|

Đọc
"God & the New Physics" của Paul Davies
Trương Văn Tân
Ở lúc
khởi đầu, Thượng Đế sáng tạo ra trời đất.
(Kinh
Sáng thế)
Nhưng
không ai ở đó chứng kiến sự kiện.
(Steven
Weinberg, Nobel Vật lư, 1979)

Mở đầu
Lịch sử khoa học công nhận rằng Galileo Galilei đă khai sáng ra khoa
học hiện đại 400 năm trước. Những công tŕnh của Galileo Galilei và
sau đó là Isaac Newton và các khoa học gia đương thời ở thế kỷ 17 đă
thiết lập nên nền tảng cho phương pháp khoa học để khảo sát có hệ
thống về vật chất, lực và chuyển động. Đó là cuộc cách mạng khoa học
lần thứ nhất. Cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai diễn ra vào đầu
thế kỷ 20 từ việc phát hiện ra thuyết lượng tử (cơ học lượng tử) và
thuyết tương đối, tạo nên hai cột trụ của "tân vật lư". Chưa bao giờ
trong lịch sử khoa học xuất hiện một loạt thiên tài như ở đầu thế kỷ
20, đó là Max Planck, Erwin Schrödinger, Werner Heisenberg, Niels
Bohr, Albert Einstein, Louis de Broglie, những người h́nh thành nên
thuyết lượng tử. Mặt khác, Einstein là người sáng tạo ra thuyết
tương đối, một hệ thống khoa học bàn về không gian, thời gian và
chuyển động ở vận tốc cao gần vận tốc ánh sáng (300.000 km/s).
Einstein đă thống nhất không gian và thời gian thành không thời gian
(spacetime) có 4 chiều, 3 chiều cho không gian và 1 chiều cho thời
gian. Sự co giăn của thời gian và không gian xuất hiện khi vận tốc
tiến gần vận tốc ánh sáng. Trong thuyết tương đối, mọi thực thể đều
tương đối, chỉ có vận tốc ánh sáng 300.000 km/s là tuyệt đối. Chúng
ta sống trong thế giới của Newton nơi mà vận tốc chuyển động con
người có thể đạt tới nhiều lắm là 8 km/s của con tàu vũ trụ, nhưng
vẫn quá chậm để nhận thấy sự co giăn của thời gian. Thuyết tương đối
cho thấy rằng khi ta di chuyển gần đến vận tốc ánh sáng th́ thời
gian chậm lại. Một ví dụ thường được nhắc đến để h́nh dung thời gian
co giăn là chuyện hai anh em sinh đôi, người anh ở lại quả đất c̣n
người em du hành không gian bằng chiếc tàu vũ trụ được phóng đi ở
vận tốc gần vận tốc ánh sáng. Nhiều năm sau, người em trở lại quả
đất, người anh đă già lụm khụm nhưng người em vẫn ở tuổi thanh xuân.
Câu chuyện nghe như huyền thoại Lưu Nguyễn lạc thiên thai hay
Urashima Taro được rùa chở xuống Long Cung. Các ông ch́m đắm vui
chơi với các nàng tiên nữ, long nữ đến khi trở lại trần thế th́ trăm
năm đă lặng lẽ trôi qua.
Paul Davies là giáo sư vật lư lư thuyết giảng dạy tại nhiều trường
đại học ở Mỹ, Anh và Úc. Ông là một giáo sư đa tài và uyên bác. Chỉ
trong khoảng thời gian 45 năm (1974 – 2021) ông đă viết 30 quyển
sách vật lư đại chúng, phần lớn về vật lư vũ trụ và nguồn gốc của sự
sống. Trung b́nh mỗi 18 tháng, ông cho ra đời một quyển sách. Ở tuổi
37 tác giả Davies viết quyển "God and the new physics" (Thượng
Đế và tân vật lư) [1]. Tác giả xác nhận quyển sách không phải là
sách tôn giáo cũng không phải sách khoa học mà là sách nói về khoa
học ở một ư nghĩa rộng hơn. Tác giả không đề cập những khái niệm về
Phật giáo hay tư tưởng triết học phương Đông. Nói cách khác, tác giả
muốn nối kết khoa học và tôn giáo mà tôn giáo ở đây là Ki-tô giáo.
Ông tuyên bố cố gắng loại trừ những ư kiến cá nhân của ḿnh nhưng dù
không nói thẳng, một tiền đề quan trọng trong quyển sách mà tác giả
muốn người đọc ngầm hiểu là tác giả mặc nhận sự hiện hữu của Thượng
Đế (God).
Quyển sách này là một tổng hợp về thiên văn học, vật lư cổ điển, vật
lư lượng tử, thuyết tương đối, tâm lư học và thần học... mô tả sự
hiện hữu của vũ trụ, việc xuất hiện sự sống trên quả đất, về không
gian, thời gian; những thực thể mà theo tín điều tôn giáo là do
Thượng Đế đă sáng tạo.
Tôi mua quyển sách này hơn 15 năm trước. Đọc lần đầu không hiểu rơ
nội dung, tôi gấp lại để quyển sách ở một góc của kệ sách. Gần đây
đọc lại và phải đọc vài lần cho thấm nhuần hành tŕnh tư tưởng của
tác giả và viết lại cảm nghĩ chia sẻ cùng người đọc.
Thượng Đế đă tạo ra Vũ trụ?
Tác giả Davies mang tới người đọc hai kịch bản. Có phải vũ trụ của
chúng ta được thành h́nh trong một t́nh huống rất đặc biệt, được
thiết kế cẩn thận và ở một thời điểm được định trước sự sống xuất
hiện mà đỉnh cao là con người có linh hồn sinh sôi nẩy nở để nh́n
vào vũ trụ trong sự thán phục sâu xa? Hay là chúng ta sống trong một
sự kiện bất ngờ vô nghĩa và kỳ quái từ vụ nổ lớn khai sinh ra vũ trụ
do một việc hoàn toàn ngẫu nhiên (trang 177)? Quả thật, từ ngàn xưa
con người đă đặt ra hai câu hỏi lớn, "Vũ trụ từ đâu tới?" và
tại sao có sự sống trên quả đất, "Sự sống là ǵ?". Ngày nay,
công việc của các nhà thiên văn học không có ǵ cấp bách hơn việc
truy t́m câu trả lời về sự có mặt của vũ trụ. Tác giả Davies đă chọn
kịch bản nào?
Từ khi tôn giáo xuất hiện, hơn 2000 năm qua sự phát triển của xă hội
phương Tây bao gồm nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan và
trật tự xă hội được đặt trên nền tảng của những tín điều Ki-tô giáo.
