|

Điện
tử
π
và polymer dẫn điện
Trương Văn Tân (*)
Lời giới thiệu:
Để kỷ niệm 30 năm ngày phát
hiện polymer (plastic) dẫn điện tại Tokyo Institute of Technology
(Đại học Công nghiệp Đông kinh, Nhật Bản), mà đỉnh cao là giải Nobel
Hóa học (năm 2000) được trao cho các giáo sư MacDiarmid, Heeger và
Shirakawa, người viết đă mạo muội phổ biến một loạt bài về các ứng
dụng của polymer dẫn điện. Bài viết mang tính chất áp dụng lúc nào
cũng cho nhiều màu sắc lóng lánh, tràn đầy một niềm hy vọng cho
tương lai hơn là những bài viết lư thuyết khô khan. Nhưng khi nh́n
lại, người viết cảm thấy ḿnh đă đặt "chiếc cày trước mũi con trâu",
nói nhiều áp dụng nhưng ít thông tin về các đặc tính và lư thuyết cơ
bản của polymer dẫn điện/polymer mang nối liên hợp. Chặng đường 30
năm khá dài và vật liệu nầy đă nghiễm nhiên trở thành một bộ môn
riêng biệt trong nghiên cứu khoa học. Thiển nghĩ, lư thuyết dù khô
khan nhưng tầm quan trọng của bộ môn nầy chắc cũng không làm phí th́
giờ người đọc. Bài viết sau đây là để bổ sung các bài viết trước về
mặt lư thuyết. Người viết hy vọng nó sẽ không khô như mái ngói mùa
hè và thích hợp cho tŕnh độ năm cuối trung học phổ thông và hai năm
đầu đại học. Nếu những mục tiêu nầy không đạt, xin độc giả lượng
thứ.
1. Dẫn nhập
Cơ chế dẫn điện của polymer
dẫn điện là một khái niệm mới. Nó không tuân theo cơ chế cổ điển của
kim loại. Nhưng dù là khái niệm mới hay cơ chế cũ, cách lư giải
những hiện tượng dẫn điện vẫn phải dựa vào một nền tảng chung và
thống nhất. Đó là những kiến thức cơ bản trong hóa lư, về vân đạo
nguyên tử, vân đạo phân tử, các loại liên kết hóa học (chemical
bonding) giữa các nguyên tố và các mực năng lượng điện tử được thành
h́nh trong quá tŕnh kết hợp. Cốt lơi của những kiến thức nầy là các
khái niệm trong vật lư chất rắn và cơ học lượng tử. Giải thích một
khái niệm mới bằng một ngôn ngữ giản dị không dễ, nhưng nếu dùng
những khái niệm đă biết để dẫn đến khái niệm chưa biết có lẽ sẽ làm
người đọc thoải mái hơn. Bài viết nầy được viết theo chiều hướng đó.
2. Điện tử
p
trong nối liên hợp
Nối đôi của polyacetylene
(PA) (H́nh 1) biểu hiện sự khác biệt cấu trúc phân tử giữa
polyethylene (PE) (H́nh 2) và PA. Các nối trong PE là liên kết cộng hóa
trị do sự tạp chủng giữa 1 vân đạo s và 3 vân đạo p (= 4 vân đạo tạp
chủng sp3) cho ra 4 nối
s
(sigma) rất bền xung quanh nguyên tố carbon (2 nối C - H, 2 nối C -
C), điện tử của nối s
được gọi là điện tử
s
[1]. Trong PA, do tạp chủng giữa 1 vân đạo s và 2 vân đạo p (= 3 vân
đạo tạp chủng sp2) cho ra 3 nối
s
(1 nối C - H, 2 nối C - C) và 1 nối
p
(pi) do của vân đạo pz của hai nguyên tố kề nhau
tạo thành. V́ vậy, thực chất của nối đôi C = C là do 1 nối
s
và 1 nối p.

H́nh 1: Cấu
trúc polyacetylene

H́nh 2: Cấu
trúc polyethylene
Liên kết
p
không bền, có nghĩa là điện tử
p
có nhiều hoạt tính hóa học, sẵn sàng phản ứng nếu có điều kiện thích
hợp. Điện tử p,
nhất là điện tử
p
trong các nối liên hợp (nối đơn và nối đôi tuần tự thay nhau, - C =
C - C = C –) cho nhiều hiện tượng và áp dụng thú vị. V́ không bền
nên chỉ cần một năng lượng nhỏ cũng đủ kích hoạt điện tử
p
sang một trạng thái khác. Ngay trong sinh vật và thực vật, điện tử
p
cho nhiều biến đổi kỳ diệu. Mắt của các sinh vật kể cả con người có
một loại enzyme gọi là retinene ở vơng mạc của mắt. Retinene có cấu
trúc nối liên hợp - C = C - C = C – (H́nh 3). Điện tử
p
của retinene chỉ cần năng lượng nhỏ như năng lượng ánh sáng là có
thể biến chuyển h́nh dạng phân tử retinene, trạng thái điện tử và
điện tính của retinene, gây ra một tín hiệu truyền đến năo bộ và làm
cho ta thấy được.

(a)
(b)
H́nh 3: Cấu
trúc (a) retinene và (b) chlorophyll
Thực vật có diệp lục tố
(chlorophyll), cho ta màu xanh của lá. Cấu trúc của diệp lục tố cũng
là một cấu trúc nối liên hợp (H́nh 3). Dưới ánh sáng mặt trời các
điện tử p
được kích hoạt để hiện tượng quang hợp xảy ra. Diệp lục tố trở thành
một chất xúc tác biến khí CO2 và nước trong không khí
thành đường glucose và thải ra oxygen. Glucose là nguồn năng lượng
chính của thực vật. Glucose có thể trùng hợp để biến thành tinh bột
trong trái cây, các loại củ và ngũ cốc. Ngoài ra, heme trong hồng
huyết cầu là phân tử ṿng có nối liên hợp và chứa nguyên tố sắt.
