằng lư thuyết toán học lẫn thực
nghiệm của những yếu tố này nhằm tối ưu hóa tác dụng của bọt [17].
Đối với các công ty thương thuyền, giảm thiểu phí tổn vận chuyển
là việc hàng đầu nhưng ngân sách cho việc mua và duy tŕ thiết bị
làm bọt liệu có quá tốn kém khi so với phí tổn tiêu hao nhiên liệu?
Một ứng dụng khác quan trọng là hấp thụ năng lượng sóng xung kích
(shock wave) phát ra từ một quả bom. Thế giới đang ở một giai đoạn
bất ổn v́ chiến tranh và khủng bố. Các nhà khoa học tại Viện
Nghiên cứu Quốc gia Sandia (Sandia National Laboratories, Mỹ) khảo
sát hiện tượng bọt hấp thụ năng lượng phát ra từ sóng xung kích
khi quả bom nổ [18]. Quả bom plastic nặng 2,5 kg, loại bom ưa
chuộng của những kẻ khủng bố, được đặt dưới một khối bọt giống như
bọt chữa cháy. Khi kích hoạt, năng lượng của sóng xung kích được
bọt hấp thụ 90 %. Một kết quả kinh ngạc! Năng lượng sóng tác động
lên khối bọt biến bọt thành vô số hạt nước li ti rồi nhanh chóng
biến thành hơi nước. Thí nghiệm này được lặp lại với lượng chất nổ
nhiều hơn [19]. Họ cho ra một kết quả tương tự và ngoài ra ghi
nhận tốc độ phát tán của sóng xung kích giảm 50 %.
Hai công tŕnh chỉ ghi nhận kết quả nhưng không giải thích cơ chế
của quá tŕnh hấp thụ năng lượng từ bọt. Cho đến nay, người viết
không t́m được tư liệu nói về cơ chế và sự liên hệ giữa chất làm
nên bọt và khả năng hấp thụ năng lượng sóng. Thí dụ, nếu ta thay
đổi chất hoạt tính bề mặt trong bọt th́ ảnh hưởng thế nào đến sự
hấp thụ năng lượng từ sóng xung kích. Chất hoạt tính bề mặt cho
bọt tính đàn hồi. Nếu khối bọt có nhiều tính đàn hồi, khả năng hấp
thụ năng lượng sẽ nâng cao. Nhưng đây chỉ là sự suy luận do trực
cảm, cần kiểm chứng bằng thực nghiệm. Trên thực tế, sẽ không có ai
sử dụng bọt để che chắn bom nổ trong lúc hữu sự mà người ta sẽ
dùng thể xốp của pôlime có tên là polyurethane (PU) có thể đặt
thường trực ở những nơi kém an ninh cần được pḥng vệ [20]. Vật
liệu này sẽ được đề cập phần kế tiếp. Nhóm nghiên cứu thuộc lực
lượng công binh của quân đội Mỹ có một ứng dụng thực tế hơn. Họ
dùng bọt để giảm thanh, một dạng hấp thụ năng lượng, cho những
cuộc nổ lớn của các hoạt động khai thác quặng mỏ, xây cất hay giải
tỏa nhà cao tầng nhất ở những vùng dân cư đông đúc [21].
PU là pôlime/chất dẻo công nghiệp (engineering polymer/plastic) có
ứng dụng rộng khắp, xuất hiện mọi nơi. Giả thử có một ngày v́ lư
do nào đó PU biến đi th́ con người sẽ mất mát và hụt hẫng rất
nhiều. PU đa dụng như cao su nhưng dễ chế biến hơn cao su nên được
giới doanh nghiệp sản xuất vật liệu ưa thích. PU được chế tạo ở
thể rắn có thể được điều chỉnh từ mềm đến cứng tùy vào nhu cầu.
