|
LẠI LỠ MỘT CHUYẾN TÀU
Trương Văn Tân
(Úc, 2011)
(Viết cho Kỷ yếu Đại học Humboldt 200
Năm)
Nguồn :
https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/
Anh (…) thân mến,
Nhân đọc những trao đổi của các anh
chị hướng về quá khứ liên quan đến những ư tưởng và đóng góp to lớn
của giáo sư Vũ Đ́nh Hoè lúc sinh thời th́ tôi lại có một bức xúc
khác trong cái hướng ngược lại – hướng tương lai. Tôi đang đi công
tác ở một đại học xa nhà. Lần này đại học có tổ chức một hội nghị
chuyên ngành về các ứng dụng của vật liệu nano trong năng lượng, pin
lithium, pin mặt trời và dụng cụ điện hóa. V́ là hội nghị không quá
100 người nên thời gian giao lưu cá nhân khá rộng răi. Các nhóm Hàn
Quốc và Trung Quốc rất trẻ, ở tuổi khoảng 35 – 45. Tôi đặc biệt chú
ư vào nhóm Hàn Quốc, v́ một số lớn người trẻ trong nhóm được đào tạo
hoàn toàn tại Hàn Quốc trong suốt quá tŕnh từ cử nhân/kỹ sư đến
tiến sĩ. Tất cả đều nói tiếng Anh cực kỳ lưu loát, mạch lạc, rất tự
tin, làm khoa học có chất lượng rất cao, tầm vóc quốc tế về cơ bản
lẫn ứng dụng. Có nhiều người chưa đến 40 đă là phó giáo sư hay giáo
sư lănh đạo những nhóm nghiên cứu tại Seoul National University,
Korea Advanced Institute of Science and Technology (KAIST), các
trường đại học hàng đầu Hàn Quốc, hay là nghiên cứu viên cao cấp tại
các viện nghiên cứu khoa học công nghệ. Chính phủ Hàn Quốc có lẽ từ
bỏ “chủ nghĩa trưởng thượng” phương Đông, bổ nhiệm những người ưu tú
vào các chức vụ quan trọng ở các cơ quan nghiên cứu và đại học từ
lúc c̣n rất trẻ. Sự kết hợp giữa khoa học và công nghệ, nghĩa là quá
tŕnh biến tri thức khoa học thành tiền, của Hàn Quốc cũng rất linh
động. Điều này hiện rơ trong các bài báo cáo của các nghiên cứu viên
làm việc tại “Samsung Advanced Institute of Technology” (Học viện
công nghệ tiên tiến Samsung). Không ǵ ngạc nhiên khi doanh thu của
Samsung trong tài khóa 2009 – 2010 vượt xa doanh thu của 9 công ty
điện tử hàng đầu của Nhật Bản cộng lại.
Rất tiếc là Việt Nam không có đội ngũ
khoa học trẻ ở số tuổi 35 – 45 với tŕnh độ ngoại ngữ và chuyên môn
đẳng cấp quốc tế như thế này, có nghĩa là ta lại lỡ thêm một chuyến
tàu. Chuyến tàu này có thể là cuối cùng anh ạ. Nếu ta nh́n sự việc
trong một bối cảnh với những thành quả khoa học, y học vượt bậc
trong vùng như tại Singapore và Thái Lan và các nước Đông Á đang lên
như Trung Quốc và Hàn Quốc, th́ đây là một bế tắc nghiêm trọng của
sự phát triển khoa học công nghệ Việt Nam mà nguồn gốc của nó là một
nền giáo dục đại học vá víu và tạp nham. Anh nghĩ xem đỉnh cao sự
nghiệp của một người nghiên cứu khoa học nằm ở khoảng 45 – 55, nếu
ta không có đợt sóng của tuổi 35 – 45 th́ khoa học Việt Nam sẽ suy
thoái theo hàm lũy thừa, tuột dần và sẽ không c̣n cơ hội nào để hội
nhập thế giới. Nếu nh́n kết quả để t́m hiểu nguyên nhân th́ những ai
làm khoa học và những nhà giáo dục tâm huyết không khỏi ray rứt tự
hỏi trong ṿng 30 năm qua có phải các quan chức hữu trách thiếu tư
duy thích ứng với thời đại và khiếm khuyết tri thức để thiết kế một
chính sách năng động cho việc phát triển khoa học công nghệ, hay
đang ngủ dài triền miên “thế sự thăng trầm quân mạt vấn” như con gấu
mùa Đông trên chiếc ghế bọc nhung đầy ắp bổng lộc của ḿnh.