Chức năng của heme là tải oxygen để nuôi dưỡng các tế bào. Có thể
nói rằng nối liên hợp một cách gián tiếp đóng một vai tṛ cực kỳ
quan trọng để duy tŕ sự sống của toàn thể thực vật và sinh vật trên
quả địa cầu.
Chất dẫn điện và chất cách
điện khác nhau ở chỗ ḍng điện có thể truyền qua vật chất đó được
hay không. Vật chất là tập hợp của nhiều nguyên tử. Sự truyền điện
của vật chất tùy thuộc vào bản chất và cách liên kết của các nguyên
tử. Kim loại được liên kết tạo ra những điện tử tự do. Những điện tử
nầy là phần tử tải điện (charge carrier). Khi có điện áp, điện tử di
động và ḍng điện xuất hiện. V́ một lư do nào đó những điện tử không
c̣n di động được nữa th́ ḍng điện biến mất. Ḍng chảy của phần tử
tải điện (trong trường hợp kim loại là điện tử) như là ḍng
nước. Khi nước bị đóng băng ta không có ḍng nước. Khi băng tan,
ḍng nước xuất hiện.
Một thí dụ về sự di động tự
do của điện tử là sự khác biệt về đặc tính dẫn điện giữa than ch́
(graphite) và kim cương. Cùng được tạo thành từ nguyên tố carbon,
than ch́ là vật dẫn điện nhưng kim cương là vật cách điện tuyệt vời.
Than ch́ được dùng làm lơi bút ch́, rất mềm và rẻ tiền. Kim cương là
đá quí có độ cứng cao nhất trong các vật liệu, được dùng làm
đồ trang sức cho các bậc mệnh phụ từ khi con người biết làm đẹp. Nếu
ta dùng một điện trở kế đặt vào hai đầu bút ch́ th́ ta sẽ đo
được điện trở trong khoảng 10 – 50 Ω (Ohm). Điện trở than ch́ cao
hơn kim loại nhưng vẫn là vật dẫn điện tốt (điện trở càng thấp th́
độ dẫn điện càng cao).
Để hiểu rơ sự khác biệt một
trời một vực điện tính giữa than ch́ và kim cương, ta hăy quan sát
cấu trúc của hai vật liệu nầy. Than ch́ là một tập hợp của nhân
benzene liên kết thành những mảng h́nh tổ ong chồng chập lên nhau
(H́nh 4). Các sách hóa hữu cơ đều cho biết một điều cơ bản là điện
tử p
di động tự do trong nhân benzene do sự chuyển vị (delocalization)
gây ra bởi hiệu ứng cộng hưởng. Ta không c̣n phân biệt được nối đơn
hay nối đôi v́ điện tử
p
di chuyển tự do và phân bố đều trong nhân (H́nh 5). Trạng thái nầy
là trạng thái bền nhất của benzene v́ ở năng lượng thấp nhất. Khi
các nhân benzene kết hợp lại tạo thành những mảng tổ ong của than
ch́, các điện tử
p
tạo thành những "đám mây" dải rộng, di chuyển tự do trên mặt phẳng
của tổ ong. Những điện tử tự do nầy, giống như kim loại, là nguyên
nhân của sự dẫn điện trong than ch́. Ngược lại, trong kim cương
những tổ ong nầy được liên kết bằng những nối tạo ra một tinh thể 3
chiều (H́nh 4), ta không c̣n những đám mây điện tử di động tự do. V́
"ḍng sông" điện tử bây giờ đă bị đóng băng, kim cương là vật cách
điện.

H́nh 4: (a)
Kim cương và (b) than ch́

H́nh 5: Hiệu
ứng cộng hưởng của nhân benzene
3. Dải năng lượng điện tử
Lối giải thích "ḍng sông"
điện tử lúc chảy, lúc bị "đóng băng" chỉ mang tính chất định tính để
người đọc có thể h́nh dung được cơ chế dẫn điện và cách điện. Giải
thích mang tính định lượng của cơ chế nầy đ̣i hỏi sự lư giải cấu
trúc điện tử dựa trên sự thành h́nh của các mức năng lượng điện tử
trong quá tŕnh nguyên tử kết hợp thành phân tử, phân tử kết hợp
thành vật liệu. Việc nầy đ̣i hỏi một kiến thức cơ bản về vật lư chất
rắn và cơ học lượng tử. Nói một cách đơn giản, điện tính của tất cả
mọi vật liệu được quyết định bởi cấu trúc điện tử của vật liệu đó.
Và cấu trúc điện tử có thể được giải thích rành mạch theo quan điểm
"dải năng lượng điện tử" (electronic energy band).
Vật liệu được khảo sát ở đây
là thể rắn. Ở thể rắn, các vân đạo nguyên tử liên kết, chồng chập
lên nhau ở mọi phương hướng để tạo nên vân đạo phân tử. Trong trường
hợp đơn giản nhất, khi hai nguyên tử kết hợp với nhau cho hai vân
đạo phân tử. Các điện tử của hai nguyên tử bây giờ trở thành điện tử
của phân tử và các điện tử nầy chỉ được phép ở những mức năng lượng
nhất định. Cơ học lượng tử giúp ta tính toán những giá trị của mức
năng lượng. Chất rắn được tạo thành do sự chồng chập của các tập hợp
nguyên tử. Người ta phỏng tính 1 cm3 chất rắn được 1022
(22 số 0 sau số 1, hay là 10 ngàn tỷ tỷ) nguyên tử tạo thành. Trong
quá tŕnh nầy, theo cơ học lượng tử, những mực năng lượng điện tử sẽ
được thành h́nh và các điện tử sẽ chiếm cứ các mực năng lượng nầy.
