Lượng tử của sự chọn lọc tự nhiên*

Seth Lloyd

(Trương Văn Tân chuyển ngữ)

 

Lời giới thiệu:

Trong bài b́nh luận đăng trên tạp chí Nature Physics số đặc biệt "Darwin và vật lư" (vol. 5, March 2009, pp. 164-166) kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Darwin, tiến sĩ Seth Lloyd đă đưa ra ư kiến táo bạo về sự liên hệ giữa thuyết lượng tử và "sự chọn lọc tự nhiên" của Darwin - vốn là nền tảng của thuyết tiến hóa. Để bảo vệ lập luận của ḿnh, Lloyd đă đưa ra năm "món quà" mà thuyết lượng tử đă tặng cho thiên nhiên và những hệ quả rất đậm nét của chúng để lại trong sinh học. Mặt khác, Lloyd tin rằng sự hiện hữu của Vũ Trụ là một biến tấu của sự chọn lọc tự nhiên và toàn bộ các quy luật vật lư trong đó có thuyết lượng tử cũng là một hệ quả của sự chọn loc tự nhiên. Từ quan điểm của một chuyên gia về vi tính lượng tử, Loyd đă có một cái nh́n độc đáo với một chút phá cách về sinh học và thiên nhiên. Những nhận xét của Lloyd về sự tương quan qua lại giữa thuyết lượng tử, sự chọn lọc tự nhiên và vũ trụ trong bài viết ngắn nhưng súc tích và thú vị này có thể chưa được cộng đồng khoa học chấp nhận hoàn toàn, nhưng nó cung cấp một số quan điểm mới để chúng ta cùng suy ngẫm. Trong tinh thần này, chúng tôi xin phép tiến sĩ Seth Lloyd và đă được phép chuyển ngữ bài viết để giới thiệu cùng bạn đọc.

  Tóm tắt : Tổng hợp tiến hóa hiện đại (modern evolutionary synthesis) kết hợp thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin và thuyết di truyền Mendel, đă được triển khai cùng thời với cơ học lượng tử. Có liên hệ ǵ giữa hai lĩnh vực này?

Mở đầu

 Trong một trăm năm mươi năm qua, kể từ lúc cuốn Nguồn gốc các loài [1] được xuất bản, đă có nhiều điều được nói đến về những ǵ Darwin biết và không biết trong việc thiết lập lư thuyết của sự chọn lọc tự nhiên. Có lẽ khía cạnh gây ngạc nhiên nhất của quyển sách là Darwin đă có thể tạo dựng một lư thuyết để giải thích sự truyền giống và sự chọn lọc tự nhiên của những đặc tính về thể chất, bất chấp các cơ chế này vận hành trên một lư thuyết di truyền rơ ràng là khập khiễng. Mặc dù công tŕnh tiên phong của Gregor Mendel về di truyền học của cây đậu [2] được công bố năm 1866, Darwin không bao giờ nhận thức được tầm quan trọng của công tŕnh này. Ông đă thiết lập lư thuyết về sự chọn lọc tự nhiên bằng cách dùng thuyết "trộn lẫn" di truyền trước thời Mendel, trong đó các đặc tính của người mẹ và người cha được ḥa trộn ở người con. Darwin hiểu rơ cái giới hạn của thuyết "trộn lẫn" - đời con của con chim két màu xanh lam và màu vàng có màu xanh lam hoặc vàng, không phải màu xanh lục - nhưng sự bất toàn này không đủ sức để đốn ngă lư luận mạnh mẽ của ông về sự chọn lọc tự nhiên [3,4].

Darwin không phải là khoa học gia duy nhất của thế kỷ 19 đánh giá thấp công tŕnh của Mendel. Các định luật Mendel về truyền giống thực sự đă bị phớt lờ cho đến năm 1900 khi Hugo de Vries, Carl Correns và Erich von Tschermak tái phát hiện và công bố tầm quan trọng của chúng [5]. Trong thập niên đầu của thế kỷ 20, các nhà di truyền học và thống kê học bắt đầu kết hợp di truyền học Mendel và ư tưởng về sự chọn lọc tự nhiên của Darwin để tạo ra một "tổng hợp hiện đại" (modern synthesis), một thuyết tiến hóa qua sự chọn lọc tự nhiên của các biến đổi di truyền [4,5]. Nhưng năm 1900 cũng là năm mà Max Planck khám phá bản chất lượng tử của ánh sáng [6]. Trong cùng một năm người ta thấy sự h́nh thành của tổng hợp tiến hóa hiện đại và sự phát triển nhanh chóng của thuyết lượng tử về nguyên tử và phân tử, được nối tiếp với các phương tŕnh toán về lượng tử của Erwin Schrödinger và Werner Heisenberg. Điều này đem chúng ta đến một câu hỏi trung tâm mà tôi muốn suy diễn ở đây là: cơ học lượng tử, nếu có, th́ có ǵ liên hệ đến sự chọn lọc tự nhiên?