Chúng có những ứng dụng như sơn, dầu đánh bóng, chất dính, vật
liệu ô-tô, vật liệu cấy y khoa (implant), vật liệu áo giáp chống
đạn v.v… Trên thị trường, có nhiều loại pôlime công nghiệp nhưng
PU được đề cập ở đây là v́ đặc điểm tạo bọt để chế tạo thể xốp
không có ở những pôlime khác. Thể xốp PU được dùng làm nệm giường,
nệm ghế xa lông, miếng xốp rửa chén, giảm âm thanh, giữ nhiệt và
chống bom như đề cập bên trên. Việc tạo ra bọt trong thể rắn PU
khá đơn giản. Người ta nhỏ vài phần trăm nước vào nguyên liệu
nguồn keo resin (urethane resin) trong phản ứng chế tạo PU. Nước
phản ứng với gốc hóa học (nhóm isocyanate) của keo resin tạo ra
bọt khí cacbon đioxit. Nhiều bọt hay ít bọt tùy vào lượng của nước.
Nhờ vào sự đơn giản của phản ứng tạo bọt trong PU, ngày nay những
sản phẩm plastic có bọt phần lớn là PU.
Cấu trúc sinh học
Xương là thể xốp cứng. Sự tiến hóa của xương trong muôn loài động
vật có mục đích duy nhất là tạo ra khung di động với thành phần
chính là chất vôi (canxi) có đặc tính vừa nhẹ vừa bền cho việc đi
đứng chạy nhảy. Nhưng để hiểu rơ hơn sự bền nhẹ của sản phẩm sinh
học chúng ta hăy t́m hiểu lông chim. Lông chim là một thiết kế
tuyệt đỉnh của sự bền nhẹ cho việc phi hành. Trục lông chim có
thành phần chính là chất keratin. Keratin là phân tử sinh học
(protein) có trong sừng, móng, mỏ chim, lông và tóc. V́ vậy, trục
lông chim có màu sắc trắng đục như móng tay móng chân con người,
nhưng cứng hơn. Tỷ trọng của keratin khoảng 1,3 g/cm3
nhẹ hơn rất nhiều so với tỷ trọng của xương (1,85 g/ cm3).
Khi ta quan sát kỹ lông chim, trục lông có phần rỗng và phần "đặc".
"Đặc" thật sự là thể xốp chứa vô số lỗ trống không khí có đường
kính khoảng 20 micromét (1/5 đường kính sợi tóc) (H́nh 9). Bức
tường ngăn cách những lỗ trống không khí này lại là thể xốp với vô
số lỗ không khí nhỏ hơn. Ta có thể xốp trong một thể xốp
(foam–in–foam) (H́nh 9c và 9d). Dưới kính hiển vi, thể xốp của bức
tường là những sợi keratin có đường kính ở kích thước nanomét
giống như đĩa ḿ spaghetti có nhiều lỗ trống 0,1–0,5 micromét. Như
vậy, phần "đặc" không đặc mà là thể xốp 100 %. Trong trục lông
chim, đoạn rỗng hay đoạn "đặc" (thể xốp) đều có ư nghĩa cơ học.
Đoạn rỗng cho sự nhẹ cân nhưng thể xốp hiện diện ở khúc đoạn nơi
chịu ảnh hưởng của sức gió nhiều nhất nhằm chống chọi với lực bẻ
cong và bẻ xoắn của gió khi chim bay. Cấu tạo thể xốp trong thể
xốp có khả năng hấp thụ rất hữu hiệu năng lượng va đập của gió với
độ bền cao hơn của thể khối (bulk) keratin cùng một trọng lượng.
Cấu trúc "thể xốp trong thể xốp" cho thấy tôn ti từ nhỏ đến lớn,
thể xốp mỏng của những "sợi ḿ" keratin tạo nên những lỗ trống nhỏ
là bức tường phân cách giữa các lỗ trống lớn của thể xốp to hơn.
Đây là cấu trúc của phương pháp "từ dưới lên" của công nghệ nano
mà Mẹ Thiên Nhiên đă sử dụng tài t́nh để giải quyết hai yếu tố đối
kháng: bền và nhẹ.