Như vậy, ta có 1022 vân đạo phân tử và 1022
mức năng lượng tương ứng được tạo thành. Các mức năng lượng nầy
chồng chập lên nhau theo thứ tự trị số của chúng, trở thành dải được
gọi là "dải năng lượng điện tử". Dải ở năng lượng thấp gọi là dải
hóa trị (valence band) và dải ở năng lượng cao hơn gọi là dải dẫn
điện (conduction band) (H́nh 6). V́ con số 1022 là một
con số rất lớn, những mức năng lượng chồng chập nhau trông giống như
một dải liên tục. Như bề dày của một quyển tự điển, từ xa nh́n th́
trông như một khối liên tục, nh́n gần th́ mới thấy những trang giấy
rời rạc.

H́nh 6: Dải
năng lượng điện tử: (a) kim loại, (b) chất bán dẫn, (c) chất cách
điện.
Dải đen tượng trưng cho dải hóa trị và dải trắng cho dải dẫn điện.
Khe dải là khoảng cách giữa dải đen và dải trắng.
Sự thành h́nh dải năng lượng
của chất rắn có thể không liên tục, khi đó sẽ có một "khoảng trống"
xuất hiện, giống như cái mương chia ra hai dải (miền) năng lượng.
Khoảng trống đó gọi là khe dải năng lượng (energy band gap) (H́nh
6). Như ta sẽ thấy ở phần sau, khe dải không phải là một khái niệm
trừu tượng mà là một thực thể có thể kiểm chứng bằng thí nghiệm. Trị
số khe dải được tính bằng electron volt (eV)
[2]. Khe dải quyết định
sự dẫn điện hay không dẫn điện của chất rắn. Sự dẫn điện hay không
dẫn điện là do khả năng "nhảy mương" của các điện tử. Nếu điện tử
của chất rắn không thể nhảy từ miền năng lượng thấp lên miền năng
lượng cao, ta có vật cách điện. Những vật liệu kết hợp bằng nối
s
như polyethylene hay kim cương có khe dải lớn hơn 8 eV; cái "mương"
quá rộng để điện tử có thể nhảy qua trong điều kiện b́nh thường
(nhiệt độ 22 °C, áp suất 1 atm). Đây là những vật cách điện tuyệt
vời. Ngược lại, khe dải của kim loại là zero. Khe dải zero có
nghĩa dải hóa trị và dải dẫn điện tiếp cận hoặc đan vào nhau. Nhờ đó
các điện tử không cần phải "nhảy mương" mà chỉ di chuyển qua lại
thoải mái, nên sự dẫn điện xảy ra một cách tự nhiên. Than ch́ có khe
dải rất hẹp giống như kim loại. Ở giữa hai cực đoan nầy là chất bán
dẫn (thí dụ: silicon). Khe dải các chất bán dẫn nằm trong khoảng 1 -
1,5 eV. Trong điều kiện b́nh thường, một số các điện tử có thể nhảy
lên mức năng lượng cao hơn nhờ nhiệt năng (thermal energy) chiếm cứ
dải dẫn điện. V́ vậy, hiện tượng bán dẫn xảy ra. Khe dải năng lượng
là một đặc tính vô cùng quan trọng của vật chất không những cho điện
tính (cách điện, dẫn điện hay bán dẫn), mà c̣n trong việc thiết kế
một vật liệu trong những áp dụng quang học, hay quang điện tử
(optoelectronics) mà sự phát quang là một thí dụ điển h́nh.
Hai điều kiện cần cho sự
dẫn điện trong polymer dẫn điện là (1) nối liên hợp và (2) dopant
[3]. Chỉ có nối liên hợp th́ chưa đủ. Nếu không có dopant, khe dải
của các polymer tiêu biểu có nối liên hợp như polyacetylene (PA),
poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT), polypyrrole (PPy),
polyaniline (PAn), polythiophene (PT), polyphenylenevinylene (PPV)
có giá trị từ 1,4 đến 3,6 eV (Bảng 1). Đây là giá trị của những chất
cách điện; cùng lắm th́ chỉ là chất bán dẫn hạng bét...
Bảng 1: Trị số khe dải của
các polymer dẫn điện tiêu biểu
|
Polymer |
Khe dải (eV) |
|
Polyacetylene (PA) |
1,4 |
|
Poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT) |
1,5 |
|
Polythiophene (PT) |
2,0 |
|
Poly(phenylene
vinylene) (PPV) |
2,5 |
|
Polyaniline (PAn) |
3,2 |
|
Poly(para-phenylene)
(PPP) |
3,5 |
|
Polypyrrole (PPy) |
3,6 |
Theo sự suy nghĩ thông
thường dựa trên hiệu ứng cộng hưởng hay là sự chuyển vị trong nhân
benzene (H́nh 5), có một lúc các nhà hóa học hữu cơ tin rằng trong
polymer mang nối liên hợp các điện tử
p
cũng sẽ di chuyển tự do dọc theo mạch phân tử. Ta không c̣n phân
biệt được nối đơn hay nối đôi và con người sẽ có sợi dây dẫn điện
giống như kim loại ở thang phân tử. Nếu điều nầy phản ảnh một sự
thật khách quan th́ dây dẫn điện ở độ vi mô phân tử quả là một vật
liệu trên cả tuyệt vời! Tập hợp những sợi dây nầy sẽ cho ta một chất
hữu cơ dẫn điện hay ít nhất bán dẫn. Tiếc thay, sự thật lắm lúc rất
phủ phàng và khắc nghiệt. Tạo hóa rất khó tính đối với con người;
những phương pháp tính toán trong vật lư chất rắn và các kết quả thí
nghiệm cho biết rằng thực tế không như vậy bởi v́ mô h́nh chuyển
vị điện tử p
trong nhân benzene (hai thứ nguyên) không thể áp dụng cho mạch phân
tử đường thẳng của polymer (một thứ nguyên).