Cách đây gần hai năm tôi có viết ra
những suy nghĩ được đăng trên Diễn Đàn Forum (diendan.org) về trường
hợp của Hàn Quốc, Trung Quốc. Những suy nghĩ đó vẫn c̣n đúng. Tôi
xin chép lại sau đây.
⭐⭐⭐
Hàn Quốc có những chính sách khoa học
kỹ thuật mang tầm nh́n chiến lược và đă hội nhập vào cộng đồng
nghiên cứu quốc tế như là một thành viên trẻ và rất năng động. Những
thành công này là kết quả của chính sách khoa học kỹ thuật được tổng
thống Park Chung-hee, một nhà độc tài quân sự, đặt nền tảng từ thập
niên 70 của thế kỷ trước và được các đời tổng thống sau tiếp tục
phát huy. Song song với việc phát triển các loại công nghệ nặng,
đóng tàu, xe hơi, điện tử, hóa chất, các công tŕnh nghiên cứu khoa
học cơ bản lẫn ứng dụng rất ấn tượng với các tác giả mang họ Kim,
Choi, Ahn, Lee… dồn dập xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành nổi
tiếng trong mười năm qua.
Năm 1971, Hàn Quốc lập ra Korea
Advanced Institute of Science and Technology (KAIST, Hàn Quốc Khoa
học Kỹ thuật Viện) đầu tàu của nền khoa học kỹ thuật Hàn Quốc với
mục đích đào tạo các nhà khoa học và kỹ sư, được xem như là một MIT
(Massachusett Institute of Technology) của đất nước “kim chi”. Hơn
35 năm qua, KAIST đă tạo một ảnh hưởng vô cùng sâu rộng trong nền
khoa học công nghệ Hàn Quốc và thế giới. Trên quy mô cả nước, KAIST
đă sản sinh 20 % nhà khoa học và kỹ sư với học vị Tiến sĩ, 10 % giáo
sư, phó giáo sư khoa học và công nghiệp (engineering) và cung cấp 25
% nghiên cứu viên điện tử, chất bán dẫn, vật liệu học cho tập đoàn
Samsung. Gần đây, nhằm quốc tế hoá nghiên cứu khoa học và giáo dục
đại học, chính phủ Hàn Quốc đă đầu tư trên 600 triệu đô la trong 5
năm vào một chương tŕnh rất quy mô gọi là World Class University (Đại
học Đẳng cấp Thế giới) với bước đầu là mời 81 các học giả, khoa học
gia, giáo sư quốc tế trong đó có 9 người đoạt giải Nobel đến giảng
dạy và chỉ đạo nghiên cứu ngắn hạn, trung hạn, dài hạn tại các đại
học Hàn Quốc. Thật ra, chính phủ Hàn tính toán khôn ngoan. Thay v́
cho học sinh đi du học tốn kém đủ mọi thứ tiền mất nhiều tỷ đô la
ngoại tệ, bây giờ mời các giáo sư tầm cỡ đến Hàn Quốc giảng dạy, chỉ
đạo nghiên cứu, trả lương hậu hĩnh cũng chỉ hơn một trăm triệu đô la
hằng năm. Cái lợi tri thức và cái lợi tài chánh thấy rơ. Ngoài ra,
họ kêu gọi các khoa học gia người Hàn Quốc ở nước ngoài trở về làm
việc và đồng thời cho học bổng đến các nước trên thế giới (trong đó
có cả Việt Nam) đến Hàn Quốc học tập. Họ “quốc tế hóa” khoa học kỹ
thuật Hàn Quốc và “Hàn Quốc hóa” thế giới, nhẹ nhàng thực hiện cái
mà người ta thường gọi là “quyền lực mềm” (soft power).