.gif)
H́nh 9: (a) Lông chim và trục lông, (b) Cấu tạo của trục với lằn
gợn (ridge) và thể xốp keratin, (c) Thể xốp phóng đại với lỗ trống
không khí và (d) tường phân cách giữa lỗ trống không khí cũng là
thể xốp, một thể xốp trong một thể xốp [22].
Trục lông c̣n có những lằn gợn (ridge) gia cường giống như dạng
mái tôn lợp nhà tiếp sức thêm cho thể xốp. Nó cho thấy thiên nhiên
vô cùng thông thái và chu đáo khi biết lựa chọn những vật liệu
thích hợp có tỷ trọng khác nhau, có sự sắp xếp tôn ti với mục đích
định sẵn ngay từ thang phân tử; nhằm thành h́nh một khung di
động biết bay với lằn gợn và thể xốp. Tất cả v́ sự bền nhẹ để chim
có thể cất cánh bay cao, đảo ngang, bay lượn (gliding) và hạ cánh
đúng theo nguyên lư của khí động lực học.
Hệ thống cánh chim và lông chim khi được khảo sát bằng kính hiển
vi cho thấy nhiều thông tin dồi dào về một cấu tạo vừa bền cứng
vừa nhẹ cân chưa từng thấy trong các vật liệu hay composite nhân
tạo. Một số nhóm nghiên cứu liên quan đến vật liệu học đang mô
phỏng trục lông chim: chế tạo "thể xốp trong thể xốp" bằng máy in
3D để tạo sợi pôlime có đường kính vài trăm nanomét. Nhưng dù có
nhiều nỗ lực, sản phẩm con người hiện nay (2019) vẫn chưa đạt đến
tŕnh độ tinh vi của loài chim để chế tạo những composite tinh vi
có tôn ti từ mức vi mô, vừa bền nhẹ vừa có cơ tính đề kháng đối
với các lực bẻ cong và bẻ xoắn.
Phổi của động vật là cấu tạo thể xốp mềm biết co giăn. Xương ở
trạng thái tĩnh nhưng phổi ở trạng thái động, v́ vậy phổi phức tạp
hơn xương. Phổi con người có khoảng 300 triệu quả cầu rỗng gọi là
phế nang. Chúng kết thành từng chùm như chùm nho (H́nh 10). Tổng
số diện tích bề mặt của các phế nang là 90 m2, cần
thiết để phân tử oxy đi qua vỏ nang, khuyếch tán vào vô số mao
mạch máu để duy tŕ sự sống. Mẹ Thiên Nhiên là nhà khoa học siêu
phàm đă thiết kế những cơ quan của muôn loài sinh linh có chức
năng rơ rệt với một sự hoàn chỉnh, không dư không thiếu. Phổi cũng
không ngoại lệ. Cũng như bọt nước, phế nang có thể teo lại hay
chập vào nhau làm thành phế nang to hơn. Nếu xảy ra, số phế nang
sẽ giảm, diện tích bề mặt giảm, con người sẽ khó thở, lượng oxy
tiếp nhận trong máu giảm và dẫn đến tử vong. Để tránh sự kết tập
và sự teo của phế nang, phổi cần chất hoạt tính bề mặt gia tăng
tính đàn hồi. Mặt khác, khác với bọt nước, phế nang co giăn theo
dịp thở lúc nào cũng ở trạng thái động. Sự co giăn sẽ dễ dàng hơn
và con người sẽ dễ thở hơn nếu phế nang có sức căng bề mặt thấp.
V́ vậy, chất hoạt tính bề mặt của phổi là một phức chất đa thành
phần chứa protein lẫn chất béo và dĩ nhiên phức tạp hơn chất hoạt
tính của xà pḥng. Protein gia tăng tính đàn hồi, như đă biết, và
chất béo làm giảm sức căng bề mặt. Chất hoạt tính bề mặt của phổi
là một đề tài thú vị và có chức năng quan trọng trong sinh y học,
nhưng nó vượt ra ngoài nội dung của bài viết này. Người đọc có thể
t́m hiểu thêm trong tài liệu tham khảo [23].