Thật vậy, theo nhà vật lư
Peierls, nối liên hợp của mạch phân tử đường thẳng chỉ có thể ở
trạng thái bền có năng lượng thấp nhất khi các điện tử
p
được định vị (localization). Có nghĩa là nối liên hợp muốn giữ cái
nguyên trạng tuần tự của "nối đơn - nối đôi" cố hữu. Chỉ ở cấu trúc
nầy điện tử mới có thể đạt đến năng lượng thấp nhất. Cũng xin nói
thêm ở đây, mọi vật trong vũ trụ đều có khuynh hướng đi đến năng
lượng thấp nhất v́ đó là trạng thái bền nhất. Trạng thái chuyển hoán
từ chuyển vị đến định vị gọi là "chuyển hoá Peierls" (Peierls
transition) (H́nh 7).

H́nh 7:
Chuyển hoá Peierls.
Nếu ta nh́n một cách phiến
diện theo quan điểm cơ học, v́ nối đơn dài hơn nối đôi, nối liên hợp
có tuần tự "nối đơn - nối đôi" cho một h́nh dạng cũn cỡn, so le tạo
ra sự "căng" trong mạch polymer. Sự căng lại gây ra một năng lượng
đưa toàn bộ mạch lên một mức năng lượng cao hơn và v́ vậy kém bền
hơn mạch có những nối cùng một độ dài. Như vậy th́ có khác ǵ nhân
benzene với hiệu ứng cộng hưởng? Nhưng ta chớ vội mừng! Trên quan
điểm năng lượng điện tử, như Peierls đă diễn giải một chuỗi có tuần
tự "nối đơn - nối đôi" sẽ cho năng lượng điện tử thấp. Tổng cộng của
hai loại năng lượng (cơ học và điện tử) nầy cho thấy toàn thể năng
lượng của mạch phân tử có tuần tự "nối đơn - nối đôi" vẫn c̣n thấp
hơn mạch phân tử có nối cùng một độ dài do sự chuyển vị của điện tử
p.
Rơ ràng là polymer mang nối liên hợp chỉ có thể ở trạng thái định vị
và do đó là một chất cách điện hay là một chất bán dẫn tồi.
Chuyển hoá Peierls là một
hiện tượng đặc thù của mạch phân tử polymer đường thẳng, ngược lại
với hiệu ứng cộng hưởng trong nhân benzene. Như vậy, "ḍng sông"
điện tử p
của mạch nối liên hợp bị "đóng băng". Những điện tử
p
khi định vị đương nhiên sẽ mất đi tính di động. Tuy nhiên những
"ḍng băng" sẽ biến thành "ḍng sông" khi nhiệt độ gia tăng, v́
nhiệt năng đủ để kích động một số điện tử "nhảy sào" qua một khe dải
rất cao; chuyển hoá Peierls sẽ bị đảo lộn, đi ngược từ trạng thái
định vị đến trạng thái chuyển vị, lúc đó ḍng điện xuất hiện. Hiện
tượng nầy đă được quan sát khi đun nóng kim cương, nhưng thí nghiệm
tương tự không thể thực hiện cho polymer v́ ở nhiệt độ cao polymer
sẽ bị phân hủy.
Có lẽ do ảnh hưởng quá nặng
nề của nhân benzene, các nhà hóa học đă phải trải qua một thời gian
dài và nhờ vào những lư luận vật lư sắc bén để có thể phân biệt sự
khác nhau của nối
p
trong cầu trúc ṿng và cấu trúc thẳng. Ở điểm nầy, ngoài Peierls
chúng ta phải tôn vinh nhà vật lư Heeger (một trong ba người đoạt
giải Nobel Hóa học năm 2000) đă có những đóng góp rất lớn trong lĩnh
vực lư thuyết về năng lượng điện tử của nối liên hợp.
4. Các chất dopant
Phương pháp tăng nhiệt độ để
"lật ngược" chuyển hoá Peierls biến chất cách điện thành dẫn
điện không phải là cách làm thực tế. Câu chuyện
về polymer dẫn điện
xem chừng như phải chấm dứt ở đây, nếu không có sự hiện hữu của
dopant. Phương pháp doping của MacDiarmid, Heeger và Shirakawa khi
cho PA tiếp xúc với khí iodine làm tăng độ dẫn điện hơn 1 tỷ (109)
lần là một bước đột phá mang tính lịch sử và cũng là nền
tảng trong việc nghiên cứu cơ bản và áp dụng thực tế của polymer dẫn
điện. Bước nhảy của độ dẫn điện từ 1 tỷ đến 10 tỷ lần không phải
chỉ xảy ra ở PA mà c̣n thấy được ở PPy, PAn, PT và những polymer
khác có nối liên hợp mà đơn vị monomer là phân tử chứa nhân benzene
hoặc có cấu trúc ṿng mang nguyên tố sulphur (S) hay nitrogen (N)
[3].
Các nhà nghiên cứu cảm nhận
ngay cơ chế dẫn điện sẽ rất khác với cơ chế thường thấy trong kim
loại hay than ch́, nhất là bản chất của phần tử tải điện. V́ sự
"đóng băng" hay trạng thái định vị của điện tử
p,
phần tử tải điện trong polymer dẫn điện chắc chắn không phải là các
điện tử p
tự do. Bản chất của phần tử tải điện trong polymer dẫn điện nhanh
chóng thu hút được sự chú ư của các nhà vật lư lư thuyết. Mặc dù PA
không có giá trị trong các ứng dụng thực tiễn do sự lăo hóa và tự
suy thoái đưa đến việc giảm thiểu độ dẫn điện, PA với cấu trúc mạch
phân tử đơn giản nhất trong các polymer có nối liên hợp, đă là một
polymer được khảo sát nhiều nhất cho việc phát triển lư thuyết dẫn
điện.