Câu trả lời, một cách ngắn gọn, là: rất nhiều. Mặc dù sự thật là cơ học lượng tử thống trị một thế giới có kích cỡ ở nhiều cấp nhỏ hơn độ lớn con chim sẻ của Darwin hay cây đậu của Mendel, cơ học lượng tử có một ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới của sự chọn lọc tự nhiên. Thật vậy, công tŕnh của Mendel chứng tỏ tính "nguyên tử" hay tính "bất khả phân" của các đặc tính di truyền, đă hàm chứa câu trả lời cho câu hỏi là tại sao cơ học lượng tử quan trọng cho sự sống.   

 

Năm món quà dạng số (digital gift) cho thiên nhiên

Planck khám phá ánh sáng, trước kia nó được xem có tính sóng, mang đặc tính rời rạc cố hữu: ánh sáng hiện hữu ở dạng bó. Planck gọi những bó này là lượng tử. Sau đó không bao lâu, Niels Bohr và các nhà khoa học khác cho thấy nguyên tử cũng mang đặc tính bó tương tự: các electron trong nguyên tử chỉ có thể ở những trạng thái rời rạc. Nguyên tử cũng mang tính lượng tử. Đặc tính bó cho thấy thiên nhiên, ở tận cùng, không liên tục mà là rời rạc. Cơ học lượng tử làm thiên nhiên có dạng số (digital). Thiên nhiên đă phát hiện đặc tính dạng số của muôn loài ở cấp nhỏ nhất và dùng nó để thiết lập cơ sở di truyền cho sự sống. Cơ học lượng tử đă cống hiến một cách hiệu quả cho thiên nhiên một kiện quà dạng số và thiên nhiên sử dụng những món quà này chủ yếu cho việc phát triển sự sống.

Món quà thứ nhất mà đặc tính dạng số của cơ học lượng tử tặng thiên nhiên là tính bền: nguyên tử hydrogen của cơ học lượng tử là vật bền. Ngược lại, nếu nguyên tử hydrogen tuân theo các định luật của cơ học cổ điển, electron sẽ bị cuốn vào proton trong một khoảnh khắc rất nhỏ của một giây, và cuộc đời của nguyên tử sẽ chấm dứt với một ánh loè bức xạ. Bức xạ vốn là cái lư thú, nhưng nó không phải là cái làm ra sự sống.

Món quà dạng số thứ hai là tính đếm được: các dạng của vật chất hiện hữu ở cấp vi mô không biến đổi một cách liên tục. (Thiên nhiên) chỉ có một số nhỏ tập hợp có thể đếm được của các hạt cơ bản bền. Những hạt cơ bản này có thể kết hợp qua một số phương cách có thể đếm được để tạo ra các nguyên tử bền. Các nguyên tử này lại kết hợp cho ra các một số hợp chất cũng có thể đếm được. Và cứ tiếp tục như thế: ở mỗi kích cỡ, tập hợp đếm được của các thực thể khác nhau kết hợp để thành h́nh một tập hợp khác to hơn, nhưng vẫn đếm được, ở một cấp độ lớn hơn.