Thượng Đế toàn năng có một tri thức vô hạn sáng tạo ra muôn loài,
mọi vật chất trong vũ trụ, không gian, thời gian, linh hồn và tri
thức con người. Tôn giáo đ̣i hỏi hăy tin vào những điều đó, vô điều
kiện. Nhưng thái độ của người làm khoa học là cẩn trọng, nghi ngờ và
chỉ chấp nhận một hiện tượng là sự thật bằng sự quan sát khách quan
và thực nghiệm rồi từ đó thiết lập thành những quy luật. Trên cơ bản
đó, khoa học hiện đại bắt nguồn từ 400 năm trước xuất phát từ sự
hiếu kỳ và nhu cầu t́m hiểu của con người đă dần dần có ảnh hưởng
lan rộng vào xă hội loài người nhưng không ở mặt ư thức tâm linh mà
trên b́nh diện của những ứng dụng công nghệ phục vụ cuộc sống thực
tế.
Khoa học và tôn giáo đại diện cho hai luồng tư tưởng lớn của tư duy
con người. Tôn giáo dựa trên giáo điều của quá khứ nên khó thích
nghi với những chuyển biến của xă hội đương đại. Khoa học dựa trên
quy luật khoa học và những quy luật đó không phải là giáo điều cứng
nhắc mà theo ḍng thời gian được điều chỉnh qua sự thay đổi hay bổ
túc bằng quan sát và thực nghiệm. Hai luồng tư tưởng và hai phương
pháp luận khác nhau, đương nhiên cũng có lúc đối đầu gay gắt qua
những cuộc tranh luận giữa hai phe; phe sáng thế hữu thần
(creationism) và phe tiến hóa vô thần (evolutionism). Tác giả Davies
có một lựa chọn khác; một lựa chọn độc đáo nhưng khác thường bằng sự
mặc nhận Thượng Đế. Ông cho rằng khoa học có thể cống hiến một con
đường vững chắc hơn tôn giáo trong việc t́m kiếm sự hiện hữu của
Thượng Đế. Đây là lư do ông viết quyển sách. Chúng ta hăy t́m hiểu
xem tác giả Davies có thể thuyết phục người đọc, nhất là những người
đọc "vô thần", đến chừng mực nào?
Kinh Sáng thế cho rằng:"Ở lúc khởi đầu, Thượng Đế sáng tạo ra
trời đất". Nhưng không ai ở đó chứng kiến sự kiện! Tuy nhiên,
khi thuyết Big Bang được đa số khoa học gia công nhận là nguyên nhân
khai sinh ra vũ trụ th́ một tờ báo nổi tiếng chạy ḍng tít giật gân
"Các nhà thiên văn học đă t́m thấy Thượng Đế". Vũ trụ và vạn
vật là kết quả của một vụ nổ khổng lồ (Big Bang) từ một điểm vật
chất vô cùng nhỏ, cực nóng và cực đặc. Thật sự, các nhà thiên văn và
vũ trụ học đều phải công nhận đây là sự "sáng thế" (creation) cách
đây 18 tỷ năm trong đó hàng trăm tỷ thiên hà đă thành h́nh. Dăy Ngân
Hà là một trong những thiên hà trong đó có sự hiện diện mặt trời của
chúng ta với tuổi đời 5 tỷ năm và quả đất 4,5 tỷ năm. Có phải Thượng
Đế là nguyên nhân của cuộc sáng thế này?
Theo tính toán, vũ trụ từ một điểm cực nhỏ có kích thước một phần
triệu tỉ tỉ (10-24) cm, sau vụ nổ khổng lồ vũ trụ bành
trướng và sự bành trướng vẫn c̣n tiếp tục đến ngày nay. Cũng từ
những phép tính và kết quả thực nghiệm các nhà vật lư học đă suy
đoán rằng một giây sau vụ nổ vũ trụ nóng 10 tỷ độ; một sức nóng kinh
hồn. Cứ mỗi lần thể tích của vũ trụ ph́nh ra gấp đôi th́ nhiệt đô hạ
xuống một nửa (trang 21). Vũ trụ tiếp tục giăn nở. Đến một tỷ năm
sau Big Bang, nhiệt độ trong vũ trụ chỉ c̣n 20 K (độ Kelvin hay là
-253 °C) và ngày nay 2,7 K (-270 °C) với đường kính vũ trụ là 93 tỷ
năm ánh sáng (khoảng 9,3 x1025 m). Như vậy, từ lúc khởi
đầu, vũ trụ đă tàng trữ một năng lượng khổng lồ ở dạng nhiệt lượng.
Big Bang đă làm hài ḷng các nhà thần học v́ nó là một bằng cớ hùng
hồn về "sáng thế" như Kinh Thánh đă tiên đoán từ nhiều ngàn năm
trước. Nhưng ai đă tạo ra ở thời điểm khởi đầu một điểm cực nhỏ, cực
đặc mang môt nhiệt lượng vĩ đại? Tác giả Davies cho rằng đây là hiện
tượng siêu nhiên (supernatural); hiện tượng chưa giải thích được
bằng khoa học. Nhưng cũng có thể tác giả sử dụng cụm từ "siêu nhiên"
để ám chỉ Thượng Đế. Vũ trụ bành trướng cho đến ngày nay từ những
nguyên tử đơn giản h́nh thành một cách trật tự 350 tỷ thiên hà có
những cấu trúc vô cùng phức tạp.
Con người hiện đại đă khám phá bí ẩn của vũ trụ qua những quy luật
bằng phương tŕnh toán học. Những bí ẩn đă sẵn đó từ 18 tỷ năm, con
người chỉ làm công việc khám phá. Tại sao mọi vật được sắp xếp như
chúng đă được sắp xếp? Tại sao phải là vũ trụ này tồn tại như thế mà
không khác đi? Tại sao phải là những định luật này? Tại sao lại có
những cách bố trí hài ḥa cho vật chất và năng lượng trong toàn thể
vũ trụ? Một căn nhà đẹp được vẽ bởi kiến trúc sư tài ba và xây nên
từ vật liệu bởi những người thợ giỏi. Nó không thể bỗng nhiên xuất
hiện như huyền thoại của đèn thần Alladin. Vậy, ai là người xây nên
"căn nhà" vũ trụ hoàn hảo trong đó có những hoạt động hài ḥa giữa
các thiên hà và giữa các hành tinh? Trong một chuỗi sự kiện, nhân sẽ
sinh ra quả. Tác giả đă cho ra một mô h́nh diễn tả như sau: ….
à
E4
à
E3
à
E2
à
E1 (trang 45). Kết quả E1 là từ nguyên nhân E2; E2 là quả của E3 và
cứ thế đi ngược về quá khứ th́ cái nguyên nhân ban đầu là G (God); G
….