Khi PA được tiếp xúc với một
chất oxít hóa (oxidizing agent) A, PA và A sẽ kết hợp theo một phản
ứng hóa học đơn giản,
PA + A
D (PA)+A-
(1)
PA trung tính, không dẫn
điện. (PA)+A- là polymer dẫn điện. Các nhà vật
lư gọi phản ứng nầy là quá tŕnh doping của PA với A, hay là PA
được "dope" với dopant A. Các nhà hóa học có thuật ngữ khác, gọi đây
là phản ứng oxit hóa của PA v́ PA mất đi điện tử cho ra (PA)+,
điện tử được nhận bởi A cho ra anion (ion âm) A-. A c̣n
được gọi là chất nhận điện tử (electron acceptor). PA+ và
A- được nối kết với nhau bằng nối ion do điện tích (+) và
(-). Ngược lại, khi PA được tiếp xúc với chất khử D (reducing
agent), phản ứng khử PA sau đây xảy ra,
PA + D
D
(PA)-D+
(2)
Trong trường hợp nầy, PA bị
khử v́ PA nhận điện tử biến thành (PA)- và D cho điện tử
trở thành cation (ion dương) D+. D được gọi là chất cho
điện tử (electron donor). Phản ứng (1) và (2) chỉ mang tính tượng
trưng cho dễ hiểu. Trong trường hợp phản ứng PA giữa khí iodine
I2
như MacDiarmid, Heeger và Shirakawa đă thực hiện vào năm 1977, phản
ứng phải được viết một cách chính xác như sau,
[CH]n + 3/2nmI2
D
[CHm+(I3)m-]n
(3)
Ở đây, n là số đơn vị
mononer của toàn thể polymer. Trong trường hợp của PA đơn vị là
[CH]; m là số đơn vị chịu ảnh hưởng của anion (I3)-.
Thí dụ, nếu 1 anion (I3)- ảnh hưởng đến 5 đơn
vị [CH], m = 1/5 (H́nh 8) [4].

H́nh 8: Kết
hợp giữa PA và iodine.
H́nh vẽ cho thí dụ anion (I3)- gây ra điện
tích dương trên 5 đơn vị (CH).
Nếu anion (I3)-
làm được việc th́ các anion khác cũng sẽ cho một hiệu quả tương tự.
Vài năm sau, nhóm MacDiarmid và Heeger làm
thí nghiệm với anion perchlorate (ClO4-). Để
PA kết hợp với anion nầy, phim PA được nhúng vào một dung dịch có
anion ClO4- (chẳng hạn như muối LiClO4
trong một dung môi thích hợp sẽ cho Li+ và ClO4-).
Anion nầy sẽ kết hợp bằng phương pháp điện hóa theo phản ứng,
[CH]n + nm(ClO4-) D
[CHm+(ClO4-)m]n
(4)
Một thí dụ của phản ứng (2)
là nhúng phim PA trong một dung dịch khử chứa cation của sodium, Na+
(thí dụ: dung dịch sodium naphthalide),
[CH]n + nm(Na+) D
[CHm-(Na+)m]n
(5)
Trên thực tế, người ta
thường dùng phản ứng (1) để tạo ra polymer dẫn điện v́ phương pháp
nầy dễ thực hiện hơn phản ứng (2).
Điều đáng chú ư trong các
phản ứng trên là kư hiệu thuận nghịch (D)
[5]. Kư hiệu nầy cho biết phản ứng có thể đi từ trái sang phải và
cũng đi từ phải sang trái. Sự thuận nghịch cho biết ta có thể điều
chỉnh độ dẫn điện của một vật liệu; biến một vật cách điện thành dẫn
điện và ngược lại. Phản ứng từ trái sang phải, như đă đề cập bên
trên, là quá tŕnh doping trong đó polymer cách điện kết hợp với
dopant cho ra chất dẫn điện polymer/dopant. Phản ứng từ phải sang
trái là quá tŕnh dedoping trong đó polymer/dopant bị tách rời trả
lại polymer cách điện nguyên thủy. Hai phản ứng nầy được thực hiện
một cách dễ dàng trong pḥng thí nghiệm nhưng lại là một đề tài
nghiên cứu nhiều thử thách dưới một cái tên chung "chuyển hoán giữa
vật cách điện và kim loại" (insulator - metal transition) của các
nhà vật lư chất rắn. Sự thuận nghịch nầy chỉ ra một hướng đi thực
tiễn với một tiềm năng áp dụng rất linh động trong dạng vật liệu
thông minh. Đặc tính nầy đưa đến những áp dụng trong thực tế đă được
bàn kỹ trong những bài viết trước.
Ngoài khí iodine, các loại
khí trong họ halogen như khí chlorine (Cl2), bromine (Br2)
đều có tác dụng tăng độ dẫn điện. Ngoài PA, nhiều loại polymer dẫn
điện khác trong đó có polyaniline (PAn), polypyrrole (PPy),
polythiophene (PT), polyalkylthiophene (chất dẫn xuất (derivatives)
của PT), đặc biệt là poly(ethylenedioxythiophene) (PEDOT) đă được
khảo sát. Tương tự như PA, khi PT được kết hợp với khí iodine độ dẫn
điện tăng đến 10 tỷ lần. Trong bài viết nầy chúng ta chỉ đề cập đến
chất nhận điện tử là dopant để cho ra anion (quá tŕnh doping theo
phản ứng (1)). Bảng 2 cho thấy những dopant tiêu biểu bao gồm
các phân tử, các hợp chất và các phân tử sinh học.