Món quà dạng số thứ ba mà cơ học lượng tử tặng cho thiên nhiên là thông tin. Đơn vị cơ bản của thông tin là bit; nó miêu tả sự khác biệt giữa hai trạng thái có thể. Thuật ngữ "bit" c̣n dùng để chỉ một hệ thống vật lư, chẳng hạn như spin của electron có thể ở một trong hai trạng thái riêng biệt. Điểm đặc trưng cơ bản của thông tin là một lượng nhỏ bit mang một số lớn trạng thái có thể: n bit có 2n trạng thái. Như vậy, thí dụ như 300 bit sẽ có 2300 » 1090 trạng thái. Con số 1090 ngẫu nhiên cũng là số lượng của các hạt cơ bản trong Vũ Trụ (nói chính xác hơn, là con số trong phạm vi đường chân trời hạt cơ bản (particle horizon) của Vũ Trụ). Bản chất rời rạc của cơ học lượng tử cộng với khả năng kết hợp của các nguyên tử trong một phân tử cho ta thấy rằng các hệ thống vật lư có tiềm năng tự nhiên để ghi chép một số lượng lớn bit thông tin. Có lẽ một thí dụ rơ rệt nhất của loại thông tin thiên nhiên này là phân tử DNA. Toàn thể bộ di truyền (genome) của con người được ghi trong khoảng sáu tỷ (6 x 109) bit (chứa vào khoảng 20.000 đến 25.000 gen Mendel khác biệt). Ngày nay, sáu tỷ bit xem không có ǵ là to tát - nhưng con số những cấu h́nh có thể của DNA chúng ta là hai lũy thừa sáu tỷ, 2 6x10 9, quả là một con số c̣n to hơn các con số thiên văn. Đây là một tiềm năng khổng lồ muôn màu của nhiều kết hợp di truyền mà nó ban cho sự chọn lọc tự nhiên một sức mạnh.

Món quà thứ tư từ cơ học lượng tử là việc xử lư thông tin. Như đă đề cập ở trên, một spin electron có thể dùng để ghi một bit thông tin: thí dụ, spin quay quanh một trục theo chiều kim đồng hồ (spin lên) có thể được dùng để chỉ con số logic 0, và spin khi quay ngược chiều kim đồng hồ (spin xuống) chỉ số logic 1. Khi spin lật, chẳng hạn như khi hấp thụ photon, spin quay theo chiều kim đồng hồ chuyển thành spin quay ngược chiều kim đồng hồ, và ngược lại; spin lên thành spin xuống, 0 trở thành 1. Như vậy, lật spin cũng là lật bit. Đây là một cơ năng của thiên nhiên dùng để xử lư thông tin ở kích cỡ tận cùng vi mô mà chúng ta sẽ dùng khi dàn dựng máy tính lượng tử chứa các bit trong từng nguyên tử cá biệt [7]. Cơ năng này của thiên nhiên để xử lư thông tin cũng truyền đạt lên các cấp cao hơn: cứ mỗi lần hai loại hóa chất phản ứng cho ra loại hóa chất thứ ba, th́ thông tin đă được xử lư. Phản ứng hóa học biến các phân tử đầu vào cùng các bit thông tin của chúng thành phân tử đầu ra chứa một tập hợp bit tương ứng khác. Cơ năng xử lư thông tin của thiên nhiên ở một kích cỡ nào đó, như ta thấy, sẽ chuyển thành cơ năng xử lư càng nhiều thông tin theo một cung cách càng tinh vi hơn ở một kích cỡ kế tiếp cao hơn. Cho đến khi kích cỡ đạt đến độ lớn của phân tử DNA, thiên nhiên đă xử lư thông tin theo một cung cách cực kỳ tinh vi. Tŕnh tự trong DNA có thể xem là một tập hợp các chỉ thị dùng cho việc thiết kế protein hay các dây amino acid. Mă di truyền chứa những đặc điểm như mă khởi đầu (start codon), mă dư thừa và mă chấm dứt. Phương pháp mă hóa được khám phá bởi thiên nhiên hàng tỷ năm trước đă được hội nhập vào mă nhân tạo, như mă Morse, nhưng chỉ mới xuất hiện trong ṿng 200 năm qua. 

Món quà thứ năm và cũng là cuối cùng mà cơ học lượng tử tặng cho thiên nhiên, nhưng không phải lúc nào cũng được xem là món quà: đó là tính ngẫu nhiên (randomness). Khác với cơ học cổ điển, cơ học lượng tử chứa đựng sự bất định cố hữu; dưới một t́nh huống thích hợp, có thể chuyển hóa một cách tối giản thành một hành xử ngẫu nhiên không thể rút gọn được. Chính cái bản chất ngẫu nhiên này đă từng bị Einstein chỉ trích khi ông tuyên bố "Thượng đế không chơi tṛ xí ngầu". Thật ra, Einstein đă sai lầm: Thượng đế có chơi tṛ xí ngầu, và may mắn thay, Ngài chơi rất giỏi. Tính ngẫu nhiên quả thực là kẻ thù của sự trật tự - đây là tính chất mà Einstein đă từng chỉ trích. Tuy nhiên, tính ngẫu nhiên là nguồn cội của sự biến đổi. Và như Darwin đă từng dạy chúng ta, sự sống không biến đổi sẽ không c̣n là sự sống. 