à
E4
à
E3
à
E2
à
E1. Theo các nhà thần học th́ Thượng Đế (G) không cần có nguyên nhân,
v́ Thượng Đế là thực thể cần thiết, không cần diễn giải lư do v́ bản
thể Thượng Để đă giải nghĩa sự hiện hữu của ḿnh. Như vậy, cách hiểu
này cũng có thể sử dụng để giải thích sự hiện hữu của vũ trụ rằng vũ
trụ là thực thể cần thiết; bản thể của vũ trụ là lư do cho sự hiện
hữu của nó nên không cần nguyên nhân (trang 47). Thượng Đế là vũ trụ.
Người đọc sẽ rối rắm không hiểu rơ ư nghĩa "triết học" trong lời
phán của các nhà thần học v́ nó duy ư chí không lô-gíc nên khó ḥa
đồng với tư duy khoa học.
"Có phải Thượng Đế đă tạo ra vũ trụ?"
là tựa đề của Chương 3 và cũng là một câu hỏi đầy thách thức. Thượng
Đế toàn năng đă tạo những vật liệu vũ trụ (cosmic materials) từ con
số không và vật liệu đó tạo thành 350 tỷ thiên hà (trang 26). Thượng
Đế như một nhà ảo thuật biến từ "không" đến "có". Trong những cuộc
đàm thoại thường nhật tiếng Anh chúng ta thường nghe câu "there
is no such a thing as free lunch" (không buổi cơm trưa nào miễn
phí cả). Nhưng niềm tin tôn giáo cho rằng Thượng Đế đă cho nhiều bữa
cơm trưa miễn phí. Tác giả Davies nghĩ sao? Ông dùng công thức nổi
tiếng của Einstein, E = mc2, để biện luận quan
điểm "miễn phí" của ḿnh. Trong công thức Einstein, E là năng
lượng; m là khối lượng của vật chất và c là vận tốc
ánh sáng (300.000 km/s). Công thức của Einstein là một phương tŕnh
toán cô đọng chỉ ra sự tương quan giữa năng lượng và khối lượng;
khối lượng cũng là năng lượng. Mọi vật tiềm tàng chứa năng lượng ở
dạng khối lượng. Khi khối lượng bằng một cách nào đó, như phản ứng
hạt nhân chẳng hạn, bị phá hủy th́ năng lượng được phóng thích. Đó
là nguyên lư bom nguyên tử. Ngược lại, năng lượng (chẳng hạn năng
lượng cao của tia gamma) cũng được sử dụng để tạo ra khối lượng dưới
dạng vật chất (trang 27). Điều này đă được nh́n thấy trong pḥng thí
nghiệm. Theo thuyết Big Bang, như đă nói bên trên ở lúc khởi đầu vũ
trụ đă mang một năng lượng khổng lồ dưới dạng nhiệt. Vũ trụ cực nóng
đă tạo nên một môi trường như thứ "súp" đầy hạt cơ bản như proton,
neutron, electron thúc đẩy những phản ứng hạt nhân tạo ra nguyên tử
hydro và hydro kết hợp thành helium. Không ǵ ngạc nhiên khi hai
nguyên tố đơn giản nhất chiếm 99% vật chất của vũ trụ (trang 21).
Tác giả Davies đi thêm một bước cho rằng "năng lượng" là khái niệm
chung chung. Năng lượng là ǵ? Nó có nhiều dạng: nhiệt năng, động
năng, cơ năng, thế năng… Trong pḥng thí nghiệm vi hạt (hạt vật chất
cực nhỏ), người ta tạo điều kiện cho hai vi hạt đụng nhau ở một tốc
độ lớn, như hai chiếc xe tông nhau, cho ra bốn hạt, hai hạt cũ và
hai hạt mới. Ông cho rằng việc xuất hiện hai hạt mới bởi động năng
va chạm gần giống như việc "sáng thế" từ cái không có (trang 31).
Trong nỗ lực t́m bằng chứng khoa học cho cái cơ chế "vũ trụ có
tất cả mọi thứ từ cái không có", tác giả nghĩ ra t́nh huống tạo
ra vật chất từ trạng thái năng lượng zero. Theo ông, năng lượng có
âm và dương. Động năng, năng lượng ở dạng khối lượng là năng lượng
dương nhưng năng lượng sinh ra từ sự hấp dẫn (hút vào nhau) bởi
trọng trường (quả táo Newton) hay điện từ trường (nam châm hút nhau)
là năng lượng âm. Ông giải thích t́nh huống của một phản ứng hạt
nhân tạo ra vật chất trong đó có luồng năng lượng dương và âm xuất
hiện, hai luồng năng lượng này giao thoa nhau cho ra con số zero. Để
tạo thêm sức nặng cho biện luận "có tất cả từ cái không có" của ḿnh,
tác giả cho rằng có một số nhà khoa học đă tính được việc vận hành
của vũ trụ chỉ cần năng lượng zero, nghĩa là không có năng lượng.
Như thế, vũ trụ xuất hiện theo con đường nhẹ nhàng nhất, xuôi chèo
mát mái mà không cần "xăng dầu" (trang 32). Nhưng, một người không
đồng xu dính túi khác với người có tài khoản 100.000 đô la nhưng nợ
ngân hàng 100.000 đô la. V́ vậy, đây là lập luận vô cùng mâu thuẫn
nếu chúng ta đă chấp nhận thuyết Big Bang. Chúng ta có vũ trụ cực
nhỏ, cực nóng chứa một lượng nhiệt năng khổng lồ từ thuở ban đầu,
hay là một vũ trụ không năng lượng? Chúng ta không thể có cả hai.
Tác giả không có câu trả lời dứt khoát cho tựa đề của Chương 3. Ông
cho rằng khi đề cập câu hỏi có hay không có nguyên nhân của sáng thế
th́ câu trả lời sẽ là "có". Các nhà thần học khẳng định nguyên nhân
đầu tiên chính là Thượng Đế trong chuỗi nhân quả; nhưng tác giả
Davies ngập ngừng bảo đó có thể không phải là Thượng Đế (trang 40).
Ở Chương 8 khi đề cập đến yếu tố lượng tử, ông đặt lại câu hỏi là
"Có chăng mỗi sự kiện phải có nguyên nhân phát sinh?" (trang
102). Nhưng thuyết lượng tử đă phá vỡ chuỗi nhân quả chứng minh rằng
sự kiện phát sinh mà không cần nguyên nhân. Tác giả Davies đă nh́n
Thượng Đế như thế nào qua lăng kính thuyết lượng tử?