H́nh 10: Cấu tạo phổi (Respiratory tree: Cây hô hấp, Pulmonary
alveoli: phế nang). (Nguồn: Google)
Bọt âm học
Sóng điện từ lẫn sóng âm tác dụng với bọt tạo nên nhiều hiện tượng
đặc biệt. Màng bọt xà pḥng cho nhiều màu sắc do sự nhiễu xạ ánh
sáng. Bọt biển màu trắng, do sự tán xạ ánh sáng (light
scattering); giống như tán xạ từ những vầng mây, có tên gọi là tán
xạ Mie (Mie scattering). Bọt và âm thanh có tương quan sâu đậm. Âm
thanh tác động lên bọt tạo ra sự tán âm (sound scattering) và hấp
thụ (sound absorption). Tác dụng của sóng âm trên bọt là câu
chuyện dài như trường thiên tiểu thuyết, có nhiều chi tiết ly kỳ.
Nhiều nhà khoa học dành suốt cuộc đời chỉ cho việc nghiên cứu sự
tương tác giữa sóng âm và bọt, và đă viết thành những quyển sách
có giá trị [24]. Mặt khác, bọt tạo ra âm thanh. Tiếng tí tách của
giọt mưa rơi xuống vũng nước, tiếng mái chèo của chiếc ghe tam bản
chạm vào mặt nước nghe róc rách trên một ḍng sông yên tĩnh, tiếng
ầm ầm của thác, tiếng rền của biển, tiếng vỡ của bọt sâm banh...
là những âm thanh của bọt.
Âm học hiện đại bắt đầu ở thế kỷ 19, từ công tŕnh nghiên cứu của
các khoa học gia tiền bối như Helmholtz (Đức), Lord Rayleigh (Anh),
và William Bragg (Anh/Úc). Âm học là bộ môn khá phức tạp trong vật
lư, cả lư thuyết lẫn thực nghiệm. Nghiên cứu về sự tương tác giữa
sóng âm và bọt chỉ bắt đầu ở đầu thế kỷ 20 và đến nay vẫn c̣n là
đề tài nhiều thách thức cho các nhà toán học, vật lư và vật liệu
học. Sóng điện từ có thể truyền trong chân không, nhưng sóng âm
cần môi trường vật chất như thể khí, lỏng và rắn để truyền. Sóng
âm là sóng cơ học, nghĩa là sóng mang năng lượng tác động lên một
vật làm rung, ép hoặc đẩy. Sóng xung kích của quả bom có thể làm
thủng màng nhĩ hay gây sức ép chết người. Nếu ta đặt trang giấy
mỏng trước nguồn âm, ta sẽ thấy tờ giấy rung động tới lui do sự
dao động của áp suất không khí. Tương tự, nếu ta cho nguồn âm tác
dụng lên bọt trong nước th́ chiếc bọt sẽ rung động co giăn như quả
tim, đập theo tần số của nguồn âm.
Mỗi vật thể hay cấu trúc đều có một tần số cộng hưởng tự nhiên tùy
thuộc vào h́nh dạng và kích thước của vật thể hay cấu trúc đó. Khi
tần số nguồn âm bằng tần số tự nhiên của vật bị tác động th́ sự
cộng hưởng xảy ra. Lúc đó, vật sẽ hấp thụ năng lượng tối đa do
nguồn âm cung cấp. Một thí dụ dễ hiểu về sự cộng hưởng là có đoàn
quân vài ngàn người cùng diễn hành qua một cây cầu. Khi nhịp đi
của đoàn quân có tần số tương tự như tần số cộng hưởng tự nhiên
của cây cầu th́ năng lượng va đập vào cầu của hàng ngàn đôi chân
được chiếc cầu hấp thụ và có khả năng làm sập cầu. Bọt cũng như
chiếc cầu, là vật gây cộng hưởng và có tần số cộng hưởng tự nhiên.