Cũng như Hàn Quốc, khi nền công nghệ
cũ đă trưởng thành và nền công nghệ mới manh nha xuất hiện, Trung
Quốc ào ạt đầu tư vào việc nghiên cứu khoa học. Bừng tỉnh sau cơn ác
mộng “Cách mạng Văn hóa” và mở cửa giao lưu với thế giới, trong 30
năm qua nền khoa học kỹ thuật của xứ sở Vạn lư Trường thành đă có
những bước đi vĩ đại. Ngoài những thành tựu mang tính chất “nhất
điểm vinh quang”, như đưa người vào không gian, bắn vệ tinh quay
quanh mặt trăng, triệt hạ vệ tinh bằng tên lửa không gian, chế tạo
tàu ngầm nguyên tử, sản xuất đầu xe lửa siêu tốc chạy 350 km/giờ,
mang một mục đích chính trị nhằm tăng cường ḷng tự hào dân tộc,
củng cố sự hiện hữu của Đảng và Nhà nước, khoe mẽ thế giới, Trung
Quốc đă có những tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu cơ bản lẫn ứng
dụng bao gồm tất cả mọi ngành khoa học nhờ vào chính sách đúng đắn,
“chiêu hiền đăi sĩ”. Sinh viên, nghiên cứu sinh và khoa học gia
Trung Quốc giờ đây tràn ngập thế giới. Nhiều khoa học gia lỗi lạc đă
trở thành giáo sư của các trường đại học hay nghiên cứu viên cao cấp
tại cơ quan nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới.
Bộ Giáo dục Trung Quốc đào tạo những
trí tuệ khoa học từ dưới lên. Họ gầy dựng ngân quỹ dịch thuật những
sách giáo khoa kinh điển tiếng Anh, mua bản quyền, trả tiền cho dịch
giả và xuất bản. Những sách nguyên bản trị giá vài trăm đô-la được
dịch lại bán cho sinh viên năm, mười đô-la một cách hợp pháp. Các
tạp chí khoa học quyền uy và hữu ích như Nature hay Materials Today
và một số tạp chí quan trọng khác có phiên bản tiếng Hoa được phổ
biến rộng khắp cho từ những sinh viên mới chập chững đi vào con
đường nghiên cứu đến các khoa học gia kỳ cựu. Ngoài kinh phí nghiên
cứu trong nước, họ dành một khoản lớn kinh phí cho các nhà khoa học
gốc Hoa làm việc tại nước ngoài, khuyến khích việc về nước giao lưu.
Họ tôn vinh các nhà khoa học hay giáo sư nổi tiếng nước ngoài c̣n
tại chức hay đă về hưu, thậm chí “mua” kiến thức và mạng lưới liên
hệ của các vị này; ban cho họ chức giáo sư danh dự, tiếp đăi ân cần,
thù lao hậu hĩnh để họ trực tiếp tham gia giảng dạy và hướng dẫn
nghiên cứu sinh viên trong nước. Những người làm khoa học phần lớn
xuề x̣a, không có nhiều đ̣i hỏi vật chất, chỉ cần tôn trọng, tâng
bốc một chút, tặng kinh phí mua thiết bị ở dạng “hợp tác nghiên cứu
quốc tế”, là bao nhiêu kiến thức họ trút sạch cho không. Các nhà
lănh đạo Trung Quốc hiểu rất rơ điều này, triển khai triệt để và
quyết liệt. Hiện nay, số nhà nghiên cứu, giáo sư nước ngoài chiếm
12,8 % trong ban giảng dạy của Đại học Thanh hoa (Tsinghua
University), trường đại học công nghiệp hàng đầu Trung Quốc. Trong
khi đó, con số này chỉ là 5 % tại Đại học Tokyo, đại học đứng đầu
tại Nhật Bản. Đây là những đầu tư tri thức ít tốn kém nhưng số lăi
thu hoạch trong tương lai th́ quả thật khổng lồ.
Năm 1995, Trung Quốc đầu tư 0,6 % tổng
sản lượng quốc gia (Gross Domestic Product, GDP) vào việc nghiên cứu
và triển khai (R&D). Mười năm sau (2005), con số này tăng 1,34 %,
tức là 140 tỷ đô-la, và sẽ tăng dần đến 2,5 % vào năm 2020. Trung
Quốc có hơn 1.700 trường đại học và cao đẳng, nhưng kinh phí nghiên
cứu chỉ tập trung vào 100 đại học đứng đầu. Ở các đại học này, Bộ
Khoa học và Kỹ Thuật Trung Quốc lập ra các Viện Thí nghiệm Quốc gia
với các đề án đa ngành, Trung tâm Nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia
chú trọng đến ứng dụng thực tiễn và Pḥng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc
gia liên quan đến những nghiên cứu cơ sở. Ngoài ra, Viện Hàn lâm
Trung Quốc (hay là Trung Quốc Khoa học Viện, Chinese Academy of
Sciences, CAS) với 100 viện nghiên cứu từ cơ sở đến ứng dụng phân
tán khắp cả nước. Viện có hàng trăm cơ sở kinh doanh khoa học công
nghệ với công ty điện tử vi tính Lenovo nổi tiếng thế giới.