Khác với cơ học cổ điển Newton mà đối tượng là những vật to như quả
bóng, viên bi, thuyết lượng tử xoay quanh sự khảo sát đặc tính của
vi hạt như phân tử, nguyên tử, electron, proton, neutron... Trong
thế giới của vi hạt, những hiện tượng kỳ lạ xuất hiện. Chẳng hạn, vi
hạt có bản chất lưỡng tính, vừa là sóng vừa là hạt. Một đặc tính
khác là vi hạt có thể ở nhiều chỗ khác nhau cùng lúc. Điều này kỳ
quái, nếu vi hạt là một "vật" như viên bi, th́: 2 giờ sau khi được
bắn với vận tốc 100 km/h, chúng ta có thể t́m thấy nó bay đến một
nơi cách chỗ bắn 200 km. Chúng ta biết rơ vị trí và cách di động (vận
tốc) cùng lúc theo sự suy nghiệm b́nh thường. Nhưng thuyết lượng tử
phủ nhận điều này. Vi hạt không có biểu hiện như viên bi mà nó có
thể ở khắp nơi với những xác suất khác nhau. Đây là "Nguyên lư bất
định" (Uncertainty Principle) của Heisenberg được biểu hiện bởi một
phương tŕnh ngắn gọn được tôn vinh như là cột trụ vĩ đại của lâu
đài cơ học lượng tử. "Bất định" là yếu tố cơ bản của thuyết lượng tử.
Hệ quả của "bất định" là "không tiên đoán" được. Như đề cập bên trên
về liên hệ nhân quả, khi có một sự kiện xảy ra th́ phải có nguyên
nhân phát sinh. Theo tác giả Davies, thuyết lượng tử làm sụp đổ
chuỗi liên hệ nhân quả và hiệu ứng "bất định" cho thấy một sự kiện
có thể xảy ra mà không cần nguyên nhân như vi hạt có thể vô tư xuất
hiện như "từ trên trời rớt xuống". Trên luận điểm này, tôi không rơ
tác giả lựa chọn trường hợp nào, (1) Thượng Đế xuất hiện mà không
cần nguyên nhân hay là (2) vũ trụ tự phát mà không cần nguyên nhân
theo cơ chế của thuyết lượng tử hay là (3) vũ trụ chính là Thượng Đế.
Nếu là (1) th́ tác giả đồng ư với các nhà thần học. Nếu là (2) th́
tác giả đồng ư quan điểm của đa số của các nhà khoa học là không cần
sự hiện hữu của Thượng Đế. Nếu là (3) th́ lựa chọn này phảng phất
chủ nghĩa đa thần.
Sự kỳ diệu của vũ trụ không phải chỉ ở điểm khởi đầu. Sau vụ nổ lớn,
vũ trụ xuất hiện và lập tức giăn nở. Những hạt giống của các thiên
hà tương lai bắn ra xa như đàn ong vỡ tổ với một tốc độ kinh hồn.
Khi vụ nổ đạt đến 10-32 giây (1 trên 1032 giây
(32 số 0 sau số 1)), dù ở thời gian cực ngắn vũ trụ đă đạt đến kích
thước 1023 m. Trong quá tŕnh giăn nở trọng trường của
vật chất trong vũ trụ xử sự như cái phanh kéo lại với nhau (quả táo
Newton rơi xuống mặt đất là do trọng trường (gravity) quả đất hút
quả táo như nam châm hút nhau) làm giảm tốc vụ nổ. Nói cách khác,
trong sự giăn nở của vũ trụ có sự cân bằng cực kỳ chính xác giữa
trọng lực và lực nổ của Big Bang ở điều kiện ban đầu. Nếu lực nổ yếu
hơn một chút, trọng lực của vật chất sẽ kéo chúng vào nhau tạo thành
những lỗ đen (black holes). Nếu lực nổ mạnh hơn trọng lực một chút,
vũ trụ chỉ là những đám mây khí hydro không bao giờ tạo ra vật chất
và hành tinh để kết tụ thành thiên hà. Hai kịch bản này không sinh
ra vũ trụ, chúng ta sẽ không có thiên hà, không có thái dương hệ,
quả đất, và tất nhiên không có sinh thực vật và con người. "Một chút"
là bao nhiêu? Các nhà khoa học đă tính ra con số cho "một chút" là 1
trên 1060 (60 con số 0 sau số 1) (trang 179). Nghĩa là,
nếu lực nổ Big Bang ở lúc khởi đầu chệch hơn 1 phần trên 1060
th́ một vũ trụ đồng nhất, hài ḥa mà chúng ta đang có không bao giờ
xuất hiện. Một độ chính xác vượt ra ngoài sự tưởng tượng không có
trong thế giới loài người. Nó giống như có người bắn một viên đạn
trúng vào mục tiêu có diện tích 5 cm2 ở cách xa 20 tỷ năm
ánh sáng! Tên lửa liên lục địa của con người bắn xa khoảng 15.000 km
chỉ có độ chính xác trong phạm vi với bán kính vài trăm mét; độ
chệch này quá tệ khi so với 1 trên 1060 (1/1060).
Con số 1/1060 cũng nói lên trong 1060 trường
hợp th́ chỉ có 1 trường hợp để vũ trụ xuất hiện toàn vẹn như ta đang
có. Xác suất này rất rất nhỏ so với việc trúng lô độc đắc xổ số (nếu
là tấm vé 9 con số th́ xác suất trúng độc đắc chỉ là 1 phần tỷ, 1/109).
V́ sao vũ trụ lại có thể tự điều chỉnh một cách chính xác như vậy?
Chưa có câu trả lời.
Hệ quả của độ chính xác kỳ diệu này là sự h́nh thành của vũ trụ được
biểu hiện qua 15 hằng số. Một hằng số điển h́nh là vận tốc ánh sáng
(300.000 km/s), sau đó là hằng số vạn vật hấp dẫn Newton, G (6,67 x
10-11 Nm2/kg2), hằng số Planck,
h (6,625 x 10-34 Js), khối lượng của electron (9,1091
x 10-31 kg), của proton, điện tích electron, v.v... Đây
là những hằng số bất biến đối với thời gian và không gian. Nếu có
người ngoài hành tinh sống ở một thiên hà khác họ cũng sẽ đo được
những hằng số này. Nguyên tử hydrô trên quả địa cầu cũng giống như
hydrô ở hành tinh xa xôi nào đó trong vũ trụ. Khối lượng của proton
nặng gấp 1836 lần khối lượng electron (trang 187). Toàn thể vũ trụ
đồng nhất không hỗn loạn mà là một cấu trúc có trật tự tuyệt đối là
từ những con số kỳ diệu này. Tại sao lại là những con số này mà
không phải là con số khác? Sự kỳ diệu liên tiếp xảy ra từ lúc vũ trụ
được "sáng thế" từ cái không có đến một vũ trụ có tất cả mọi thứ bao
gồm vật chất, thời gian và không gian.