Vậy làm cách nào để t́m ra công thức tần số cộng hưởng tự nhiên
của bọt để biết tần số của nguồn âm mà bọt có thể hấp thụ tối đa
năng lượng? Công thức này rất quan trọng khi áp dụng vào thực tế
chẳng hạn như để t́m hiểu cơ chế hấp thụ sóng xung kích từ một quả
bom của khối bọt hay thể xốp polyurethane như đă đề cập ở phần
trên. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta hăy t́m hiểu công tŕnh
của giáo sư Marcel Minnaert.
Giáo sư Marcel Minnaert (1893-1970), người Bỉ, từng giảng dạy và
nghiên cứu tại Utrecht University (Hà Lan). Ông là người đa tài,
học sinh học rồi chuyển sang vật lư, chuyên về thiên văn nhưng lại
thích nghiên cứu âm thanh. Ông nhạy cảm với thiên nhiên, khảo sát
sự vật xung quanh rồi giải thích bằng ngôn ngữ giản dị viết thành
một
quyển sách khoa học đại chúng thú vị xuất bản năm 1954 được dịch
ra tiếng Anh, có tựa đề "The nature of light and colour in the
open air" (Bản chất của ánh sáng và màu sắc ngoài trời). Ở đầu
ḍng trong một bài báo cáo khoa học của ông xuất bản vào năm 1933
có tựa đề "On musical air-bubbles and the sounds of running
water" (Nói về bọt không khí âm nhạc và âm thanh của ḍng nước)
ông viết, "Những nhà vật lư hiếm khi khảo sát âm thanh của ḍng
nước. Thật ra, chúng ta biết rất ít về tiếng róc rách của ḍng
suối, tiếng ầm ầm của ḍng thác hay tiếng rền của biển khơi"
[25]. Những âm thanh đó đă góp phần làm thiên nhiên nên thơ, hùng
vĩ và đáng sống hơn. Khi truy t́m nguồn gốc của chúng, chúng ta có
thể quy về một đơn vị nhỏ nhất. Đó là bọt.
Trong bài báo Minnaert xem bọt là vật co giăn tạo cộng hưởng. Từ
tiền đề này ông triển khai thành công thức t́m ra tần số cộng
hưởng tự nhiên của bọt. Công thức này mang tên ông "cộng hưởng
Minnaert". Để kiểm chứng lư thuyết, ông làm thí nghiệm tạo
những cá thể bọt có kích cỡ khác nhau ở mức vài milimét rồi ghi
nhận tần số âm thanh do bọt phát ra. Ta có thể lặp lại thí nghiệm
của ông tạo bọt bằng ống tiêm đặt trong nước. Khi bơm, bọt xuất
hiện và có cái "đuôi" dính vào ống tiêm. Khi bọt đứt đuôi ĺa ra
khỏi ống, áp suất không khí bên trong bọt dao động. Sự dao động
của áp suất dẫn đến sự co giăn của bọt và gây ra âm thanh giống
như chiếc âm thoa dùng để điều chỉnh nhạc cụ. Sự dao động sẽ lịm
dần khi bọt nước đạt đến một kích cỡ nhất định trong quá tŕnh nổi
lên trên mặt nước.
Công thức Minnaert cho thấy sự liên quan giữa tần số cộng hưởng và
các yếu tố của bọt như đường kính, độ đàn hồi của không khí trong
bọt và tỷ trọng của nước. Đúng như công thức Minnaert đă tiên đoán,
bọt phát ra âm thanh khi trầm lúc bổng tùy vào kích cỡ của bọt.