Thiên nhiên vồ lấy những món quà lượng tử như tính bền, tính đếm được, thông tin, xử lư thông tin và tính ngẫu nhiên, rồi phóng chạy. Vũ Trụ khởi đầu với một cuộc nổ, và ngay sau đó lập tức bắt đầu xử lư thông tin. Việc xử lư thông tin đầu tiên khá giản đơn: sự kích thích nhiệt dẫn đến các hạt cơ bản bền, và khi Vũ Trụ dăn nở và nguội đi, các hạt này kết hợp thành nguyên tử và các phân tử đơn giản. Sự co cụm bởi trường hấp dẫn cho thêm một vài chi tiết vào sự dăn nở không ǵ đặc sắc của hydrogen, helium và vài nguyên tố nhẹ khác. Cuối cùng, các v́ sao nguyên sơ bắt đầu tỏa sáng và nhanh chóng dùng hết nhiên liệu hạch nhân của nó rồi bùng nổ, tạo ra những nguyên tố nặng hơn để co cụm lại thành tinh vân (nubulae), rồi tiến xa hơn nữa thành sao và hành tinh.

Ngay cả trước khi có sự tiến hóa của sự sống, Vũ Trụ đă chứa đựng nhiều môi trường muôn màu muôn vẻ để hỗ trợ cho các phản ứng hóa học cũng muôn màu muôn vẻ tương tự, cộng với một số lớn các loại xử lư thông tin vô cùng đa dạng. Mỗi phản ứng chuyển hóa phân tử đầu vào với các bit thông tin đi kèm thành một hỗn hợp đặc thù gồm phân tử đầu ra và các bit; hỗn hợp này lại thành đầu vào của phản ứng kế và cứ tiếp diễn như thế. Sau cùng, trong sự diễn biến liên tiếp của các sự kiện mà các nhà khoa học thiết tha muốn khám phá, là những phương pháp càng tinh vi của việc xử lư thông tin, nền tảng của sự sống, xuất hiện. Và một khi sự-sống-nguyên-thủy đạt được đến khả năng tái sinh sản với những biến dị, mọi việc bùng phát. Sự chọn lọc tự nhiên của Darwin nhảy vào nhập cuộc. Vi khuẩn, sinh vật đa bào, thực vật, động vật, loài linh trưởng và con người tất cả xuất hiện không lâu sau đó.

 

Sự chọn lọc tự nhiên của cái kỳ quặc lượng tử

Thượng đế chơi tṛ xí ngầu không phải là mặt duy nhất mà Einstein đă chống đối: cơ học lượng tử c̣n đầy rẫy những hiệu ứng kỳ quặc và phản trực giác. Một trong những hiệu ứng này là sự liên hệ lượng tử khác thường được biết là sự buộc chéo (entanglement) [7] cái mà Einstein gọi là "tác động ma quái từ xa", bởi v́ nó rành rành cho phép những hạt cách xa nhau ảnh hưởng lên nhau mà không cần phải chuyển năng lượng từ hạt này đến hạt kia. 

Máy tính lượng tử là một công cụ, như đă đề cập ở trên, lưu trữ và xử lư thông tin ở một kích cỡ nơi mà sự kỳ quặc lượng tử thống trị [7]. Khi tôi thuyết giảng về máy tính lượng tử, thỉnh thoảng có người trong thính giả phản đối và cho rằng tạo dựng máy tính lượng tử là việc bất khả thi, bởi lẽ nếu khả thi th́ "thiên nhiên đă phát hiện ra nó từ lâu". Đây là một lập luận ngây thơ, v́ dù sao đi nữa chúng ta đă lắp ráp được những máy tính lượng tử đơn giản. Ta cũng có thể dùng cùng một lập luận để nói về tia laser: sự chọn lọc tự nhiên không bắt sự sống trước khi loài người xuất hiện làm cái việc tiến hóa tia laser, nhưng chúng ta vẫn có laser. Cũng không phải v́ laser hơi bị phi tự nhiên làm sao đó. Sự chọn lọc tự nhiên đă tiến hóa loài người, và loài người một cách tự nhiên đă chế tạo laser.