Câu trả lời dễ dàng nhất là do bàn tay của Thượng Đế. Nhưng đa số
các nhà khoa học không muốn có những câu trả lời dễ dàng. Sự "sáng
thế" của vũ trụ hay Big Bang có thể chỉ là một sự kiện của chuỗi sự
kiện vô thủy vô chung. Vụ nổ lớn (Big Bang) sẽ tiến đến vụ sụp đổ
lớn (Big Crunch) trong đó vũ trụ thu nhỏ chuẩn bị cho một vụ nổ lớn
kế tiếp. Ngoài ra một số nhà khoa học trong đó có Brian Cox và
Michio Kaku nói đến khả năng hiện hữu của đa vũ trụ trong đó có vũ
trụ của chúng ta. Như vậy, sẽ có nhiều Thượng Đế, một cho mỗi vũ trụ.
Điều này không thể chấp nhận trong tín điều Ki-tô giáo. Chúng ta lọt
vào chủ nghĩa đa thần. Theo Micho Kaku, khi hai vũ trụ gặp nhau
chúng kết hợp thành một vũ trụ to hơn như hai quả bong bóng kết hợp
vào nhau. Khi một vũ trụ tách ra làm hai th́ sẽ có vụ nổ lớn Big
Bang. Hai giả thuyết này cho thấy không có điểm khởi đầu và tự động
phủ nhận sự "sáng thế" do bàn tay Thượng Đế. Chuỗi nhân quả, G ….
à
E4
à
E3
à
E2
à
E1, dừng lại ở điểm G (God) trở nên vô nghĩa.
Khi nói về thuyết đa vũ trụ, tác giả Davies cho rằng niềm tin vào đa
vũ trụ cũng như niềm tin vào Thượng Đế. Ông đưa ra một t́nh huống "siêu
thực" và khuyên rằng nếu chúng ta chưa đặt chân (visit) tới những vũ
trụ khác th́ thay v́ gởi niềm tin vào thuyết đa vũ trụ th́ tốt hơn
hăy tin vào Thượng Đế. Trong tương lai khoa học có thể cho thấy bằng
chứng của đa vũ trụ. Nhưng từ bây giờ cho đến lúc đó, chúng ta hăy
xem những hằng số mầu nhiệm trên là chứng cớ rơ rằng nhất của sự
thành h́nh vũ trụ bởi sự thiết kế có chủ ư không phải do một ngẫu
nhiên (trang 189). Tác giả từng cảnh giác về khái niệm "Thượng Đế
của những khoảng hở" (God of the gaps). Nghĩa là những hiện
tượng mà khoa học chưa giải thích được (khoảng hở) th́ Thượng Đế là
người sáng tạo như câu nói ngắn gọn dân dă "Trời sanh" của
người Nam Bộ. Tác giả cho đây là một thái độ tiêu cực v́ một khi ánh
sáng khoa học vươn tới th́ Thượng Đế sẽ biến mất. Nhưng lời khuyên
độc giả nên tin Thượng Đế hơn là thuyết đa vũ trụ chứng tỏ tác giả
không nhất quán. Tác giả vừa cảnh giác "Thượng Đế của những
khoảng hở" vừa vô tư vi phạm lời cảnh giác của ḿnh.
Thượng Đế đă tạo ra Sự sống?
"Sự sống là ǵ?"
là đề tài của "Chương 5" (trang 50). Đối với các nhà thần học, sự
sống là cực điểm của phép màu và sự sống của loài người là tuyệt
đỉnh của những thành quả trong kế hoạch tổng thể sáng tạo vũ trụ của
Thượng Đế. Sự sống xuất hiện trên quả đất không phải là một đề tài
mới. Thuyết tiến hóa của Darwin từng làm lung lay đến tận gốc của
học thuyết Ki-tô giáo. Darwin không đề cập đến nguyên nhân phát sinh
của sự sống mà chỉ nói đến tiến hóa của các loài qua sự chọn lọc tự
nhiên. Nhưng điều này cũng đủ để gây ra những tranh căi kịch liệt
giữa tôn giáo (Ki-tô giáo) và khoa học. Nhà vật lư học vĩ đại Erwin
Schrödinger vào năm 1944 đă xuất bản một quyển sách mỏng "What is
life?" mở ra một thời đại mới đem đề tài "sự sống" vào cái khung
khoa học trước cả sự phát hiện của phân tử di truyền (gene) DNA của
Rosalind Franklin, James D. Watson and Francis Crick. Sự sống của
vạn vật từ cây cỏ đến con người, theo Kinh Thánh, là kết quả từ
quyền lực siêu phàm của Thượng Đế. Nếu như vậy, tác giả Davies thắc
mắc có phải Thượng Đế đă vi phạm những định luật vật lư và hóa học
v́ thao tác những phân tử "trơ" (không có sự sống) và một cách thần
kỳ, hô biến chúng thành những vật sống đầu tiên? Có phải Thượng Đế
đă thao túng hệ thống di truyền của người vượn để biến chúng thành
người hiện đại? Trong một thời gian dài trước sự phát hiện của mă di
truyền tạo nên phân tử DNA, người ta tin rằng cần một "lực sống"
(life force) thổi phà vào một tập hợp nguyên tử "trơ" để biến thành
vật sống; tương tự như phim Hollywood "Frankenstein".
Những vật sống như sinh thực vật, cây cỏ, côn trùng, con người đều
có những nguyên tử như hydro, oxy, cacbon, phospho giống những vật
trơ quanh ta như đất, đá, khoáng chất v.v…. Nhưng
điều khác biệt lớn giữa vật sống và vật
trơ là vật sống có sự sắp xếp những nguyên tử thành cấu trúc phức
tạp giàu tính tổ chức với một trật tự nhất định. Cấu trúc
sinh học cho thấy một trật tự thứ bậc từ vi mô đến vĩ mô vô cùng
phong phú xuất phát từ nguyên tử, phân tử, bào quan (organelle), tế
bào, mô, cơ quan, sinh vật… Cách sắp xếp của các mă di truyền trong
phân tử DNA, có h́nh dạng chiếc thang xoắn biểu hiện tính phức tạp
và cách tổ chức ở tận mức phân tử là một đặc trưng khác của sự sống.
Hai đặc điểm, phức tạp và giàu tổ chức, khiến cho sinh vật sơ khai
như vi khuẩn đủ "thông minh" để hoạt động "hướng đích" và sống c̣n.