Bảng 2: Các loại dopant,
A, nhận điện tử cho ra anion A- (A + e- ® A-)
|
Họ halogen |
Thí dụ: Br2,
I2, Cl2 |
|
Acid Lewis |
Thí dụ: BF3,
PF5, AsF5, SbF5, SO3 |
|
Acid proton (acid
chứa H) |
Thí dụ: HNO3,
H2SO4, HClO4, HF, HCl, FSO3H |
|
Halide của kim loại
chuyển tiếp |
Thí dụ: FeCl3,
MoCl5, WCl5, SnCl4, MoF5 |
|
Họ amino, các loại
acid sinh học |
Thí dụ:
glutamic acid, uridylic acid, protein, enzyme |
|
Các chất hoạt tính
bề mặt |
Thí dụ:
dodecylsulfate, dodecylbenzenesulfonate |
|
Polymer |
Thí dụ: poly
(styrenesulfonic acid) |
Bảng 2 cho ta thấy sự chọn
lựa dopant cho những polymer nối liên hợp rất phong phú. Dopant có
thể là một phân tử, một hợp chất vô cơ, hữu cơ, thậm chí có thể là
một polymer hay phân tử sinh học như enzyme. Ngoài yếu tố gây nên sự
dẫn điện trong polymer có nối liên hợp, dopant có một vai tṛ quan
trọng trong việc định đoạt sự cao thấp của độ dẫn điện, vật tính
(physical properties), cơ tính (mechanical properties), độ bền môi
trường (environmental stability) và độ bền nhiệt (thermal
stability). Điều nầy hiển nhiên v́ dopant trong polymer có thể đạt
đến 50 % trọng lượng, nên sự chi phối của dopant rất lớn.
5. Polaron và Bipolaron
Sau cuộc chạy đua nâng cao
độ dẫn điện của PA trong thập niên 80 của thế kỷ trước, các nhà
nghiên cứu nhận thấy đây chẳng qua là một cuộc chơi hàn lâm. Trên
thực tế, độ dẫn điện trung b́nh ở mực của các chất bán dẫn (từ 0,1
đến 100 S/cm) là vừa đủ cho các ứng dụng. Tuy nhiên cũng nhờ cuộc
chạy đua nầy các nhà khoa học đă khám phá rất nhiều "bí ẩn" của cơ
chế dẫn điện trong polymer dẫn điện. Tất cả bí ẩn chỉ nằm gọn trong
một câu hỏi cơ bản: Tại sao khi có sự hiện diện của dopant th́
polymer mang nối liên hợp chuyển từ trạng thái cách điện sang dẫn
điện?
Ta hăy khảo sát sự liên hệ
giữa quá tŕnh doping và sự biến đổi của dải năng lượng của
polypyrrole (PPy) (H́nh 9). Pyrrole là một phân tử ṿng năm góc chứa
một nguyên tố nitrogen (N). Trước quá tŕnh doping (hay bị oxit
hóa), PPy có khe dải là 3,2 - 3,6 eV. Trị số nầy cho ta biết đây là
một chất cách điện tiêu biểu. Quá tŕnh doping PPy với dopant, A,
được biểu hiện trong H́nh 9. Khi PPy được tiếp cận với A, PPy sẽ mất
một điện tử p,
e-, cho A (mất điện tử có nghĩa là bị oxit hóa). Kết quả
là trên mạch phân tử của PPy, ta có một lỗ trống mang điện tích
dương (+) do sự mất đi của một điện tử
[6] và một điện tử
p
đơn lẻ c̣n lại được kư hiệu là một chấm (·);
A nhận e- trở thành A- [7]. Cặp (+
·)
được gọi là polaron trong vật lư học. Cặp nầy thường cách nhau 3
hoặc 4 đơn vị pyrrole. Trong H́nh 9, (+) cách (·)
3 đơn vị. Sự thành h́nh của polaron làm thay đổi vị trí của các nối
p
c̣n lại làm thay đổi cấu trúc của ṿng pyrrole và đồng thời tạo ra
hai bậc năng lượng mới trong khe dải.

H́nh 9:
Polaron, bipolaron và sự h́nh thành của các dải năng lượng tương
ứng.
CB: Conduction band (dải dẫn điện), VB: Valence band (dải hóa trị)
[8].
Khi dopant được sử dụng ở
nồng độ cao, "dân số" A gia tăng cho nên A có khả năng nhận thêm
điện tử từ PPy. Polaron (+
·)
cũng gia tăng. Khi hai polaron gần nhau (+
·)
(+ ·),
hai điện tử (·
·)
trở thành nối
p, c̣n lại cặp điện tích dương (+ +)
được gọi là bipolaron (H́nh 9). Ở nồng độ cao hơn nữa, mạch PPy xuất
hiện càng nhiều bipolaron, các bậc năng lượng h́nh thành bởi sự hiện
diện của bipolaron sẽ ḥa vào nhau thành hai dải năng
lượng bipolaron. Các kết quả thực nghiệm đă chứng minh rằng polaron
và bipolaron là phần tử tải điện của polymer dẫn điện. Tương tự như
điện tử tự do trong kim loại hay than ch́, khi có một điện áp
polaron hay bipolaron sẽ di động. Nói một cách khác, polaron và
bipolaron là nguyên nhân của ḍng điện trong polymer. Ở nồng độ
dopant thấp, khi chỉ có một số ít dopant được kết hợp với mạch
polymer, polaron là phần tử tải điện. Khi nồng độ gia tăng,
bipolaron là phần tử tải điện. Các bậc năng lượng mới thành
h́nh, tồn tại như hai bậc thang giúp điện tử di chuyến từ dải hóa
trị đến dải dẫn điện ở bậc cao hơn mà không phải tốn nhiều công sức.
Sự dẫn điện xảy ra.