Trong lịch sử của sự chọn lọc tự nhiên, có bao giờ thiên nhiên vô h́nh trung đă sử dụng cái kỳ quặc lượng tử? Sự tính toán lượng tử có xảy ra trong vi khuẩn hay không? Thoạt tiên, ta không chắc có sự hiện diện của việc xử lư thông tin lượng tử kết hợp (coherent quantum information processing). Nhưng sự tương quan kỳ quặc làm nên nền tảng cho sự tính toán lượng tử lại mong manh và dễ suy sụp bởi sự tương tác với môi trường bao quanh, một quá tŕnh được gọi là "mất kết hợp" (decoherence). Kết cục là hầu hết các tính toán lượng tử nhân tạo xảy ra ở những hệ thống cô lập cao độ, và thường ở nhiệt độ chỉ vài phần ngàn độ trên zero tuyệt đối. Ngược lại, bên trong của một tế bào là một nơi nóng và ướt, nơi mà sự kết hợp lượng tử (quantum coherence) chỉ có thể tồn tại trong một khoảnh khắc rất nhỏ của một giây. 

Mặt khác, thật là tuyệt vời khi vi khuẩn đă hiển nhiên tiến hóa để thực hiện các tính toán lượng tử đơn giản. Vào năm 2007, Graham Flemming và các cộng sự đă làm một thí nghiệm [8] cho thấy sự hiện hữu của phách lượng tử kết hợp (coherent quantum beating) trong phức chất Fenna-Matthews-Olson (FMO), một phân tử to lớn có tác dụng như một cây "ăng-ten" được sử dụng bởi vi khuẩn lưu huỳnh xanh (green sulfur) trong quá tŕnh quang tổng hợp (H́nh 1). Phân tử FMO hấp thụ photon và biến năng lượng photon thành exciton - cặp kết hợp electron/lỗ, rồi hướng exciton này về một trung tâm phản ứng, nơi này năng lượng exciton sẽ được chuyển hóa thành hóa năng. Phức chất FMO là một hệ thống tuyệt vời, v́ nó có thể truyền dẫn gần 99% năng lượng exciton tới trung tâm phản ứng. Điều này cho thấy sự tích thoát (relaxation) nhiều lắm th́ chỉ đóng một vai tṛ thứ yếu trong sự truyền dẫn. Flemming và các cộng sự phấn kích trước công tŕnh khám phá của họ về động học lượng tử kết hợp và suy đoán rằng phức chất FMO biết thực hiện thuật toán (algorithm) cho cuộc "truy lùng lượng tử" khiến cho exciton có thể truy t́m được trung tâm phản ứng [8].

Thuật toán truy lùng lượng tử được phát minh bởi Lov Grover [9]. Ông cho thấy rằng máy tính lượng tử có thể t́m cơ sở dữ liệu (database) nhanh hơn máy tính cổ điển. Khi tôi và một người đồng nghiệp chuyên về vi tính lượng tử cùng kiểm định lời tuyên bố về việc vi khuẩn lưu huỳnh xanh thực hiện thuật toán lượng tử, th́ thoạt đầu chúng tôi thất vọng: chúng tôi có thể chứng tỏ rằng cái năng suất to bất thường trong sự truyền dẫn năng lượng trong phức chất FMO không thể nào nảy sinh từ sự truy lùng lượng tử. Nhưng chúng tôi nhanh chóng phát hiện rằng exciton quả thực đang thực hiện một thuật toán lượng tử khác gọi là "bước lượng tử". Bước lượng tử là thuật toán, trong đó một hạt lượng tử "đi" xuyên qua một cấu trúc phức tạp nào đó và dùng kết hợp lượng tử tầm xa để t́m đường tiến đến những nơi trong cấu trúc mà đối với hạt cổ điển là những nơi bị che khuất [10]. Hạt cổ điển chỉ có thể chiếm cứ một điểm của cấu trúc ở một thời điểm nào đó. Nếu cấu trúc quá to, hạt cổ điển sẽ loanh quanh đi lạc đường. Hạt lượng tử, ngược lại, có thể đồng thời chiếm cứ nhiều điểm trong cùng một cấu trúc - cái kỳ quặc lượng tử đang tác động đấy! Cái khả năng "cảm" được toàn thể cấu trúc cùng một lúc cho phép hạt lượng tử bước đi với điệu bộ kết hợp (coherently) để tiến đến mục tiêu của nó.