Con vi khuẩn COVID 19 đă làm điên đảo thế giới v́ nó tinh ranh biết
cách thao túng tế bào con người, đủ thông minh biến thể để chống lại
phân tử vác-xin.
Một vật sống, giống như chiếc máy tính, có phần mềm và phần cứng. "Phần
mềm" là mă di truyền và "phần cứng" là cơ thể. Những nguyên tử trơ
không cần phải thổi phà "lực sống" làm chúng "cọ quậy" thành vật
sống mà chúng có thể sắp xếp theo chiều hướng phức tạp thành những
mă di truyền làm "phần mềm" điều khiển mọi hoạt động hướng đích của
"phần cứng". Nhưng sự sắp xếp mang tính tổ chức có trật tự có thể
xảy ra trong một tập hợp hỗn loạn của nguyên tử phân tử hay chăng?
Hay nói cách khác, để có sự chuyển hoán từ "hỗn loạn" sang "trật tự"
tập hợp cần năng lượng, chẳng hạn từ năng lượng mặt trời hay năng
lượng từ thức ăn và ở trong điều kiện nhiệt động học thích hợp, tập
hợp nảy sinh đặc tính "tự tổ chức" (self-organizing). Ví dụ, dung
dịch muối ion natri và ion clo là một trạng thái hỗn loạn nhưng khi
ta cung cấp nhiệt làm nước bốc hơi th́ ion natri và ion clo tự sắp
xếp thành tinh thể. Tinh thể là một cấu trúc trật tự đơn giản. Phân
tử DNA cũng là một tập hợp "tự tổ chức" trong đó các mă di truyền
được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Nhưng tính "tự tổ chức" vẫn
chưa đủ. DNA cần chứa nhiều thông tin cho việc sản xuất các loại
protein nhằm duy tŕ sự tinh vi và phức tạp của tồn tại sống để đáp
ứng nhu cầu tự quản, sinh tồn và thích ứng. Mà để có một thông tin
nào đó, sự sắp xếp theo tŕnh tự của các mă di truyền phải là một
sắp xếp đặc thù độc nhất trong con số khổng lồ của hàng tỷ tỷ cách
sắp xếp. Nhưng ai đă định hướng cách sắp xếp cho DNA? Chưa biết. Tác
giả Davies băn khoăn phải chăng DNA là một vật thể của phép màu?[2]
Những nghiên cứu của các nhà khoa học hiện đại đă cho thấy sự sống
là một cơ cấu của tuyệt đỉnh trật tự và không có chứng cớ về sự hiện
hữu của "lực sống"; nó chỉ là sự tưởng tượng của con người. Nhưng
tại sao DNA có thể làm vật "trơ" trở thành vật biết "cọ quậy"? Cho
đến bây giờ nguồn gốc của sự sống chưa được lư giải hoàn toàn. Phải
chăng, tác giả Davies tự vấn, nghiên cứu về sự sống – về nguồn gốc
và cách vận hành của nó – quá đủ để chứng minh sự hiện hữu của
Thượng Đế? Nhưng ông chóng vánh trả lời rằng kiến thức giới hạn của
chúng ta về nguồn gốc của sự sống có thể dẫn đến nhiều cách lư giải
dựa vào thần linh và cuối cùng sẽ đưa đến khái niệm "Thượng Đế
của những khoảng hở". Thay vào đó ông đề nghị nên xem sự sống
không phải là một phép lạ (miracle) đơn lẻ, mà là một phần không thể
thiếu của vũ trụ nhiệm mầu. Ông mập mờ vừa duy vật vừa duy tâm, vừa
phủ nhận Thượng Đế ở câu trước lại chấp nhận ở câu sau (trang 70).
Khoa học và Tôn giáo
Trong một quyển sách dày không hơn 250 trang, tác giả Davies đă cung
cấp nhiều khái niệm trong vật lư, thuyết lượng tử, vũ trụ học, sinh
học, tâm lư học và trích dẫn nhiều câu nói của những khoa học gia
nổi tiếng. Nếu triển khai đầy đủ quyển sách có thể dày gấp ba lần.
V́ thông tin quá cô đọng nên quyển sách rất khó đọc thậm chí cho
những độc giả có tŕnh độ đại học và nhất định không phải là sách
cho độc giả không chuyên (layman) như ông mong muốn.
Văn phong của ông có nhiều chỗ tùy hứng, thậm chí mâu thuẫn. Thỉnh
thoảng ông biện luận như nhà triết học hơn là một nhà khoa học.
Trong cùng một chủ đề, ông trích dẫn nhiều nguồn từ nhiều tác giả có
ư kiến khác nhau khiến người đọc khó nắm bắt bản chất của vấn đề.
Chẳng hạn, ông trích dẫn nhị nguyên luận (dualism) nói đến phần hồn
và phần xác con người (trang 79). Linh hồn được định nghĩa là "nguồn
cội của những hoạt động tư duy" (trang 78). Chủ thuyết này cho rằng
tâm trí (linh hồn) là vật nhưng không phải hữu h́nh vật chất mà là
một loại hơi (aetherial) mong manh, thứ mà nó làm nên tư duy và mộng
mị (trang 79). Vậy hơi này nằm ở đâu? Nó không nằm trong năo bộ hay
một chỗ nào đó trong cơ thể, và cũng không có chỗ nào khác trong
không gian (trang 78). Tác giả Davies đề nghị có thể nào tân vật lư
với khái niệm không thời gian đa chiều là nơi trú ngụ của linh hồn?
Tôi không hiểu nhiều về tâm lư học và y học, nhưng khi đọc đến đoạn
này tôi hoang mang trước sự tùy hứng của tác giả ḥa lẫn tâm linh và
khoa học. Tại sao không nghĩ đơn giản hơn là những hoạt động của
linh hồn/tinh thần/tư duy phát sinh từ cơ chế phức tạp của năo bộ mà
đến nay khoa học (bao gồm cả y học) vẫn chưa có lời giải đáp toàn
diện.
Tác giả tự nhận rằng ông thuộc nhóm các nhà khoa học không theo tôn
giáo nào nhưng không chấp nhận sự khai sinh của vũ trụ là do sự ngẫu
nhiên, nghĩa là vũ trụ phải là kết quả của một thiết kế vĩ đại có
chủ ư. Đây là một nghịch lư trong tư duy của tác giả Davies. Qua
những công tŕnh khoa học của ḿnh, ông ngày càng tin tưởng mạnh mẽ
hơn rằng vũ trụ vật chất được phối hợp một cách đơn giản đáng kinh
ngạc đến mức ông không thể chấp nhận nó đơn thuần là sự thật (fact).