Khi có bọt nhỏ (vài mm) ta nghe tiếng "ping"
bổng (tần số cao); khi có bọt to ta nghe tiếng "bụp" trầm (tần số
thấp) [26]. Những từ trong tiếng Việt như ầm ầm, rền rĩ, róc rách,
tí tách, là chữ tượng âm diễn tả sống động âm điệu gây ra từ bọt
và nếu được biểu hiện bằng con số th́ đó là các tần số từ thấp đến
cao.
Sự hiện diện của hạt bọt trong nước tạo lắm điều ngạc nhiên khác
khi khảo sát về tốc độ truyền sóng của sóng âm. Tốc độ của sóng âm
trong không khí là 343 m/s (= 1253 km/h) và trong nước là 1500 m/s
(= 5400 km/h). Hai con số này đă được tính toán, kiểm chứng thực
nghiệm có thể t́m thấy trong sách giáo khoa. Lạ lùng thay, trong
nước có bọt, tốc độ của sóng âm hoàn toàn đổi khác, nó không phải
là con số đâu đó giữa hai con số 343 m/s và 1500 m/s. Điều ngạc
nhiên là: trong nước chứa bọt, tốc độ truyền sóng có thể thấp hơn
343 m/s.
Dựa trên công thức âm học cơ bản và xem nước có bọt như là một vật
liệu composite, người viết đă thiết lập được sự tương quan giữa
tốc độ truyền sóng và nồng độ bọt trong nước và cho ra kết quả thú
vị. Khi nước chứa 0,1% bọt (99,9 % nước) tốc độ sóng sẽ giảm mạnh
đến 370 m/s từ con số 1500 m/s. Khi lượng bọt tăng đến 50%, tốc độ
giảm xuống chỉ c̣n 24 m/s (= 86 km/h). Đây là tốc độ thấp nhất mà
sóng âm có thể đạt được. Người chạy nhanh nhất hành tinh là lực sĩ
điền kinh Usain Bolt có tốc độ 10 m/s. Con báo cheetah chạy
với tốc độ 28 m/s, hay chiếc xe hơi chạy 100 km/h, có thể đua và
dễ dàng qua mặt sóng âm trong nước chứa 50% bọt! Khi lượng bọt
vượt qua 50% tốc độ truyền sóng tăng nhẹ và đến 90% th́ từ từ tiến
đến con số 343 m/s của 100% không khí. Việc làm chậm tốc độ sóng
âm một cách ly kỳ là do sự hiện diện của bọt trong nước [27]. Bọt
gây ra sự tán âm mănh liệt như ta bắn một ṿi nước xuyên qua một
bức tường có vô số lỗ trống làm chậm đi tốc độ bắn của nước và
đồng thời làm nước văng tung tóe khắp nơi. Sự so sánh này hơi khập
khiễng nhưng đủ để cho ta h́nh dung ra sự việc.
Như vậy, màng nước chứa bọt có thể vừa hấp thụ âm thanh do cộng
hưởng Minneart ở một tần số nhất định vừa làm phân tán âm thanh
trên băng tần rộng (broadband). Màng nước chứa bọt thật sự đă được
thực hiện và đă có một số ứng dụng thực tiễn. Vào năm 2000, Bộ Xây
dựng của tiểu bang California (Mỹ) thực hiện một dự án làm cầu
băng ngang vịnh San Francisco [28]. Việc đóng cột cầu vào ḷng
biển gây ra nhiều tiếng động to lớn có ảnh hưởng xấu đến các loài
cá lớn nhỏ và động vật biển. Các nhà khoa học và kỹ sư xây dựng đă
tạo ra màng bọt như bức tường ngăn chặn tiếng động bao bọc xung
quanh chiếc cột được đóng. Kết quả rất khả quan, không có cá và
động vật biển nào bị thương vong.