Trên sự quan sát và tiếp xúc cá nhân
tại các đại học, cơ quan nghiên cứu, hội thảo quốc tế, tôi nhận thấy
hơn 20 năm qua phong cách giao lưu, tŕnh bày vấn đề trước công
chúng, thái độ nghiên cứu của những người nghiên cứu khoa học Trung
Quốc từ một nghiên cứu sinh cho đến một giáo sư có sự tiến bộ và tự
tin rơ rệt. Từ cái bộ dạng “Hai Lúa đi Sài G̣n” ngơ ngác quê mùa,
tiếng Anh chưa nhuần nhuyễn, kết quả, biểu đồ tŕnh bày lung tung,
tùy tiện 20 năm trước, các nhà khoa học Trung Quốc ngày hôm nay là
những người diễn thuyết chính được mời (invited speaker, plenary
speaker) tại các hội nghị khoa học quốc tế quan trọng. Tôi không
quên được một nữ nghiên cứu sinh ở tuổi đôi mươi của trường đại học
Hàng không Vũ trụ Bắc Kinh trong một hội thảo khoa học, thao thao
bất tuyệt tiếng Anh, hùng hồn giải thích “thuyết đàn tính” (theory
of elasticity) của ḿnh với hàng loạt phương tŕnh toán học và những
áp dụng vào vật liệu máy bay và tàu vũ trụ, trả lời mạch lạc từng
câu hỏi từ thính giả. Tôi cũng không quên cái nhiệt t́nh và tự tin
của một anh giáo sư trẻ của đại học Giao thông Thượng Hải, khi anh
nói về pin nhiên liệu (fuel cell) và ứng dụng của nó vào xe buưt
thành phố làm giảm thiểu ô nhiễm.
Các nhà khoa học Trung Quốc mang một
tham vọng giành giải Nobel khoa học trong vài thập niên tới. Họ rất
nhạy cảm với những đột phá khoa học trên toàn thế giới. Tháng ba năm
2008, một nhóm khoa học gia Nhật Bản tuyên bố lần đầu tiên đă khám
phá một hợp chất sắt trở nên siêu dẫn ở nhiệt độ 26 K (- 247 ºC).
Chỉ trong ṿng một tháng, các nhà khoa học Trung Quốc sửa đổi cấu
trúc hợp chất này đẩy nhiệt độ lên 52 K (- 221 ºC). Đây là một kỳ
tích khoa học được thực hiện trong một thời gian cực ngắn. Hợp chất
siêu dẫn có ứng dụng càng nhiều khi nhiệt độ chuyển hóa siêu dẫn
càng cao. Mặt khác, tinh thần thực dụng buôn bán không những thấy ở
một tập đoàn mà c̣n ở mỗi cá nhân người Hoa bao gồm tất cả mọi ngành
nghề kể cả khoa học. Shi Zhengrong (Thi Chính Vinh) lấy học vị Tiến
sĩ tại đại học New South Wales (University of New South Wales, Úc)
dưới sự hướng dẫn của giáo sư Green Martins nổi tiếng thế giới về
pin mặt trời (solar cell). Ông trở về Trung Quốc lập công ty với sự
giúp đỡ vốn của chính quyền địa phương để chế tạo pin mặt trời “made
in China” giá rẻ. Trong ṿng 10 năm, ở số tuổi 45 ông trở thành tỷ
phú đô-la, 95 % sản phẩm của ông xuất khẩu sang châu Âu, chủ yếu là
Đức. Hằng năm, ông tặng kinh phí nghiên cứu cho người thầy cũ để
tiếp tục hoàn thiện pin mặt trời. Thật là một nghĩa cử cao đẹp và
một hành động khôn ngoan.