Nhưng khoa học dựa trên sự thật; khoa học không dựa vào niềm tin
(faith). Đối với ông, dường như phải có lời giải thích ở mức độ sâu
sắc hơn vượt ngoài những thông tin khoa học. Có lẽ, ông ám chỉ niềm
tin. V́ vậy, không ǵ ngạc nhiên khi đối diện trước những điều kỳ
diệu trong việc khai sinh của vũ trụ và sự sống của muôn loài trên
quả đất, những điều mà khoa học chưa giải thích được, tác giả không
chút ngần ngại cho đó là siêu nhiên, phép màu, hay là một thành quả
có chủ ư. Tóm lại, đó là Thượng Đế. Mặt khác, ông lại cảnh giác đừng
vội đeo đuổi "Thượng Đế của những khoảng hở" v́ một khi khoa
học có lời giải đáp th́ Thượng Đế phải dứt áo ra đi.
Cũng có lúc ông nghi ngờ tính toàn năng (omnipotent) và ḷng nhân từ
bác ái (benevolent) của Thượng Đế. Thượng Đế không ngăn được cái ác
trong đó có chiến tranh, chém giết, ngày xưa giết bằng giáo mác ngày
nay bằng bom nguyên tử; cho nên Thượng Đế không toàn năng. Nếu cái
ác là chủ ư của Thượng Đế để trừng phạt con người th́ Thượng Đế
không nhân từ. V́ vậy, Thượng Đế không thể vừa toàn năng vừa nhân từ
cùng lúc như tín điều tôn giáo thường đề cao (trang 143). Phần lớn
những nhà khoa học không tin và cũng có một số tin vào sự hiện hữu
của Thượng Đế, nhưng rất hiếm nhà khoa học như tác giả Davies đứng "chân
trong chân ngoài" ở lằn ranh phân cách giữa khoa học và thần linh.
Ông chấp nhận vụ nổ lớn Big Bang khai sinh ra vũ trụ là sự kiện có
tính "sáng thế" như đă ghi trong Kinh Thánh. Nhưng ông không mặn mà
với thuyết đa vũ trụ hay vũ trụ là một thực thể vô thủy vô chung
sinh sinh diệt diệt không có điểm khởi đầu, v́ hai giả thuyết này
không cần hoặc có quá nhiều Thượng Đế. Bàn tay Thượng Đế như là
nguyên nhân của việc khai sinh của vũ trụ từ vụ nổ lớn là từ cái "không
có" ra trạng thái có tất cả mọi thứ. Một cách gián tiếp ông cũng
chấp nhận thuyết lượng tử cho thấy một sự kiện có thể xảy ra mà
không cần nguyên nhân (trang 102). Khi đă có vũ trụ th́ theo tác giả
vật chất được sinh ra trong trạng thái năng lượng bằng zero do sự bù
trừ giữa năng lượng dương và năng lượng âm. Như vậy, chúng ta thừa
hưởng được một vũ trụ, thái dương hệ, quả đất mà không phải trả tiền
cho nhiều buổi cơm trưa miễn phí! Theo tôi, điều này vô lư trước
những quy luật khoa học. Dù quy luật khoa học chưa giải thích được
hết sự "kỳ diệu" của vũ trụ và sự sống, nhưng từ những công tŕnh
khoa học hàng trăm năm qua chúng ta biết rằng vũ trụ và sự sống chưa
bao giờ bất tuân những quy luật khoa học. Hạt giống vũ trụ là một
điểm cực nhỏ cực đặc và cực nóng. Cực đặc biểu hiện vật chất. Cực
nóng biểu hiện năng lượng. Vật chất và năng lượng từ đầu tới? Khoa
học chưa có lời giải đáp. Phải chăng vũ trụ có "tiền kiếp"? Có thể
vũ trụ đă hiện hữu từ thuở xa xưa và vẫn vậy. "Tiền kiếp" đă trải
qua quá tŕnh thu nhỏ "Big Crunch" trở thành hạt giống của vũ trụ
hiện tại và nhận được di sản đầy đủ vật chất và năng lượng. Năng
lượng của vũ trụ ở dạng nhiệt thành h́nh từ cái "không có" không thể
xảy ra. Theo định luật thứ nhất của nhiệt động học năng lượng không
tự sinh tự diệt mà chuyển hoán thành nhiều dạng khác nhau như nhiệt
năng, cơ năng, điện năng và khối lượng vật chất. (Ví dụ, pin của
chiếc xe hơi điện chuyển đổi hóa năng thành điện năng bằng các phản
ứng hóa học, điện năng biến thành cơ năng làm di chuyển 4 bánh xe;
xe chạy gây ra sự ma sát giữa bánh xe và mặt đường sinh ra nhiệt
năng). V́ năng lượng không thể tự sinh từ zero, vũ trụ không thể là
kết quả của những "buổi cơm trưa miễn phí" của Thượng Đế.
Ngoài việc Thượng Đế không thể vừa toàn năng vừa nhân từ bác ái, tác
giả Davies cũng cảm nhận được sự bất cập của Thượng Đế trong chuỗi
nhân quả G ….
à
E4
à
E3
à
E2
à
E1 trong đó G (Thượng Đế) là khởi đầu của chuỗi nhân quả, là nguyên
nhân của tất cả. Đối với các nhà thần học Thượng Đế xuất hiện không
cần nguyên nhân. Đó là một điều hiển nhiên không cần bằng cớ mà chỉ
cần niềm tin (faith). Niềm tin cũng c̣n được gọi một cách t́nh cảm
là ḷng tin hay trang trọng hơn là đức tin; một điều thiêng liêng
không ǵ thay thế được. Nhưng đối với nhà khoa học, sự thật khách
quan không cần niềm tin mà cần bằng cớ được thực nghiệm kiểm chứng.
Đó sự khác biệt lớn giữa tư duy khoa học và tôn giáo.
Thuyết tương đối của Einstein đă thống nhất không gian và thời gian
đưa ra khái niệm không thời gian. Nếu Thượng Đế tạo ra không gian
th́ cùng lúc phải tạo ra thời gian. Vậy, trước "sáng thế" của vũ trụ
th́ Thượng Đế đă có mặt nhưng Ngài đang ở đâu và thời điểm nào khi
chưa có không thời gian? Không cần phải vận dụng những quy luật khoa
học phức tạp mà chỉ cần sự thường thức để diễn giải th́ đây là một
bất cập chí mạng cho việc bảo vệ sự hiện hữu của Thượng Đế toàn năng.