Sau gần 100 năm, cộng hưởng Minnaert vẫn là một chuẩn mực quan
trọng. Nghiên cứu về sự tương tác giữa bọt và âm thanh vẫn c̣n
đang tiếp diễn. Các kỹ sư xây dựng đă thiết lập được màng bọt
trong ḷng biển. Tương tự, các nhà khoa học vật liệu tạo bọt trong
pôlime mềm thông dụng như polydimethylsiloxane (PDMS) hay PU đă đề
cập bên trên để hấp thụ và phát tán sóng xung kích của bom. Từ đó,
họ có thể điều chỉnh lư tính, cơ tính vật liệu để hấp thụ và phân
tán những sóng âm "ḥa b́nh" hơn như tiếng ồn trên xa lộ hay các
thứ âm thanh hổ lốn của loại nhạc ồn ào từ ngôi nhà hàng xóm.
Bọt cũng có những đóng góp vào các liệu pháp y học. Siêu âm
(ultrasound) được sử dụng sâu rộng để quan sát các bộ phận trong
cơ thể con người mà không gây tổn hại như tia X. Máy siêu âm dùng
để quan sát sự trưởng thành của thai nhi giờ đây là một hoạt động
y khoa b́nh thường. Nhờ vào đặc tính tán âm tuyệt vời của bọt, bọt
được bơm vào mục tiêu quan sát, siêu âm phản hồi nhiều hơn và tạo
nên h́nh ảnh rơ nét hơn.
Lời kết
Bọt không "bèo bọt" mà là một hiện tượng lớn của vật lư học có một
tiềm năng vô biên trong vật liệu học và là niềm vui của ẩm thực.
Bọt xuất hiện khắp nơi, từ nhà bếp đến mọi sinh hoạt ngoài đời, từ
bộ phận trong cấu tạo động thực vật đến những ngọn sóng bạc đầu
của biển khơi. Ta nh́n, ta nghe, ta nếm, ta dùng, ta sở hữu chúng,
nhưng hiếm khi ta cảm nhận được sự hiện hữu của chúng. C̣n rất
nhiều điều chưa hiểu hết về bọt mà bài viết này chỉ nói đến một
vài khía cạnh dẫn nhập. Những điều đă biết trong 100 năm qua đă
cho chúng ta hiểu rơ hơn về bọt với nhiều kinh ngạc và phản trực
giác. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng ngầm. Con người tranh
đua ngụp lặn đi t́m, nh́n, sờ phần ch́m c̣n lại của tảng băng như
một thách thức từ thiên nhiên. Có nhiều niềm hân hoan, cũng có
nhiều nỗi thất vọng nhưng đó là khám phá khoa học.
Thiên nhiên cũng tiếp sức rất lớn vào những nỗ lực con người. Nó
im ĺm nhưng thỉnh thoảng hé lộ những ngẫu nhiên kỳ diệu và ban bố
cho con người rất nhiều ân huệ. Bọt khí cacbon đioxit là ân huệ và
cũng là một ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là theo bất kỳ phương pháp nào,
dù đó là sự lên men, sự phân ră của bột soda hay phản ứng giữa
nước và keo urethane resin, tất cả đều dẫn tới việc phóng thích
khí cacbon đioxit. Ân huệ là cacbon đioxit không độc không mùi.
Cuộc đời của chúng ta nhờ vậy mà vui sướng, nên thơ hơn. Nếu là
khí độc và có mùi th́ chúng ta sẽ không có bánh ḿ, bánh ḅ, bánh
phồng tôm để ăn; nước ngọt, bia bọt, sâm banh để uống và cả chiếc
giường nệm êm ái để nằm. Kết quả là cuộc đời sẽ vô cùng nhàm chán.
Xă hội loài người sẽ ra sao nếu sự nhàm chán bao trùm?
Hăy biết ơn và tử tế với thiên nhiên.
Mùa hè khói lửa
Melbourne, tháng 2 2020
Tài liệu tham khảo và ghi chú
1.
Thí dụ: Một vật có thể tích 1 cm3, nếu là khối vuông
th́ diện tích 6 bề mặt là 6 cm2. Nhưng nếu là h́nh cầu
th́ diện tích mặt cầu là 4,84 cm2. Con số 4,84 cm2
là diện tích bề mặt nhỏ nhất cho thể tích 1 cm3.