Đi lên từ sự hoang phế, tàn tạ của 10
năm Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc và trong trường hợp Hàn Quốc từ
một dải sơn hà khô cằn, nghèo khó lại bị chiến tranh Triều Tiên tàn
phá biến thành b́nh địa kéo dài từ sông Yalu (Áp Lục) đến tận Pusan,
hai đất nước này bay lên như con phụng hoàng từ đống tro c̣n ngút
khói. Trong khi Bộ Giáo dục của ta đang loay hoay quyết định “lên
giá, xuống giá” học phí đại học, các quan chức loanh quanh với những
tuyên bố, chính sách khoa học vá víu, “lẩn quẩn cối xay”, th́ những
bước đi khoa học vĩ đại và cải cách giáo dục đại học đang rầm rộ xảy
ra tại Trung Quốc, Hàn Quốc, hai đất nước có cùng một bối cảnh lịch
sử, chính trị, truyền thống giống như ta. Nó cho thấy một chính sách
phát triển giáo dục và khoa học kỹ thuật có định hướng rạch ṛi và
tầm nh́n chiến lược của bậc lănh đạo ở các quốc gia này.
Ba mươi năm đă trôi qua từ lúc Trung
Quốc mở cửa hội nhập vào cộng đồng thế giới; từ thời đại Park Chung-hee,
Hàn Quốc cũng có 30 năm. Kể từ khi ḥa b́nh thống nhất, ta cũng có
ngần đó thời gian nhưng tiếc thay ta vẫn là ta. Những lời tâm huyết
về cải cách giáo dục, hướng đi của phát triển khoa học công nghệ từ
các nhà giáo dục, nhà khoa học ưu thời mẫn thế trong, ngoài nước như
những tiếng gào thét kêu cứu tan vào cơi không gian vô tận. Chúng ta
đang ở một thế kỷ trong đó nền tảng xă hội, sự hùng mạnh kinh tế, sự
an nguy dân tộc tùy thuộc vào tri thức và thực tiễn hóa tri thức.
Chúng ta phải có một tầng lớp lănh đạo kỹ trị, hiểu rơ sức mạnh của
khoa học kỹ thuật. Ta hăy xuất phát từ cái cơ bản nhất là: nên quên
đi đường lối giáo dục tạo những con gà ṇi Olympic, chỉ tập trung
vào một thiểu số ưu tú có một vài kỹ năng đặc biệt mang cho ta một
tự hào nhất thời, mà nên khám phá tiềm năng của số đông để sản sinh
ra những đàn đại bàng biết bay xa, tung hoành ngang dọc, và những
đại thụ làm rợp bóng thế giới.
⭐⭐⭐
Từ một góc nh́n trong ngành nghề của
tôi, 30 năm cải cách giáo dục của Trung Quốc và Hàn Quốc mang lại
nhiều kết quả đáng nể phục. Họ đă đào tạo cho đất nước một thế hệ
của khoa học gia và chuyên gia công nghệ trẻ nhiều tài năng có tầm
vóc quốc tế. Trong hội nghị này tôi gặp lại giáo sư S.R., một chuyên
gia tầm cỡ trong công nghệ nano đă vào tuổi “thất thập cổ lai hi”
nhưng rất năng động. Ông khoe với tôi là ông đang giảng dạy tại Hàn
Quốc trong chương tŕnh World Class University hai năm qua; tốt lắm,
thú vị lắm, học tṛ chăm chỉ lắm. Tôi chúc phúc ông cho sự nghiệp
giảng dạy quốc tế và đào tạo các nhà khoa học Hàn Quốc tương lai mà
trong ḷng lại tiếc nuối sinh viên ta lại không có một diễm phúc như
vậy. Mỗi lần đi dự hội nghị là mỗi lần đau xót v́ chứng kiến thế
giới đang tiến xa mà ta chỉ dẫm chân tại chỗ… Các nhà khoa học của
ta không biết đứng đâu trong hội nghị quốc tế và trong ṿm trời khoa
học thế giới. Một nước nhỏ như Hàn Quốc dân số không là bao, có một
nền giáo dục Khổng Mạnh giống ta mà họ tiến như vũ băo, khiến cho
Trung Quốc và Nhật Bản cũng e dè khiếp sợ! Trồng người cần trăm năm,
ta đă hoang phí 1/3 của trăm năm, đă chậm bước lỡ nhiều chuyến tàu,
thử hỏi nhà nước ta có một liệu pháp ǵ cho 2/3 c̣n lại?
Chúc anh vui khoẻ và hoàn thành tốt Kỷ
Yếu.
TRƯƠNG VĂN TÂN
THÁNG HAI, 2011 |
|