Brédas và các cộng sự
[9]
lần đầu tiên đă báo cáo phương pháp tính toán dựa trên những nguyên
lư vật lư cơ bản sự h́nh thành của dải bipolaron và cho biết các
khoảng cách của dải nầy đối với dải dẫn điện và dải hóa trị với
những trị số rất chính xác rất phù hợp kết quả thực nghiệm. Những
khái niệm về dải năng lượng, khe dải được tŕnh bày ở đây đều mang
tính chất trừu tượng đầy lư thuyết. Như một thông lệ trong khoa học,
một lư thuyết chỉ có giá trị sau khi được chứng minh bằng thực
nghiệm. Như vậy, chúng ta phải làm một thí nghiệm ǵ để có thể
"thấy" được những dải năng lượng và dải bipolaron gây ra bởi sự kết
hợp giữa dopant vào mạch polymer. Thật ra, điều nầy cũng không có ǵ
khó khăn nếu chúng ta có một quang phổ kế. Đây là việc mà Brédas và
cộng sự thực hiện vào năm 1984, 7 năm sau ngày phát hiện PA dẫn
điện.
H́nh 10 là kết quả thực
nghiệm của Brédas và cộng sự [9]. H́nh nầy cho thấy đường cong hấp
thụ của phim PPy được kết hợp (dope) với anion ClO4-
(perchlorate) khi nồng độ của anion trong PPy tăng dần. Nguyên tắc
thí nghiệm với quang phổ kế là vật liệu được khảo sát được quét với
sóng điện từ với những năng lượng bức xạ khác nhau. Trục ngang của
đồ thị là năng lượng bức xạ của sóng điện từ tác động vào phim
PPy/ClO4-. Năng lượng được dùng trong thí
nghiệm trong khoảng 0,5 đến 6 eV
[10]. Đây là vùng của tia hồng
ngoại, ánh sáng thấy được và tia tử ngoại. Vật liệu sẽ hấp thụ năng
lượng bức xạ khi bản thân vật liệu có khoảng cách năng lượng tương
ứng. Khi đó đường cong trong đồ thị xuất hiện một đỉnh cao. Khi nồng
độ dopant rất thấp (đường cong dưới cùng), đường cong chỉ có một
đỉnh ở 3,2 eV. Đây là khoảng cách giữa dải hóa trị và dải dẫn điện
trong PPy. Khi nồng độ dopant gia tăng những đỉnh khác xuất hiện
biểu hiện sự h́nh thành các mực và dải năng lượng tạo nên bởi sự
hiện hữu của polaron, bipolaron. Tất cả đều phù hợp với sự tiên liệu
của Brédas và cộng sự. Cũng theo cách tính của các tác giả, nếu mạch
polymer được kết hợp với dopant 100 % (1 phân tử kết hợp với 1 phân
tử đơn vị của polymer) th́ dải năng lượng bipolaron sẽ tỏa rộng nối
liền dải hóa trị và dải dẫn điện. Lúc đó toàn dải năng lượng giống
như kim loại (H́nh 6). Ta sẽ có một polymer dẫn điện như kim loại.
Hiện nay, 1 dopant chỉ có thể kết hợp (dope) 3 phân tử đơn vị (tỉ lệ
1:3 hay là 33.33 %). Trên thực tế, việc chế tạo polymer với 100
% dopant chỉ là giả thuyết vượt ra ngoài khả năng tổng hợp hiện
nay.

H́nh 10:
Đường cong hấp thụ năng lượng bức xạ của PPy/ClO4-
từ quang phổ kế.
Mũi tên chỉ hướng gia tăng nồng độ của ClO4- trong
mạch PPy.
Cơ chế dẫn điện của polymer
dẫn điện có thể giải thích một cách định tính bằng h́nh vẽ (H́nh
11). Khi dopant A nhận một điện tử từ polymer, một lỗ trống (+) xuất
hiện. Khi một ḍng điện được áp đặt vào polymer, điện tử
p
của nguyên tố C bên cạnh nhảy vào lỗ trống nầy và cứ tiếp diễn như
thế. Sự di chuyển của điện tử chỉ là sự di chuyển ngắn, nhưng nhờ sự
di chuyển nầy lỗ trống (+) được liên tục di động dọc theo mạch
polymer. Lỗ trống nầy là một phần polaron hay bipolaron. Sự di động
của lỗ trống xác nhận polaron/bipolaron là một thực thể tải điện và
là nguyên nhân của sự dẫn điện giống như điện tử trong kim loại.
Thực nghiệm cho thấy điện tử của polymer nầy có thể nhảy sang chiếm
cứ lỗ trống của polymer kế cận rồi polymer kế cận khác... Như vậy,
ta có thể h́nh dung lỗ trống (+) di động lan tràn khắp tất cả vật
liệu theo hướng của điện áp. H́nh 11 cho thấy rất rơ ràng hai yếu tố
cho sự dẫn điện trong polymer là: (1) nối liên hợp và (2)
dopant. Mất đi một trong hai sự dẫn điện không xảy ra.

H́nh 11: H́nh
vẽ mô tả sự chuyển động của điện tử p
(l)
và lỗ trống (+).
Một điện tử chiếm cứ một vân đạo pz (có dạng
h́nh số 8) [11].
6. Lời kết
Ở đầu thập niên 60 của thế
kỷ trước, khi các nhà hóa học Úc t́nh cờ tổng hợp một hỗn hợp chứa
PPy và "chất tạp" iodine, họ không biết rằng họ đă tạo ra một
polymer dẫn điện đầu tiên. Ám ảnh của sự chuyển vị các điện tử
p
trong nhân benzene đă khiến họ dồn sức vào việc tinh chế polymer
mang nối liên hợp bằng cách loại trừ iodine với niềm hy vọng tạo ra
những "sợi dây" dẫn điện cực kỳ nhỏ và dài ở thang phân tử. Nhưng
càng tinh chế th́ polymer mang nối liên hợp càng mất đi tính dẫn
điện v́ mất đi "chất tạp" dopant. Khái niệm dopant tạo ra sự dẫn
điện không ngự trị trong đầu óc của các nhà hoá học đương thời và có
lẽ họ cũng không biết đến sự hiện hữu của chuyển hoá Peierls. Tiếc
thay, họ bỏ lửng công việc! Các nhà nghiên cứu Úc đă bỏ mất một cơ
hội ngàn vàng để tạo ra một cuộc cách mạng khoa học.