2.
E. G. Klarreich, American Scientists, 88 (2000) 151.
3.
D. Weaire, Proc. Am.Phil. Soc., 145 (2001) 564.
4.
E. B. Matzke, Am. J. Botany, 33 (1946) 58.
5.
J. B. Dodd, Am. J. Botany, 42 (1955) 566.
6.
D. Weaire and S. Hutzler,"The Physics of Foams", Clarendon Press,
Oxford, 1999.
7.
S. Perkowitz, "Universal foam", Walker Co., New York, 2000.
8.
Trích từ bài "Lương Châu từ" của Vương Hàn đời Đường,
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mă thượng thôi
Tuư ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
9.
A. Saint-Eve et al, J. Agric. Food Chem., 57 (2009)
5891.
10.
G. Liger-Belair, J. Phys. Chem. B, 118 (2014) 3156.
11.
G. Liger-Belair, "Uncorked: The science of champagne", Princeton
University Press, New Jersey, 2013.
12.
V. S. L’vov, A. Pomyalov, I. Procaccia, and V. Tiberkevich,
Phys. Rev. Lett., 94 (2005) 174502.
13.
A. A. Fontaine, S. Deutsch, T. A. Brungart, H. L. Petrieand and M.
Fenstermacker, Exp. Fluids, 26 (1999) 397.
14.
Y. Kodama et al, "Drag reduction of ships by microbubbles" (Google
search).
15.
T. Takahashi et al, (a) "Experimental skin friction reduction by
microbubbles using a ship with a flat bottom", 31st
Symposium on Turbulence Flow (1999). (b) "A brief report on
microbubble experiments using 50 m-long flat plate ship", 74th
General Meeting of SRI (2000).
16.
S.L. Ceccio, Annu. Rev. Fluid Mech., 42 (2010) 183.
17.
R. A. Verschoof et al, Phys. Rev. Lett., 117 (2016)
104502.
18.
Sandia Lab News, Vol. 54, No. 23. November 15, 2002.
19.
L. Domergue et al, Safety and Security Engineering III,
108 (2009) 83.
20.
R. L. Woodfin, Sandia Report SAND 2000-0958, Sandia National
Laboratories, April 2000.
21.
R. Raspet et al, USA-CERL Technical Manuscript N-89/01, November
1988.
22.
T. N. Sullivan, B. Wang, H. D. Espinosa and M. A. Meyers,
Materials Today, 20 (September 2017) 377.
23.
M. Chakraborty and S. Kotecha, Breathe, 9 (2013) 77.
24.
Thí dụ: T. G. Leighton, "The Acoustic Bubble", Academic Press, New
York – London, 1994.
25.
M. Minnaert, Phil. Mag., 16 (1933) 236.
26.
Công thức Minnaert được diễn tả như sau,

Nếu a = 1 mm, tần số cộng hưởng của chiếc bọt này là fR
= 3.300 Hz. Vùng khả thính của tai con người là vùng âm thanh
có tần số từ 20 Hz đến 20.000 Hz. Như vậy, chiếc bọt có bán kính
a = 1 mm sẽ phát âm thanh ở tần số 3.300 Hz khi bọt tách
ĺa khỏi ống tiêm, mà tai con người có thể nghe được. Ngược lại,
nếu ta phát ra một nguồn âm có tần số 3.300 kHz đến bọt, bọt sẽ
hấp thụ âm thanh này v́ cộng hưởng.
Bán kính a tỷ lệ nghịch với tần số cộng hưởng fR.
Khi a = 10 mm, fR = 330 Hz, âm thanh phát
ra trầm hơn âm thanh ở tần số fR = 3.300 Hz.
27.
M. Kafesaki, R. S. Penciu and E. N. Economou, Phys. Rev. Lett.,
84 (2000) 6050.
28.
J. A. Reyff, "Reducing undewater sounds with air bubble curtains"
(Google search).