Hiệu năng của cái ăng-ten quang tổng hợp là một điều kỳ bí: nếu ta thử nghĩ exciton là một hạt cổ điển chỉ hiện hữu một nơi duy nhất trong một phân tử khổng lồ, rồi nó nhảy ḷng ṿng trong cái phân tử đó, th́ cái khả năng để nó t́m đường tiến đến trung tâm phản ứng hầu như là con số không. Tuy nhiên, mô h́nh cơ học lượng tử của chúng tôi về bước đi kết hợp của exciton trong phức chất FMO cho thấy rằng hạt exciton lượng tử lan đi rất nhanh trong toàn thể phức chất, biết sử dụng quyền lượng tử của ḿnh để chiếm cứ toàn bộ các điểm khả dĩ cùng một lúc, rồi nhắm vào điểm đến trong một khoảnh khắc cực nhỏ của một giây [11].

Cái bền bỉ vững mạnh của bước lượng tử lại càng tuyệt diệu trước những tạp nhiễu (noise) và sự mất kết hợp (decoherence). Như đă đề cập ở trên, trong môi trường nóng và ướt của tế bào, ta tin chắc rằng sự kết hợp (coherence) sẽ làm tiêu ma gần như tức thời việc tính toán lượng tử [7]. Nhưng, ở đây trạng thái phi định xứ của exciton được tạo ra khi photon bị hấp thụ, trở nên có sức đề kháng cao độ trước sự mất kết hợp. Hơn nữa, độ mất kết hợp nho nhỏ được mang tới bởi các động tác đong đưa của phân tử dường như cũng d́u dắt các bước đi lượng tử [11,12]. Hiệu suất của sự truyền năng lượng trong quang tổng hợp có thể được mô tả bằng xác suất để exciton t́m ra trung tâm phản ứng, và bằng quăng thời gian để nó đi tới điểm đó. Khi chúng tôi tính hiệu suất của bước lượng tử theo hàm số của thời gian, chúng tôi t́m thấy hiệu suất có trị số cao nhất ở (nhiệt độ) 290  K. Từ điều này, chúng tôi có thể kết luận rằng, một mặt, thiên nhiên là một tay thao tác cơ học lượng tử tuyệt vời; mặt khác, hàng ngàn tỷ vi khuẩn đă không cống hiến đời ḿnh một cách vô nghĩa.

 

Sự chọn lọc tự nhiên của các quy luật vật lư

Sự sống là việc ước đoán: thiên nhiên tung viên xí ngầu lượng tử và tạo ra các trạng thái muôn màu muôn vẻ; một số h́nh dạng được h́nh thành từ đó, tiếp tục sống sót rồi tái sinh sản cũng với nhiều trạng thái khác nhau. Trong tinh thần của Darwin, chúng ta hăy chấp nhận một vài ước đoán.

Sức mạnh của sự chọn lọc tự nhiên c̣n vượt xa ra ngoài hệ thống sinh học. Những quy luật vật lư mà chúng ta biết có thể tự bản thân chúng là hệ quả của một quá tŕnh của sự chọn lọc tự nhiên. Lee Smolin đă đưa ra giả thuyết cho rằng Vũ Trụ liên tục sinh sôi những vũ trụ con, mà các quy luật vật lư của chúng tương tự, nhưng không nhất thiết giống như vũ trụ mẹ [13]. Khi chúng trưởng thành, các vũ trụ con này lại mọc thêm vũ trụ khác và cứ thế sinh sôi nảy nở (xem H́nh 2). Rất có thể Vũ Trụ của chúng ta đă được "chọn lọc tự nhiên", với ư nghĩa rằng các quy luật vật lư của nó đă duy tŕ sự sống, trong khi quy luật của các vũ trụ anh em th́ không. Một quan điểm tương tự nảy sinh trong cái "cảnh quan" lư thuyết dây của Leonard Susskind, trong đó có những 10500 tập hợp khác nhau của quy luật vật lư, mỗi tập hợp là một tiên nghiệm thích hợp tương đương, cùng tranh nhau thiết lập Vũ Trụ mà ta chứng kiến ngày nay [14]. Cuối cùng, Max Tegmark [15] và tôi [16] đă suy đoán rằng Vũ Trụ đang tạo dựng mọi cấu trúc xử lư thông tin khả dĩ và nhất quán (self-consitent). Nếu quả thật là như vậy, cơ học lượng tử tự nó, với tất cả những cái kỳ quặc của nó, đă có thể được chọn lọc một cách tự nhiên bởi một lư do đơn giản rằng là, và như chúng ta đă thấy, cơ học lượng tử mang nhiều tố chất để cống hiến cho sự sống. 