Phải đợi hơn 10 năm sau khái
niệm dopant trong chất bán dẫn mới được MacDiarmid, Heeger,
Shirakawa áp dụng một cách linh hoạt vào polymer mang nối liên hợp,
tạo ra một vật liệu và một khái niệm mới về cơ chế dẫn điện, trong
đó polaron và bipolaron được xác nhận là nguyên nhân của sự dẫn điện
trong polymer. Sự phát hiện thú vị nầy châm ng̣i cho sự bùng nổ
trong các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Cho đến ngày hôm nay đúng
30 năm sau, các đề tài về polymer mang nối liên hợp nói chung,
polymer dẫn điện nói riêng, vẫn c̣n là những đề tài nóng bỏng của
các nhà khoa học trên toàn thế giới.
Trên phương diện nghiên cứu
cơ bản, polymer dẫn điện là một phương tiện để thấu triệt hóa học và
vật lư của polymer mang nối liên hợp. Polymer dẫn điện cũng mang đến
các nhà vật lư một cơ hội để giải thích những vấn đề cơ bản trong
vật lư chất rắn như sự chuyển hóa giữa kim loại và vật cách điện
(metal-insulator transition) và sự bất ổn định Peierls (Peierls
instability). Trên phương diện áp dụng và vật liệu học, polymer dẫn
điện cho những đặc tính điện học và quang học của một chất bán dẫn,
nhưng vẫn giữ đặc tính cố hữu và hấp dẫn của một polymer về cơ
tính, chế biến và gia công. Ngoài ra, khả năng chuyển hoán từ trạng
thái cách điện sang dẫn điện và ngược lại, và khả năng hấp thụ năng
lượng ở dải sóng điện từ gồm tia hồng ngoại, ánh sáng thấy được và
tia tử ngoại đă cho thấy những tiềm năng áp dụng phong phú của loại
vật liệu nầy.
TVT
1 August 2007
Ghi chú và Tài liệu tham
khảo
1. Xem thêm các sách giáo khoa
hóa học về vân đạo và vân đạo tạp chủng. Ở quỉ đạo ngoài cùng của
nguyên tố carbon có 1 vân đạo s và 3 vân đạo p (px, py
và pz). Khi sự tạp chủng xảy ra giữa s và px,
py, pz, ta có 4 vân đạo tạp chủng sp3.
Khi s chỉ tạp chủng với 2 vân đạo p, ta chỉ có 3 vân đạo tạp chủng
sp2; vân đạo c̣n lại (ví dụ: pz) không bị tạp
chủng. Khi 2 nguyên tố carbon tiếp cận, vân đạo pz của
carbon 1 sẽ kết hợp vân đạo pz của carbon 2 tạo ra kết
hợp p.
2. eV = electron volt, đơn vị
năng lượng. 1 eV= 1,602 x 10-19 Joule.
3.
http://vietsciences.free.fr/inventions/polymercachdienvapolymerdandien.htm
4. Nếu n = 1000 đơn vị, số
mole I2 cần thiết để kết hợp với 1 mole [CH]1000
là 3/2 x 1000 x 1/5 = 300 mole.
5. Xin lưu ư kư hiệu nầy không
phải là kư hiệu biểu thị cân bằng hóa học (chemical equilibrium).
6. Thật ra đây là một lỗ trống
(hole) để lại sau khi điện tử di động đến một nơi khác. Lỗ trống nầy
có thể xem như "hạt" mang điện tích dương sẵn sàng nhận một điện tử
khác đến chiếm cứ.
7. Trong hóa học hữu cơ, điện
tử đơn lẻ (unpaired electron) được gọi là gốc tự do (free
radical).
8. Nguồn: M. F. Rubner,
"Conjugated polymeric conductor".
9. J. L. Brédas, J. C. Scott,
K. Yakushi and G. B. Street, Phys. Rev. B 30 (1984) 1023.
10. Ta có thể chuyển hoán năng
lượng bức xạ, E, với độ dài sóng (wavelength),
l,
qua nhưng liên hệ như sau. Năng lượng bức xạ, E, của sóng điện từ có
tần số n
là,
E = hn
h là hằng số
Planck.
Tần số, n,
và độ dài sóng,
l, của
sóng điện từ liên hệ qua công thức,
c =
ln
c là vận tốc ánh
sáng. Như vậy,
E = hc/l
E(eV) = 1240/l
(nm)
Đơn vị E là eV,
l
là nm (nanometer), h = 6,6256 x 10-27 erg.s; 1 eV = 1,602
x 10-12 erg, c = 300.000 km/s.
11. Nguồn: Yoshino Katsumi,
"Dodensei Kobunshi no Hanashi" (tiếng Nhật) (Câu chuyện về cao phân
tử dẫn điện), 2001, Nikkan Kogyo Shimbun Pub., Tokyo.
(*) Anh Trương Văn Tân sinh quán tại tỉnh Sa Đéc,
cựu học sinh trường trung học Sa Đéc và Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long).
Anh Tân đến Nhật cuối năm 1969. Anh tốt nghiệp Bachelor Eng.
(1975), Master Eng. (1977) trường Tokodai (Tokyo Institute of
Technology) và PhD (1980, University of Adelaide, Úc).
Anh Tân hiện làm việc tại Viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Pḥng (Defence
Science and Technology Organisation) trực thuộc Chính Phủ Liên Bang
Úc. Anh chuyên về Vật Liệu Học và hiện nghiên cứu về polymers dẫn
điện và ống nano carbon. Anh đă công bố gần 70 bài báo cáo khoa học
trên các tạp chí khoa học quốc tế. Xem thêm
những bài viết của anh Trương Văn Tân trên
ERCT
|
|