Dù sự hiện hữu của Thượng Đế có mập mờ dưới ánh sáng của lô-gíc, tác
giả Davies đă viết ở cuối quyển sách (trang 229) ông tin khoa học là
con đường chắc chắn hơn tôn giáo trong việc t́m thấy Thượng Đế.
Quyển sách rất hữu ích đối với những nhà thần học cho việc trang bị
những kiến thức khoa học hiện đại để củng cố sự hiện hữu của một
Thượng Đế toàn năng. Tác giả Davies viết quyển sách này (xuất bản
năm 1983) lúc ông đang tiến lên điểm đỉnh của nghiên cứu khoa học và
nồng nhiệt nghĩ rằng quy luật khoa học có cùng nền tảng
như "niềm tin". Trong cùng một ư
tưởng ông đă viết "The mind of God" (Tư duy Thượng Đế, xuất
bản năm 1992). Để nh́n nhận công lao của ông mang đến tôn giáo chiếc
áo choàng khoa học, năm 1995 tổ chức tôn giáo Templeton Foundation
đă trao ông một giải thưởng trị giá 1 triệu đô la, số tiền tương
đương với giải Nobel. Năm 1999, ông xuất bản quyển "The 5th
miracle" (Phép màu thứ 5) mà tôi đă viết bài b́nh luận [2]. Khác
với quyển "God & the new physics" với chữ "God" xuất hiện
thường xuyên trên mỗi trang sách, th́ "God" hầu như vắng bóng trong
"The 5th miracle". Dù vậy mạch văn của ông cũng
bàng bạc h́nh ảnh của một Đấng Sáng Tạo.
Lời kết
Quyển sách đă mang đến nhiều thông tin hữu ích từ những thành quả
nghiên cứu thực nghiệm và lư thuyết của tân vật lư trong nhiều thập
niên qua. Nhưng tính khách quan khoa học của quyển sách sẽ được
người đọc đánh giá tốt hơn nếu yếu tố tôn giáo không xuất hiện
thường xuyên trên những trang sách. Tác giả hy vọng độc giả không
chuyên vô thần lẫn hữu thần, đối tượng chính của ông, sẽ hiểu được
nội dung của quyển sách mà không cần đến kiến thức khoa học cơ bản.
Tôi e rằng ông không đạt được điều này. Ông là nhà khoa học uyên bác
nhưng độc giả khó bắt kịp được sự thông thái của ông với lượng thông
tin tràn ngập và nhiều khái niệm khoa học vượt qua sự hiểu biết của
người b́nh thường nhưng không được giải thích mạch lạc.
Tác giả đă định lượng nhiều hiện tượng bằng những con số cực to lẫn
cực nhỏ để cho thấy sự kỳ diệu của vũ trụ và sự sống trên quả đất.
Ông cho rằng sự thành công của phương pháp khoa học trong việc khám
phá bí ẩn của thiên nhiên bằng những phương tŕnh hay con toán đă
làm chúng ta quá đỗi kinh ngạc khiến ta quên mất một pháp màu vĩ đại
nhất, đó là: khoa học đă làm nên việc. Thậm chí các nhà khoa học vẫn
vô tư xem việc chúng ta đang sống trong một vũ trụ hợp lư có trật tự
được chi phối bởi những quy luật được khám phá bởi trí tuệ con người
như là một chuyện đương nhiên. Những quy luật đó cực kỳ chính xác
khiến tác giả băn khoăn tại sao chúng có thể đạt được tŕnh độ tinh
vi như vậy là một điều bí ẩn. "Bí ẩn" của tác giả Davies có thể hiểu
là sự toàn năng vô hạn của Thượng Đế. Theo suy luận của tác giả ta
có thể ví nhà khoa học như người t́m và khám phá mỏ vàng nhưng vàng
đó là "Trời sanh". Nhà khoa học chỉ khám phá nhưng không phải
là người "sáng tạo" ra quy luật. Oái oăm thay, những hiện tượng mà
quy luật khoa học chưa lư giải được th́ cuối cùng cũng được đưa đến
kết luận là từ bàn tay Thượng Đế. Chao ôi, nếu mọi việc đều phải
được Thượng Đế sáng tạo và quyết định th́ Ngài quả là người vô cùng
bận rộn của toàn thể vũ trụ. Và khi khoa học bị đặt trong ṿng vây
của niềm tin Thượng Đế th́ lúc đó sẽ là một bi kịch lắm nghẹn ngào "Tứ
diện Sở ca" của những nhà nghiên cứu khoa học!
Chúng ta có thể nh́n từ một góc độ khác, nhẹ nhàng, đơn giản, lôi
cuốn và nhiều lô-gíc hơn. Nếu muốn t́m hiểu hiện tượng thiên nhiên
th́ cần đến khoa học v́ hành xử của thiên nhiên từ thuở khai thiên
lập địa đến tận hôm nay vẫn một mực trung thành và chưa một lần quay
lưng trước quy luật khoa học. Hai cột trụ của tân vật lư, thuyết
lượng tử và thuyết tương đối, ra đời hơn 100 năm trước tạo nên cuộc
cách mạng lần thứ hai của lịch sử khoa học 400 năm, đánh dấu bước
đột phá vĩ đại trong khoa học và đă nâng cao tầm hiểu biết của con
người trước sự kỳ diệu của vũ trụ và sự sống. Tại sao chúng ta phải
núp bóng Thượng Đế cúi đầu trông chờ sự toàn năng vô h́nh cho một
lời giải thích mà không lạc quan và cụ thể nghĩ rằng bằng trí tuệ
trác tuyệt của ḿnh loài người sẽ có một cuộc cách mạng tương tự lặp
lại trong vài mươi hoặc trăm năm tới để giải phóng con người ra khỏi
bóng tối của cái gọi là "kỳ diệu" và "bí ẩn"?
Tôi nghiền ngẫm quyển sách, lắm lúc đọc từng ḍng từng chữ mong nh́n
được dung nhan Thượng Đế nhưng tôi không t́m thấy Ngài như tác giả
Davies kỳ vọng. Tôi chỉ thấy sự mâu thuẫn, lửng lơ trong biện luận
của tác giả và tư duy ông vô h́nh trung lọt thỏm vào cái bẫy "Thượng
Đế của những khoảng hở" mà ông từng khuyên độc giả phải dè chừng.
Tài liệu tham khảo
1.
Paul Davies, God & the new physics, Simon & Schuster
Paperbacks, New York, 1983.
2.
Trương Văn Tân, Đọc "The 5th miracle" của Paul Davies
http://www.erct.com/2-ThoVan/TruongVTan/The-fift-%20miracle.htm
Đầu đông, Melbourne
18 Tháng 6 2024
(Đă đăng trên Diễn Đàn Forum) |
|