 

H́nh 1: Cơ học lượng tử đời thường. Phức chất Fenna-Matthews-Olson giúp vi khuẩn lưu huỳnh xanh thực hiện quang tổng hợp. Thuật toán lượng tử được biết là "bước lượng tử" có thể là hậu thun của việc truyền dẫn năng lượng giữa cái ăng-ten thu nhận ánh sáng và trung tâm phản ứng, nơi mà năng lượng photon sau rốt được chuyển biến thánh hóa năng (H́nh của Graham Flemming và Yuan-Chung Cheng)

 

 

H́nh 2: Một đa vũ trụ phân nhánh. Trong vũ trụ tái sản xuất, mỗi "vũ trụ con" (được mô tả bằng cái bong bóng) có thể có những quy luật vật lư hơi khác biệt với vũ trụ mẹ. "Sự đột biến" được mô tả bằng sự đổi màu trong h́nh. (H́nh của Andrei Linde, được phép in lại từ tài liệu tham khảo 17).

 

*Seth LLoyd là Giám đốc của "W. M. Keck Center for Extreme Quantum Information Processing (xQIT)", Massachussetts Institute of Technology, Cambridge, Massachusetts 02139, USA.

 

Tài liệu tham khảo c ủa tác giả

1.     Darwin, C. On the Origin of Species by Means of Natural Selection, or the Preservation of Favoured Races in the Struggle for Life (John Murray, 1859).

2.     Mendel, G. Verh. Naturforsch. Ver. Brünn 4, 3–47 (1866).

3.     Browne, E. J. Charles Darwin: The Power of Place (Princeton Univ. Press, 2001).

4.     Bowler, P. J. Evolution: The History of an Idea (Univ. California Press, Berkeley, 1983).

5.     Bowler, P. J. The Mendelian Revolution: The Emergence of Hereditarian Concepts in Modern Science and Society (Johns Hopkins Univ. Press, 1989).

6.     Planck, M. Ann. Phys. 1, 719–737 (1900).

7.     Nielsen, M. A. & Chuang, I. L. Quantum Computation and Quantum Information (Cambridge Univ. Press, 2000).

8.     Lee, H., Cheng, Y.-C. & Fleming, G. R. Science 316, 1462–1465 (2007).

9.     Grover, L. K. Phys. Rev. Lett. 79, 325–327 (1997).

10.            Farhi, E. & Gutmann, S. Phys. Rev. A 58, 915–928 (1998).

11.            Mohseni, M., Rebentrost, P., Lloyd, S. & Aspuru-Guzik, A. J. Chem.Phys. 129, 174106 (2008).

12.            Plenio, M. B. & Huelga, S. F. New J. Phys. 10, 113019 (2008).

13.            Smolin, L. in Universe or Multiverse (ed. Carr, B.) 323–366 (Cambridge Univ. Press, 2007).

14.            Susskind, L. The Cosmic Landscape: String Theory and the Illusion of Intelligent Design (Little, Brown, 2006).

15.            Tegmark, M. Found. Phys. Lett. 9, 25–42 (1996).

16.            Lloyd, S. Complexity 3, 32–35 (1997).

17.            Linde, A. Sci. Am. 271, 48–55 (1994).


* Trích từ  "Kỷ yếu 2009 - Tập 2: 150 năm thuyết tiến hóa & Charles Darwin", chủ biên: Chu Hảo, Nguyễn Quang Riệu, Trịnh Xuân Thuận, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm, Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2010.

 

 


Cảm tưởng xin gởi về :  vantantruong@hotmail.com

© "Khi phát hành lại bài này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"